1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BAI THI LS DANG BO TINH2019 huong

31 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử Đảng Tiếp nối các hoạt động hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2018, góp phần giải quyết ô nhiễm nhựa và túi ni lông, ngày 1210 tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Lễ phát động phong trào ‘Chống rác thải nhựa’.

Trang 1

BÀI DỰ THI CUỘC THI “TÌM HIỂU LỊCH SỬ

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI, GIAI ĐOẠN 1930 - 2020”

Họ và tên: Tạ Nữ Công Uyên Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 03/05/1990

Nghề nghiệp: giáo viên

Đang công tác tại: Trường PTDTNT THCS Ba Tơ

Địa chỉ liên hệ: số 07 đường 30 tháng 10, thị trấn Ba Tơ, Huyện Ba Tơ, TỉnhQuảng Ngãi

Số điện thoại: 0978773789

Câu 1 Trình bày sự thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi và ý nghĩa của sự kiện này?

* Sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi:

- Từ sau Đại hội lần thứ I của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng5.1929), các tổ chức cộng sản lần lượt ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng6.1929), An Nam Cộng sản Đảng (mùa thu 1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn(tháng 1.1930) Thực trạng này ảnh hưởng đến phong trào yêu nước và cách mạngcủa nhiều địa phương trong nước, trong đó có Quảng ngãi

- Trước tình hình Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chuyển hóa thành các tổchức cộng sản có tính chất phân liệt, Tỉnh bộ Thanh niên Quảng Ngãi nhận thức cầnphải hình thành Đảng Cộng sản để đưa cách mạng phát triển, đồng thời cũng suy nghĩ

về phương thức chuyển hóa để sớm thành lập Đảng bộ Cộng sản, hòa nhập vào xuhướng thành lập Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước

- Trong lúc cần có thời gian xem xét việc gia nhập tổ chức cộng sản nào là đúngnhất, cuộc họp của Ban Chấp hành Tỉnh bộ, tại núi Xương Rồng (xã Phổ Phong,huyện Đức Phổ) vào cuối tháng 7.1929, đã chủ trương tuyên bố tất cả cán bộ và hộiviên của Tỉnh bộ Thanh niên Quảng Ngãi phải hoạt động theo tinh thần của một tổchức cộng sản và quyết định thành lập tổ chức "Dự bị Cộng sản" làm nhiệm vụ củaBan vận động thành lập Đảng bộ Cộng sản ở Quảng Ngãi Đây là bước trực tiếpchuẩn bị thành lập tổ chức cộng sản ở Quảng Ngãi, thể hiện xu hướng chung về việcthành lập một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước Từ đó, các chi bộ "Dự bịCộng sản" lần lượt ra đời trong tỉnh

- Sau hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam (3.2.1930), tháng 3.1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi

ra đời trên cơ sở thống nhất các chi bộ "Dự bị Cộng sản", do Nguyễn Nghiêm làm Bíthư Tỉnh ủy lâm thời

* Ý nghĩa của việc thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi:

- Sự kiện này đánh dấu kết thúc quá trình chuyển Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên lên tổ chức cộng sản ở Quảng Ngãi, mở ra một bước ngoặt mới trong

Trang 2

phong trào yêu nước và cách mạng Quảng Ngãi Từ đây, cùng với cả nước, phongtrào cách mạng Quảng Ngãi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Quảng Ngãi là một trong những địa phương sớm xuất hiện các tổ chức yêunước theo khuynh hướng vô sản và sớm thành lập Đảng bộ Cộng sản Trong các yếu

tố dẫn đến sự thành lập Đảng bộ Quảng Ngãi, truyền thống yêu nước và đấu tranh bấtkhuất của nhân dân là yếu tố nổi bật nhất

Câu 2 Từ khi thành lập đến năm 2019, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức bao nhiêu kỳ Đại hội? Nêu cụ thể thời gian tổ chức các Đại hội Kể tên các đồng chí Bí thư, quyền Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ?

- Từ khi thành lập đến năm 2019, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức 19 lần Đại hội, cụ thể như sau:

1 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I:

Tháng 6-1930, tại Hùng Nghĩa (Phổ Phong, huyện Đức Phổ) Đồng chí NguyễnNghiêm được bầu làm Bí thư

2 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II:

Tháng 6-1946, tại xã Tịnh An (huyện Sơn Tịnh) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

có 15 đồng chí Đồng chí Nguyễn Hồng Châu được bầu làm Bí thư

3 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III:

a/ Vòng 1: Tháng 2-1949 tại xã Hành Đức (huyện Nghĩa Hành) Đồng chíTrương Quang Tuân được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy

b/ Vòng 2: Từ ngày 14 đến ngày 20-3-1950, tại xã Tịnh Sơn (huyện Sơn Tịnh).Ban Chấp hành Đảng bộ có 15 đồng chí Đồng chí Trần Văn An được bầu làm Bí thư

4 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV:

Từ ngày 26-3 đến ngày 12-4-1952, tại xã Đức Chánh (huyện Mộ Đức) BanChấp hành Đảng bộ có 19 đồng chí Đồng chí Phạm Xuân Hoà được bầu làm Bí thư

5 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V:

Từ ngày 20 đến ngày 28-2-1960 tại xã Trà Trung (huyện Trà Bồng, nay thuộchuyện Tây Trà) Ban Chấp hành Đảng bộ có 15 đồng chí (trong đó có 4 dự khuyết).Đồng chí Nguyễn Quang Lâm (Tám Tú) được bầu làm Bí thư

6 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI:

Tháng 1-1965 tại xã Ba Điền (huyện Ba Tơ) Ban Chấp hành Đảng bộ có 15đồng chí Đồng chí Trần Kiên được bầu làm Bí thư

7 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII:

Từ ngày 27 đến ngày 30-10-1968 tại xã Sơn Linh (huyện Sơn Hà) Ban Chấphành Đảng bộ có 29 đồng chí (trong đó có 1 dự khuyết) Đồng chí Phạm Thanh Biền(tức Phạm Xuân Thưởng) được bầu làm Bí thư

8 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII:

Trang 3

Từ ngày 4 đến ngày 6-11-1970 tại Măng Xinh (huyện Trà Bồng, nay thuộchuyện Tây Trà) Ban Chấp hành Đảng bộ có 31 đồng chí (có 7 dự khuyết) Đồng chíPhạm Thanh Biền được bầu làm Bí thư.

