1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

G07A r công tác xã hội nhập môn

90 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG V: LÝ THUYẾT HỆ THỐNG CỦA BERTALANFFY Chủ đề 1: Lý thuyết hệ thống của Bertalanffy Chủ đề 2: Áp dụng lý thuyết vào phân tích trường hợp điển cứu CHƯƠNG VI: MÔ HÌNH THAM VẤN TẬP

Trang 1

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ KIỂM TRA MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI NHẬP MÔN

1/ CÁC NỘI DUNG TRỌNG TÂM

CHƯƠNG I: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI (CTXH)

• Chủ đề 1: Lịch sử phát triển ngành CTXH thế giới

• Chủ đề 2: Lịch sử phát triển ngành CTXH VIỆT NAM

CHƯƠNG II: CÔNG TÁC XÃ HỘI LÀ GÌ?

CHƯƠNG III: QUI TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA NGÀNH CTXH

NĂM NGUYÊN TẮC CỦA NGÀNH CTXH

Chủ đề 1: Giá trị và truyền thống của người Việt Nam

Chủ đề 2: Bộ Qui Tắc Đạo Đức của ngành CTXH Hoa Kỳ

(NASW) – Tham khảo

Chủ đề 3: Sáu tiêu chuẩn đạo đức của ngành CTXH Hoa Kỳ

(NASW) – Tham khảo

CHƯƠNG IV: QUAN ĐIỂM THẾ MẠNH CỦA SALEEBY

Chủ đề 1: Lý thuyết – Quan điểm – Mô hình thực hành

Chủ đề 2: Quan điểm thế mạnh

Trang 2

CHƯƠNG V: LÝ THUYẾT HỆ THỐNG CỦA BERTALANFFY

Chủ đề 1: Lý thuyết hệ thống của Bertalanffy

Chủ đề 2: Áp dụng lý thuyết vào phân tích trường hợp điển cứu

CHƯƠNG VI: MÔ HÌNH THAM VẤN TẬP TRUNG VÀO GIẢI PHÁP (SFT)

Chủ đề 1: Nguồn gốc và các giả định của mô hình (SFT)

Chủ đề 2: Sáu loại câu hỏi trong quá trình can thiệp của SFT

CHƯƠNG VII: BA CẤP ĐỘ THỰC HÀNH TRONG CTXH: VI MÔ, TRUNG MÔ & VĨ MÔ

Chủ đề 1: CTXH thực hành ở cấp độ vi mô

Chủ đề 2: CTXH thực hành ở cấp độ trung mô

Chủ đề 3: CTXH thực hành ở cấp độ vĩ mô

ĐỌC THÊM KIẾN THỨC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

Kiến thức chung về bối cảnh xã hội Việt Nam như: dân số, nghèo đói, lạm dụng chất gây nghiện, người cao tuổi, giáo dục, lao động -việc làm, thanh niên Việt Nam, v.v

2/ CÁCH THỨC ÔN TẬP

Mô tả môn học:

CTXH Nhập Môn là một môn học chuyên ngành đầu tiên ở cấp

độ cử nhân nhằm giúp người học hiểu CTXH là một nghề giúp đỡ chuyên nghiệp và một ngành khoa học ứng dụng đã phát triển hơn 100

năm trên thế giới Môn học này cũng cung cấp những kiến thức nền tảng chung của ngành và đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của “Bộ

Trang 3

Quy Tắc Đạo Đức” hướng dẫn mọi hành vi chuyên nghiệp trong toàn

ngành Kế đến, người học cũng hiểu biết những công việc chung cần làm, lãnh vực và bối cảnh thực hành và áp dụng tiến trình can thiệp

“tiếp cận - đánh giá - can thiệp - lượng giá” khi làm việc với hệ thống

thân chủ (cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, công đồng) ở ba cấp độ vi

mô, trung mô, vĩ mô Tiến trình giúp đỡ này nhắm giúp thân chủ tự

giúp, tự quyết, tự chịu trách nhiệm những vấn đề của chính họ Cuối

cùng, môn học khuyến khích những sinh viên chuyên ngành khác theo học để tìm hiểu, bổ sung khung lý thuyết và tiến tới tìm các giải pháp cho các thách thức và vấn đề trong cuộc sống trong bối cảnh địa phương và toàn cầu

Mục tiêu môn học:

Về kiến thức, sau khi học môn học, người học có thể:

MT1: Biết và bắt đầu hình thành nhận thức đúng đắn về ngành CTXH

MT2: Trình bày và giải thích chung nhất chân dung của một nhân viên xã hội (NVXH)

MT3: Tìm hiểu và bắt đầu khám phá bản thân

MT4: Biết và giải thích được những kiến thức nền tảng của ngành CTXH

MT5: Ứng dụng kiến thức, giá trị, kỹ năng, thái độ chung vào các hoạt động thực hành

Về kỹ năng, sau khi học môn học, người học có thể:

MT6: Hiểu và thực hành các kỹ năng “soi gương - reflective skill”,

“vấn đàm - intervewing skill”, thấu cảm, lắng nghe, quan sát, làm việc nhóm, tư duy phản biện, đặt câu hỏi, sắm vai, tìm hiểu bản thân, tìm kiếm tại liệu, đọc, viết, tóm tắt, phân tích thông tin, quản

lý thời gian, quản lý cảm xúc…

Về thái độ, sau khi học môn học, người học có thể:

MT7: Nhận diện những thái độ định kiến, cảm tính và hình thành

thái độ khách quan, tôn trọng ý kiến đa chiều, thái độ cởi mở,

học tập suốt đời, tích cực, dấn thân, cam kết, khiêm tốn… thông qua việc nghe giảng, thực hành các bài tập và kỹ năng soi gương

Trang 4

CHƯƠNG I: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG TÁC

XÃ HỘI (CTXH)

• Chủ đề 1: Lịch sử phát triển ngành CTXH Thế Giới

• Chủ đề 2: Lịch sử phát triển ngành CTXH VIỆT NAM

Tóm tắt: Người học sẽ học các chủ đề trên + ở slide bài giảng + bài giảng của giảng viên trên lớp và các nguồn tài liệu tham khảo trong slide và trong đề cương và thông tin dưới đây

• Việt Nam chúng ta có nhấn mạnh công bằng xã hội và quyền con

người không? Có “Công bằng xã hội là một trong năm thành tố

của mục tiêu chung mà chúng ta đang phấn đấu để đạt tới trên

con đường xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

• Sứ mệnh của ngành CTXH rất phù hợp với đường lối của Đảng

và Nhà nước ta và hợp lòng dân vì nó nhấn mạnh việc chăm lo hạnh phúc của người dân Trọng tâm của ngành CTXH là kế thừa truyền thống văn hóa, phát huy và tôn trọng nền văn hóa đa dạng Đồng thời, CTXH thúc đẩy một xã hội dân chủ, công

bằng, văn minh, hun đúc, hành động và trách nhiệm đạo đức, và phục vụ người dân của mọi tầng lớp trong xã hội nhằm mang lại cuộc sống ấm lo hạnh phúc, tăng năng lực, tăng phúc lợi, đáp ứng nhu cầu, kết nối nguồn lực CTXH

cũng nhấn mạnh loại bỏ sự nghèo đói, kỳ thị, định kiến, những

áp bức bất công, phân biệt đối xử và các hình thức bất công khác trong xã hội

Chủ đề 1: Lịch sử phát triển ngành CTXH thế giới

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CTXH Ở ANH

Khi nói tới ngành CTXH trên thế giới thì các học giả đều thống nhất rằng cái nôi sinh ra ngành CTXH đầu tiên là từ nước Anh NGÀNH CTXH TẠI ANH xuất hiện trong bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ 19 Trước sự biến động to lớn của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, người dân Anh đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng

Trang 5

như: bệnh tật, nghèo đói, thất nghiệp, mồ côi, khuyết tật, gia đình đổ vỡ,

di dân, lạm dụng quyền lực, áp bức bóc lột, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, xung đột về tôn giáo, về chính trị, về quan điểm v.v Trong bối cảnh đó đã xuất hiện một số công dân Anh có tri thức nhưng có lòng từ tâm, thương người đã khởi xướng ra một tổ chức từ thiện gọi là (Charity Organizations Society – CSO) nhằm giúp đỡ những người khốn cùng, nghèo khó, yếu thế, bị áp bức trong xã hội

Những người giúp đỡ tự nguyện này có trình độ rất sâu rộng và yêu thương con người Họ là những bác sĩ, giáo viên, luật sư, kỹ sư… và được gọi là những người viếng thăm thân thiện Vì là người có tri thức nên cách tiếp cận giúp đỡ của họ là dựa vào kiến thức và phương pháp khoa học Ví dụ, họ trực tiếp đến với người nghèo để làm quen, điều tra, đánh giá nhu cầu, ghi chép, lưu trữ thông tin và giám sát hoạt động đánh giá Đồng thời, những người viếng thăm thân thiện thường tận dụng và huy động những nguồn lực có sẵn tại địa phương và cộng đồng để cung cấp nhu cầu thiết yếu nhưng giới hạn cho những người yếu thế Họ hoàn toàn làm việc một cách tự nguyện và không được trả lương Do công việc và nhu cầu về người viếng thăm thân thiện ngày càng cao nên tổ chức CSO đã bắt đầu tuyển thêm người làm việc và được trả lương Vì vậy mà ngành CTXH bắt đầu phát triển và đội ngũ này được gọi là NVXH

Giai đoạn phát triển ngành CTXH được nâng cao do xuất phát từ

tư duy và nhận thức rắng những người giúp đỡ chuyên nghiệp cần giỏi

về kiến thức, kỹ năng, giá trị, và năng lực thực hành và phải song hành với lòng trắc ẩn thông qua đào tạo các phương pháp giúp đỡ

Phòng trào CSO đã trở thành phương pháp quản lý ca (casework) đầu tiên của ngành CTXH ở Anh Càng về sau để làm được người giúp đỡ chuyên nghiệp, NVXH đòi hỏi phải được đào tạo chính qui, bài bản và có những phương pháp giúp đỡ khoa học hơn Phương pháp tiếp cận ban đầu và sáng kiến của CSO không chỉ đáp ứng nhu cầu

cơ bản mà còn cố gắng tìm hiểu căn nguyên của các vấn đề kinh tế, xã hội và tìm cách giúp đỡ các nhóm xã hội phục hồi nhân phẩm và vị trí của mình và xem họ là nạn nhân của sự biến chuyển xã hội (Hutchison,

2008 & Lê Chí An, 1999 & 2012)

