Trứng cá được xem như một bệnh lý mạn tính, và các bạn cũng thấy rằng, mụn trứng cá không gây biến chứng nguy hiểm, nhưng bệnh hay kéo dài, dai dẳng qua nhiều ngày, tháng, năm, có thể ké
Trang 1
Tài liệu mụn trứng cá
Theo tổ chức y tế thế giới, mụn trứng cá (Acne vulgaris) là một bệnh ngoài da do viêm nang lông tuyến bã, thường gặp nhiều ở mặt, ngực, lưng Khoảng 80- 90% người ở độ tuổi 13- 25 bị trứng cá, đặc biệt ở giai đoạn dậy thì, và trứng cá cũng gặp ở trẻ em và người lớn, tỉ lệ ít hơn Thương gặp ở nữ nhiều hơn nam Trứng cá được xem như một bệnh lý mạn tính, và các bạn cũng thấy rằng, mụn trứng cá không gây biến chứng nguy hiểm, nhưng bệnh hay kéo dài, dai dẳng qua nhiều ngày, tháng, năm, có thể kéo dài từ tuổi vị thành niên đến năm 30-40 tuổi, đặc biệt
để lại sẹo lồi, sẹo lõm, vết thâm làm ảnh hưởng tâm lý của bệnh nhân rất nhiều, làm mất tự tin, mặc cảm, hoang mang lo lắng
I NGUYÊN NHÂN, YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY MỤN
Một trong những sai lầm nghiêm trọng là các bạn điều trị mụn trứng cá lại bỏ qua, không tìm hiểu kĩ về cơ chế nguyên nhân của mụn trứng cá Vì chỉ khi các bạn nắm vững được nguyên nhân cơ chế, thì mới có thể điều trị và kiểm soát mụn trứng
cá tốt nhất Và quan trọng là giải thích được cho khách hàng, bệnh nhân của mình hiểu rõ để tránh hoang mang lo lắng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra mụn trứng cá, nhưng tựu chung lại, Mụn trứng cá được hình thành dưới tác động của bốn yếu tố chính sau đây:
a.Tăng tiết chất bã, cơ địa da dầu:
Bình thường chất bã được tuyến bã tiết ra làm da, lông, tóc ẩm, mềm mại, và tuyến bã chịu sự điều tiết hoạt động của hormon, đặc biệt là hormon sinh dục nam, các hormon này kích thích tuyến bã hoạt động và phát triển thể tích làm tăng bài tiết chất bã lên nhiều lần Việc sản xuất hoóc môn của cơ thể tăng cao nhất vào những năm trưởng thành nên trứng cá thường gặp ở người trẻ; nam giới bị nặng hơn nữ do lượng testosteron sản xuất nhiều hơn
Điều này lí giải khởi phát bệnh, hay tại sao có bệnh nhân hay bị mụn trứng cá
đã điều trị khỏi hoàn toàn lại hay tái phát, hoặc thậm chí mụn cũ chưa hết đã mọc thêm mụn mới Đôi khi chúng ta bỏ qua việc điều chỉnh tăng tiết bã dầu chỉ khi nào bã dầu không còn tăng tiết thì mới có thể ngưng được tái phát trứng cá Chúng
Trang 2ta cần lưu ý rằng, khi tăng tiết chất bã là mầm mống quan trọng , tạo thành vòng luẩn quẩn của mụn trứng cá, tăng tiết bã dầu khởi động 1 loạt yếu tố phía sau: Tăng tiết dầu → Mụn trứng cá
↓ ↑
Hoạt động vi khuẩn tăng → Viêm
Có những trường hợp thể địa da dầu, tức là chúng ta hay nói cơ địa da dầu, trong gia đình cũng có người bị trứng cá Với trường hợp thể địa da dầu, thì việc duy trì hiệu quả, tránh tái phát là vấn đề vô cùng quan trọng
Chúng ta không lấy việc điều trị hết mụn là thành công hoàn toàn, mà khi hết mụn+ kiểm soát để tránh tái phát mới được coi là hoàn hảo
a.Sừng hóa cổ nang lông:
Bình thường chất bã được bài tiết ra ngoài khi cổ nang lông tuyến bã bị sừng hóa làm ống bài xuất tuyến bã bị hẹp lại, chất bã không thoát ra ngoài được nên bị