9 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX:

Từ ngày 27-8 đến ngày 31-8-1973 tại xã Nghĩa Lâm (huyện Tư Nghĩa) BanChấp hành Đảng bộ có 31 đồng chí (có 5 dự khuyết) Đồng chí Lê Tấn Toả (VõHanh) được bầu làm Bí thư

10/ Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ I (thứ tự là thứ X):

a/ Vòng 1: Từ ngày 18 đến ngày 20-11-1976 tại Quy Nhơn, nội dung góp ý Dựthảo các Văn kiện và bầu đoàn đại biểu của Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình dự Đại hội đạibiểu lần thứ IV của Đảng

b/ Vòng 2: Từ ngày 23 đến ngày 27-3-1977 tại Quy Nhơn Ban Chấp hành Đảng

bộ có 35 đồng chí (trong đó có 2 dự khuyết) Đồng chí Võ Văn Đinh được bầu làmQuyền Bí thư

11 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ II (thứ tự là thứ XI):

Từ ngày 7 đến ngày 11-11-1979 tại Quy Nhơn Ban Chấp hành Đảng bộ có 45đồng chí (trong đó có 4 dự khuyết) Đồng chí Nguyễn Quang Lâm được bầu làm Bíthư

12 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ III (thứ tự là thứ XII):

a/ Vòng 1: Từ ngày 9 đến ngày 17-1-1982 tại Quy Nhơn, nội dung góp ý Dựthảo các Văn kiện và bầu đoàn đại biểu của Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình dự Đại hội đạibiểu lần thứ V của Đảng

2/ Vòng 2: Từ ngày 31-1 đến ngày 5-2-1983 tại Quy Nhơn Ban Chấp hành có

47 đồng chí (trong đó có 2 dự khuyết) Đồng chí Đỗ Quang Thắng được bầu làm Bíthư

13 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ IV (thứ tự là thứ XIII):

Từ ngày 10 đến ngày 14-10-1986 tại Quy Nhơn Ban Chấp hành Đảng bộ có 65đồng chí (trong đó có 15 dự khuyết) Đồng chí Đỗ Quang Thắng được bầu làm Bíthư

14 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIV:

a/ Vòng 1: Từ ngày 24 đến ngày 28-4-1991 tại Nhà Văn hoá Lao động tỉnh, nộidung góp ý Dự thảo các Văn kiện và bầu đoàn đại biểu của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi

đi dự Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng

b/ Vòng 2: Từ ngày 17 đến ngày 20-10-1991 tại nhà Văn hoá Lao động tỉnh.Ban Chấp hành Đảng bộ có 41 đồng chí Đồng chí Đỗ Minh Toại được bầu làm Bíthư

15 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XV:

Trang 4

Từ ngày 6 đến ngày 10-5-1996 tại nhà Văn hoá Lao động tỉnh Ban Chấp hànhĐảng bộ có 45 đồng chí Đồng chí Võ Đức Huy được bầu làm Bí thư.

16 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVI:

Từ ngày 2 đến ngày 4-3-2001 tại Nhà Văn hoá Lao động tỉnh Ban Chấp hànhĐảng bộ có 45 đồng chí Đồng chí Võ Đức Huy được bầu làm Bí thư

17 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVII:

Từ ngày 14 đến ngày 16-12-2005 tại Hội trường Công an tỉnh Ban Chấp hànhĐảng bộ có 49 đồng chí Đồng chí Hồ Nghĩa Dũng được bầu làm Bí thư

18 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII:

Từ ngày 28 đến ngày 30-9-2010 tại Nhà Văn hoá lao động Ban Chấp hànhĐảng bộ có 55 đồng chí Đồng chí Nguyễn Hoà Bình được bầu làm Bí thư

19 Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX:

Từ ngày 21 đến ngày 23-10-2015 tại Nhà Văn hoá Lao động Ban Chấp hànhĐảng bộ có 55 đồng chí Đồng chí Lê Viết Chữ được bầu làm Bí thư

- Các đồng chí Bí thư, quyền Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ:

1 Đồng chí Nguyễn Nghiêm, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 3/1930 - 4/1931

2 Đồng chí Phan Thái Ất, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 4/1931 - 7/1931

3 Đồng chí Võ Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 1/1932 - giữa năm 1932

4 Đồng chí Phạm Quy, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 3/1933 - 1934

5 Đồng chí Phạm Xuân Hòa, Bí thư Tỉnh ủy từ 1934 - 5/1935, 4/1951 - 1953;Quyền Bí thư từ 1954 - 2/1955

6 Đồng chí Nguyễn Công Phương, Bí thư Tỉnh ủy từ cuối năm 1935 - 1936

7 Đồng chí Phạm Trung Mưu, Bí thư Tỉnh ủy từ cuối năm 1936 - 1937

8 Đồng chí Nguyễn Trí, Bí thư Tỉnh ủy từ năm 1937 - 1938

9 Đồng chí Nguyễn Thành Nghi, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 3/1938 - 9/1939

10 Đồng chí Nguyễn Chánh, Bí thư Tỉnh ủy từ 9/1939 - 10/1939

11 Đồng chí Võ Xuân Hào, Bí thư Tỉnh ủy từ 4/1940 - 4/1941

12 Đồng chí Huỳnh Tấu, Bí thư Tỉnh ủy từ 5/1943 - 8/1943

13 Đồng chí Trương Quang Giao, Bí thư Tỉnh ủy từ 12/1944 - 9/1945

14 Đồng chí Trần Quý Hai, Bí thư Tỉnh ủy từ 9/1945 - 2/1946

15 Đồng chí Huỳnh Viết, Quyền Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 3 - 6/1946

16 Đồng chí Nguyễn Hồng Châu, Bí thư Tỉnh ủy từ 6/1946 - 5/1947

17 Đồng chí Trương Quang Tuân, Bí thư Tỉnh ủy từ 5/1947 - 9/1949

18 Đồng chí Trần Văn An, Quyền Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy từ 9/1949 – 1951

19 Đồng chí Nguyễn Quang Lâm, Bí thư Tỉnh ủy từ 10/1955 - 10/1960;

Trang 5

Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình từ 3/1978 - 12/1979.

20 Đồng chí Phạm Thanh Biền, Bí thư Tỉnh ủy từ 11/1960 -1961 và 1971

4/1965-21 Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa, Bí thư Tỉnh ủy từ 1/1962 - đầu 1964

22 Đồng chí Võ Phấn, Bí thư Tỉnh ủy năm 1964

23 Đồng chí Trần Kiên, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ tháng 1- 4/1965, Bí thưTỉnh ủy Nghĩa Bình từ 12/1980 - 4/1982

24 Đồng chí Lê Tấn Tỏa, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ 10/1971 - 12/1975; Bíthư Tỉnh ủy Nghĩa Bình từ 1/1976 - 7/1977

25 Đồng chí Võ Văn Đinh, Quyền Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình từ 1/1980 12/1980

-26 Đồng chí Võ Trung Thành, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình từ 4/1982 - 7/1982

27 Đồng chí Đỗ Quang Thắng, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình từ 8/1982 - 6/1989;

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ 6/1989 - 7/1991

28 Đồng chí Võ Trọng Nguyễn, Quyền Bí thư Tỉnh ủy từ 6 - 11/1991

29 Đồng chí Đỗ Minh Toại, Bí thư Tỉnh ủy từ 1991 - 1996

30 Đồng chí Võ Đức Huy, Bí thư Tỉnh ủy từ 5/1996 - 3/2002

31 Đồng chí Hồ Nghĩa Dũng, Bí thư Tỉnh ủy từ 9/2002 - 7/2006

32 Đồng chí Phạm Đình Khối, Quyền Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy từ 7/2006 6/2010

-33 Đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Tỉnh ủy từ 6/2010 - 8/2011

34 Đồng chí Võ Văn Thưởng, Bí thư Tỉnh ủy từ 8/2011 - 4/2014

35 Đồng chí Nguyễn Minh, Quyền Bí thư Tỉnh ủy từ 4/2014 - 2/2015

36 Đồng chí Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 2/2015 đến nay

Câu 3 Những thắng lợi tiêu biểu của phong trào cách mạng tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 1930 - 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi?