Trang 6

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CTXH Ở MỸ

Sáng kiến của phong trào COS từ Anh lan sang Mỹ và truyền cảm hứng cho người dân Mỹ Nơi đầu tiên ở Hoa Kỳ tiếp thu phương pháp này là ở thành phố New York năm 1886 và ngành CTXH phát triển rất mạnh mẽ ở Mỹ cho tới tận ngày nay

Khi Mỹ rơi vào khủng hoảnh kinh tế vào những năm 1870, các vấn đề xã hội nảy sinh nghiêm trọng như: tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, bệnh tật, tuổi già, khuyết tật, tự tử, nạn đói, lang thang, cơ nhỡ… Để đối phó vời tình cảnh này, các nhóm độc lập và tổ chức từ thiện tôn giáo bắt đầu mở ra để cứu trợ và giúp cải thiện các vấn đề kinh tế xã hội Các tổ chức xã hội này hình thành hiệp hội tổ chức từ thiện nhằm:

• Cung cấp những dịch vụ trực tiếp cho cá nhân và gia đình

• Lên kế hoạch và phối hợp với các ban ngành đoàn thể để đáp ứng nhu cầu của những người nghèo khó

Khi làm việc, “những người viếng thăm thân thiện” cũng áp dụng phương pháp khoa học đó là tiếp cận, điều tra chi tiết từng hoàn cảnh và tìm hiểu nhu cầu cấp thiết của người nghèo là gì để để hỗ trợ họ kịp thời Đồng thời, họ thành lập một hệ thống đăng ký để tránh sự giúp đỡ chồng chéo Những “người viếng thăm thân thiện” là những người có lòng tốt

và có khả năng “thấu cảm” cao và thường là phụ nữ

Bên cạnh phong trào CSO thì có sáng kiến thành lập các “Trung tâm cộng đồng (Social Settlement House) ở New York, Hoa Kỳ Năm

1889, một trung tâm cộng đồng khác là Hull House được thành lập ở Chicago do Jane Addams điều hành Jane Addams là người tiên phong trong CTXH cộng đồng và bà tham gia rất tích cực các hoạt động chính trị, vận động chính sách về nghèo đói ở các cấp từ liên bang, bang, và địa phương trong xã hội Mỹ (Carson, n.d; Hutchison, 2008)

Đến năm 1905 thì Richard Cabot đưa CTXH y tế vào bệnh viện trung ương Massachusetts ở Mỹ và ngành CTXH được chính thức hóa Dần dần NVXH được tuyền vào làm ở trường học, tòa án, trung tâm tư vấn trẻ em và các cơ quan và tổ chức CT - XH khác

Trang 7

1915: Những tiêu chuẩn về đào tạo CTXH dần dần được hình thành và chương trình đào tạo CTXH đầu tiên nhấn mạnh tới việc giúp thân chủ cố gắng thay đổi hoàn cảnh và khả năng thích nghi của cá nhân vào bối cảnh sống hiện tại

1917: Mary Richmond viết cuốn “Chẩn đoán xã hội = Social Diagnosis” Đây là cuốn sách quan trọng và đầu tiên của ngành CTXH vì

nó giới thiệu về phương pháp luận trong thực hành CTXH can thiệp ở cấp độ cá nhân Trong giai đoạn này, mô hình thực hành theo ngành y,

nghĩa là tiến trình can thiệp giống như bác sĩ y khoa: Thu thập thông tin -

chẩn đoán vấn đề - lên kế hoạch giúp đỡ được ứng dụng trong thực

hành

Đến 1920: Mô hình theo ngành y không hiệu quả Và lúc đó ngành KHXH chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của tâm lý học, tiêu biểu

là Sigmund Freud về “thuyết Phân Tâm Học” Ngành CTXH hình thành

và phát triển mô hình thực hành theo TÂM THẦN, làm việc một - một với thân chủ

Ở Mỹ từ năm 1915- đến nay: ngành CTXH được công nhận là một nghề chuyên nghiệp, khoa học ứng dụng và độc lập

Tới năm 1955 Hiệp hội CTXH Hoa Kỳ (NASW) được thành lập

và tiếp tục phát triển mạnh và chuyên nghiệp tới ngày nay Ngày NAY: CTXH tập trung vào các mô hình thực hành nhấn mạnh vào các yếu tố gia đình, những ảnh hưởng của môi trường xung quanh – Con người trong môi trường hay còn gọi là PIE vì các môi trường xung quanh có tác động rất lớn tới hành vi, suy nghĩ, thái độ của thân chủ

Cuối cùng, tôi xin chia sẻ CTXH trên thế giới nói chung và ở Mỹ nói riêng phát triển theo hai nhánh chuyên ngành Nhánh chuyên ngành CTXH vi mô – nghĩa là chuyên về tham vấn cá nhân, trị liệu gia đình hay gọi là (Direct/Micro practice), nghiên cứu, giáo dục và chuyên ngành thứ

2 là CTXH vĩ mô – phân tích và vận động chính sách, chuyên về quản lý

dự án, quản trị, phát triển chương trình - dự án, nghiên cứu, giáo dục

Trang 8

Chủ đề 2: Lịch sử phát triển ngành CTXH VIỆT NAM

Như các bạn đã tìm hiểu CTXH trên thế giới, cụ thể là CTXH ở Anh và ở Mỹ thì CTXH là một nghề giúp đỡ chuyên nghiệp như nghề bác

sĩ, kỹ sư, luật sư… và đòi hỏi phải được đào tạo bài bản, chính qui và học tập suốt đời thì mới trở thành NVXH để làm được trong ngành CTXH Mặc dù lịch sử khởi đầu của ngành CTXH là từ thiện nhưng được dựa vào phương pháp và kiến thức khoa học để giúp đỡ người dân bất

kể họ giàu hay nghèo, vì người giàu cũng khóc và cần được giúp đỡ khi

họ có nhu cầu

Theo Nguyễn Thị Oanh và Lê Chí An (2012), làm từ thiện thì chỉ cần có tấm lòng, nhưng lại thiếu kiến thức, kỹ năng, năng lực, giám sát, giải trình, đánh giá-lượng giá nên rất dễ làm người dân ỷ lại, phụ thuộc, thiếu sự tự tin, mất ý chí vươn lên, dễ bị khai thác, bóc lột, lợi dụng…Nguy hiểm hơn là từ thiện có thể dẫn đến việc trục lợi cá nhân, đánh bóng tên tuổi, lợi ích cá nhân hay tôn giáo, lôi kéo, dẫn dắt sai giá trị công bằng xã hội, lòng tự trọng và nhân phẩm và giá trị con người

Theo Nguyễn Thị Oanh, để hiểu về lịch sử phát triển CTXH ở Việt Nam, chúng ta cần tìm hiểu 5 giai đoạn sau đây:

- Giai đoạn tiền thuộc địa của Pháp

- Giai đoạn thuộc địa của Pháp

- Giai đoạn hậu thuộc địa ở miền Nam

- Giai đoạn thuộc địa mới của Mỹ

Trong mọi xã hội, ở mọi lúc mọi nơi đều có những cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng có những vấn đề lớn nhỏ và vì vậy có những nhu cầu đặc biệt như: giúp người già yếu, người bệnh tật - đau

ốm, không nơi nương tựa, không được quan tâm chăm sóc phù hợp và đầy đủ, lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, buôn bán người, nghèo đói, thất nghiệp, lạm dụng chất gây nghiện, bị phân biệt đối xử, bị định kiến… do sự phát triển và biến đổi khôn lường của kinh tế - văn hóa - chính trị-xã hội-tinh thần

Trang 9

- Đối với Giai đoạn tiền thuộc địa của Pháp

Việt Nam có nét văn hóa truyền thống tốt đẹp là sự gắn bó con người trong làng xã với nhau và tạo thành truyền thống dân tộc và truyền thống xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong suốt chiều dài lịch

sử của đất nước Vì vậy, khi gặp khó khăn hay cần giúp đỡ thì gia đình, anh em, bà con họ hàng là hệ thống, mạng lưới hỗ trợ đầu tiên Kế đến là

bà con xóm ngõ, làng xã, rồi nhà chùa, nhà thờ, rồi tới tổ chức tại địa phương, nhà nước và quốc tế Văn hóa - truyền thống yêu thương và đùm bọc lẫn nhau được thể hiện rõ nét qua các câu ca dao tục ngữ như:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống như chung một giàn.”

Tinh thần “lá lành đùm lá rách” được thể hiện rõ nét trong chính sách, pháp luật và hương ước từ thời Triều Lê (1483) Triều Lê có chính sách dành cho người nghèo, người tàn tật Bộ Quốc Triều hình luật được ban hành, trong đó có điều 294 quy định rất rõ trách nhiệm xã hội của chức sắc làng xã như: “Trong kinh thành và phường ngõ, làng xóm có kẻ đau ốm mà không ai nuôi, nằm đường xá, cầu điếm, chùa quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên mà săn sóc cho họ.”

Theo Nguyễn Thị Oanh, quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn năm

1859 nhưng các nhà buôn và các nhà truyền giáo đã có mặt trước đó Khi Pháp có mặt ở Việt Nam, tình trạng bóc lột từ chế độ vua chúa không

hề suy giảm, mà còn làm tăng cường và củng cố sự khai thác, bóc lột người yếu thế lên gấp bội vì đây chính là mục đích của thực dân để đem quyền lợi về cho mẫu quốc

Các vấn đề xã hội khác cũng nổ ra như xuất hiện tệ cờ bạc, mại dâm trong nước và nước, hút xách với qui mô và tác hại vô cùng lớn Để thu lợi tối đa nhằm nuôi bộ máy cầm quyền ở thuộc địa và cả mẫu quốc, chính quyền Pháp đã độc quyền buôn bán muối, rượu và thuốc phiện Thuốc phiện được mua bán công khai và người dân được khuyến khích hút càng nhiều càng tốt vì có lợi cho Pháp Vua Nguyễn đã từng nói

Trang 10

“Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn, lêu lỏng lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không thể bỏ được và nó phá hủy lương tâm con người.”

