Trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ ChíMinh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là những điều kiện bảo đảm chothắng lợi s
Trang 1Nắm vững bài học của 20 năm đổi mới
Từ thực tiễn đổi mới 20 năm qua với tất cả những thành tựu cũng như cả hạn chế, yếu kém, chúng ta có thể rút ra một số bài học lớn có ý nghĩa tiếp tục chỉ đạo công cuộc đổi mới trong thời gian tới.
Sau 20 năm đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trêncon đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN Sức mạnh tổng hợp của đất nước đượctăng lên nhiều; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Song điều rấtquan trọng là sau 20 năm lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc đổi mới; Ðảng và Nhà nước ta ngàycàng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn
Từ thực tiễn đổi mới 20 năm qua với tất cả những thành tựu cũng như cả hạn chế, yếu kém,chúng ta có thể rút ra một số bài học lớn có ý nghĩa tiếp tục chỉ đạo công cuộc đổi mới trongthời gian tới
1- Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngay từ khi mới ra đời, trong những Cương lĩnh đầu tiên của mình, Ðảng ta đã khẳng định mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và trong suốt hơn 75 năm qua Ðảng ta luôn kiên trì mụctiêu đó Trong 20 năm đổi mới, tình hình thế giới biến động rất phức tạp
Cuối những năm 80 đầu 90 thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Ðông Âu bị sụp đổ,đặc biệt "trận động đất chính trị" xảy ra ở Liên Xô năm 1991 làm cho Liên Xô tan rã; chủ nghĩa
xã hội hiện thực bị lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong tràocách mạng thế giới gặp những khó khăn to lớn chưa từng thấy Tình hình đó đã tác động sâu sắcđến cách mạng nước ta
Ðứng trước tình thế "hiểm nghèo" đó, Ðảng ta không hoang mang dao động Với bản lĩnh chínhtrị của một Ðảng được tôi luyện dạn dày trong đấu tranh cách mạng, Ðảng ta vẫn kiên định conđường xã hội chủ nghĩa đã chọn Vì đó là con đường hợp quy luật phát triển của cách mạng ViệtNam để có một nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Ðối với Ðảng ta, đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa
xã hội được nhận thức và xây dựng có hiệu quả hơn; đổi mới không phải là đổi mầu; hội nhậpnhưng không phải là hòa tan vào thế giới tư bản; đổi mới có nguyên tắc mà nguyên tắc hàng đầu
là bảo đảm độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho đất nước Vì vậy trong quá trình đổi mới,
Trang 2Ðảng ta luôn kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái muốn từ bỏ hoặc phủ nhậncon đường xã hội chủ nghĩa với những lập luận sai trái như "đi vào chủ nghĩa xã hội là vào ngõcụt, vào vết xe đổ của Liên Xô"(!) "đi lên chủ nghĩa xã hội là không tưởng, viển vông" (!), "kinh
tế thị trường không dung hợp với chủ nghĩa xã hội" (!) đồng thời phê phán, khắc phục nhữngbiểu hiện chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Ðồng thời Ðảng ta cũng khẳng định rằng đổi mới không phải xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết, tưtưởng đó, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Ðảng
Ðể có đường lối đổi mới đúng đắn, cần nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩaMác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là cơ sở phương pháp luận quan trọng nhất để phântích tình hình thực tế với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, lấy đó làm cơ sởxuất phát để hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới
Trong những năm đổi mới, Ðảng ta đã có sự nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn đối với chủnghĩa Mác - Lê-nin, đối với thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít trên nhiềuvấn đề Ðối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chúng ta ngày càng xác định rõ những luận điểm gìtrước đây đúng bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau vẫn đúng; những luận điểm gì trước đây đúng
và bây giờ không còn phù hợp do thực tiễn đã thay đổi; những luận điểm gì vốn trước đây đãkhông phù hợp; những luận điểm gì vốn đúng nhưng ta nhận thức sai, làm sai; những luận điểm
gì mới cần được bổ sung vào lý luận qua tổng kết thực tiễn mới
Với tinh thần ấy, trong những năm đổi mới, Ðảng ta đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - nin trên một loạt các vấn đề như vấn đề mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, vấn đề sở hữu tư liệu sảnxuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, v.v Nhờ đó, tư duy lý luận của Ðảng ngày càng sâu sắc hơn,đồng thời có sự vận dụng, phát triển phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam, khắc phục bệnh giáođiều, bệnh chủ quan duy ý chí trong nhận thức và hành động
Lê-Trong những năm đổi mới, Ðảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí
và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm nghiên cứu, học tập và làmtheo tư tưởng Hồ Chí Minh Việc Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng đưa tư tưởng Hồ Chí Minhvào nền tảng tư tưởng của Ðảng là một bước tiến mới trong tư duy lý luận của Ðảng Trong nềntảng tư tưởng của Ðảng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thể thốngnhất Do đó, không được đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin vì làm nhưvậy tức là đã phủ nhận mối liên hệ nội tại cả về lịch sử và lô-gíc của tư tưởng Hồ Chí Minh vớichủ nghĩa Mác - Lê-nin
Trang 3Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Ðảng nhất là trong 20 năm đổi mới đã khẳng định, chứngminh giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Thắng lợi của côngcuộc đổi mới cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở ViệtNam Trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ ChíMinh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là những điều kiện bảo đảm chothắng lợi sắp tới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới vô cùng phức tạpcủa tình hình thế giới.
2- Ðổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Thực tiễn cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa đã cho thấy nếu xác định đúng mục tiêusong không xác định đúng phương thức tiến hành, cách làm, lộ trình và bước đi phù hợp thì cũngkhông thể thành công
Ðối với Ðảng ta, đổi mới là một sự nghiệp có tính chất cách mạng sâu sắc, toàn diện, tác độngđến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến mọi cấp, mọi ngành, mọi người, do đó phải đổimới toàn diện từ nhận thức, tư tưởng đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, quan hệ đốingoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Ðảng, quản lý củaNhà nước đến hoạt động trong từng bộ phận của hệ thống chính trị; từ hoạt động của cấp Trungương đến hoạt động của cấp địa phương và cơ sở
Ðổi mới toàn diện phải tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt, các bộ phận, các khâu của đời sống
xã hội, để tạo điều kiện cho chúng phát huy vai trò nhân-quả của nhau, thúc đẩy nhau cùng đổimới, làm cho toàn bộ cơ thể xã hội chuyển động
Tuy nhiên, đổi mới toàn diện và đồng bộ không có nghĩa là làm đồng loạt, dàn đều, rải mànhmành ra mà phải có trọng tâm, trọng điểm, có sự tính toán cẩn thận các bước đi, hình thức, cáchlàm phù hợp, phải nắm lấy khâu then chốt, nắm lấy "mắt xích" chủ yếu trong mỗi thời kỳ Ðểxác định đúng bước đi và cách làm phù hợp, điều quan trọng là phải nắm vững các mối quan hệbiện chứng chủ yếu trong đời sống xã hội, đó là quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất, giữa kinh tế và chính trị, giữa kinh tế và văn hóa - xã hội, giữa kinh tế và quốc phòng - anninh trong đó xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổimới chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô có một phần nguyên nhân từ giải quyết không đúng mốiquan hệ này Không xác định đúng bước đi; nóng vội, hấp tấp sẽ gây mất ổn định, thậm chí rốiloạn, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch chống phá công cuộc đổi mới; ngược lại quá chậm chạptrong việc đổi mới hệ thống chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế cũng như toàn bộ công cuộcđổi mới Vì vậy, lúc đầu chúng ta tập trung vào đổi mới kinh tế và từng bước đổi mới hệ thốngchính trị; tiếp theo phải tiến hành đồng thời đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị; đổi
Trang 4mới hệ thống chính trị song phải bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, đổi mới vì mục tiêu pháttriển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phải coi đổi mới là động lực; ổn định là điềukiện tiền đề; phát triển nhanh và bền vững là mục đích.
