1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh te va du bao so chuyen de thang 12

8 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 564,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng công cụ phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả nghiên cứu cho thấy sự thỏa mãn khách hàng trong mô hình bán hàng qua truyền hình phụ thuộc vào năm nhân tố

Trang 1

84 Kinh tế và Dự báo

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THỎA MÃN KHÁCH HÀNG

TRONG MÔ HÌNH BÁN HÀNG QUA TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

TS LÊ QUỐC HIẾU

Tóm tắt

Bài viết này nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn khách hàng đối với hình thức bán hàng qua truyền hình và được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp hai giai đoạn Giai đoạn đầu là nghiên cứu khám phá bằng phương pháp định tính, giai đoạn hai là nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng Bằng công cụ phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả nghiên cứu cho thấy sự thỏa mãn khách hàng trong mô hình bán hàng qua truyền hình phụ thuộc vào năm nhân tố chính, bao gồm chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, khuyến mãi và sự tin tưởng của khách hàng Nghiên cứu này giúp các nhà quản lý hoạt động trong lĩnh vực bán hàng qua truyền hình hoạch định được chiến lược đúng đắn trong việc nâng cao sự thỏa mãn nhằm duy trì lòng trung thành của khách hàng

Từ khóa: bán hàng qua truyền hình, thỏa mãn khách hàng, chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, khuyến

mãi, sự tin tưởng

1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, với sự phát triển nhanh chóng

của ngành truyền hình, đặc biệt là truyền hình cáp và truyền

hình kỹ thuật số, số lượng thuê bao truyền hình tăng nhanh đã

mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới Trong bối cảnh áp lực

công việc ngày càng cao, người dân ngày càng có ít thời gian

để thư giãn và đi mua sắm thì việc kết hợp giữa giải trí và mua

sắm tại nhà là sự kết hợp hoàn hảo Mô hình bán hàng qua

truyền hình ra đời đã giúp cho người tiêu dùng tiết kiệm thời

gian, giảm chi phí đi lại và thuận tiện khi mua sắm Ở Việt

Nam hiện nay, thị trường bán hàng qua truyền hình diễn ra

khá sôi động với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp Việt

Nam và các doanh nghiệp lớn đến từ Hàn Quốc như CJ, Lotte,

GS, Ha-na Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động, mô hình

bán hàng này đã bộc lộ nhiều vấn đề như chất lượng sản phẩm

không như quảng cáo, chất lượng dịch vụ kém, hay giá cả sản

phẩm không phù hợp khiến khách hàng chưa thực sự thỏa

mãn Hậu quả là ngày càng nhiều khách hàng đã rời bỏ mô

hình bán hàng hiện đại và thuận tiện này

Bài viết này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự

thỏa mãn khách hàng trong mô hình bán hàng qua truyền hình

ở Việt Nam Thỏa mãn khách hàng được xem như là yếu tố

chính trong việc đánh giá các cảm nhận sau mua của khách

hàng và là động lực chính trong các quyết định có tiếp tục

mua hay không của khách khàng Do vậy, xác định được các

nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng sẽ giúp các

nhà quản lý doanh nghiệp có thể hoạch định các chiến lược

đúng đắn trong việc nâng cao sự thỏa mãn nhằm duy trì lòng

trung thành của khách hàng và thúc đẩy ý định mua sắm của

khách hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng giúp cho các

nhà hoạch định chính sách của cơ quan nhà nước có cái nhìn

sâu hơn về mô hình bán hàng qua truyền hình, qua đó có thể

xây dựng các chính sách quản lý hợp lý để quản lý chất lượng hàng hóa, gia tăng tính minh bạch trên thị trường

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp hai giai đoạn với giai đoạn một là nghiên cứu khám phá bằng phương pháp định tính với kỹ thuật Delphi, và giai đoạn hai là nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng với công cụ phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến với SPSS 16.0

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, THANG ĐO VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết và khung lý thuyết nghiên cứu