Trong thời điểm này Phật giáo luôn quan tâm tới người bất hạnh, nhà chùa luôn sẵn sang đón tiếp kẻ lỡ đường, kẻ đói khát, nhưng không tổ chức CTXH theo kiểu tập trung chuyên sâu Bên Thiên Chúa giáo đã rất sớm “thiết chế hóa” CTXH, dưới hình thức cơ sở tập trung như Viện mồ côi, viện dưỡng lão, trung tâm khuyết tật, trường mù Nguyễn Đình Chiểu, Trường Câm Điếc Lái Thiêu…, Trung tâm giáo hóa người phạm pháp Các tổ chức tập trung này bị phê phán là không phù hợp với bối cảnh Việt Nam vì mạng lưới hỗ trợ là đại gia đình và làng xã rất chặt chẽ trong thời đó và người ta đặt câu hỏi “Liệu mô hình tập trung này có khả năng làm suy yếu hay phá vỡ thiết chế gia đình, tính cộng đồng, tương thân tương ái trong xã hội Việt Nam Mô hình này có vẻ bất lợi cho sự phát triển nhân cách của trẻ, làm cho người già buồn bã thêm do không được sống trong cộng đồng?

CTXH chuyên nghiệp trong giai đoạn 45 - 54 vẫn chịu ảnh hưởng mô hình tập trung của Pháp do các nhà truyền giáo đưa vào Việt Nam từ giai đoạn trước Người Pháp tham gia giảng dạy và hướng dẫn thực tập cho những học viên CTXH đầu tiên Trường nữ cán sự xã hội Caritas ra đời năm 1942 và đào tạo hàng 100 cán sự xã hội chuyên nghiệp và đây là bước đầu công nhận rằng những ai đi giúp đỡ người khác phải được đào tạo hẳn hoi

Tuy ngành CTXH ở miền Nam đã phát triển nhưng còn khá lu

mờ và mang đậm nét ảnh hưởng của Pháp Từ 1954 - 1965, CTXH mang đậm nét ảnh hưởng của Mỹ Biến cố lớn nhất tác động vào mọi hoạt động xã hội là cuộc di cư của 1 triệu dân từ miền Bắc, chủ yếu là người Công giáo CTXH cứu trợ những người di cư làm thay đổi bộ mặt của ngành CTXH với sự thành lập bộ máy chính quyền phụ trách, sự du nhập của nhiều tổ chức xã hội Mỹ (như Cơ Quan cứu trợ Công giáo của

Trang 11

Mỹ (CRS), CARE, Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế) và sự hình thành những tổ chức xã hội phi chính phủ ở Việt Nam

Với sự phát triển của nhiều chương trình CTXH giúp đỡ người di

cư của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, trướng Cán Sự Xã Hội Caritas đã đào tạo chương trình CTXH 2 năm và tổ chức nhiều khóa học ngắn hạn cho hàng 100 nhân viên trợ tá xã hội

Đây là giai đoạn đất nước thống nhất Tất cả các tổ chức xã hội

tư nhân cũ đều tạm ngưng hoạt động, chỉ trừ một số cơ sở tôn giáo nuôi dưỡng những người giá neo đơn và trẻ em Các tổ chức phi chính phủ đều ngưng hoạt động, NVXH thất nghiệp, ngoại trừ một số làm việc cho

Bộ xã hội cũ, một số tham gia các hội đoàn Phụ Nữ, đoàn Thanh Niên, một số rời đất nước đi nơi khác

Từ năm 1986, đất nước ta mở của, đổi mới kinh tế, xóa bỏ chế

độ bao cấp, áp dụng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế xã hội Tuy nhiên,

do phát triển không đồng bộ, đặt nặng phát triển kinh tế hơn là phát triển con người và phát triển xã hội nên tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị càng tăng

Đồng tiền kiếm ra dễ dàng do làm ăn chụp giựt, bất chính hay tham nhũng dẫn đến lối sống ăn chơi sa đọa, đạo đức xuống cấp của một số cán bộ mất phẩm chất và những người giàu mới nổi Tình hình này ảnh hưởng lớn tới xã hội Sự mở cửa giao lưu văn hóa, thông tin đa phương tiên cũng tạo ra những điểm tiêu cực và tích cực trong xã hội Du lịch phát triển nhưng cũng tạo ra nhiều tệ nạn xã hội như tội phạm, mại dâm, ma túy, di dân, trẻ em lang thang đường phố, trẻ em lao động sớm, đại họa AIDs xảy ra, nghéo đói thiếu thốn cộng với lối sống đua đòi ngày gia tăng

Nỗ lực của Nhà nước VÀ CÁC TỔ CHỨC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC để giải quyết vấn đề xã hội gồm:

• Sinh hoạt đoàn thể như: Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ Nữ…

Trang 12

• Hỗ trợ an sinh xã hội cho các hộ chính sách: gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ anh hùng, trẻ mồ coi, người gia neo đơn

• 1980 thành lập Ủy Ban Thiên Niên Nhi Đồng để bảo vệ và chăm sóc trẻ em

• 1987: Ủy Ban Phòng Chống AiDs do Sở Y Tế thành lập

• 1990: Chương trình cải thiện nhà ổ chuột

• 1992: Xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo như trợ vốn trực tiếp, giúp đất sản xuất, giãn dân, di dân đến các tỉnh bạn, giúp học nghề, giới thiệu việc làm

• 1994: thành lập Chi Cục Phóng Chống Tệ Nan Xã Hội giải quyết nạn mại dâm, ma túy, xây dựng và quản lý cơ sở cai nghiện dạy nghề cho họ như Trung tâm giáo dục dạy nghề Bình Triệu, Trung tâm giáo dục nghề phụ nữ Thủ Đức

• 1995: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”

• 1989 - 1996: Chương trình hòa nhập người hồi hương

• Dự Án Cửa Hàng Mai – tạo việc làm cho hàng trăm trẻ em lang thang, phụ nữ nghèo

• Tổ chức phi lợi nhuận như Chương Trình Thảo Đàn, Mái Ấm Hoa Hồng Nhỏ, LIN, Dự án Tương Lai v.v

• Các tổ chức quốc tế như: UNICEF = QUỸ CỨU TRỢ NHI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC, SAVE THE CHILDREN – UK (QUỸ CỨU TRỢ NHI ĐỒNG ANH), CARE INTERNATIONAL, WORLD VISION - TẦM NHÌN THẾ GIỚI, TỔ CHỨC TERRE DES HOMMES v.v

• Hội bảo trợ trẻ em, Chữ thập đỏ, Nhà dưỡng lão, trung tâm cai nghiện, TT dạy nghề, TT cộng đồng, Đoàn thanh niên-TT TH CTXH THANH NI ÊN, HLHPN, Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội

Từ năm 1990, ngành CTXH được dần khôi phục lại thành ngành khoa học Cô Nguyễn Thị Oanh là một trong những người đi phong để gầy dựng ngành này CTXH được giảng dạy tại khoa Phụ Nữ Học, trường ĐH

Mở Bán Công TPHCM từ năm 1992 và đây là trường đào tạo ngành CTXH sau giai đoạn giải phóng đất nước

Trang 13

Một số khung pháp lý quan trọng của ngành CTXH Việt Nam:

THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI CỦA BỆNH VIỆN

• Dự thảo THÔNG TƯ 2016 Quy định về tiêu chuẩn đạo đức

nghề nghiệp đối với những người làm công tác xã hội

Nam=Viet Nam Vocational Training Association And Vocational Social Work

• Dự thảo 10 năng lực thực hành của NVXH

• Công ước quốc tế về quyền trẻ em

• Công ước CEDAW

• Công ước quốc tế về quyền con người

Tóm lại, kinh nghiệm làm CTXH ở Việt Nam tuy ngắn, đang bước vào con đường chuyên nghiệp và có cách biệt rất lớn so với thế giới Tuy nhiên, điều này cũng là cơ hội để mỗi người chúng ta cần suy nghĩ ra cách, đặt câu hỏi, đặt giả thuyết, đặt lại vấn đề để xây dựng định hướng theo quan điểm chính nghĩa, nhân văn nhưng khoa học và đạo đức Quan điểm phải vừa trùng khớp với dân tộc quốc gia Việt Nam và cả quốc tế nữa Vì vậy, chúng tôi rất mong các bạn nên luôn đặt câu hỏi, suy nghĩ sâu khi áp dụng các kiến thức trong khóa học vào thực tiễn

Trang 14

CÂU HỎI THẢO LUẬN:

o Câu hỏi 1: Trình bày tóm tắt kiến thức lịch sử ngành CTXH ở Anh và ở Mỹ Bạn có suy nghĩ gì về sự phát triển của 2 nước này

o Câu hỏi 2: Trình bày tóm tắt kiến thức lịch sử ngành CTXH ở Việt Nam qua 5 giai đoạn So sánh sự giống và khác của ngành CTXH Việt Nam với lại ngành CTXH ở Anh và ở Mỹ Theo bạn, ngành CTXH Việt Nam nên học hỏi và tiếp thu những phương pháp tiếp cận nào của ngành CTXH ở Anh và ở Mỹ

o Câu hỏi 3: “Tại sao NVXH cần hiểu lịch sử phát triển ngành?

Trình bày những cơ hội và thách thức của ngành CTXH hiện nay là gì?”

Trang 15

CHƯƠNG II: CÔNG TÁC XÃ HỘI LÀ GÌ?

Chủ đề 4: Chân dung của NVXH

• NVXH làm việc với ai?

• NVXH làm việc trong những lĩnh vực nào?

• Giúp thân chủ/người dân TỰ GIÚP, TỰ NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ,

TỰ QUYẾT, TỰ TÌM RA GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

• THỰC HÀNH PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC NGHỀ: TÂM – TÀI - ĐỨC PHẢI GẮN KẾT VỚI NHAU

Trang 16

CÂU HỎI THẢO LUẬN:

1 Ctxh là gì? Trình bày ngắn gọn sứ mệnh, mục tiêu, giá trị của CTXH là gì? Tại sao CTXH lại tập trung vào đáp ứng nhu cầu, nhận diện vần đề, thúc đẩy xã hội, phát triển xã hội, thúc đẩy công bằng xã hội, tăng quyền lực cho người dân? Nêu ví dụ thực tiển và chứng minh quan điểm này

2 Hãy chọn 5 phẩm chất của NVXH mà anh/chị cho là quan trọng nhất Hãy phân tích anh/chị đã có phẩm chất này sãn chưa, nêu ví dụ cụ thể Nếu chưa có, thì anh/chị sẽ làm gì để hình thành, tăng cường, củng cố các phẩm chất này, nêu ví dụ?

3 Nêu 4 yếu tố cốt lõi của NVXH được đào tạo bài bản là gì? Hãy giải thích và cho ví dụ cụ thể tại sao ngành CTXH lại nhấn mạnh việc giúp thân chủ tự giúp họ, tự quyết, tự tìm ra giải pháp cho các vấn đề của họ?