Trong những năm qua, cùng với đổi mới kinh tế và trên cơ sở đổi mới kinh tế, chúng ta đã từngbước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị: đổi mới và chỉnh đốnÐảng, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ, mở rộng dân chủ trong Ðảng, đổi mới phương thứclãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước và xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cải cách các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp,đổi mới hệ thống chính quyền địa phương; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổchức chính trị - xã hội; mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội, đẩy mạnh chống quan liêu,tham nhũng, lãng phí
Trong quá trình đổi mới, chúng ta không phủ định sạch trơn thành tựu của quá khứ, mà trântrọng và kế thừa những kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của cha ông, những thành tựu củacách mạng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời kế thừa, tiếp thu có chọn lọcnhững thành quả của văn minh nhân loại, trong đó có mặt tích cực của kinh tế thị trường, nhữnggiá trị trong tư tưởng về Nhà nước pháp quyền - những thứ trước đây bị coi là riêng có của chủnghĩa tư bản Những thành tựu của đổi mới hệ thống chính trị trong 20 năm qua đã khẳng địnhrằng chúng ta không chỉ đổi mới kinh tế mà còn đổi mới cả chính trị, chứ không phải như luậnđiệu xuyên tạc của các phần tử phản động và cơ hội chính trị cho rằng "Việt Nam chỉ đối mớikinh tế mà không đổi mới chính trị"
Ngày nay để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, chúng ta phải bảo đảm tốt hơn sự gắn kết,đồng bộ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Ðảng là then chốt với phát triểnvăn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội Cần đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ hơn với đổi mớikinh tế; gắn kết chặt chẽ kinh tế với văn hóa - xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triểnvăn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách pháttriển; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và đối ngoại
3- Ðổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân, phù hợp thực tiễn, luôn luôn nhạy bén với cái mới
Sự nghiệp đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo về bản chất mang tính nhân dân sâu sắc,thể hiện ở chỗ nó bắt nguồn từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và do nhân dân thực hiện Chínhnhững ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân nảy sinh từ thực tiễn là một nguồn gốchình thành đường lối đổi mới của Ðảng
Dựa vào nhân dân, qua thực tiễn phong phú của nhân dân, tiến hành tổng kết, từng bước khái quát thành lý luận, xây dựng và hoàn thiện đường lối đổi mới - đó là bước đi hợp quy luật Ðến
Trang 5lượt mình, đường lối đổi mới đã đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng, nguyện vọng bức xúc củanhân dân, hợp quy luật, thuận lòng dân nên đã được nhân dân nhanh chóng hưởng ứng, tham giatích cực, nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Ðường lối đó đã giải phóng được lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định cho sự phát triển xãhội, khơi dậy được tài dân và sức dân để đóng góp xây dựng Tổ quốc Do đó, trong quá trình đổimới, ý kiến, sáng kiến, cách làm sáng tạo của nhân dân các địa phương và cơ sở là cực kỳ quantrọng Nếu chúng ta sâu sát với nhân dân, biết lắng nghe ý kiến nhân dân, chắt lọc, tổng kết, kháiquát kinh nghiệm của nhân dân, thì sẽ có quyết sách đúng, chủ trương phù hợp, nhất là vàonhững thời điểm khó khăn hoặc có tính bước ngoặt Chính vào những thời điểm đó, nhân dân cóthể đề xuất những giải pháp cực kỳ thông minh, sáng tạo, vượt ra ngoài mọi sách vở có sẵn màngười lãnh đạo nghĩ mãi không ra
Hiện nay công cuộc đổi mới đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp cả về lýluận và thực tiễn, nhiều vấn đề chưa có câu trả lời rõ ràng và chuẩn xác Ðể đẩy mạnh sự nghiệpđổi mới, chúng ta phải giải quyết những vấn đề đó Muốn vậy phải đẩy mạnh nghiên cứu lý luận
và coi trọng tổng kết thực tiễn, coi trọng sáng kiến của nhân dân, phải luôn luôn xuất phát từthực tiễn, tìm ra những nhân tố mới để nhân rộng, qua đó phát hiện những điểm không phù hợptrong chủ trương, chính sách, kịp thời có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển
Hiện nay, do tác động của mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, cũng như do những thiếusót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo và quản lý, tệ quan liêu, nạn tham nhũngtrong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho quan hệ giữa Ðảng với nhân dân có mặt bị giảmsút Vì vậy phải củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với nhân dân
"Lợi ích chính đáng của nhân dân" phải là cơ sở để hoạch định chính sách và "thái độ ủng hộ củanhân dân" với Ðảng, Nhà nước là một tiêu chuẩn để khẳng định tính đúng đắn của chính sách.Cán bộ, đảng viên phải thật sự gần dân, trọng dân, tin dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dântin Có như vậy, những sáng kiến, kinh nghiệm của quần chúng, tiếng nói, nguyện vọng của nhândân mới có thể được chuyển thành những quyết sách chính trị trong quá trình đổi mới
4- Phát huy cao độ nội lực, đồng thời khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới
Trong quá trình đổi mới, Ðảng ta luôn coi trọng việc tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp đểphát triển đất nước nhanh và bền vững, trong đó lấy phát huy nội lực là nhân tố quyết định, khaithác ngoại lực là nhân tố quan trọng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại
Công cuộc đổi mới diễn ra trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như
vũ bão, kinh tế tri thức ngày càng phát triển Vì vậy chúng ta phải chủ động sử dụng những thànhtựu khoa học và công nghệ nhất là các công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
Trang 6công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano ) cùng với những thành tựu của kinh tế tri thức để pháttriển kinh tế - xã hội, tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, rút ngắn quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện "đi tắt đón đầu", tạo môi trường thuận lợi trong nước để pháttriển và ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại tiên tiến của thế giới.