1 Cuộc biểu tình chiếm Huyện đường Đức Phổ

Để đưa phong trào cách mạng Quảng Ngãi phát triển lên một bước mới, tháng6.1930, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi được tiến hành, bầu

ra Tỉnh ủy chính thức, do đồng chí Nguyễn Nghiêm làm Bí thư Các tổ chức quầnchúng như Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Thanh niên cứu tế đỏ, Phụ nữ cứu tế đỏ, Tự vệ

đỏ (xích vệ) được Đảng bộ xây dựng trong toàn tỉnh Báo chí cách mạng lần lượtđược xuất bản ở tỉnh lỵ và các phủ, huyện để tuyên truyền đường lối của Đảng, khơidậy lòng yêu nước thương dân, tố cáo tội ác của thực dân Pháp và Nam triều, độngviên quần chúng đứng lên đấu tranh

Cùng với việc củng cố và phát triển hệ thống tổ chức, tuyên truyền vận động,Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi phát động các đợt đấu tranh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao

Trang 6

động (1/5), ngày Quốc tế chống chiến tranh đế quốc (1/8), ủng hộ Liên bang Xô Viết.Trên cơ sở phong trào cách mạng diễn ra từ đầu năm 1930, dưới sự lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh và các chi bộ địa phương, đến 30/4/1930, truyền đơn và cờ Đảng đãxuất hiện ở tỉnh lỵ và nhiều nơi trong tỉnh Nhiều cuộc mít tinh đã được tổ chức ở cácđịa phương Đức Phổ, Mộ Đức, Sơn Tịnh.

Tháng 9.1930, phong trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh phát triển lên đỉnh cao với

sự xuất hiện của chính quyền Xô Viết Thực dân Pháp và bọn tay sai tiến hành đàn ápkhốc liệt Theo lời kêu gọi "Ủng hộ Nghệ - Tĩnh đỏ" của Trung ương Đảng và Xứ ủyTrung Kỳ, nhân dân Quảng Ngãi đã vùng dậy mạnh mẽ, mở đầu là cuộc đấu tranhcủa nhân dân Đức Phổ

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, đêm mùng 7 rạng ngày mùng 8.10.1930,gần 5.000 đồng bào huyện Đức Phổ đã biểu tình kéo về bao vây và chiếm lĩnh huyệnđường, viên Tri huyện Nguyễn Phan Lang và toàn bộ bọn lại lục, lính tráng trốn chạy.Đoàn biểu tình xông vào huyện đường đốt phá công văn giấy tờ, hồ sơ, ấn triện, thả

tù nhân, dán áp phích, rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm, hô vang các khẩu hiệucách mạng, tuần hành xung quanh huyện lỵ và các xã lân cận

2 Khởi nghĩa Ba Tơ

Sau khi ra đời, Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi khẩn trương triểnkhai, phổ biến chủ trương của Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 (5.1941), Chươngtrình, Điều lệ của Mặt trận Việt Minh, xúc tiến thành lập các tổ chức cứu quốc, đồngthời bắt liên lạc với cấp trên và các cơ sở cách mạng trong, ngoài tỉnh Chỉ trong mộtthời gian ngắn, các tổ chức cơ sở Đảng và quần chúng được xây dựng từ Ba Tơ đếnNghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Sơn Tịnh, Bình Sơn

Trên đà phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh, từ cuối năm 1943 đếnđầu năm 1944, lần lượt các đồng chí Phạm Kiệt, Trương Quang Giao, Trần Quý Hai,Trần Lương bị địch đưa từ các nhà tù khác về an trí tại Căng an trí Ba Tơ, làm chotrung tâm lãnh đạo cách mạng của tỉnh được tăng cường về lực lượng lãnh đạo.Tháng 12.1944, tại một địa điểm trên suối Nước Năng, Tỉnh ủy lâm thời được thànhlập, đồng chí Trương Quang Giao làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và lãnh đạo Ủy banVận động Cứu quốc tỉnh; đồng chí Phạm Kiệt chịu trách nhiệm về quân sự Cùng vớiviệc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xây dựng các tổ chức quần chúng cứu quốc,công tác vận động đồng bào dân tộc ở những nơi hiểm yếu để xây dựng căn cứ cáchmạng cũng được tăng cường

Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính lật Pháp trên toàn cõi Đông Dương, tạo ra sựkhủng hoảng chính trị nghiêm trọng Mặc dù chưa nhận được chỉ thị “Nhật Pháp bắnnhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng, song với tinh thần chủ động,vận dụng sáng tạo Nghị quyết Trung ương 8, đêm 10.3.1945, Tỉnh ủy lâm thời họp vàquyết định: Chớp thời cơ tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ và một sốđịa phương nhằm tạo ra những điều kiện tiến tới giành chính quyền trong toàn tỉnh.Ngay trong đêm đó, hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa ở Ba Tơ bắt đầu được tiến hành

Trang 7

Đêm 11.3.1945, đội quân khởi nghĩa do Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn, NguyễnKhoách chỉ huy được sự hưởng ứng của đông đảo đồng bào Kinh, Thượng đã chiếmNha Kiểm lý và đồn Ba Tơ Sáng ngày 12.3.1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chứctại sân vận động Ba Tơ, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng (Ủy ban nhân dâncách mạng Ba Tơ) Đội Du kích Ba Tơ chính thức ra mắt, là một trong những đội vũtrang tập trung thoát ly đầu tiên ở miền Nam Trung Bộ Ủy ban nhân dân cách mạng

Ba Tơ ban hành các quyền tự do dân chủ, xóa bỏ thuế, xâu, các khoản nợ vay nặnglãi Đội quân khởi nghĩa cùng với đồng bào làm "Lễ ăn thề", đoàn kết đánh Pháp,đuổi Nhật và bè lũ tay sai Từ Ba Tơ, cuộc khởi nghĩa lan nhanh đến các vùng lân cận