4 Hãy trình bày chân dung của NVXH Nêu tóm tắt một hoạt động thực tế tại địa phương và phân tích thật cụ thể anh/chị đóng vai trò gì, làm gì, làm như thế nào trong hoạt động đó

và đáp ứng những mục tiêu và giá trị nào của ngành CTXH Tóm tắt: Người học sẽ học các chủ đề trên + ở slide bài giảng + bài giảng của giảng viên trên lớp và các nguồn tài liệu tham khảo trong slide và trong đề cương và thông tin dưới đây

Xã Hôi, lý thuyết về KHXH và nhân văn và những hệ thống kiến thức bản địa của từng quốc gia Ngành CTXH cam kết tăng cường phúc lợi

của con người, cấu trúc, nhận diện và giải quyết những thách thức của cuộc sống." Doãn Thi Ngọc dịch năm 2014

Trang 17

Chú ý: Các hoạt động chuyên nghiệp của CTXH là dựa vào

quyền con người và công bằng xã hội, là vì dân vì nước, hỗ trợ dân (cá nhân, nhóm, gia đình, tổ chức, và cộng đồng = được gọi là hệ thống thân chủ hay thân chủ (TC)… nhằm tăng QUYỀN LỰC, TĂNG SỰ TỰ QUYẾT, tăng cường phúc lợi và NÂNG CAO chất lượng cuộc sống

MỤC ĐÍCH CỦA CTXH

Mục đích của CTXH rất đa dạng và được thảo luận bởi nhiều học giả trên toàn thế giới từ những góc nhìn khác nhau như: góc nhìn lịch sử, góc nhìn địa lý, góc nhìn cá nhân, v.v Tuy nhiên, với góc nhìn toàn cầu

và dựa vào sứ mệnh của CTXH thì các mục tiêu dưới đây được nhiều học giả đồng thuận:

1 Tăng cường các chức năng xã hội

2 Đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề

3 Kết nối nguồn lực

4 Cải thiện các dịch vụ xã hội

5 Thúc đẩy công bằng xã hội

6 Nâng cao chất lượng cuộc sống

SỨ MỆNH CỦA CTXH

Theo IFSW (Hi ệp Hội CTXH Quốc Tế), đó là:

1 Thúc đẩy sự phát triển

2 Thay đổi xã hội

3 Nâng cao tình trạng an sinh hạnh phúc cho mọi người

4 Tạo sự đoàn kết xã hội

Theo Hiệp Hội Công Tác Xã Hội Quốc Gia Hoa Kỳ (NASW), sứ mệnh của CTXH là “… chăm lo hạnh phúc cho người dân, tăng

cường phúc lợi và giúp họ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mọi người, tăng năng lực cho những nhóm dễ bị tổn thương, bị áp bức

và sống trong nghèo đói”

Những nghiên cứu gần đây về sứ mệnh của công tác xã hội cũng hướng đến các cá nhân bên lề xã hội, các cá nhân có nguy cơ cao trong xã hội và quá trình nâng cao năng lực cũng như những vấn đề của quá trình toàn cầu hóa và những vấn đề liên quan đến bản sắc văn

hóa của từng quốc gia

Để đạt được sứ mệnh và mục tiêu của CTXH, NVXH cần phải quan tâm, nhận diện, phát hiện các vấn đề xã hội và nhu cầu của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức và các quyền cơ bản chưa

Trang 18

được đáp ứng khi liên quan tới những nhu cầu cơ bản Khi nói tới “vấn đề” thì không phải là “xấu”, “khiếm khuyết” hay “bệnh hoạn”, mà các vấn đề luôn là một phần tất yếu của cuộc sống Vấn đề trong

CTXH có thể là một trường hợp, một hoàn cảnh gặp phải những cản trở trong việc thực hiện các chức năng xã hội, trong đó cá nhân hay hệ thống liên quan không thể tự dẹp bỏ những cản trở để đáp ứng nhu cầu của TC

Những quyền và nhu cầu cơ bản được coi là những yếu tố cơ bản để có một chất lượng cuộc sống đàng hoàng và để thực hiện các chức năng xã hội tốt Chúng ta cần phải tin rằng mọi người đều có thể

đạt được một mức độ nào đó của các chức năng xã hội (Chức năng xã hội là tương tác qua lại giữa con người (khả năng ứng phó) và môi trường (đòi hỏi của môi trường)), đều có quyền, có cơ hội để có một

chất lượng cuộc sống đàng hoàng Chúng ta cần nhấn mạnh rằng những nhu cầu cơ bản liên quan tới những quyền cơ bản của con người

Theo Thelma Lee-Mendoza (1995), có nhiều yếu tố cản trở việc thực hiện chức năng xã hội: 1) Những yếu tố trong con người như: Điều

kiện thể chất, thái độ, giá trị, nhận thức về thực tế của con người và

2) những yếu tố hoàn cảnh hay môi trường gồm thiếu tài nguyên hay

cơ hội hay những mong đợi vượt quá khả năng đối phó của cá nhân Ví dụ: Những nhu cầu cơ bản của con người gồm: thức ăn, nước

uống, nhà ở, quần áo để mặc, được khám chữa bệnh, được đi học và nuôi dưỡng, việc làm

Việc nhấn mạnh mối quan hệ qua lại giữa quyền và nhu cầu cơ bản là một ví dụ điển hình và là trọng tâm của CTXH Quyền con người

và nhu cầu cơ bản tương giao với các hiện tượng trong xã hội và cũng hướng tới cách tiếp cận hòa nhập, toàn diện trong thực hành CTXH

Hãy nói về “Công bằng xã hội”, CTXH phải quan tâm đến câu hỏi cái gì hình thành nên “một xã hội tốt đẹp” Ở mức độ cơ bản, “một xã hội tốt đẹp” sẽ đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người thông qua việc cung cấp các dịch vụ và các nguồn lực Đối với việc đáp ứng nhu cầu sống còn (như: thực phẩm, nước uống, nhà ở), một xã hội tốt sẽ đưa

ra nhiều lựa chọn để cá nhân chọn những gì mình cho là phù hợp (ví dụ:

họ chọn ăn cái gì, chọn sống ở đâu, chọn dịch vụ nào v.v)

Hơn nữa, trong một xã hội tốt đẹp, mọi người đều được tiếp cận với những lựa chọn, và những lựa chọn này không chỉ dành cho một số

Trang 19

người có đặc quyền đặc lợi Cuối cùng, trong một xã hội tốt, nguồn lực

có sẵn sẽ được sử dụng một cách hiệu quả và người dân sẽ được tạo

cơ hội tối đa để tham gia vào việc lên kế hoạch, vào tiến trình xây dựng chính sách, và vào việc quyết định những nguồn lực và những dịch vụ nào mà xã hội cần phải có và cung cấp Hay nói cách khác, mọi người được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực và dịch vụ bao gồm cả không gian công cộng, bệnh viện và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục

và việc làm Thực tế cho thấy ở Việt Nam thì các nguồn lực này thường

có ở các thành phố, nhưng đối với nông thôn hay vùng sâu vùng xa còn rất hạn chế Điều này cũng tạo ra những thách thức lớn cho CTXH ở vùng nông thôn Tất cả những lựa chọn này cho thấy môi trường cần phải đáp ứng nhu cầu của người dân, và đó chính là trọng tâm của CTXH về một xã hội tốt

Mỗi người đều có những quan điểm mạnh mẽ về cái gì họ cho là đúng hay sai và sự thay đổi sẽ xảy ra như thế nào Khi làm việc để tăng cường

và cải thiện cuộc sống của người khác, NVXH cần dò tìm đam mê của

họ, cần hiểu rõ động cơ của mình khi bước vào ngành giúp đỡ, ví dụ: tôi học vì tôi muốn giúp người Tôi học vì khi tôi gặp khó khăn nhưng không

ai giúp Tôi học vì muốn thay đổi và phát triển xã hội…

Trang 20

2 Trách nhiệm - giải trình - minh bạch

Một trong những tố chất quan trọng của NVXH là trách nhiệm NVXH làm việc với thân chủ gồm: cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng Thân chủ cần NVXH giúp đỡ để họ chịu trách nhiệm, tự giúp mình giải quyết chính vấn đề của họ NVXH có thể trở thành vai trò mẫu bằng việc

tự giải trình và tự chịu trách nhiệm liên quan tới mọi công việc và nhiệm

vụ chuyên môn của mình Điều này có nghĩa là NVXH phải hành xử có đạo đức mà nó được thể hiện qua sự tin cậy, không nói dối, không định kiến, đúng giờ, nhạy cảm với những vấn đề bảo mật

3 Lòng trắc ẩn/thương người

CTXH là nghề giúp đỡ và chăm sóc vì vậy đòi hỏi một cách tiếp cận hiểu biết và thấu cảm khi làm việc với thân chủ Hiểu nhu cầu và mối quan tâm của TC là một phần quan trọngđể giúp NVXH đưa ra các quyết định đúng Dành thời gian để lắng nghe và đặt những câu hỏi và làm rõ vấn

đề sẽ giúp NVXH tìm ra được vấn đề gốc rễ của TC

4 Khả năng thấu cảm

Tố chất quan trọng nhất của NVXH là sự thấu cảm Thấu cảm là khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác một cách gián tiếp để cố gắng hiểu tình huống của họ Thấu cảm sẽ giúp NVXH hiểu những điểm mạnh và điểm hạn chế và nếu chúng ta chấp nhận chúng ta là ai thì sẽ

dễ dàng cho chúng ta chấp nhận người khác

5 Nhận xét chuyên môn/khách quan

Nhận xét chuyên môn/tính khách quan khi làm việc là phẩm chất rất quan trọng của NVXH TC cần NVXH có một cái đầu khách quan, không định kiến để giúp họ giải quyết những khủng hoảng và vấn đề khó khăn và giúp TC đưa ra những quyết định đúng đắn về mục tiêu giúp đỡ Điều này không chỉ đúng với mọi lứa tuổi, mà đặc biệt là khi làm việc với trẻ

em cần bạn vận động và bảo vệ quyền lợi của chúng Khi có nhận xét chuyên môn tốt thì sẽ giúp NVXH không phản ứng theo kiểu tình cảm và

sẽ giúp dễ dàng hơn khi cung cấp những dịch vụ xã hội hiệu quả và có bằng chứng thực nghiệm