2.1.1 Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết thông dụng để xem xét sự thỏa mãn khách hàng đối với chất lượng dịch vụ hoặc sản phẩm của một tổ chức là

lý thuyết “Kỳ vọng – Xác nhận”, được phát triển bởi Oliver năm 1977 Lý thuyết “Kỳ vọng – Xác nhận” đề xuất hai quá trình tác động độc lập đến sự thỏa mãn của khách hàng: kỳ vọng về dịch vụ hoặc sản phẩm trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ hoặc sản phẩm sau khi đã trải nghiệm Theo đó, khách hàng sẽ thỏa mãn khi hiệu quả cảm nhận được của sản phẩm hoặc dịch vụ bằng hoặc cao hơn sự mong đợi trước đó của họ

Hay nói cách khác, “Sự thỏa mãn là kết quả của việc so sánh giữa X, sự kỳ vọng của một người về một sản phẩm, và Y, hiệu quả của sản phẩm đó sau khi sử dụng” (Oliver, 1980, tr.206)

Zeithaml và Bitner (1996) cũng cho rằng người tiêu dùng quyết định việc mua hàng dựa trên các đánh giá về giá trị của sản phẩm được cung cấp bởi các nhà cung cấp Một khi sản phẩm được mua, sự thỏa mãn phụ thuộc vào hiệu năng cảm nhận so với kỳ vọng của người mua Sự thỏa mãn khách hàng xảy ra khi hiệu năng cảm nhận phù hợp hoặc vượt quá sự mong đợi Theo đó, việc không đáp ứng nhu cầu và sự mong

Trang 2

đợi của khách hàng sẽ dẫn đến kết quả không thỏa mãn đối

với sản phẩm hoặc dịch vụ đó

Trong nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, Parasumman và

cộng sự (1985) đã đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến

chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Phương tiện hữu hình; (2)

Tin cậy; (3) Đáp ứng; (4) Năng lực phục vụ; (5) Tiếp cận; (6)

Ân cần; (7) Thông tin; (8) Tín nhiệm; (9) An toàn; (10) Thấu

hiểu Mô hình này bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch

vụ, tuy nhiên các tiền tố của sự thỏa mãn không được nêu rõ

Nhiều tác giả sau này đã chứng minh rằng, mặc dù chất lượng

dịch vụ và sự thỏa mãn có những điểm chung, nhưng là hai

khái niệm khác nhau Solomon và cộng sự (1985) đã chỉ ra

rằng, mức độ thỏa mãn chung của khách hàng là một hàm số

của mức độ thỏa mãn về 2 yếu tố: yếu tố chức năng (hàng hóa,

sản phẩm) và yếu tố dịch vụ của nhà cung ứng Teas (1993) đã

chỉ ra rằng sự thỏa mãn khách hàng là một hàm của chất lượng

dịch vụ dựa vào sự cảm nhận của khách hàng về một giao dịch

cụ thể Trên cơ sở đó, Parasuraman và cộng sự (1994) đã đề

xuất mô hình sự thỏa mãn trong một giao dịch cụ thể (TSAT)

Theo đó, sự thỏa mãn chung của khách hàng đối với một giao

dịch là một hàm của chất lượng dịch vụ (SQ), chất lượng sản

phẩm (PQ), và giá cả (P)

Zeithaml và Bitner (2000), Wilson và cộng sự (2008) cũng đã

chứng minh rằng, sự thỏa mãn khách hàng không chỉ bị ảnh

hưởng bởi chất lượng dịch vụ mà còn bởi các yếu tố chất

lượng sản phẩm, yếu tố về giá cả, cũng như các yếu tố tình

huống và yếu tố cá nhân (Hình 1)

2.1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

i) Sự thỏa mãn khách hàng

Theo Zeithaml và Bitner (1996), sự thỏa mãn khách hàng

là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công đối với

bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào Yu-Hui và cộng sự (2011)

cũng cho rằng sự thỏa mãn khách hàng là yếu tố đặc biệt quan

trọng mang đến thành công trong lĩnh vực bán hàng trực

tuyến, nó được xem như là sự đánh giá cảm nhận sau mua của

khách hàng và là động lực chính trong các quyết định có tiếp

tục mua hay không của khách khàng Nghiên cứu của Wilson

và cộng sự (2008) đã củng cố thêm luận cứ của Zeithaml và

Bitner (2000) khi chứng minh chất lượng dịch vụ là yếu tố cốt

lõi trong việc hướng khách hàng đến sự thỏa mãn, bên cạnh đó

các yếu tố về chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, yếu tố cá

nhân và yếu tố tình huống cũng là các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự thỏa mãn

ii) Mối liên hệ giữa chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm với sự thỏa mãn khách hàng