ở Đức Phổ, Nghĩa Hành

Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ là cuộc khởi nghĩa từng phần đầu tiên trong cả nước nổ

ra và giành thắng lợi Cuộc khởi nghĩa tạo đà cho phong trào cách mạng Quảng Ngãiphát triển mạnh mẽ, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh và có ảnhhưởng lớn đến phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Kỳ

Sau Khởi nghĩa Ba Tơ, phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển rộng khắp.Đội Du kích Ba Tơ trưởng thành nhanh chóng Sau một thời gian chuyển lên vùngnúi cao để xây dựng căn cứ địa, củng cố và bổ sung lực lượng, tháng 5.1945, Độichuyển về trung châu hoạt động, đóng ở chiến khu Núi Lớn (đông huyện NghĩaHành, tây huyện Mộ Đức) và chiến khu Vĩnh Tuy (tây huyện Sơn Tịnh) Được Đội

Du kích Ba Tơ hỗ trợ, các hoạt động chống Nhật, cứu nước của nhân dân phát triểnvới các hình thức đánh du kích, phá hoại, gây rối, bao vây, đánh chiếm đồn địch, diệt

ác trừ gian, tuyên truyền vũ trang Từ chỗ có trên 20 chiến sĩ, Đội Du kích Ba Tơphát triển thành hai đại đội, mỗi đại đội có từ 3 đến 5 trung đội Đại đội phía bắc tỉnhlấy tên Phan Đình Phùng, đại đội phía nam tỉnh lấy tên Hoàng Hoa Thám

3 Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh tháng 8 năm 1945:

Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới, Chiến tranh thế giới thứ II đang điđến hồi kết thúc, tháng 6.1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đề ra chủ trương khẩn trươngchuẩn bị lực lượng, khi có thời cơ sẽ lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chínhquyền

Tháng 7.1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức một cuộc Hội nghị liên tỉnh QuảngBình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà tạithôn Vĩnh Lộc (xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh) để bàn kế hoạch thống nhất hoạtđộng Hội nghị có sự tham gia và chỉ đạo của đồng chí Tố Hữu, đã thông qua kếhoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến, do Tỉnh uỷ Quảng Ngãi dựthảo Các đại biểu dự Hội nghị nhất trí cử ra Ban liên lạc, lấy Quảng Ngãi làm trungtâm cho phong trào các tỉnh Nam Trung Bộ và làm nhiệm vụ của Xứ ủy

Trưa ngày 14.8.1945, sau khi nhận được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, mặc dùchưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương, Tỉnh ủy và Ủy ban Vận độngCứu quốc tỉnh (đóng ở làng Thi Phổ Nhất, huyện Mộ Đức) cùng với các đồng chí đạidiện Ban Chỉ huy Đội Du kích Ba Tơ họp và quyết định phát động toàn dân vũ trangkhởi nghĩa giành chính quyền Lúc 15 giờ cùng ngày, các Chỉ thị số 8 và số 9 của

Trang 8

Tỉnh ủy Quảng Ngãi ra lệnh khẩn trương chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa được gửiđến các cấp bộ và lực lượng vũ trang trong tỉnh.

Vào 16 giờ ngày 14.8.1945, tiếng trống khởi nghĩa từ làng Thi Phổ Nhất (nơiđóng cơ quan Tỉnh ủy) lan ra toàn tỉnh Quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo củacác tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh các cấp, đã vùng lên giành chính quyền.Trong hai ngày 15 và 16.8.1945, hai đại đội của Đội Du kích Ba Tơ đánh chiếm cácđồn Sơn Hà, Di Lăng, Minh Long; bao vây, gọi hàng đồn Trà Bồng, cùng với nhândân vũ trang khởi nghĩa chiếm huyện lỵ Nghĩa Hành Cũng trong hai ngày 15 và16.8.1945, Tự vệ cứu quốc và nhân dân chiếm đồn lính khố xanh, khố đỏ, Sở mậtthám, dinh Tỉnh trưởng, Kho bạc tại tỉnh lỵ Quảng Ngãi Đêm 16.8.1945, quần chúngcách mạng làm chủ cả tỉnh Chính quyền cách mạng các cấp được thành lập

Tuy nhiên, binh đội Nhật vẫn còn đóng ở những vị trí xung yếu tại Quảng Ngãi.Trong cuộc khởi nghĩa cũng xảy ra các cuộc xung đột giữa quân Du kích Ba Tơ vớiquân Nhật ở Xuân Phổ, An Hội, Sông Vệ (huyện Tư Nghĩa), Tú Sơn, Mỏ Cày (huyện

Mộ Đức), Châu Ổ (huyện Bình Sơn) Để tránh đổ máu, Ủy ban Vận động Cứu quốctỉnh đã tiến hành thương thảo với quân Nhật Ngày 25.8.1945, quân Nhật chấp nhậnngừng bắn, rút quân khỏi Quảng Ngãi

Sáng ngày 30.8.1945, hơn 4 vạn nhân dân từ khắp các vùng kéo về tỉnh lỵ cùngvới hai đại đội của Đội Du kích Ba Tơ tham dự cuộc mít tinh, diễu hành chào mừngthắng lợi của cách mạng Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Ngãi (doông Trần Toại làm Chủ tịch) ra mắt đồng bào Tỉnh Quảng Ngãi lúc này mang têntỉnh Lê Trung Đình, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên của Phong trào Cầnvương ở Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ, được nhân dân hết sức tôn kính

Quảng Ngãi là một trong những tỉnh, thành tiến hành khởi nghĩa sớm nhất trong

cả nước và giành thắng lợi nhanh chóng trọn vẹn (chỉ trong vòng 3 ngày, từ chiều14.8 đến tối 16.8.1945), góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Cách mạng thángTám trong cả nước Lần đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi đã đập tanách thống trị của bọn đế quốc, phong kiến tay sai, giành lấy chính quyền, mở ra mộtthời kỳ mới - thời kỳ nhân dân làm chủ quê hương và vận mệnh bản thân mình

4 Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi:

Đầu năm 1959, để xây dựng chính quyền bù nhìn tay sai hòng thực hiện âm mưuphá hoại Hiệp định Geneva, chia cắt lâu dài nước ta, đế quốc Mỹ và tay sai Ngô ĐìnhDiệm ráo riết thực hiện chính sách "tố cộng diệt cộng", đưa ra Luật 10/59 trả thùnhững người kháng chiến cũ, chia cắt Đảng với dân, dìm phong trào cách mạng trong

bể máu Địch lấy Quảng Ngãi là một trọng điểm

Ngày 23/8/1959, địch điều quân lên Trà Bồng vây ráp cưỡng chế dân đi học tậpbầu cử Đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã Trà Thuỷ, Trà Giang biểu tình chốnglại, sau đó rút vào rừng cắm chông, cài bẫy chống địch đàn áp Địch tiến hành khủng

bố, đàn áp dã man đồng bào Ngọn lửa căm thù như bùng cháy

Trang 9

Mờ sáng ngày 28/8/1959, nhân dân và lực lượng thanh niên vũ trang các xã TràPhong, Trà Lãnh, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Khê nhất loạt nổi dậy, vây diệtbọn cảnh sát ác ôn, uy hiếp tinh thần binh lính địch, vùng cao Trà Bồng bừng bừngkhí thế quật khởi Đến chiều cùng ngày, nhân dân và lực lượng vũ trang tiến công cơquan ngụy quyền xã, tiêu trừ đến tận gốc quyền lực độc tài của Mỹ-Diệm ở cơ sở, bộmáy kìm kẹp của địch ở cơ sở bị đập tan.Tin Trà Bồng được giải phóng đã lan nhanhkhắp các huyện miền núi của tỉnh Cả miền Tây Quảng Ngãi nhất tề đứng lên giànhchính quyền về tay cách mạng.