Trang 21

6 Tính linh hoạt

Tính linh hoạt trong CTXH xuất hiện dưới nhiều hình thức Trong CTXH

có nhiều lãnh vực thực hành và bạn có thể là NVXH mới vào nghề và chưa có kinh nghiệm vì vậy NVXH cần có khả năng thích nghi nhanh, và

có khả năng nhiều việc cùng một lúc, thích nghi với những thay đổi trong nghề Không có kiểu “một cách làm sẽ phù hợp với mọi nơi, mọi người”,

vì vậy NVXH thường xuyên tham gia các buổi chuyên đề, hội thảo, khóa học ngắn hạn để nâng cao nghiệp vụ và những kiến thức mới NVXH cần

có cái đầu và thái độ mở và có khả năng làm việc với những người ở mọi tầng lớp khác nhau

7 Khả năng lắng nghe chủ động

Lắng nghe là khả năng nghe rất cẩn thận, đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ

và tóm tắt thông tin lắng nghe TC tin tưởng bạn và chia sẽ vấn đề của

họ vì bạn lắng nghe vấn đề của họ, nghĩa là bạn không chỉ nghe những

gì họ nói mà cả ẩn ý trong câu nói của họ, để bạn có thể đưa ra những đánh giá, những hướng dẫn tốt nhất

8 Liêm chính - thành thật - đáng tin cậy

Thành thật-đáng tin cậy là điểm cốt lõi để cùng làm việc với nhau Những NVXH thành công là những người được TC/người dân tin tưởng vì họ thành thật, trung thực, đáng tin cậy và cởi mở Khi TC có khủng hoảng,

họ tìm tới NVXH để cho lời khuyên và những hướng dẫn về các vấn đề

cá nhân, pháp lý, và các vấn đề khác Ý kiến và thông tin của NVXH sẽ

có giá trị nếu TC tin tưởng TC của chúng ta không cần gì khác ngoài sự

• Nhanh nhẹ, tháo vát, năng nổ, nhiệt tình, hòa nhã…

• Yêu quý mọi người, tôn trọng phẩm giá con người

• Luôn soi rọi, soi gương hành vi, lời ăn tiếng nói, cử chỉ v.v hàng ngày

Trang 22

• Luôn hiểu mình, nhận diện ra điểm mạnh, điểm hạn chế của mình

• Luôn học hỏi mọi lúc, mọi nơi, mọi người

• Luôn tự nhận diện những định kiến của mình và chỉnh sửa, điều chỉnh

• Luôn sẵn sàng nhận ra cái sai, cái yếu, cái lỗi và sẵn sàng xin lỗi, sửa sai

• Cân nhắc kỹ càng khi hành động

• Luôn cần giám sát và tham vấn

• Tôn trọng mọi người

• Không đặt điều, nói xấu, lợi dụng người khác

• Không chê hay phê phán người khác một cách thiếu cơ sở

• Luôn đứng về phía đúng, cái thiện, cái chính nghĩa

• Bảo vệ người yếu đuối, xa cơ thất thế

• Luôn mong đợi cộng đồng và xã hội tốt đẹp

• Luôn có tư duy mở, đón nhận cái mới và sự đa dạng

• Nhạy cảm về sự đa dạng văn hóa

• Hiểu văn hóa vùng miền, quốc gia & quốc tế

Chủ đề 3: TRÌNH ĐỘ & NĂNG LỰC CỦA NVXH

NVXH phải được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp và có kinh

nghiệm chuyên môn Chỉ có những người đã có bằng đại học, thạc sĩ, hoặc tiến sĩ về chuyên ngành công tác xã hội ở một trường uy tín có kiểm định chất lượng về chương trình đào tạo và hoàn thành một số

giờ thực hành và được giám sát thực địa bởi nhân viên chuyên nghiệp

và kinh nghiệm thì mới được gọi là nhân viên xã hội chuyên nghiệp

TRÌNH ĐỘ VÀ NĂNG LỰC CỦA NVXH - 4 YẾU TỐ CHÍNH

a Kiến thức: NVXH chuyên nghiệp phải có tri thức sâu và nền

tảng kiến thức khoa học và các lý thuyết thực hành, quan điểm,

mô hình, báo cáo, bằng chứng nghiên cứu và phân tích dữ, luật, chính sách và các thủ tục (ví dụ thủ tục chính sách, luật phát nhận con nuôi) để thực hành ở cấp độ vi mô, trung mô và vĩ mô

Trang 23

b Giá trị và đạo đức NGHỀ: NVXH chuyên nghiệp phải tuân thủ

Quy Điều Đạo Đức của ngành CTXH

• Giá trị là những gì tốt và đáng khao khát, hành động và trách nhiệm đạo đức

tuân thủ đạo đức nghề, khách quan, không định kiến, không chê trách - phê phán THIẾU CƠ SỞ, dựa trên nền tảng khoa học, luôn học hỏi, thích và quí mến mọi người, dấn thân, không ngại khó - ngại khổ, khả năng chịu đựng những than phiên - bi kịch -đau khổ trong cuộc sống cao, có tôn trọng sự đa dạng và văn hóa toàn cầu và bản địa v.v

d Các kỹ năng: NVXH chuyên nghiệp phải áp dụng nhiều kỹ năng

và đa vai trò cùng một lúc trong thực hành, ví dụ: kỹ năng “soi gương”, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng vấn đàm, ghi chú, phân tích, tổng hợp dữ liệu, thấu cảm, tổ chức sự kiện - hoạt động - phong trào, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng trình bày, thuyết phục, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng viết bài cảm nhận và học thuật, tư duy phê phán, báo cáo,

tổ chức cộng đồng, viết thư xin tài trợ, giải quyết vấn đề, kinh doanh, kết nối nguồn lực, tự chăm sóc bản thân, kỹ năng nghiên cứu, đọc, phản hồi v.v

Sau 4 năm học, sinh viên sẽ có thể đạt những năng lực thực hành đưới đây( DỰ THẢO CHUẨN ĐẦU RA CỦA VIỆT NAM): NVXH chuyên

nghiệp phải đạt được 10 năng lực & hành vi thực hành Mười năng lực chuyên môn cốt lõi: (RẤT QUAN TRỌNG - Đây là chuẩn đầu ra)

1 Thể hiện sự hiểu biết về kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên ngành

2 Hiểu biết về giá trị đạo đức nghề CTXH và thể hiện các hành

vi đạo đức đó trong quá trình tác nghiệp

3 Thừa nhận, tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của thân chủ trong quá trình thực hành

4 Nhận thức rõ về quyền con người, về công bằng kinh tế - xã hội

5 Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu khoa học với thực hành CTXH

6 Tham gia vào thực hành chính sách

Trang 24

7 Thu hút sự tham gia của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

8 Đánh giá cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng Đánh giá là một thành phần trong tiến trình công tác xã hội

9 Can thiệp cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

10 Lượng giá thực hành CTXH với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

Hầu hết các cơ sở đại học đào tạo công tác xã hội đều đã có chuẩn đầu ra cho chuyên ngành này, tuy nhiên, do đây là một chuyên ngành mới được đào tạo hơn chục năm gần đây, việc xây dựng chuẩn đầu ra và áp dụng chuẩn đầu ra cũng còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với xu hướng chung của cộng đồng quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam;

Gần đây vào ngày 16 tháng 4 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2015; Thông tư này ban hành quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ Theo nội dung thông tư, việc thiết kế chương trình đào tạo của của các cơ sở đào tạo cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý thuyết với thực hành, đồng thời đảm bảo

chuẩn đầu ra tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và trách nhiệm

nghề Quy định trên đòi hỏi các cơ sở đào tạo nói chung và đào tạo CTXH nói riêng cần thiết kế một chuẩn đầu ra mới

Trong bối cảnh đó Hội đào tạo công tác xã hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Dạy nghề và Nghề công tác xã hội Việt Nam phối hợp với các cơ

sở đại học đào tạo CTXH, đặc biệt là 8 trường đại học tham gia chương trình SWEEP bao gồm: Đại học Lao động Xã hội, Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học khoa học xã hội nhân văn (Hà Nội), Đại học Vinh, Đại học khoa học Huế, Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chính Minh, Đại học Đồng Tháp và Đại học Đà Lạt, nghiên cứu xây dựng chuẩn đầu ra đào tạo bậc cử nhân đại học chuyên ngành CTXH

Trang 25

Mục đích của việc ban hành chuẩn đầu ra

- Việc ban hành chuẩn đầu ra đào tạo bậc đại học chuyên ngành CTXH là nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CTXH,

cả về kiến thức, kỹ năng, bao gồm cả kỹ năng cứng, kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng thực hành CTXH, về thái độ, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp;

- Việc ban hành chuẩn đầu ra cũng làm cơ sở cho các cơ sở đại học đào tạo CTXH hoàn thiện chuẩn đầu ra và xây dựng chương trình, nội dung đào tạo và tổ chức đào tạo phù hợp với chuẩn đầu ra Đồng thời cũng làm cơ sở cho các cơ sở giáo dục bậc đại học xây dựng chuẩn đầu ra cho từng môn học hoặc chuyên ngành nhỏ thuộc chuyên ngành CTXH;

Việc thiết kế chương trình nội dung đào tạo theo chuẩn đầu ra là một phương pháp tiếp cận theo định hướng kết quả Mục tiêu của phương pháp tiếp cận theo kết quả này là nhằm đảm bảo rằng sinh viên có thể tổng hợp và ứng dụng các kiến thức, kỹ năng trong thực hành CTXH với cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cộng đồng một cách hiệu quả;

- Việc ban hành chuẩn đầu ra đào tạo bậc đại học chuyên ngành CTXH còn giúp cho các cơ sở giáo dục đào tạo bậc trung cấp, cao đẳng về CTXH vận dụng xây dựng chuẩn đầu ra cho phù hợp với bậc học, bảo đảm tính thống nhất và sự liên thông giữa các bậc đào tạo chuyên ngành CTXH từ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học;

- Việc ban hành chuẩn đầu ra còn làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên chuyên ngành CTXH, vì rằng đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng là nội dung thiết yếu trong đào tạo theo chuẩn đầu ra Đánh giá kết quả học tập sẽ cung cấp bằng chứng về việc sinh viên đã đạt được mức độ năng lực cần thiết để bắt đầu thực hành chuyên nghiệp, đồng thời cũng minh chứng rằng chương trình đào tạo đã thành công trong việc đạt được những mục tiêu của đề ra.Thông tin đánh giá được sử dụng để nâng cao chương trình đào tạo và cải tiến các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên;

Trang 26

- Việc ban hành chuẩn đầu ra còn làm cơ sở chứng nhận chất lượng đào tạo chuyên ngành CTXH của các cơ sở giáo dục và làm cơ sở cho việc cấp chứng chỉ hành nghề sau này nếu nhân viên CTXH mong muốn được cấp chứng chỉ hành nghề để hành nghề độc lập;