ứ đọng lại trong lòng tuyến bã, lâu ngày bị cô đặc lại thành nhân mụn trứng cá Việc bít tắc như vậy, càng làm chất bã nhờn tích tụ nhiều hơn, và làm phình tuyến
bã
Trường hợp này việc xông hơi, hút bã dầu và giải phóng nhân sẩn bít tắc góp phần làm thông thoáng nang lông trở lại
a Sự gia tăng hoạt động của vi khuẩn propionnibecterium acnes
Bình thường Propionnibecterium acnes cư trú ở da một cách vô hại Khi các lỗ nang lông bị ứ lại, các chất bã và tế bào chết sẽ tạo nên môi trường kị khí khiến
vi khuẩn này có thể phát triển và gây bệnh
b Quá trình viêm :
-Ứ đọng chất bã ở nang lông tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn P acne phát triển
-Tăng sinh tế bào sừng ở cổ nang lông
Trang 3- Vi khuẩn P acne đóng vai trò quan trọng trong việc hoạt hóa quá trình viêm ở nang lông
-Các hormone sinh dục nam kích thích tuyến bã hoạt
Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá thông thường bao gồm: 1) Tuổi: thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, 90% trường hợp ở lứa tuổi 13 – 19, sau đó bệnh giảm dần, trứng cá có thể bắt đầu ở người tuổi 20 − 30 hoặc muộn hơn, thậm chí ở tuổi 50 − 59 Có trường hợp mụn trứng cá xuất hiện từ rất sớm, ở trẻ nhỏ, tuy nhiên tỉ lệ này rất ít
2) Giới: Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam gần bằng 2/1, nhưng bệnh ở nam thường nặng hơn bệnh ở nữ do lượng testosteron sản xuất nhiều hơn
3) Yếu tố gia đình: Có ảnh hưởng rõ ràng đến bệnh trứng cá Theo Robert A Schwartz, cứ 100 bệnh nhân bị mụn trứng cá thì 50% có tiền sử gia đình Do
đó khi thăm khám bệnh nhân các bạn nên hỏi trong gia đình có người mắc trứng cá không, vì những trường hợp có liên quan tới yếu tố gia đình thường hay có liên quan đến sự tăng tiết chất bã và nội tiết Điều trị những trường hợp này sẽ khó và mất nhiều thời gian, và có thể dễ tái phát hơn so với những trường hợp khác
4) Yếu tố thời tiết, chủng tộc: Khí hậu nóng ẩm, hanh khô liên quan đến bệnh trứng cá, người da trắng và da vàng bị bệnh trứng cá nhiều hơn người da đen 5) Yếu tố stress: Có thể gây nên bệnh hoặc làm tăng nặng bệnh trứng cá Nên các bạn có thể thấy rất nhiều trường hợp trước đó chưa hề bị mụn, sau 1 đợt stress thì thấy mụn mọc lên nhiều Hoặc có thể đang mắc trứng cá, Streess làm tăng nặng , mọc thêm trứng cá mới Do đó yếu tố stress đóng vai trò rất quan trọng trong việc tái phát, mọc thêm, hoặc nặng thêm bệnh
6) Chế độ ăn: Một số đồ ăn có thể làm tăng bệnh trứng cá như: đồ cay, nóng, chất kích thích, béo ngọt Như Sô cô la, đường, bơ, café, ớt tiêu… Rất nhiều khách hàng lầm tưởng chỉ đồ cay, chất kích thích mới làm mụn trứng cá tăng nặng, nhưng thực tế chất béo, ngọt cũng ảnh hưởng tới bệnh
Trang 47) Các bệnh nội tiết: Một số bệnh như Cushing, bệnh cường giáp trạng, bệnh buồng trứng đa nang… làm tăng khả năng mắc trứng cá
8) Thuốc: Một số loại thuốc làm tăng khả năng mắc trứng cá, trong đó thường gặp là corticoid, isoniazid, thuốc nhóm halogen, androgen (testosteron), lithium Hiện nay trứng cá gặp phải do sử dụng corticoid thấy rất nhiều bệnh nhân có thể