Ngày nay toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, một hiện thực sống động, baogồm cả mặt tích cực và tiêu cực, cả thời cơ và thách thức, tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốcgia, dân tộc trên thế giới Sớm nhận thức được xu thế này, Ðảng ta đã đề ra chủ trương chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ đi đôi với đa phương hóa,
đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Cho đến nay nước ta đã xác lập được quan hệ ổn định với cácnước lớn, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, quan hệ thương mại với 221 nước vàvùng lãnh thổ; chúng ta đã hội nhập kinh tế trên các cấp độ (song phương, khu vực và toàn cầu),
đã gia nhập AFTA, ASEM, APEC và đang đàm phán để gia nhập WTO
Thông qua việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, chúng ta đãthu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn
hỗ trợ phát triển (ODA), cũng đã thiết lập được quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính - tiền
tệ quốc tế, tranh thủ được số lượng đáng kể vốn vay ưu đãi của Ngân hàng thế giới (WB), QuỹTiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), đồng thời tranh thủ khoa học - côngnghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu để pháttriển đất nước Mặt khác, thông qua mở rộng hợp tác quốc tế làm cho bạn bè quốc tế hiểu biết đấtnước và con người Việt Nam hơn, tăng thêm tình cảm, sự ủng hộ, giúp đỡ đối với công cuộc đổimới của Việt Nam và qua đó chúng ta góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân tiến bộthế giới vì mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Có thể nói ngoại lực được khai thác đã làm nhân lên sức mạnh nội lực, còn nội lực được pháthuy tạo cơ sở cho việc sử dụng ngoại lực có hiệu quả hơn Cũng như vậy, sức mạnh thời đạiđược phát huy sẽ chuyển thành sức mạnh của dân tộc, trái lại, sức mạnh của dân tộc được pháthuy thì mới sử dụng có hiệu quả cơ hội, thuận lợi do sức mạnh của thời đại tạo ra, vượt qua nguy
cơ, khắc phục thách thức Trong việc khai thác ngoại lực, sử dụng sức mạnh của thời đại chúng
ta phải đứng vững trên các nguyên tắc như tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc
và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc
5- Phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Trang 7Thực tiễn 20 năm đổi mới đã khẳng định: Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là nhân tố quyết địnhthành công của đổi mới Ðảng là người khởi xướng và lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới.Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, ngày càng được hoàn thiện, vai trò lãnh đạo và năng lựccầm quyền của Ðảng được tăng cường, nhờ tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ,đảng viên nên đường lối đổi mới của Ðảng được đông đảo nhân dân hưởng ứng, biến thànhphong trào hành động sôi nổi, rộng khắp của quần chúng.
Vì vậy trong quá trình đổi mới, Ðảng ta rất coi trọng công tác xây dựng Ðảng, coi xây dựngÐảng là nhiệm vụ then chốt, coi việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảngtrong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền, dân chủ hóa xã hội,
mở cửa, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Phải bảođảm vai trò lãnh đạo duy nhất của Ðảng, kiên quyết không chấp nhận đa nguyên chính trị, đađảng đối lập Ðảng khẳng định tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển củaÐảng Phải giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của Ðảng, tăng cường bản chất giai cấpcông nhân và tính tiên phong của Ðảng; xây dựng Ðảng thật sự vững mạnh về chính trị, tưtưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệcao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân Ðồng thời kiênquyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đấu tranh với các biểuhiện giáo điều và cơ hội dưới mọi hình thức
Trong quá trình đổi mới, Ðảng ta rất coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hộichủ nghĩa bởi vì dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới Dân chủ hóađời sống xã hội sẽ làm cho mọi tiềm năng sáng tạo của con người được phát huy, tính tích cực,chủ động của nhân dân được tăng lên, sự tham gia của nhân dân vào các quá trình sáng tạo ra xãhội mới sẽ ngày càng có hiệu quả cao
Ðể phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, phải đổi mới hệ thống chính trị, bởi vì như Ðảng ta chỉ rõ,thực chất của công cuộc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
Dân chủ được thể hiện và thực hiện chủ yếu và trực tiếp nhất qua Nhà nước, bằng Nhà nước Vìvậy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân, bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân là yêu cầu bức thiết của dân chủ hóa
xã hội Nhà nước phải tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, kiểm tra, giám sátcác cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Nhà nước bảo đảm quyền công dân,quyền con người, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủđồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật
Trang 8Ðể phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể chính trị - xã hội trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đạiđoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, lấy việc giữ vững độc lập, thốngnhất Tổ quốc, vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn mình" làm điểm tươngđồng Phải tạo điều kiện và cơ chế cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thựchiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách của Ðảng và Nhànước.