Căn cứ xây dựng tiêu chuẩn đầu ra

- Bản tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên các quy định của Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/04 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2015 Thông tư này ban hành quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và đảm bảo

chuẩn đầu ra tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và trách nhiệm

- Bản tiêu chuẩn này cũng đã kế thừa chuẩn đầu ra hiện có của một

số trường đại học đào tạo về CTXH ở Việt Nam như: Đại học Lao động Xã hội, Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học khoa học xã hội nhân văn (Hà Nội), Đại học Vinh, Đại học khoa học Huế, Đại học khoa học

xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chính Minh, Đại học Đồng Tháp và Đại học Đà Lạt và một số trường đại học khác về kiến thức, kỹ năng (bao gồm cả kỹ năng cứng, kỹ năng mềm), thái độ, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, vị trí việc làm sau khi học…

- Bản tiêu chuẩn này cũng đã tiếp thu có chọn lọc những nội dung phù hợp, tiên tiến về tiêu chuẩn đầu ra của 15 trường đại học có đào tạo chuyên ngành CTXH của các nước như Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Úc

và Hàn Quốc

Trang 27

Các tiêu chuẩn đầu ra

Chuẩn đầu ra là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp mà người học đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, được cơ sở đào tạo cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện Chuẩn đầu ra được thiết kế bằng cách lấy sinh viên tốt nghiệp cử nhân CTXH bậc đại học làm các thước đo thể hiện về: thái độ đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp; sự hiểu biết về kiến thức chung và kiến thức chuyên ngành CTXH; mức độ thành thạo các kỹ năng; khả năng thực hiện các hành vi thực hành dựa trên các kiến thức, giá trị,

kỹ năng đã có và quá trình nhận thức chủ quan trong khi thực hành ; khả năng tham gia nghiên cứu dựa trên thực hành và thực hành dựa vào nghiên cứu; khả năng tham gia xây dựng chính sách dựa trên thực hành; khả năng hòa nhập,làm việc với cá nhân, gia đình, nhóm,

tổ chức và cộng đồng; năng lực thu thập thông tin, đánh giá, xây dựng kế hoạch can thiệp, tổ chức thực hiện kế hoạch can thiệp và lượng giá Tất cả sự thể hiện nêu trên được mô tả trong mỗi chuẩn đầu ra; các thể hiện về thái độ đạo đức, trách nhiệm nghề, kiến thức,

kỹ năng, hành vi thực hành, năng lực hành động được quy định ở mối chuẩn đầu ra chỉ đại diện ở mức tối thiểu và cấp độ chung Do vậy các chương trình đào tạo CTXH cụ thể có thể bổ sung các chuẩn đầu ra và các hành vi, năng lực thực hành phù hợp với mục tiêu đào tạo của các trường và đáp ứng được hoàn cảnh

Thuật ngữ nhân viên công tác xã hội (CTXH) được sử dụng trong bản chuẩn đầu ra này để miêu tả sinh viên chuyên ngành CTXH;

Chuẩn đầu ra của Việt Nam này gồm có 10 tiêu chuẩn với 39 tiêu chí nhỏ

Chuẩn đầu ra 1: Thể hiện sự hiểu biết về kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên ngành

1.1 Hiểu biết được các kiến thức nền tảng về các quy luật, nguyên lý của tự nhiên, xã hội và các môn học khác có liên quan đến chuyên ngành công tác xã hội;

Trang 28

1.2 Hiểu biết về vai trò, chức năng và cấu trúc hệ thống phúc lợi xã hội; nắm được một cách hệ thống các dịch vụ xã hội được cung cấp

ở mức tác nghiệp của hệ thống phúc lợi xã hội

1.3 Hiểu biết về lịch sử phát triển của ngành công tác xã hội trên thế giới và ở Việt Nam với tư cách vừa là một ngành khoa học và vừa là một nghề chuyên môn trong một xã hội phát triển

1.4 Hiểu biết về sự phát triển của con người ở các mặt thể chất, nhận thức và tâm lý xã hội qua các giai đoạn phát triển khác nhau; đồng thời lý giải được mối liên hệ mật thiết giữa hành vi con người

và môi trường xã hội

1.5 Hiểu biết các lý thuyết công tác xã hội căn bản cũng như các phương pháp thực hành công tác xã hội tổng quát vào quá trình hỗ trợ các hệ thống thân chủ khác nhau như cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cộng đồng

1.6 Hiểu biết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng như các phương pháp nghiên cứu công tác xã hội cụ thể bao gồm cả những phương pháp nghiên cứu định lượng lẫn định tính ở mức căn bản

1.7 Hiểu biết các vấn đề xã hội trong bối cảnh phát triển của Việt Nam và thế giới; Hiểu biết về chính sách xã hội và phân tích được sự tác động của nó thông qua hệ thống các dịch vụ xã hội nhằm giúp giải quyết các vấn đề xã hội

Chuẩn đầu ra 2: Hiểu biết về giá trị đạo đức nghề CTXH và thể hiện các hành vi đạo đức đó trong quá trình tác nghiệp, cụ thể:

2.1 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức về nền tảng giá trị và các tiêu chuẩn đạo đức của nghề CTXH, từ đó bằng tư duy phản biện suy rộng và áp dụng nền tảng giá trị và tiêu chuẩn đạo đức này cho những trường hợp tương tự

2.2 Nhân viên CTXH phân biệt rõ giá trị cá nhân với giá trị nghề nghiệp và không áp dụng giá trị cá nhân vào giá trị nghề nghiệp Nhân viên CTXH biết cách tự suy ngẫm, điều chỉnh và kiểm soát giá trị cá nhân mà không làm ảnh hưởng đến các giá trị nghề nghiệp trong các tình huống thực hành;

Trang 29

2.3 Nhân viên CTXH hiểu rõ vai trò, trách nhiệm, sứ mệnh nghề CTXH trước khi đưa ra quyết định trong quá trình hỗ trợ thân chủ và hiểu rằng mỗi quyết định được đưa ra đều ảnh hưởng đến thân chủ; Những quyết định dựa trên vai trò, trách nhiệm, sứ mệnh nghề CTXH là những quyết định có ảnh hưởng tích cực trong quá trình can thiệp trợ giúp này

2.4 Nhân viên CTXH hiểu rõ ảnh hưởng tiêu cực của việc vận dụng tình cảm cá nhân vào chuyên môn nghiệp vụ; Những xúc cảm cá nhân trước hoàn cảnh của một thân chủ cụ thể sẽ khiến nhân viên CTXH đánh mất vị thế là người trợ giúp thân chủ tự vượt qua khó khăn 2.5 Nhân viên CTXH hiểu rõ và vận dụng một cách có đạo đức các loại hình công nghệ, nhất là công nghệ mới, phù hợp với nghề trong thực hành CTXH

Chuẩn đầu ra 3: Thừa nhận, tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của thân chủ trong quá trình thực hành, cụ thể:

3.1 Nhân viên CTXH hiểu được mỗi thân chủ đều có những đặc điểm riêng, lối sống riêng, kinh nghiệm riêng và cần thừa nhận, tôn trọng những dấu ấn riêng biệt đó

3.2 Nhân viên CTXH nhận thức rõ các hình thức biểu hiện những nét riêng của mỗi thân chủ và có khả năng tìm hiểu nguồn gốc tạo ra những nét riêng biệt này

3.3 Nhân viên CTXH hiểu được đặc điểm riêng của mỗi thân chủ là kết quả giao thoa của nhiều tác động (tuổi, giới tính, dân tộc, kinh nghiệm sống, tình trạng sức khoẻ, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh kinh tế, sự thành công/thất bại, sự cô đơn hoặc yếu tố tôn giáo …) 3.4 Nhân viên CTXH có khả năng nhận thức và tự kiểm soát nhằm không đưa ra những ý kiến mang tính định kiến, không áp dụng trải nghiệm cá nhân vào quá trình trợ giúp thân chủ Tuy nhiên, nhân viên CTXH cần có khả năng vận dụng những trải nghiệm nghề vào phán đoán hoàn cảnh của thân chủ nhằm so sánh đặc điểm của thân chủ này với những thân chủ khác từ đó xác định sơ bộ lộ trình can thiệp trợ giúp

Trang 30

Chuẩn đầu ra 4: Nhận thức rõ về quyền con người, về công bằng kinh tế - xã hội, cụ thể:

4.1 Nhân viên CTXH được trang bị các kiến thức về quyền con người để hiểu rằng dù ở địa vị nào trong xã hội thì mọi người cũng đều có những quyền cơ bản ngang nhau như: quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, quyền được an toàn, quyền riêng tư, quyền được chăm sóc sức khỏe và học hành…

4.2 Nhân viên CTXH được trang bị các kiến thức để hiểu rõ các rào cản đối với việc thực hiện quyền con người và công bằng trong kinh

tế - xã hội đối với thân chủ; Các rào cản này có thể bắt nguồn từ khả năng nhận thức, tình trạng sức khoẻ, khả năng kinh tế, chính sách, trách nhiệm hoặc từ nhiều nguồn khác

4.3 Nhân viên CTXH hiểu được rằng, những rào cản này có sự giao thoa và tác động khác nhau đến quyền con người và công bằng trong kinh tế - xã hội của mỗi thân chủ

4.4 Nhân viên CTXH biết cách vận dụng những hiểu biết của mình

về quyền con người về sự công bằng trong kinh tế - xã hội nhằm biện hộ và bảo vệ thân chủ

Chuẩn đầu ra 5: Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu khoa học với thực hành CTXH Cụ thể:

5.1 Nhân viên CTXH cần được trang bị phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính và có khả năng vận dụng chúng vào nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu trường hợp

5.2 Nhân viên CTXH cần hiểu được tầm quan trọng của việc thực hiện đồng thời các hoạt động nghiên cứu và các hoạt động thực hành CTXH; Các bằng chứng nghiên cứu khoa học được sử dụng làm cơ sở cho việc thực hành và những phát hiện trong quá trình thực hành củng cố cho các lập luận nghiên cứu

Chuẩn đầu ra 6: Tham gia vào thực hành chính sách

6.1 Nhân viên CTXH nhận thức được các quyền con người, công bằng xã hội, phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội… đều do việc điều chỉnh và thực thi chính sách ở các cấp khác nhau mang lại và tác động đến hệ thống thân chủ;