Theo Zeithaml (1988), chất lượng sản phẩm được định nghĩa như là sự tuyệt hảo của sản phẩm khi so sánh với các sản phẩm thay thế cạnh tranh khác, xét ở góc độ thị trường, và

sự đánh giá của khách hàng về hiệu quả của sản phẩm đó sau khi đã trải nghiệm, xét ở góc độ cảm nhận Còn giá cả sản phẩm là một khoản tiền mà một khách hàng phải trả cho người bán để có được quyền sử dụng một sản phẩm cụ thể (Needham, 1996) Theo Trịnh và Nhân (2013), Giá cả ở mức phù hợp là điều mà các khách hàng rất quan tâm và là một trong những cơ sở để đưa ra quyết định có tiếp tục mua sản phẩm hay không Singh (2006) khi nghiên cứu sự thỏa mãn khách hàng trong bán hàng trực tuyến ở Malaysia, đã chứng minh chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm là các yếu tố quan trọng trong các yếu tố cấu thành sự thỏa mãn khách hàng Chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm luôn song hành cùng nhau, sự thỏa mãn của khách hàng tăng lên khi khách hàng cảm nhận chi phí mà họ phải trả để mua mua sản phẩm phù hợp với chất lượng sản phẩm đó Do đó, giả thuyết đặt ra là:

Giả thuyết 1:

: Giá cả sản phẩm có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng

Giả thuyết 2:

: Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng

iii) Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng

Anderson and Srinivasan (2003) đã nêu bật tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ và nó được ví như là tiền đề cho

sự thỏa mãn khách hàng Trong thương mại điện tử, chất

lượng dịch vụ được định nghĩa như là “mức độ mà một phương tiện điện tử hỗ trợ có hiệu quả cho việc mua sắm, đặt hàng và yêu cầu giao hàng trên phương tiện điện tử đó”

(Parasuraman và cộng sự, 2005, tr.5) Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá chủ quan của khách hàng về mong đợi của họ với hiệu quả thực tế mang lại của dịch vụ Khách hàng sẽ thỏa mãn nếu chất lượng dịch vụ cao và vượt quá sự mong đợi của

họ về dịch vụ (Parasuraman và cộng sự, 1985) Do đó, giả thuyết đặt ra là:

Giả thuyết 3:

: Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng

iv) Chương trình khuyến mãi

Theo Wan-Ping và Hsieh-Hong (2011), các chiến lược quảng cáo, giá cả và hoạt động khuyến mãi được sử dụng rộng rãi trong việc thu hút khách hàng và duy trì mối quan hệ với

Hình 1: Mô hình về sự thỏa mãn khách hàng

(Zeithaml và cộng sự, 2000, trang 79)

Sự thỏa mãn khách hàng

Yếu tố tình huống

Yếu tố cá nhân

Chất lượng dịch vụ

Chất lượng sản

phẩm

Giá cả sản phẩm

Trang 3

họ Các tác giả đã chứng minh có mối quan hệ giữa ràng buộc

giữa hoạt động khuyến mãi và sự thỏa mãn khách hàng Ngoài

ra, theo Kotler (2000) các nhà quản lý sử dụng một số các

hoạt động khuyến mại để thúc đẩy khách hàng mua sắm và gia

tăng sự thỏa mãn, bao gồm tất cả các loại công cụ khích lệ, và

hầu hết là trong ngắn hạn Do đó, giả thuyết đặt ra là:

Giả thuyết 4:

: Chương trình khuyến mãi có ảnh hưởng đến sự thỏa

mãn khách hàng

v) Sự tin tưởng của khách hàng

Theo Trịnh và Nhân (2013), sự tin tưởng là khả năng một

doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ, uy tín,

tôn trọng các cam kết, và giữ lời hứa với khách hàng Theo

Hasan và cộng sự (2010), tạo ra sự tin tưởng của khách hàng

có ý nghĩa rất quan trọng trong bất kỳ môi trường kinh doanh

nào khi xây dựng mối quan hệ giữa người bán và người mua

Khách hàng tin tưởng vào doanh nghiệp là thể hiện sự thỏa

mãn của họ đối với doanh nghiệp Trong nghiên cứu về sự hài

lòng của khách hàng đối với dịch vụ cho vay tại Ngân Hàng

Công Thương Việt Nam, Trịnh và Nhân (2013) đã chứng

minh mối quan hệ chặt chẽ giữa sự tin tưởng của khách hàng

và sự thỏa mãn khách hàng Do đó, giả thuyết đặt ra là:

Giả thuyết 5:

: Sự tin tưởng có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách

hàng

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách

hàng bao gồm các yếu tố: chất lượng dịch vụ, chất lượng sản

phẩm, giá cả sản phẩm, hoạt động khuyến mãi và sự tin tưởng

của khách hàng (Hình 2)

2.2 Xây dựng thang đo

Trước đây có một số thang đo đang được nghiên cứu để

đo lường chất lượng dịch vụ trong thương mại điện tử Trong

nghiên cứu này, tác giả giới thiệu hai thang đo điển hình là

eTailQ và E-S-QUAL

Thang đo eTailQ được Wolfinbarger và Gilly (2003) phát

triển để đo lường chất lượng website bán hàng trực tuyến

Thang đo eTailQ có 14 biến quan sát được chứa đựng trong 4

thành phần: (1) Thiết kế Website (các thuộc tính của website

như dễ sử dụng, dễ dàng truy xuất, lựa chọn sản phẩm dễ

dàng); sự tin tưởng (miêu tả sản phẩm chính xác, đúng thời

gian, và đặt hàng chính xác); Bảo mật (sự an toàn và đáng tin cậy của website); Dịch vụ khách hàng (xử lý các vấn đề sản phẩm, nhân viên sẵn lòng trợ giúp, giải đáp thắc mắc của khách sàng)

Thang đo E-S-QUAL do Parasuraman và cộng sự (2005) phát triển để đo lường chất lượng dịch vụ thương mại điện tử nói chung Thang đo E-S-QUAL chứa 22 biến quan sát trong

4 thành phần bao gồm: (1) Sự hiệu quả: sử dụng dễ dàng và truy xuất nhanh chóng; (2) Thực hiện: Mức độ thực hiện những cam kết về giao hàng và sự sẵn sàng của sản phẩm; (3)

Sự sẵn sàng của hệ thống: Luôn sẵn sàng để thực hiện chính xác những giao dịch; (4) Bảo mật: Mức độ mà phương tiện điện tử bảo đảm sự an toàn về giao dịch và thông tin khách hàng

Các thang đo mô tả trên đây chủ yếu xây dựng để đo lường chất lượng dịch vụ của bán hàng trực tuyến qua internet (eTailQ), hoặc chất lượng dịch vụ thương mại điện tử nói chung (E-S-QUAL) Trong một giao dịch cụ thể như mua sắm qua truyền hình, sự thỏa mãn còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giá cả hay chất lượng sản phẩm Dựa trên nền tảng các thang đo eTailQ và E-S-QUAL, mô hình các nhân tố ảnh hưởng của Zeithaml và cộng sự (2000) kết hợp với nghiên cứu khám phá được thực hiện trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng thang đo sự thỏa mãn khách hàng trong bán hàng qua truyền hình (gọi tắt là TV-SAT) Thang đo TV-SAT có 6 thành phần với 29 biến quan sát (Bảng 1), các tiêu chí trong nghiên cứu này được đánh giá theo thang đo likert 5 mức độ,

từ 1 – Rất không đồng ý đến 5 – Rất đồng ý

Bảng 1: Thang đo sự thỏa mãn khách hàng

Chất lượng sản phẩm (QLY)