Sau cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, nhân dân các dân tộc ởKon Tum, Đắk Lắk nổi dậy diệt ác, giành quyền Khí thế của quần chúng cách mạngđang nhen nhóm lại được thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng cổ vũ, quân và dân

ở các tỉnh Nam Trung Bộ nổi dậy đánh bại cuộc càn quét của địch Cuộc khởi nghĩanày đã mở đầu phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân miền Nam, khơi thôngdòng thác cách mạng miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi giành thắng lợi đã mở ragiai đoạn lịch sử mới về sự kết hợp bạo lực cách mạng của quần chúng dưới sự lãnhđạo của Đảng với khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân khôngnhững ở Quảng Ngãi mà cả Nam Trung bộ, có tác động trực tiếp đến cao trào Đồngkhởi ở miền Nam những năm 1959-1960

5 Chiến thắng Ba Gia:

Tháng 1/1965, tại xã Ba Điền, huyện Ba Tơ, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi

hạ quyết tâm: Giải phóng toàn bộ nông thôn, bao vây thị xã và thị trấn, tiến đến giảiphóng toàn tỉnh Quân và dân ta mở đợt hoạt động Xuân năm 1965, nhằm tiêu hao vàlàm tan rã một bộ phận quân ngụy Kết quả là, quân, dân Quảng Ngãi đã giành vàphát huy mạnh mẽ quyền chủ động trên chiến trường

Cứ điểm Ba Gia (Gò Cao) nằm án ngữ phía tây huyện Sơn Tịnh, cùng với cứđiểm Hà Thành (huyện Sơn Hà) và Trà Bồng tạo nên tam giác phòng ngự phía tâytỉnh Quảng Ngãi Đóng giữ cứ điểm này là tiểu đoàn 1 của trung đoàn 51 ngụy Bêncạnh lực lượng ở Ba Gia, địch còn bố trí tiểu đoàn 2 (trung đoàn 51) đứng chân tại thị

xã Quảng Ngãi, tiểu đoàn 3 (trung đoàn 51) đứng chân ở Châu Ổ (Bình Sơn), hai tiểuđoàn biệt động 37 và 39 thuộc lực lượng cơ động vùng 1 chiến thuật sẵn sàng ứngcứu

Về phía ta, lực lượng tham gia chiến dịch có trung đoàn 1 bộ binh (chủ lực Quânkhu V) với ba tiểu đoàn 40, 60, 90 được tăng cường một tiểu đoàn trợ chiến, tiểuđoàn 45 độc lập Tiểu đoàn 83, bộ đội địa phương tỉnh cùng hai đại đội địa phươnghuyện và dân quân du kích đảm nhiệm hướng phối hợp

Theo kế hoạch tác chiến, đêm 28 rạng sáng 29/5/1965, lực lượng vũ trang địaphương huyện Sơn Tịnh tiến công vào 2 trung đội dân vệ ở "ấp chiến lược" DiênNiên và một trung đội cộng hòa đóng ở Núi Chợ, Lộc Thọ, xã Tịnh Sơn Sau 10 phútchiến đấu, quân địch ở đây bị tiêu diệt hoàn toàn

Trang 10

Bị mất vị trí tiền tiêu và cũng là chốt canh giữ trục đường từ huyện lỵ Sơn Tịnh

đi Gò Cao, Sơn Hà; 6 giờ 45 phút, địch cho một đại đội của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn51) ở Gò Cao ra thăm dò, bị ta phục kích, diệt một trung đội, hai trung đội còn lạiphải xin cứu viện

10 giờ 40 phút, Tiểu đoàn 1 và hai cố vấn Mỹ từ Gò Cao kéo xuống tiếp viện.Trong lúc đó, các mũi tiến công của ta được giấu kín từ Minh Thành xã Tịnh Minhđến bắc sông Trà Khúc bất ngờ xuất kích đánh thẳng sau lưng đội hình địch Các mũichặn đầu, khóa đuôi và chính diện nhanh chóng bao vây, chia cắt địch Sau 5 giờtrong ngày mở đầu chiến dịch ta tiêu diệt và làm bị thương 270 tên địch (có 2 cố vấnMỹ), bắt hằng trăm tên Quân ta thu hơn 200 súng, phá hỏng 1 pháo 105 ly, 4 xeGMC, 1 xe Jeep

Được tin Tiểu đoàn 1 bị tiêu diệt, đồn Gò Cao bị uy hiếp, chỉ huy Quân đoàn 1vội vã điều ngay Tiểu đoàn 39 biệt động quân của vùng 1 chiến thuật ở Đà Nẵng vàothị xã Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến (lực lượng tổng dự bị chiến lượcđang càn quét ở Đức Phổ) và Tiểu đoàn 2 lập thành chiến đoàn tổ chức hành quângiải tỏa, đưa lực lượng lên giữ đồn Gò Cao

Ngày 30/5/1965, từ thị xã Quảng Ngãi, chiến đoàn địch kéo lên xã Tịnh Hà (SơnTịnh) và chia làm 2 cánh: một cánh do Tiểu đoàn 39 biệt động quân rẽ về phía bắcPhước Lộc đi theo đường Lâm Lộc - Vĩnh Khánh lên chiếm đồi Chóp Nón, bao vâyphía sau đội hình của ta; một cánh do Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 51) và Tiểu đoàn 3thủy quân lục chiến tiến theo đường số 5 Sơn Tịnh đi Sơn Hà

14 giờ 40 phút, toàn bộ Chiến đoàn địch lọt vào đội hình chiến đấu của ta Lệnhxuất kích truyền xuống, từ các hướng, bộ đội ta xung phong, bao vây chia cắt, cô lập