Trang 31

6.2 Nhân viên CTXH cần hiểu rõ nội dung hiện hành của các văn bản chính sách xã hội nói chung, chính sách trợ giúp xã hội, chính sách an sinh xã hội, chính sách phúc lợi xã hội và các chính sách khác có liên quan đến quyền lợi của thân chủ;

6.3 Nhân viên CTXH cần hiểu được ý nghĩa, vai trò của các chính sách này và vận dụng cho từng trường hợp thân chủ cụ thể

6.4 Nhân viên CTXH cần được trang bị khả năng đánh giá tác động của từng chính sách đến các nhóm thân chủ, thậm chí đến từng thân chủ nhằm bảo vệ quyền lợi của thân chủ theo nội dung quy định trong chính sách, đồng thời tham mưu, tư vấn, thậm chí đề xuất điều chỉnh, bổ sung chính sách theo hướng đảm bảo lợi ích cho thân chủ

Chuẩn đầu ra 7: Thu hút sự tham gia của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, cụ thể:

7.1 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức để hiểu rằng sự tham gia của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng đóng vai trò tích cực cho quá trình can thiệp trợ giúp thân chủ

7.2 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành thu hút sự tham gia của các chủ thể này

7.3 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ và trách nhiệm điều tiết sự tham gia của các chủ thể xã hội vào quá trình thực hành nghề

Chuẩn đầu ra 8: Đánh giá cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng Đánh giá là một thành phần trong tiến trình công tác xã hội, cụ thể:

8.1 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức nhận biết hệ thống các mối quan hệ của thân chủ thông qua các tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp

8.2 Nhân viên CTXH được trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp đánh giá hệ thống các mối quan hệ của thân chủ từ đó tổ chức thu thập thông tin rồi tiến hành phân tích và giải thích chúng nhằm nâng cao hiệu quả thực hành nghề

Trang 32

8.3 Nhân viên CTXH hiểu được rằng những trải nghiệm riêng và cảm xúc của bản thân có thể ảnh hưởng đến khả năng đánh giá và

ra quyết định

8.4 Nhân viên CTXH có khả năng lựa chọn chiến lược can thiệp phù hợp với từng thân chủ dựa trên kết quả đánh giá thực tế, các giá trị văn hoá - xã hội và dựa trên sự ưu tiên theo hệ thống các mối quan

ra theo hệ thống các mối quan hệ của thân chủ bao gồm các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

9.3 Nhân viên CTXH nắm vững các phương pháp xác định, phân tích và thực hiện các biện pháp can thiệp dựa trên thông tin thu thập được từ thực tế nhằm đạt được nhiều mục đích đề ra theo hệ thống các mối quan hệ của thân chủ

9.4 Nhân viên CTXH nhận biết rằng để đạt được một kết quả can thiệp trợ giúp tốt cho thân chủ thì cần có sự hợp tác của các chuyên gia tư vấn ở nhiều ngành khác nhau, và sự hỗ trợ của Kiểm huấn viên về định hướng hành vi;

Chuẩn đầu ra 10: Lượng giá thực hành CTXH với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

10.1 Nhân viên CTXH hiểu rõ rằng lượng giá là một thành phần trong tiến trình thực hành CTXH với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng; Kết quả của việc lượng giá giúp nâng cao hiệu quả thực hành nghề CTXH

Trang 33

10.2 Nhân viên CTXH nắm vững các phương pháp lượng giá kết quả đạt được, bao gồm: lựa chọn và sử dụng các phương pháp lượng giá phù hợp; phân tích các kết quả lượng giá; và áp dụng kết quả lượng giá cho những hoạt động tương tự

(Nguồn: HIỆP HỘI DẠY NGHỀ VÀ NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VIỆT

NAM & HỘI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÔNG TÁC XÃ HỘI, 2015)

Tham khảo: 09 Năng lực chuyên nghiệp/CHUẨN ĐẦU RA CỦA HOA KỲ: NVXH chuyên nghiệp phải đạt được 09 năng lực & hành vi thực

hành Chín năng lực chuyên môn cốt lõi: (RẤT QUAN TRỌNG - Đây là chuẩn đầu ra)

Giới thiệu bộ chuẩn đầu ra của đào tạo CTXH Hoa Kỳ được đề xuất bởi hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ (CSWE)

Đào tạo theo chuẩn đầu ra

Năm 2008, Hội đồng Giáo dục Công tác xã hội/ CSWE đã thông qua khung chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra đối với Chính sách đào tạo và Các tiêu chuẩn được công nhận chính thức của mình Như trong các ngành dịch vụ nhân văn và y tế, chính sách chuyển từ mô hình thiết

kế chương trình tập trung vào nội dung (những điều các sinh viên phải được dạy) và cấu trúc (hình thức và tổ chức của các hợp phần đào tạo) sang mô hình tập trung vào kết quả học tập của sinh viên Cách tiếp cận theo định hướng kết quả liên quan đến việc xác định và đánh giá những

gì sinh viên thể hiện trong thực hành Trong CTXH phương pháp tiếp cận này đòi hỏi đánh giá khả năng của sinh viên thể hiện các chuẩn đầu ra được xác định trong chính sách đào tạo

Đào tạo theo chuẩn đầu ra dựa trên quan điểm chung về bản chất năng lực trong thực hành nghề nghiệp Năng lực CTXH là khả năng thực hiện các hành vi thực hành phức tạp trong cung cấp dịch vụ chuyên môn nhằm thúc đẩy tình trạng hạnh phúc của con người và phúc lợi của cộng đồng Chính sách đào tạo và các tiêu chuẩn được công nhận chính thức thừa nhận một quan điểm tổng thể về năng lực; đó là sự thực hiện những hành

vi thực hành được định hướng bởi kiến thức, các giá trị, các kỹ năng và các tiến trình nhận thức chủ quan bao gồm tư duy phản biện của nhân viên CTXH, những phản ứng chủ quan và thực hiện đánh giá liên quan

Trang 34

đến những tình huống thực hành riêng có Năng lực nghề nghiệp tổng thể

là năng lực đa chiều và bao gồm những năng lực tương quan Năng lực của cá nhân một nhân viên CTXH được nhìn nhận là phát triển và năng động, thay đổi qua thời gian liên quan đến quá trình học tập liên tục Đào tạo theo chuẩn đầu ra là một phương pháp tiếp cận theo định hướng kết quả đối với thiết kế chương trình Mục tiêu của phương pháp tiếp cận theo kết quả là nhằm đảm bảo rằng có sinh viên có khả năng thể hiện sự tích hợp và ứng dụng các năng lực trong thực hành với các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Trong chính sách đào tạo và các tiêu chuẩn được công nhận chính thức, năng lực thực hành CTXH bao gồm 9 chuẩn đầu ra tương quan với nhau bao gồm các kiến thức, các giá trị, các kỹ năng, tiến trình nhận thức chủ quan

và theo sau đó là một tập hợp các hành vi thực hành.Chuẩn đầu ra được thể hiện bằng cách thực hiện các hành vi thực hành dựa trên các kiến thức, các giá trị, các kỹ năng và những tiến trình nhận thức chủ quan được miêu tả trong mỗi chuẩn đầu ra

Sử dụng một thiết kế chương trình bắt đầu với các kết quả đầu ra như trong các chuẩn đầu ra mong đợi và các hành vi thực hành, các chương trình xây dựng nội dung trọng yếu, phương pháp sư phạm và các hoạt động đào tạo được mong đợi nhằm cung cấp các cơ hội học tập để các sinh viên thể hiện các chuẩn đầu ra này

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là nội dung thiết yếu trong đào tạo theo chuẩn đầu ra Đánh giá cung cấp những bằng chứng mà các sinh viên đã thể hiện mức độ năng lực cần thiết để bắt đầu thực hành chuyên nghiệp, điều mà đến lượt nó thể hiện các chương trình thành công trong việc đạt được những mục tiêu của mình Thông tin đánh giá được sử dụng để nâng cao chương trình đào tạo và các phương pháp được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Các chuẩn đầu ra Công tác xã hội

Chín Chuẩn đầu ra CTXH được liệt kê dưới đây Các chương trình có thể bổ sung các chuẩn đầu ra và các hành vi thực hành phù hợp với sứ mệnh và các mục tiêu của mình và đáp ứng được hoàn cảnh Các hành

vi thực hành được cung cấp ở đây đại diện cho việc thể hiện hành vi tối thiểu của mỗi chuẩn đầu ra ở mức độ chung

Trang 35

Chuẩn đầu ra 1– Thể hiện hành vi Đạo đức và chuyên nghiệp

Các nhân viên CTXH hiểu nền tảng giá trị của nghề và các tiêu chuẩn đạo đức cũng như các quy tắc và quy định có thể tác động đến thực hành nghề Các nhân viên CTXH hiểu các khung đưa ra quyết định đạo đức và làm thế nào để áp dụng các nguyên tắc của tư duy phản biện vào các khung này trong các hệ thống thực hành Các nhân viên CTXH công nhận các giá trị cá nhân và sự khác biệt giữa các giá trị cá nhân và các giá trị nghề nghiệp Họ cũng hiểu rằng những trải nghiệm chủ quan và những phản ứng tình cảm ảnh hưởng đến đánh giá và hành vi chuyên môn như thế nào Các nhân viên CTXH hiểu lich sử nghề, sứ mệnh, vai t

rò và trách nhiệm nghề nghiệp Các nhân viên CTXH cũng hiểu các hình thức công nghệ mới xuất hiện và việc sử dụng công nghệ một cách đạo đức trong thực hành CTXH Các nhân viên CTXH:

1a Đưa ra các quyết định đạo đức bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn trong Quy điều Đạo đức của Hiệp hội nhân viên CTXH quốc gia, các luật

và quy định có liên quan, các mô hình đưa ra quyết định đạo đức và các quy điều đạo đức phù hợp với bối cảnh;

1b Sử dụng suy nghĩ và tự điều chỉnh để kiểm soát các giá trị cá nhân

và duy trì tính chuyên nghiệp trong các tình huống thực tế;

1c Sử dụng công nghệ một cách đạo đức và phù hợp nhằm thúc đẩy các kết quả thực tế; và

1d Sử dụng kiểm huấn và tư vấn để định hướng các đánh giá và hành vi chuyên môn

Chuẩn đầu ra 2– Lưu ý đến Sự đa dạng và Khác biệt trong thực hành

Các nhân viên CTXH hiểu được sự đa dạng và khác biệt tiêu biểu và hình thành trải nghiệm của con người cũng như rất quan trọng đối với việc hình thành bản sắc như thế nào Các phạm vi của sự đa dạng được hiểu như là sự giao thoa của nhiều yếu tố bao gồm nhưng không giới hạn bởi độ tuổi, giai cấp, màu da, văn hóa, khuyết tật, sắc tộc, giới, bản sắc và thể hiện giới tính, tình trạng nhập cư, tư tưởng chính trị, chủng tộc, tôn giáo, tính dục, khuynh hướng tình dục và tình trạng chủ quyền tối