Như vậy thông qua đổi mới từng tổ chức trong hệ thống chính trị (Ðảng, Nhà nước, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể chính trị - xã hội) và đổi mới mối quan hệ giữa các tổ chức đó sẽ làm chotừng tổ chức và cả hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, ngày càng phát huy được quyền làmchủ của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới
Trên đây là những bài học lớn được rút ra từ 20 năm đổi mới Những bài học đó có ý nghĩa chỉđạo tiếp tục cho công cuộc đổi mới thời gian tới Vì vậy nắm vững và quán triệt chúng để đẩymạnh toàn diện công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội là yêu cầu quan trọng hiện nay và sắp tới
Câu 8 Trình bày đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới và những chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế
1 Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối
a) Hoàn cảnh lịch sử
- Từ thập kỷ 80, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc
+ Cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động đến hầu hết các quốc gia, dân tộc
+ Các nước XHCN lâm vào khủng hoảng, đến đầu năm 1990 Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới thay đổi
+ Các nước đổi mới tư duy về sức mạnh
+ Xu thế chung của thế giới là hòa bình hợp tác và phát triển
+ Các nước đang phát triển rất cần mở rộng quan hệ đối ngoại để tranh thủ các nguồn lực phát triển đất nước
- Xu thế toàn cầu và tác động của nó
+ Tích cực: thúc đẩy phát triển sản xuất; vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý…mang lại lợi ích cho các bên tham gia; tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia
+ Tiêu cực: các nước phát triển thao túng; tạo sự bất bình đẳng quốc tế; gia tăng sự phân cực giàunghèo…
- Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
+ Tuy có bất ổn nhưng đây vẫn là khu vực được đánh giá khá ổn định
+ Đây là khu vực có tiềm lực và khá năng động về phát triển kinh tế
+ Xu thế hòa bình hợp tác trong khu vực phát triển
- Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng VN
+ Phá thế bị bao vây, cấm vận
Trang 9+ Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế.
b) Các giai đoạn hình thành, phát triển đường lối
- Giai đoạn (1986-1996): xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ quốc tế
- Giai đoạn (1996-2008): bổ sung và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế
2 Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế
a) Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo
- Cơ hội và thách thức
+ Về cơ hội:
Xu thế toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi
Công cuộc đổi mới tạo thế và lực mới
+ Thách thức:
Phải đối mặt với những vấn đề của toàn cầu hoá
Nền kinh tế phải chịu sức ép cạnh tranh và tác động của thị trường thế giới
+ Nhiệm vụ: Giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, CNH,HĐH dất nước; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới
- Tư tưởng chỉ đạo:
+ Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng
+ Giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại.+ Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế
+ Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội
+ Kết hợp nhiều hình thức đối ngoại, Đảng, Nhà nước và nhân dân
+ Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế- xã hội…
+ Phát huy tối đa nội lực, thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài
+ Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng
b) Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa các quan hệ đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của WTO
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước
- Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Giải quyết tốt các vấn đề văn hoá, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập
- Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh trong quá trình hội nhập
- Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại
Trang 10- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại.
3 Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
a) Thành tựu và ý nghĩa
- Thành tựu
+ Phá thế bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
+ Giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan
+ Mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá (thiết lập, mở rộng quan
hệ với các nước, tham gia tích cực tại Liên hợp quốc…)
+ Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế (tham gia AFTA, APEC, WTO)
+ Thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý
+ Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh
- Ý nghĩa
+ Kết hợp nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn
+ Giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Nâng cao vị thế của VN trên trường quốc tế
b) Hạn chế và nguyên nhân
- Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn chúng ta còn lúng túng, bị động…
- Một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; luật pháp, chính sách quản lý kinh tế – thương mại chưa hoàn chỉnh
- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết
- Doanh nghiệp nước ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh
- Đội ngũ cán bộ công tác đối ngoại còn thiếu và yếu; công tác tổ chức chỉ đạo chưa sát và chưa kịp thời
Câu 49 : Trình bày vị trí và mối quan hệ của cách mạng XHCN ở miền Bắc với cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (9/1960) xác định
?