2 cánh quân địch, không cho chúng tập hợp sức mạnh của Chiến đoàn

Tiểu đoàn 39 biệt động quân vừa lên chiếm điểm cao Chóp Nón, liền bị các lựclượng của ta đánh bật xuống, chết và bị thương một số tên Cánh quân của tiểu đoàn 2

và Tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến bị lực lượng ta tiến công, phải dừng lại ở PhướcLộc (Tịnh Sơn)

15 giờ 28 phút, hỏa lực ta tập trung bắn dồn dập vào Phước Lộc, địch ngoan cố,dựa vào giao thông hào sẵn có để chống cự Máy bay địch đến bắn phá, cứu nguy cho

bộ binh của chúng nhưng không hiệu quả Đến 17 giờ, tiểu đoàn thủy quân lục chiến

bị quân ta tiêu diệt gần hết Tiểu đoàn 2 cũng bị thiệt hại nặng

Không để cho địch có thời gian củng cố, quân ta nhanh chóng chuyển sang đánhban đêm Mờ sáng 31/5/1965, bộ đội ta đồng loạt tập kích đánh dứt điểm số quân cònlại ở điểm cao 47 và núi Chóp Nón Chỉ trong 7 phút, số quân còn lại của tiểu đoàn 3thủy quân lục chiến bị quân ta đánh tan rã và bắt làm tù binh Sau 42 giờ chiến đấuliên tục, toàn bộ Chiến đoàn hỗn hợp ngụy đã bị tiêu diệt hoàn toàn

Chiến thắng Ba Gia thể hiện sự nhạy bén trong nghệ thuật chỉ huy, điều hànhchiến dịch của Bộ Tư lệnh Quân khu V và Tỉnh ủy Quảng Ngãi; thể hiện tinh thầnchiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt của cán bộ,

Trang 11

chiến sĩ và nhân dân Sơn Tịnh, Quảng Ngãi Chiến thắng Ba Gia mãi mãi đi vào lịch

sử của dân tộc ta như một chiến công chói lọi, hào hùng của nhân dân Việt Nam trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

6 Chiến thắng Vạn Tường:

Mùa hè năm 1965, với các chiến thắng ở Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài củaQuân giải phóng, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thất bại, chính quyền và quân độiViệt Nam Cộng hòa do Mỹ nuôi dưỡng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy đứng trướcnguy cơ sụp đổ Không chấp nhận thất bại, với bản chất kiêu căng, hiếu chiến, Mỹliền thay đổi chiến lược, tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân viễnchinh và quân các nước đồng minh vào tham chiến trên chiến trường miền Nam Với

ưu thế quân sự vượt trội, quân đông, được trang bị vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, sức

cơ động nhanh, vừa vào miền Nam, Mỹ đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hànhquân “tìm diệt”, tiến công vào đơn vị Quân giải phóng của ta

Nhận được tin báo của lực lượng trinh sát của Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ,đóng quân ở vùng căn cứ Chu Lai, phát hiện có đơn vị chủ lực của ta (Trung đoàn 1mang tên Ba Gia, đơn vị chủ lực của Liên khu 5) đóng quân tại Vạn Tường (xã BìnhThiện, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), Oétmolen (Westmoreland) liền ra lệnh cholính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân mang tên Ánh sáng sao (Starlite) đánh vào VạnTường, nhằm tiêu diệt Trung đoàn 1 Quân giải phóng, gây uy thế cho quân Mỹ

Thấy rằng trong trận này quân Mỹ hoàn toàn chủ động, lựa chọn chiến trườngtác chiến hợp với sở trường để xuất quân Tại đây, Mỹ có điều kiện thuận lợi sử dụng

xe tăng, pháo binh, hải quân, không quân của chiến tranh hiện đại Theo đó, chúngđưa vào trận đánh Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 cùng lực lượng bổ sung lên đếnkhoảng 9.000 quân, gồm ban chỉ huy Quân đoàn 7 thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ,

4 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 2 tiểu đoàn bộ binh Việt Nam Cộng hòa, 1 tiểu đoàn xetăng và xe lội nước, một số lượng pháo binh và công binh… ngoài ra chúng còn huyđộng 6 tàu đổ bộ, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy baychiến đấu vào cuộc càn quét

Đêm 17-8-1965, hơn chục tàu chiến thuộc Hạm đội 7 - Mỹ đậu thành vòng cungngoài khơi liên tục bắn đại bác vào thôn Vạn Tường và các điểm cao Sáng ngày 18-8-1965, một lực lượng lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, 1 tiểu đoàn

xe tăng và xe bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 6 tàu đổ bộ và pháo hạm cùng hàngtrăm máy bay chiến đấu, mở cuộc hành quân phối hợp hải, lục, không quân tiến vàoVạn Tường Sau khi dùng pháo, máy bay bắn phá dọn đường, quân Mỹ liền chiathành 4 mũi tiến về Vạn Tường: 1 mũi theo đường bộ từ Chu Lai vào, 2 mũi đổ bộđường biển và 1 mũi đổ bộ đường không

Với hy vọng sẽ tiêu diệt quân ta trong thời gian ngắn nhất, quân Mỹ từng bướckhép chặt vòng vây, dồn quân ta vào Vạn Tường rồi dùng hỏa lực tiêu diệt Trướctình hình đó, toàn đơn vị thuộc Trung đoàn 1 đã bình tĩnh phối hợp chặt chẽ với dânquân du kích đánh trả quân địch Kế hoạch tác chiến của Trung đoàn là cản chậmbước tiến của các cánh quân Mỹ hướng Bắc và Đông Nam, tập trung lực lượng ở

Trang 12

hướng Tây Nam dựa vào các hầm sâu và các vị trí chiến đấu ngụy trang kín đáo đểdiệt cánh quân đổ bộ bằng đường không.

Từ chỗ bị bất ngờ, ta đã giành được thế chủ động tiến công Các mũi tiến côngcủa quân địch đều vấp phải hệ thống bãi mìn, hố chông, vật cản khiến đội hình địch

bị dồn ứ và bị bộ đội ta vận động tới đánh hoặc dùng hỏa lực tiêu diệt

Trận đánh kéo dài đến chiều tốì ngày 18, địch bị đánh thiệt hại 4 đại đội Línhthuỷ đánh bộ Mỹ chẳng những không hợp điểm được tại thôn Vạn Tường theo ý địnhban đầu, mà còn có nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn Hải quân Mỹ pháo kích dữ dội hònglàm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ hạm độiđang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường Ta tiếp tục tiến công cho đến khi mànđêm buông xuống thì trận đánh kết thúc Quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấukhoảng 900 tên, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị bắn rơi Đêm 18 rạng 19 lựclượng ta bí mật rút khỏi Vạn Tường an toàn

Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, là mốc son chói lọiphản ánh khí thế cách mạng tiến công, sự mưu trí, kiên cường, dũng cảm, đoàn kếtchiến đấu của quân và dân Quảng Ngãi với bộ đội chủ lực Quân khu 5 Nếu nhưchiến thắng Ấp Bắc mở đầu cho “cao trào diệt ngụy”, thì chiến thắng Vạn Tường lịch

sử mở đầu cho “cao trào diệt Mỹ” Chiến thắng Vạn Tường khẳng định quân và dân

ta có khả năng đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lăng, dù chúng có thể đông quân,hùng hậu về vũ khí trang bị và khả năng cơ động

Cùng với chiến thắng Ba Gia, chiến thắng Vạn Tường đã để lại nhiều bài họckinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự Việt Nam Trong đó nổi bật nhất là bàihọc lớn về phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và sự kết hợp tácchiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương; giữa tiến công tiêu diệtđịch của lực lượng vũ trang với nổi dậy của quần chúng giành quyền chủ động; thểhiện tư duy nhạy bén trong nghệ thuật chỉ huy, điều hành chiến dịch của Bộ Tư lệnhQuân khu 5; tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của cán bộ,chiến sĩ và nhân dân địa phương

7 Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968:

Ngày 3.8.1967, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ với nhân dân

và du kích tiêu diệt cứ điểm Hải Thuyền (Cổ Lũy, huyện Tư Nghĩa) Từ ngày 6 đếnngày 26.8.1967, các lực lượng vũ trang huyện Ba Tơ phối hợp với lực lượng vũ trangtỉnh đánh bại cuộc càn "Chiến dịch Sông Rhe" của địch, đánh tiêu diệt một lực lượnglớn của không vận Mỹ tại vùng sông Rhe Đây là một thắng lợi rất to lớn của nhândân miền núi Quảng Ngãi nói riêng, và của toàn tỉnh nói chung Đêm 30.8.1967, quân

và dân Quảng Ngãi đồng loạt tiến công vào 37 mục tiêu, trong đó có 18 mục tiêu ởthị xã, thị trấn, diệt hàng ngàn địch, giải thoát gần 2.000 tù chính trị tại thị xã QuảngNgãi 75.000 dân các huyện đồng bằng nổi dậy phá các khu dồn, đập tan bộ máy kìmkẹp, trở về làng cũ Hàng chục ngàn nhân dân, học sinh liên tục xuống đường, đấutranh chống địch, đập phá các trụ sở chính quyền và quân sự của địch

Trang 13

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng hạ quyết tâm "chuyển cuộc chiến tranhcách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắnglợi quyết định" và thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt khắp nông thôn

và đô thị vào dịp tết Mậu Thân 1968

Các đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh tăng cường huấn luyện kỹ thuật, chiếnthuật Các làng, xã chiến đấu vùng nông thôn đồng bằng được củng cố Nhân dân sôinổi hưởng ứng phong trào thi đua đóng góp sức người, sức của phục vụ kháng chiến.Chỉ tính trong những ngày đột xuất phục vụ chiến dịch, cách mạng đã huy động được24.720 lượt người với 214.511 ngày công ở đồng bằng và 5.576 lượt người với45.623 ngày công ở miền núi, vận chuyển được 229 tấn lương thực, thực phẩm vàquân trang, quân dụng

Về phía địch, cuối năm 1967 đầu năm 1968 chúng liên tục mở những cuộc cànquét, đánh phá ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức, gây cho cách mạng nhiềukhó khăn Từ ngày 20 đến ngày 31.1.1968, địch tập trung phòng thủ và đề phòngQuân Giải phóng tiến công trong dịp tết Nguyên Đán

Đúng 2 giờ 30 phút ngày 31.1.1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân MậuThân ở Quảng Ngãi bắt đầu Các lực lượng vũ trang đồng loạt nổ súng tiến công địch

ở thị xã, thị trấn và các vùng phụ cận, mở màn chiến dịch Các lực lượng cách mạngnhanh chóng đánh chiếm một phần khu nội thành, bao vây nhà sư trưởng Sư đoàn 2

bộ binh quân đội Sài Gòn, diệt gần 100 sĩ quan và nhiều hạ sĩ quan quân đội Sài Gòn,phá hủy các phương tiện chiến tranh của địch, tiêu hao tiêu diệt nhiều binh lính vànhân viên chính quyền địch, đánh chiếm nhà lao Quảng Ngãi, giải thoát 1.500 tùchính trị Ở các huyện, lực lượng vũ trang, bán vũ trang địa phương tiến công mạnh

mẽ vào các đơn vị quân đội, trụ sở chính quyền Sài Gòn, bức rút địch khỏi nhiều cứđiểm, đồn bót, phá hủy các tuyến giao thông quan trọng, làm chủ nhiều vùng rộnglớn Cùng với đấu tranh vũ trang, lực lượng đấu tranh chính trị các huyện, thị rầm rộxuống đường giương băng cờ, khẩu hiệu "Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam ViệtNam!", đòi địch bồi thường nhân mạng

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, quân và dân QuảngNgãi đã loại khỏi chiến đấu 4.025 tên địch, bắt sống 482 tên, phá hủy 88 xe quân sự,bắn rơi và bắn cháy 34 máy bay làm rối loạn toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch.Trước thất bại trong dịp tết Mậu Thân 1968 ở Quảng Ngãi, quân Mỹ và quân độiSài Gòn đã gây ra nhiều tội ác nghiêm trọng Ngày 16.3.1968, lính Mỹ gây ra vụthảm sát Sơn Mỹ (thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh), giết hại cùng lúc 504 đồngbào, phần lớn là phụ nữ và trẻ em Đây là một vụ tàn sát đẫm máu, một tội ác bị dưluận trong và ngoài nước cực lực lên án

Ngày 20.12.1968, Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Quảng Ngãi được thành lập,tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, kêu gọi nhân dân toàn tỉnh đoàn kết, quyết tâmđánh đổ Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giải phóng quê hương

Những thắng lợi to lớn, toàn diện của quân và dân Quảng Ngãi từ giữa năm

1965 đến cuối năm 1968, đặc biệt là trong chiến dịch xuân Mậu Thân 1968, đã góp

Trang 14

phần làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, góp phần cùngtoàn miền Nam và cả nước buộc kẻ địch phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bànđàm phán với ta tại Pari.