Trang 36

cao Các nhân viên CTXH hiểu rằng, như là hậu quả của sự khác biệt, những trải nghiệm cuộc sống của một con người có thể bao gồm áp bức, nghèo đối, bị đẩy ra ngoài rìa xã hội, và xa lánh cũng như đặc quyền, quyền lực và ca ngợi Các nhân viên CTXH cũng hiểu các hình thức và các cơ chế áp bức và phân biêt đối xử và công nhận phạm vi mà cấu trúc và các giá trị văn hóa bao gồm những loại trừ về xã hội, kinh tế, chính trị và văn hoá có thể đàn áp, đẩy ra ngoài rìa xã hội, xa lánh hay tạo ra đặc quyền và sức mạnh Các nhân viên CTXH:

2a Áp dụng và tuyên truyền những hiểu biết về tâm quan trong của sự

đa dạng và khác biêt trong việc hình thành những trải nghiệm cuộc sống trong thực hành;

2b Thể hiện bản thân là những người học và thu hút sự tham gia của hệ thống thân chủ là những chuyên gia về trải nghiệm của họ; và

2c Ứng dụng tự nhận thức và tự điều chỉnh nhằm kiểm soát sự ảnh hưởng của những định kiến và các giá trị cá nhân trong làm việc với các

hệ thống thân chủ đa dạng

Chuẩn đầu ra 3 – Tăng cường nhân quyền và công bằng kinh tế và

xã hội

Các nhân viên CTXH hiểu răng mọi người bất kể địa vị trong xã hội đều

có những quyền cơ bản như quyền tự do, an toàn, riêng tư, tiêu chuẩn chỗ ở phù hợp, chăm sóc sức khỏe và giáo dục Các nhân viên CTXH hiểu rằng những quan hệ nối liền với nhau toàn cầu của áp bực và vi phạm nhân quyền và hiểu biết về những lý thuyết về công bằng và các chiến lược nhằm thúc đẩy công bằng kinh tế, xã hội và quyền con người Các nhân viên CTXH hiểu rằng các chiến lược được thiết kế nhằm xóa

bỏ những rào cản cấu trúc áp bức để đảm bảo rằng hàng hóa và trách nhiệm xã hội được phân phối một cách công bằng và rằng các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được bảo vệ Các nhân viên CTXH:

3a Áp dụng những hiểu biết của mình về công bằng kinh tế và xã hội để biện hộ cho quyền con người; và

3b Tham gia vào thực hành thúc đẩy công bằng kinh tế và xã hội

Trang 37

Chuẩn đầu ra 4 – Tham gia thực hành dựa trên nghiên cứu và Nghiên cứu dựa trên thực hành

Các nhân viên CTXH hiểu các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Các nhân viên CTXH biết các nguyên tắc logic, điều tra khoa học và các cách tiếp cận đạo đức để xây dựng kiến thức Các nhân viên CTXH hiểu rằng bằng chứng thấm nhuần thực hành xuất phát từ các nguồn đa ngành Họ cũng nhận thức rõ các tiến trình để biến các kết quả nghiên cứu thành thực hành hiệu quả Các nhân viên CTXH:

4a Sử dụng kinh nghiệm thực hành làm cơ sở cho các nghiên cứu và điều tra khoa học;

4b Tham gia phân tích phản biện trong các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính và các kết quả nghiên cứu; và

4c Sử dụng và truyền tải các kết quả nghiên cứu để làm cơ sở và cải thiện thực hành, chính sách và cung cấp dịch vụ

Chuẩn đầu ra 5 – Tham gia vào Thực hành Chính sách

Các nhân viên CTXH hiểu rằng các quyền con người và công bằng xã hội cũng như phúc lợi xã hội và các dịch vụ xã hội được điều chỉnh bởi chính sách và việc thi hành nó ở các cấp liên bang, bang và địa phương Các nhân viên CTXH nắm rõ lịch sử và các cấu trúc hiện tại của các chính sách và dịch vụ xã hội, vai trò của chính sách trong cung cấp dịch

vụ, và vai trò của thực hành trong xây dựng chính sách Các nhân viên CTXH công nhận và hiểu rõ những ảnh hưởng của xã hội, kinh tế, tổ chức, môi trường và toàn cấu tác động đến chính sách xã hội Họ cũng

am hiểu về việc xây dựng, phân tích và thi hành chính sách Các nhân viên CTXH:

5a Đánh giá các chính sách phúc lợi xã hội và kinh tế tác động như thế nào đến việc cung cấp và tiếp cận các dịch vụ xã hội;

5b Phân tích một cách phản biện và thúc đẩy các chính sách tăng cường quyền con người và công bằng kinh tế - xã hội

Trang 38

Chuẩn đầu ra 6 –Thu hút sự tham gia của các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng

Các nhân viên CTXH hiểu rằng thu hút sự tham gia là một thành phần tiếp diễn trong tiến trình năng động và tương tác của thực hành CTXH với, và nhân danh, các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH đánh giá cao tầm quan trọng của các mối quan hệ con người Các nhân viên CTXH nắm vững những học thuyết về hành vi con người và môi trường xã hội cũng như cách sử dụng chúng để khuyến khích sự tham gia của hệ thống thân chủ bao gồm các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH hiểu các chiến lược để thu hút sự tham gia của các

hệ thống thân chủ đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả thực hành Các nhân viên CTXH biết những trải nghiệm chủa quan và các phản ứng tình cảm của họ có thể tác động đến khả năng thu hút sự tham gia một cách hiệu quả với các hệ thống thân chủ như thế nào Các nhân viên CTXH: 6a Áp dụng kiến thức về hành vi con người và môi trường xã hội và bối cảnh thực hành để tương tác với các hệ thống thân chủ; và

6b Sử dụng các kỹ năng thấu cảm, tự điều chỉnh và giao tiếp liên cá nhân

để thu hút sự tham gia của các hệ thống thân chủ đa dạng một cách hiệu quả

Chuẩn đầu ra 7 – Đánh giá các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các

tổ chức và các cộng đồng

Các nhân viên CTXH nắm rõ tằng đánh giá là một thành tố tiếp diễn trong tiến trình năng động và tương tác của thực hành CTXH với, và nhân danh, các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH hiểu rõ các lý thuyết về hành vi con người và môi trường xã hội cũng như những ứng dụng của các học thuyết này đối với đánh giá các hệ thống thân chủ đa dạng, bao gồm các

cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH nắm vững các phương pháp đánh giá với các hệ thống thân chủ đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả thực hành Các nhân viên CTXH công nhận các mối liên quan của bối cảnh thực hành rộng lớn hơn

Trang 39

trong tiến trình đánh giá Các nhân viên CTXH hiểu những trải nghiệm chủ quan và phản ứng tình cảm của họ có thể tác động đến việc đánh giá và đưa ra quyết định của họ như thế nào Các nhân viên CTXH: 7a Thu thập, tổ chức, phân tích và giải nghĩa một cách phê phán những thông tin từ các hệ thông thân chủ;

7b Áp dụng kiển thức về hành vi con người và môi trường xã hội, con người trong môi trường, và các khung lý thuyết đa ngành khác trong đánh giá các dữ liệu từ các hệ thống thân chủ;

7c Xây dựng các mục tiêu và mục đích can thiệp có sự đồng thuận chung dựa trên đánh giá phản biện các điểm mạnh, các nhu cầu và các thách thức trong các hệ thống thân chủ; và

7d Lựa chọn các chiến lược can thiệp phù hợp dựa trên đánh giá, kiến thức nghiên cứu, các giá trị và sự ưu tiên của các hệ thống thân chủ

Chuẩn đầu ra 8 – Can thiệp với các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng

Các nhân viên CTXH hiểu rõ rằng can thiệp là một thành phần tiếp diễn trong tiến trình năng động và tương tác của thực hành CTXH với, và nhân danh, các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH am tường các can thiệp dựa trên bằng chứng nhằm đạt được những mục đích của các hệ thống thân chủ bao gồm các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH nắm vững các phương pháp xác định, phân thích

và thực hiện các can thiệp dựa trên bằng chứng để đạt được các mục đích của hệ thống thân chủ Các nhân viên CTXH công nhận rằng một kết quả thực hành có ích có thể cần tới sự hợp tác của các chuyên gia ở cac ngành khác nhau Các nhân viên CTXH:

8a Thực hiện các can thiệp nhằm đạt được các mục đích thực hành và nâng cao khả năng của các hệ thống thân chủ;

Trang 40

8b Áp dụng kiến thức về hành vi con người và môi trường xã hội, con người trong môi trường, và các khung lý thuyết đa ngành khác trong các can thiệp với các hệ thống thân chủ;

8c Sử dụng hợp tác liên ngành khi phù hợp để đạt được những kết quả thực hành có ích;

8d Thương lượng, điều đình và biện hộ nhân danh các hệ thống thân chủ; và

8e Thúc đẩy sự chuyển gia và kết thúc hiệu quả tăng cường các mục đích đồng thuận chung

Chuẩn đầu ra 9 - Lượng giá Thực hành với các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng

Các nhân viên CTXH hiểu rõ ràng lượng giá là một thành tố một thành phần tiếp diễn trong tiến trình năng động và tương tác của thực hành CTXH với, và nhân danh, các cá nhân, các gia đình, các nhóm, các tổ chức và các cộng đồng Các nhân viên CTXH công nhận tầm quan trọng của việc lượng giá các kết quả đạt được nhằm nâng cao tính hiệu quả của thực hành, chính sách và cung cấp dịch vụ Các nhân viên CTXH nắm vững các phương pháp lượng giá các kết quả đạt được và hiệu quả thực hành Các nhân viên CTXH:

9a Lựa chọn và sử dụng các phương pháp phù hợp để lượng giá các kết quả;

9b Phân tích, giám sát và lượng giá các tiến trình can thiệp và các kết quả đạt được một cách phê phán; và

9c Áp dụng các kết quả lượng giá nhằm nâng cao hiệu quả thực hành

Chủ đề 4: Chân dung của NVXH

• NVXH làm việc với ai?

• NVXH làm trong lĩnh vực nào?

• NVXH làm việc ở đâu?

• NVXH làm những công việc gì?

Ngày đăng: 25/10/2019, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w