Sau khi vạch rõ mâu thuẫn chung của cả nuo71c và những mâu thuẫn cụ thể của từngmiền, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 – 10/9/1960 đã xácđịnh Nhiệm vụ chung của cách mạng VN trong giai đoạn này là : tăng cương đoàn kết toàn dân,kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩymạnh CM DTDCND ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cở sở độc lập và dân chủ,xây dựng 1 nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Thiết thực góp phầntăng cường phe XHCN và bảo vệ hoà bình ở Đông-Nam châu Á và thế giới
*Đại hội vạch rõ 2 chiến lược cách mạng ở 2 miền :
-Tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc
-Tiến hành CMDTDC ND ở miền Nam, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đếquốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cảnước
2 chiến lược đó có quan hệ mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau, trước hết nhằm phục
vụ mục tiêu chung của cách mạng cả nước là : thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, giải quyết
Trang 11mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay saicủa chúng.
*Vị trí, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng mỗi miền :
-Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng chung của cả nước; cách mạng XHCN ở miền Bắc cóvai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng VN, đối với sự nghiệp thốngnhất nước nhà
-Cách mạng miền Nam có vị trí rất quan trọng Nó có tác dụng quyết định trực tiếp đốivới sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiệnhòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước, cùng cả nước quá độ lên CNXH
*Mối quan hệ cách mạng 2 miền :
-Hai chiến lược cách mạng tuy vị trí khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, quyđịnh và tác động lẫn nhau, nên phải tiến hành đồng thời CM ở miền B và CM ở miền N thụôc 2chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền N, hòabình, thống nhất đất nước cho nên quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩynhau cùng phát triển
Thực tiển cách mạng VN từ sau tháng 7/1954 đến tháng 5/1975 chứng minh đường lốitiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng ở 2 miền của Đảng lao động VN là đúng đắn và sángtạo, thể hiện tính nhất quán của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH đựơcĐảng đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
1 Đảng thống nhất lãnh đạo 1 nươc tạm thời chia cắt làm đôi, tiến hành đồng thời 2 chiếnlược cách mạng khác nhau, đó là đặc điểm lớn nhất cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta
từ tháng 7/1954 – tháng 5/1975
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng về Văn hoá
Từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của văn hoá cơ
bản nhất quán Có thể nói Đề cương văn hoá năm 1943 là văn kiện đầu tiên khẳng định vị trí, vai
trò quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp cách mạng với những vấn đề then chốt sau:
- Văn hoá là một trong ba mặt trận: Chính trị - Kinh tế - Văn hoá
- Muốn làm cách mạng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhất thiết phải làm cách mạng văn hoá
- Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Ba nguyên tắc vận động văn hoá ở Việt Nam giai đoạn đó là: Dân tộc hoá, Khoa học hoá,Đại chúng hoá
- Tính chất nền văn hoá mới Việt Nam: Dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung
Tuy nhiên, theo từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam, quan điểm và đường lối của Đảng
về văn hoá có sự thay đổi uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với thực tế khách quan Có thể kháiquát theo ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1945 đến hết năm 1954)
Trang 12Trong điều kiện kháng chiến toàn dân, toàn diện với mục tiêu lớn là giải phóng dân tộc
khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, thì Văn hoá là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy.
Giai đoạn thứ hai (từ năm 1954 đến năm 1975)
Cả nước tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vì miền Nam vẫn chưa được giải phóngkhỏi chế độ thực dân Miền Bắc bước vào giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành hậuphương lớn cho tiền tuyến lớn, miền Nam trong cuộc chống Mỹ cứu nước Muốn làm cuộc cách
mạng XHCN ở miền Bắc, Đảng xác định phải làm 3 cuộc cách mạng lớn: 1 Cách mạng quan hệ sản xuất 2 Cách mạng khoa học và kỹ thuật 3 Cách mạng tư tưởng, văn hoá.
Giai đoạn thứ ba (từ năm 1976 đến nay)
Giai đoạn này là giai đoạn cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Chặngđường đầu đầy khó khăn, gian khổ và trải nghiệm những thử thách có tính sống còn đối với chủnghĩa xã hội không chỉ ở nước ta mà còn trên phạm vi rộng lớn trong các nước XHCN Cũngchính từ thực tiễn sâu sắc, phong phú và những bài học rút ra từ thực tiễn khắc nghiệt ấy, Đảng
và nhân dân ta trăn trở tìm đường đổi mới mà trước tiên là đổi mới tư duy được khởi xướng từĐại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 Và cũng chính từ đó, Đảng không chỉ đổi mới tư duy trongkinh tế mà trong văn hoá cũng có sự đổi mới Quan điểm lớn quán xuyến toàn bộ nhận thức mới
của Đảng về văn hoá thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội” Hội
nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng định sự gắn kết giữa ba nhiệm
vụ: 1 Phát triển kinh tế là trung tâm; 2 Xây dựng Đảng là then chốt; 3 Phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội Cùng với Nghị quyết nói trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị và văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ X, XI là cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta về văn hóa đặc biệt là Nghị quyết Hộinghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII với 5 quan điểm, 10 nhiệm vụ, 4 giảipháp như sau:
1.1.1 Năm quan điểm có tính định hướng và chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.
1 “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội
2 Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 133 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam.