8 Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975:

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam và thất bại trong trậntập kích chiến lược bằng pháo đài bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng suốt 12 ngày đêm(18 - 29.12.1972), ngày 27.1.1973, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ký kếtHiệp định Pari (Paris) về Việt Nam: công nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút quân Mỹ về nước, công việc nội bộ ở miền Nam ViệtNam do người Việt Nam giải quyết

Vừa ký kết hiệp định, đế quốc Mỹ vừa tính toán vạch ra những kế hoạch, thủđoạn mới để đánh phá phong trào cách mạng nước ta Chúng thực hiện chiến lược

"Việt Nam hóa chiến tranh" trong hoàn cảnh mới, tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tếcho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; không quân và hải quân Mỹ tiếp tục hoạt động

từ Thái Lan, từ ngoài biển làm chỗ dựa tinh thần cho quân đội Sài Gòn

Ở Quảng Ngãi, sau khi Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam được ký kết, chínhquyền và quân đội Sài Gòn đã lập tức thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ", dốctoàn lực mở các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng Đi đôi vớiđánh phá bằng quân sự, địch đẩy mạnh hoạt động do thám, gián điệp, biệt kích, chiếntranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng Trong vùng thị xã, thị trấn và các nơi còn tạmkiểm soát, chúng ra sức khủng bố quần chúng yêu nước; đôn quân, bắt lính bừa bãi;bắt buộc người già, phụ nữ, trẻ em phải tham gia phòng vệ dân sự; bắt học sinh cáctrường phải luyện tập quân sự làm cho đời sống nhân dân vô cùng điêu đứng Đốivới vùng giải phóng, địch ráo riết thực hiện bao vây kinh tế ta, rêu rao thủ đoạn "đánhvào dạ dày của cộng sản" Chúng nghiêm cấm nhân dân đi lại giữa hai vùng, tiếnhành cày ủi, phát quang nhiều vùng rộng lớn ở Phổ Hiệp, Phổ Phong, Phổ Khánh,Phổ Minh (huyện Đức Phổ), Đức Thạnh, Đức Phong, Đức Minh (huyện Mộ Đức),Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thắng (huyện Tư Nghĩa), thôn Đông Dương thuộc xã Tịnh Ấn(huyện Sơn Tịnh)

Cảnh giác và chủ động trừng trị địch phá hoại hiệp định, lấn chiếm trái phép, cáclực lượng vũ trang của tỉnh, huyện và du kích các địa phương đánh lui nhiều đợt hànhquân lấn chiếm của chúng, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quần chúng thườngxuyên nổi dậy đấu tranh vạch mặt, trừng trị những hành động sai trái của địch, đấutranh đòi các quyền tự do dân chủ, tổ chức các cuộc đấu tranh tố cáo địch vi phạmhiệp định trước dư luận quốc tế và Ban Liên hiệp Quân sự bốn bên, buộc địch phảichấp nhận yêu sách của quần chúng

Từ ngày 17.7.1974, quân dân toàn tỉnh đánh tiêu diệt một số cứ điểm, chi khuquận lỵ, đánh vỡ từng mảng hệ thống phòng ngự của địch tại vùng giáp ranh ở nhiềuhuyện miền núi, hỗ trợ cho đồng bào đồng bằng nổi dậy Ngày 3.8.1974, ta tiến côngđịch ở Phú Lâm Tây; ngày hôm sau, tiếp tục tấn công địch đánh chiếm đồn Bàn Cờ

Trang 15

chiếm lại Đình Cương với sự yểm trợ tối đa của pháo binh và không quân, nhưngkhông chiếm lại được Kết quả trận thắng này ta đã loại khỏi chiến đấu gần 300 địch,

mở rộng vùng giải phóng nam Nghĩa Hành, cắt đứt đường chi viện của địch từ thị xãQuảng Ngãi đến quận lỵ Minh Long Ngày 16.8.1974, quân dân ta tiến đánh chi khuquân sự và quận lỵ Minh Long Sáng ngày 17.8.1974, huyện Minh Long được giảiphóng Tiếp theo đó, các lực lượng cách mạng lại tiến công tiêu diệt cứ điểm và chikhu Giá Vụt, giải phóng hoàn toàn huyện Sông Rhe vào ngày 20.9.1974

Phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng phát triển rất mạnh.Quần chúng phấn khởi và hành động cách mạng hăng hái hơn Đồng bào ở vùng giảiphóng, đặc biệt là ở những nơi mới giải phóng, sửa sang lại nhà cửa, hầm hào, xâydựng làng chiến đấu, tham gia tải đạn, chuyển thương, phục vụ chiến đấu

Cho đến cuối năm 1974, các lực lượng vũ trang các mạng Quảng Ngãi đã giảiphóng hoàn toàn 4 huyện Sơn Tây, Ba Tơ, Minh Long, Sông Rhe; trong tổng số 186

xã toàn tỉnh có 115 xã giải phóng hoàn toàn, 7 xã giải phóng cơ bản

Đầu năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phân tích thời

cơ lịch sử và khả năng thực tế của cách mạng, thông qua kế hoạch, hạ quyết tâm giảiphóng miền Nam Quán triệt chủ trương, đường lối của cấp trên, Tỉnh ủy Quảng Ngãi

ra nghị quyết quyết tâm đánh bại kế hoạch "bình định" của địch, tiến lên giải phóngtoàn tỉnh, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam

Mở đầu chiến dịch Xuân 1975, đêm 8.3.1975, các lực lượng vũ trang và bán vũtrang Quảng Ngãi nổ súng tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, thu hồi và

mở ra vùng đông Đức Phổ, đông Mộ Đức, tạo thành một mảng hành lang giải phónglớn dọc theo ven biển từ cửa Sa Huỳnh ra gần giáp cửa Cổ Lũy, chia cắt Quốc lộ 1 vàphía nam tỉnh thành nhiều đoạn, tạo thế cho chiến dịch phát triển Ở các huyện đồngbằng phía bắc tỉnh, các lực lượng cách mạng đã bao vây, bức rút nhiều đồn bót địch,tạo thế cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ tại chỗ Địch ở thị xã QuảngNgãi và các quận lỵ bị uy hiếp

Ngày 10.3.1975, chiến trường Tây Nguyên mở màn cho cuộc Tổng tiến côngchiến lược mùa Xuân năm 1975 với trận then chốt đánh vào Buôn Ma Thuột

Ngày 13.3.1975, chiến dịch Xuân - Hè trên chiến trường Quảng Ngãi nổ súngphối hợp

Đêm 16.3 đến rạng ngày 17.3.1975, địch ở Sơn Hà tháo chạy, ta nhanh chóngtiếp quản quận lỵ Ngày 18.3.1975, ta giải phóng huyện Trà Bồng

Trong lúc này, tình hình chung toàn miền Nam và tình hình riêng của tỉnh đã tạođiều kiện thuận lợi cho quân và dân Quảng Ngãi giải phóng toàn bộ quê hương Đêm23.3.1975, phát hiện địch ở thị xã Quảng Ngãi chuẩn bị tháo chạy, Tỉnh ủy phát lờikêu gọi và ra lệnh công kích, khởi nghĩa

Trước sự tấn công như vũ bão của cách mạng, binh lính, sĩ quan, nhân viênchính quyền địch ở thị xã và các thị trấn hoang mang, rối loạn, tìm đường tháo thân.Sáng ngày 24.3.1975, pháo tầm xa của ta bắn vào các cơ quan, trụ sở của địch ở thị

Ngày đăng: 24/10/2019, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w