sử dụng đường uống, tiêm, bôi trực tiếp trên da Mà hay gặp nhiều nhất là dạng bôi, những sản phẩm bán tràn lan trên mạng, trộn vào các loại kem có thành phần corticoid, sau khi bôi thời gian đầu da có thể rất đẹp, sau đó nổi mụn trứng cá rất nhiều Đặc trưng của mụn trứng cá do corticoid là mụn trứng cá đồng tuổi, khởi phát cùng lúc, kèm theo nhiều tình trạng khác như giãn mạch, đỏ da, mỏng da… 9) Một số nguyên nhân tại chỗ: Vệ sinh da mặt, chà xát, nặn bóp không đúng phương pháp và lạm dụng mỹ phẩm làm ảnh hưởng tới bệnh trứng cá Có rất nhiều người bệnh tự ý cạy nặn mụn nhưng chưa đúng phương pháp kĩ thuật, làm tổn thương trầy xước dập nát tế bào để lại vết thương sưng nề, thâm và thậm chí mụn nhiều hơn
II PHÂN LOẠI TRỨNG CÁ
Điều quan trọng trong điều trị hiệu quả mụn trứng cá là cần nắm chắc được phân loại về mụn trứng cá Phân loại giúp ta phân biệt chính xác từng hình thái mụn khác nhau, để đưa ra phác đồ với từng loại mụn Tôi thấy rất nhiều bạn dùng cùng loại 1 loại sản phẩm, loại thuốc cho tất cả các loại mụn, từ mụn sẩn đầu trắng, sẩn
đỏ, thậm chí sẩn mủ, nang bọc 1 loại thuốc không
thể đặc hiệu cho tất cả các loại mụn, mà là tùy từng mức độ mụn mà sử dụng các loại thuốc, sản phẩm khác nhau Mụn phân làm 2 loại, đó là mụn không viêm và mụn viêm, và cách điều trị của hai loại mụn này cùng hoàn toàn khác nhau
a.Hình thái tổn thương đầu tiên:
* Tổn thương không viêm Bao gồm: vi nhân trứng cá, mụn đầu đen, mụn đầu trắng
- Vi nhân trứng cá (microcomedo):
- Nhân kín hay nhân đầu trắng (close comedo or white comedo): Loại tổn thương này có kích thước 0,5 – 2 mm đường kính, thường màu trắng hoặc hồng nhạt, hơi
Trang 5gờ cao và không có lỗ mở trên bề mặt da Tổn thương này có thể biến mất hoặc chuyển thành nhân đầu đen, thường gây viêm tấy ở nhiều mức độ khác nhau
- Nhân mở hay nhân đầu đen (Open comedo or black comedo Loại nhân trứng cá này có thể thoát ra tự nhiên, ít gây tổn thương trầm trọng, tuy nhiên cũng có thể bị viêm và thành mụn mủ trong vài tuần
b Hình thái tổn thương thứ hai: Tổn thương viêm - Tùy vào tình trạng viêm nhiễm
mà trên lâm sàng, biểu hiện nhiều hình thái tổn thương khác nhau Đặc điểm chung của loại tổn thương này là viêm nhiễm ở trung bì với các biểu hiện lâm sàng là sẩn viêm, mụn mủ, cục, nang
Trong tổn thương viêm này, chúng ta phân làm hai dạng, đó là tổn thương viêm nông và viêm sâu
* Viêm nông bao gồm:
- Sẩn viêm đỏ (papules): Các nang lông bị giãn rộng và vít chặt lại, vùng kế cận tuyến bã xuất hiện phản ứng viêm nhẹ Bệnh xuất hiện những đợt sẩn đỏ hình nón,
gồ lên mặt da, sờ thấy được, mềm hơi đau, kích thước < 5mm đường kính
- Mụn mủ (pustules): Sau khi tạo sẩn, một sẩn có mụn mủ ở trên tạo thành trứng
cá sẩn mụn mủ, mụn mủ sẽ khô đét lại hoặc vỡ ra, đồng thời sẩn cũng xẹp xuống
và biến mất Đó là trứng cá mụn mủ nông
*Viêm sâu bao gồm:
- Cục (Nodules): Hiện tượng viêm nhiễm có thể xuống sâu hơn, tới trung bì sâu tạo thành các cục khu trú dưới trung bì có đường kính > 5mm và < 1cm, gây đau, sưng, đỏ, hơi tím, có mủ