4 Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó độingũ trí thức giữ vai trò quan trọng
5 Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâudài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.”
1.1.2 Mười nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam thời kỳ đổi mới
1 “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới
2 Xây dựng môi trường văn hoá
3 Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật
4 Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá
5 Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.
6 Phát triển và đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng.
7 Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số.
8 Chính sách văn hoá đối với tôn giáo.
9 Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá.
10 Củng cố, hoàn thiện thể chế văn hoá.”
1.1.3 Bốn giải pháp tổng thể xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam
1 “Mở cuộc vận động, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với thi đua yêu nước và phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”
2 Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hoá
3 Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá
4 Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII là một văn kiệnhết sức có ý nghĩa về văn hoá, đòi hỏi các ngành, các cấp từ trung ương đến cơ sở phải quán triệtthực hiện Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi cấp vận dụng sáng tạo những nội dung chủ yếu phù hợpvới điều kiện khách quan ở ngành mình, cấp mình để triển khai thực hiện có hiệu quả Với cán
bộ công chức văn hoá - xã hội xã cần quán triệt 5 quan điểm và 4 giải pháp xây dựng và phát
Trang 14triển văn hoá, nhưng quan trọng nhất, thiết thực nhất phải nắm chắc 10 nhiệm vụ để chọn nhiệm
vụ nào làm trước, làm như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất Có nhiều tiêu chí để chọn, nhưngtrước tiên nên ưu tiên thực hiện nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ, quyền hạn và chứctrách của công chức văn hoá - xã hội xã Phải căn cứ vào yêu cầu khách quan và khả năng thực tếtại xã để chọn và cụ thể hoá nhiệm vụ của xã mình nhằm xây dựng và phát triển văn hoá tại địaphương
Ví dụ: Với một xã không có gì đặc biệt không nên chọn nhiệm vụ thứ 9: Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá làm nhiệm vụ ưu tiên hay nhiệm vụ trọng tâm Tuy nhiên, với một xã có nghề
thủ công truyền thống, có di sản văn hoá vật thể hoặc phi vật thể quan trọng đang thu hút nhiềukhách quốc tế thì không nên bỏ qua nhiệm vụ cụ thể từ bảo vệ môi trường, giữ gìn di sản đếnthuần phong mỹ tục, văn hoá ứng xử, giao tiếp nhằm góp phần mở rộng hợp tác quốc tế về vănhoá của chính mình và của cả nước Với các xã ở vùng trung du, miền núi và dân tộc thiểu số có
lẽ nhiệm vụ trọng tâm phải là nhiệm vụ thứ 7: Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Những ví dụ trên chỉ nhằm minh hoạ cho yêu cầu sáng tạo khi vận dụng quan điểm
đường lối của Đảng trong hoạt động của công chức văn hoá - xã hội xã tại địa phương
Tinh thần cơ bản của Nghị quyết TW 5 khoá VIII tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ: "Xây dựngnền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội” Trong định hướng phát triển, Đảng ta khẳng định: "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển"
Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 ban hành theo Quyết định 581/QĐ-TTg ngày
06 tháng 05 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục khẳng định, làm rõ quan điểm, mụctiêu và nhiệm vụ phát triển văn hóa
Về quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa, Chiến lược trên xác định:
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy sựphát triển kinh tế-xã hội
- Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 15- Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó độingũ trí thức giữa vai trò quan trọng
- Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâudài đỏi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trí thận trọng
Về mục tiêu phát triển văn hóa đến năm 2020, chiến lược trên đã xác định:
Một là, hướng mọi hoạt động văn hóa vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàndiện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, tuân thủ pháp luật, có ýthức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòatrong gia đình, cộng đồng và xã hội, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tựhoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinhhoạt và quan hệ con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpquốc tế; gắn kết mối quan hệ giữa văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa với vấn đề hìnhthành nhân cách
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của vănhóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh
em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tậptrung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưuquốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dântộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại
Ba là, giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi người, phát huy cao độtính sáng tạo của trí thức văn nghệ sĩ; đào tạo tài năng văn hóa, nghệ thuật; tạo cơ chế, chínhsách và cơ sở vật chất để có nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chất lượng cao xứng tầm vớidân tộc và thời đại; nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về lý luận và thực tiễn việc xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế
Bốn là, tạo mọi điều kiện để nâng cao mức hưởng thụ và tham gia hoạt động, sáng tạo vănhóa của nhân dân; phấn dấu từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa, nghệ thuậtgiữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu sô, vùngsâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Năm là, đi đôi với việc tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạtđộng văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là dầu tưcho con người, đầu tư cho phát triển bền vững, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với pháttriển văn hóa, làm cho văn hóa tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của đất nước
Về nhiệm vụ trọng tâm, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 xác định:
Trang 16- Xây dựng con người, lối sống văn hóa.
- Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa
- Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
- Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số
- Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật
- Tăng cường công tác thông tin đại chúng
- Tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa
- Hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa
Về định hướng phát triển các chuyên nhành văn hóa, nghệ thuật, chiến lược trên cũng đã
chỉ rõ các nội dung liên quan đến các lĩnh vực:
- Nghệ thuật biểu diễn,
- Điện ảnh
- Mỹ thuật nhiếp ảnh và triển lãm
- Xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm
- Thư viện
- Bảo tàng, di tích và văn hóa phi vật thể
- Văn hóa cơ sở
- Nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật
- Quyền tác giả và quyền liên quan
Có thể thấy rằng quan điểm mới của Đảng về vai trò của văn hoá là “sức mạnh nội sinh của phát triển", đó là sức mạnh kỳ diệu “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường
bạo”, lấy yếu mà chính nghĩa để thắng mạnh mà phi nghĩa, lấy văn hoá thắng phản văn hoá Sứcmạnh nội sinh ấy từ mọi nguồn lực của đất nước trong đó nguồn lực văn hoá là vô cùng quantrọng, là nền tảng bền vững cho sự phát triển
Những quan điểm cơ bản về phát triển lại được khẳng định lại trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển
xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân” Mục tiêu chiến lược và khâu đột phá trong đó có lĩnh vực văn hoá, xã hội được khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Gia đình ấm
no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật.”
Trang 17Đối với cấp xã, khi quán triệt và vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng về văn hoá cầnlưu ý một số điểm sau:
- Thứ nhất: Vận dụng phải sáng tạo, cụ thể, sát với tình hình thực tế tại địa phương
- Thứ hai: Không được ra các văn bản trái với quan điểm của Đảng về văn hoá;
- Thứ ba: Không được quán triệt hời hợt, tự ý “suy rộng, diễn giải” sai lệch quan điểm củaĐảng, vận dụng một cách tuỳ tiện hoặc áp đặt khiên cưỡng, máy móc làm hạn chế hiệu quả hoạtđộng văn hoá, thậm chí làm tổn thất không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá nói riêng
và đời sống xã hội nói chung
- Thứ tư: Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là sự nghiệplớn lao, lâu dài phải được toàn dân tự nguyện tham gia Không có văn hoá tốt đẹp mà nhân dânchối bỏ nó, bởi vậy không vì thành tích mà áp đặt, đốt cháy giai đoạn, không theo quy luật pháttriển văn hoá Phải quán triệt quan điểm lớn: Tất cả là của dân, do dân và vì dân
Công chức văn hoá - xã hội xã có vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là người tuyêntruyền, giải thích mà còn là người trực tiếp cùng nhân dân triển khai thực hiện, cụ thể hoá quanđiểm, đường lối của Đảng về văn hoá tại địa phương Trong lịch sử phát triển cách mạng ViệtNam, chúng ta đã có những bài học hết sức thấm thía về việc cán bộ cơ sở quán triệt không sâusắc quan điểm của Đảng, tự ý “suy rộng, diễn giải” sai lệch đường lối của Trung ương dẫn tớinhững sai lầm không đáng có, gây tổn thất lớn về văn hoá và con người Đảng ta ngay từ khithành lập không có văn bản nào thể hiện quan điểm: “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”!Cũng không có văn bản nào thể hiện quan điểm xây dựng văn hoá mới phải đập phá di sản vănhoá truyền thống như đình chùa, miếu mạo Không những thế, ngay khi giành được chính quyềnsau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ tịch đã ký
Sắc lệnh bảo vệ cổ tích thể hiện rất rõ, rất cụ thể quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà
nước ta trân trọng và giữ gìn di sản văn hoá dân tộc Tuy nhiên, do sai lầm ở cơ sở mà có sự “trảthù” không đúng với đường lối đại đoàn kết toàn dân của Đảng; sự “đập phá” di sản văn hoá tráivới quan điểm của Đảng về văn hoá dân tộc Từ bài học ấy, chúng ta càng thấy ý nghĩa to lớn củaviệc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng để vận dụng sáng tạo và có hiệuquả trong xây dựng và phát triển văn hoá tại cơ sở, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộcsống, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhândân
4 KẾT LUẬN