Sản phẩm có thương hiệu tốt QLY1 Sản phẩm có xuất xứ tốt QLY2 Sản phẩm được chứng nhận chất QLY3 Sản phẩm được đóng gói đẹp QLY4 Trình bày thông tin rõ ràng QLY5

Giá bán sản phẩm (PRC)

Phù hợp với chất lượng PRC1 Phù hợp với chất lượng dịch vụ PRC2 Phù hợp với thu nhập của khách PRC3

Phù hợp với thương hiệu sản phẩm PRC5

Chất lượng dịch

vụ (SEV)

Giao hàng đúng thời gian SEV1 Giao hàng đúng đơn đặt hàng SEV2 Thuận lợi trong đổi/ trả hàng hóa SEV3 Nhân viên giao dịch có thái độ tốt SEV4 Nhân viên tư vấn có kiến thức tốt SEV5

Sự tin tưởng của khách hàng (REL)

Chính sách bán hàng phù hợp REL1 Thông tin công bố đáng tin cậy REL2 Doanh nghiệp có uy tín REL3 Đảm bảo an toàn thông tin cá nhân REL4 Thuận tiện khi mua sắm REL5

Khuyến mãi

Sự tin tưởng

Hình 2: Khung lý thuyết nghiên cứu

Sự thỏa mãn khách hàng

Chất lượng dịch vụ

Chất lượng sản phẩm

Giá cả sản phẩm

Trang 4

Khuyến

mãi

(PRM)

SP khuyến mãi có giá trị PRM1

Dễ tham gia chương trình PRM2

Cơ hội thắng cuộc cao PRM3 Chương trình khuyến mãi rõ ràng PRM4

Sự thỏa

mãn

(SAT)

Thỏa mãn với chất lượng sản phẩm QLY_

Thỏa mãn với giá cả sản phẩm PRC_

Thỏa mãn với chất lượng dịch vụ SEV_

Tin tưởng vào hình thức bán hàng REL_

Thỏa mãn với các chương trình PGM_

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong giai đoạn nghiên cứu định tính, tác giả sẽ khảo sát