- Nang (Cysts): Tập hợp 2-3 cục, quá trình viêm hóa mủ hình thành khối chứa chất sền sệt màu vàng lẫn máu, kích thước > 1cm
- Trứng cá tối cấp: Đây là 1 bệnh lý tối cấp bùng phát, còn gọi trứng cá loét sốt cấp tính Lâm sàng thể hiện bằng sự xuất hiện đột ngột các tổn thương viêm, các mụn
mủ lớn nhân hạt đậu xanh, hạt lạc dễ vỡ, trên mặt, lưng, ngực, nhanh chóng vỡ ra
để lại vết loét, đóng vảy tiết nâu ( vảy máu), khi lành để lại sẹo
Trang 6- Trứng cá bọc: Tổn thương mang tính chất viêm nhiễm với các tổn thương nhân trứng cá, nốt, abces, tạo lỗ dò, khi lành để lại sẹo xấu, thường gặp với hình ảnh sẹo lồi thường gặp ở nam giới
-Trứng cá hoại tử: Khởi đầu bằng màu đỏ, lõm ở giữa, sau đó hoại tử, đóng mài,
để lại sẹo dạng thủy đậu Diễn biến thường kéo dài vài tuần, có khi mãn tính với những cơn bộc phát liên tục
III ĐIỀU TRỊ
a) Mục tiêu
- Chống tiết nhiều chất bã
- Chống dày sừng cổ tuyến bã
- Chống nhiễm khuẩn
b) Thuốc điều trị
Thuốc bôi tại chỗ
Có thể sử dụng một trong các thuốc sau:
- Retinoid + Tác dụng: tiêu nhân mụn, ngăn sự hình thành nhân mụn, chống viêm…
+ Tác dụng phụ: thường gặp nhất là khô da, đỏ da, kích ứng da, hồng ban tróc vảy, nhạy cảm ánh sáng…thường trong tháng đầu điều trị, nhưng cũng có thể trong suốt quá trình điều trị
- Benzoyl peroxid + Tác dụng: diệt khuẩn với phổ tác dụng rộng Thuốc làm giảm đáng kể P acnes và acid béo tự do ở tuyến bã, ngoài ra tác dụng chống viêm
và tiêu nhân mụn
+ Dạng thuốc: cream, gel và chất làm sạch có nồng độ từ 2,5-10%
+ Tác dụng phụ: thường gặp nhất là khô da và nhạy cảm ánh sáng Nên bôi thuốc vào buổi chiều tối để làm giảm nhạy cảm ánh sáng
- Kháng sinh + Tác dụng: diệt P acnes, chống viêm trực tiếp thông qua ức chế sự hóa ứng động của bạch cầu trung tính
Trang 7+ Dạng thuốc: dung dịch tan trong cồn (ví dụ clindamycin và erythromycin) hoặc gel và lotion để làm giảm kích thích da Hiện nay dùng dạng phối hợp thuốc
có thể làm giảm sự đề kháng (ví dụ erythromycin 3% với benzoyl peroxid 5% hay clindamycin 1% với benzoyl peroxide 5%)
- Acid azelaic + Tác dụng ngăn chặn nhân mụn, kìm khuẩn
+ Dạng thuốc: cream 20% + Tác dụng phụ: ngứa và cảm giác bỏng tại chỗ
- Lưu ý: có thể phối hợp các loại thuốc bôi nếu bệnh dai dẳng hay tái phát (không
phối hợp các chế phẩm thuộc nhóm cyclin với retinoid)
Thuốc dùng toàn thân
- Kháng sinh
+ Doxycyclin
+ Tetracyclin
+ Trường hợp không có chỉ định của nhóm cycline, có thể dùng kháng sinh nhóm macrolide thay thế Tác dụng phụ: thuốc gây nhạy cảm với ánh sáng
(tetracyclin, doxycyclin), rối loạn tiêu hóa
- Isotretinoin + Tác dụng: ức chế sự sản xuất chất bã, thúc đẩy quá trình tiêu sừng
+ Tác dụng phụ: khô da, bong da, môi, loét miệng, kích thích mắt
Lưu ý: không dùng thuốc trong thời kỳ mang thai, cho con bú vì nguy cơ gây quái
thai (khớp sọ thoái hoá nhanh gây não bé, khó đẻ) Dùng phối hợp với tetracyclin làm tăng áp lực nội sọ, gây u Không dùng cho trẻ dưới 16 tuổi
- Hormon: thuốc đối kháng androgen có nguồn gốc tự nhiên
+ Thuốc có nhiều tác dụng phụ nên cần có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa
- Thuốc khác: vitamin B2; biotin; bepanthen; kẽm