một nhóm 20 chuyên gia có kinh nghiệm ít nhất 5 năm trong

lĩnh vực bán hàng trực tuyến và am hiểu thị trường bán hàng

qua truyền hình tại Việt Nam Bảng câu hỏi được xây dựng

dưới dạng câu hỏi đóng đánh dấu tình huống theo danh sách

với một hoặc nhiều sự lựa chọn Ngoài danh mục tình huống

được cấu trúc sẵn, bảng câu hỏi có thêm mục “ý kiến khác” để

các chuyên gia có thể nêu quan điểm khác của mình Phương

pháp phỏng vấn chuyên sâu thông qua gửi bảng câu hỏi phỏng

vấn đến nhóm các chuyên gia bằng email và qua phỏng vấn

trực tiếp được sử dụng trong nghiên cứu này Việc thu thập dữ

liệu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật Delphi với ba

vòng tham vấn, theo đó, những câu trả lời có sự đồng thuận

cao (trên 90%) sẽ được lựa chọn cho chủ đề nghiên cứu

(Harold và Murray, 2002) Ý kiến của nhóm chuyên gia sẽ

củng cố bằng chứng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu lý

thuyết và các thang đo

Trong giai đoạn nghiên cứu định lượng, số liệu được thu

thập bằng cách gửi bảng câu hỏi gửi trực tiếp đến nhà người

tham gia và trực tiếp thu hồi bảng trả lời tại nhà người tham

gia Để đảm bảo nghiên cứu có ý nghĩa, những người tham gia

phải có kinh nghiệm mua sắm qua truyền hình Việc lấy mẫu

được thực hiện bằng kỹ thuật lấy mẫu xác suất, không thay thế

để tạo ra danh sách người tham gia từ niên giám điện thoại TP

Hồ Chí Minh năm 2012 Để xác định sự sẵn sàng tham gia và

kinh nghiệm mua sắm qua truyền hình của những người được

chọn, tác giả đã gọi điện thoại đến danh sách những người

được máy tính chọn ngẫu nhiên Kết quả đã chọn được 894

người phù hợp để gửi bảng câu hỏi Sau khi tiến hành thu thập

số liệu, kiểm đếm và loại các phiếu không hợp lệ, kết quả có

480 phiếu hợp lệ, được sử dụng để tạo thành bộ dữ liệu mẫu

Dữ liệu được phân tích bằng công cụ phân tích nhân tố khám

phá và hồi quy tuyến tính đa biến

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá thang đo

Nhóm các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn khách hàng

bao gồm 24 biến quan sát, trong đó yếu tố Chất lượng sản

phẩm được đo bằng 5 biến quan sát, yếu tố giá bản sản phẩm

được đo bằng 5 biến quan sát, yếu tố chất lượng dịch vụ được

đo bằng 5 biến, yếu tố Sự tin tưởng được đo bằng 5 biến, và yếu tố khuyến mãi được đo bằng 4 biến Thang đo của biến phụ thuộc (sự thỏa mãn khách hàng) bao gồm 5 biến quan sát Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn được trình bày trong Bảng 2 Kết quả Cronbach’s Alpha của các thang đo cho thấy đều lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến-tổng của các biến quan sát đều lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,3 do đó các thang đo trên đều được sử dụng trong phân tích EFA tiếp theo (Nunnally và Burnstein, 1994; Moss và cộng sự, 1998)

Bảng 2: Cronbach’s Alpha thành phần thang đo

Chất lượng sản phẩm 0,901 Chất lượng dịch vụ 0,878

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu bằng SPSS 16.0

3.2 Kết quả phân tích yếu tố khám phá (EFA)

Phân tích EFA các nhân tố ảnh hưởng

Phân tích Cronbach’s Alpha thang đo các nhân tố ảnh hưởng cho thấy không có biến quan sát nào của các thành phần tác động bị loại khỏi phân tích EFA Thực hiện phân tích EFA với 24 biến đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng, kết quả được nhóm thành 5 thành phần bao gồm: Giá cả của sản phẩm, Chất lượng của sản phẩm, Chất lượng Dịch vụ, Chương trình khuyến mãi, và Sự tin cậy của khách hàng Kết quả phân tích này được trình bày trong Bảng 3

Nghiên cứu sử dụng phương pháp trích nhân tố Principal Axis Factoring với phép quay Promax Khi phân tích nhân tố cho 24 biến quan sát ban đầu, kết quả các biến quan sát có hệ

số tải nhân tố (Factor loading) đều lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 0,3 (Hair và cộng sự, 1998) Đồng thời kiểm định Bartlett’s cho thấy sig = 0,000 với hệ số KMO = 0,931, nghĩa

là giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan với nhau trong tổng thể, chứng tỏ phân tích EFA cho việc nhóm các biến này lại với nhau là thích hợp (Trong và Ngoc, 2008) Kết quả EFA cho thấy có 5 nhân tố được trích Eigenvalue thấp nhất là 1,043 và tổng phương sai trích là 70,697% lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 50% (Hair và cộng sự, 1998), tức là khả năng sử dụng 5 nhân tố này để giải thích cho 24 biến quan sát ban đầu là 70,697% Năm nhân tố được trích xuất bao gồm Chất lượng sản phẩm có 5 biến quan sát; Giá cả sản phẩm có 5 biến quan sát; Chất lượng dịch vụ có 5 biến quan sát; Sự tin tưởng có 5 biến quan sát; và Khuyến mãi có 5 biến quan sát

Trang 5

Bảng 3: EFA thành phần thang đo các yếu tố ảnh hưởng

Biến

quan

sát

nhân tố

QLY1 0,716

Chất lượng sản phẩm

QLY2 0,773

QLY3 0,807

QLY4 0,634

QLY5 0,655

Giá cả sản phẩm

Chất lượng dịch vụ

Sự tin tưởng

Khuyến mãi

Eigenval 1,043

Phương 70,697

Hệ số 0,931

Mức ý 0,000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu bằng SPSS 16.0

Phân tích EFA sự thỏa mãn khách hàng

Phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo sự thỏa mãn

khách hàng cho thấy 5 biến quan sát của thang đo này là biến

PRC_G, QLY_G, SEV_G, PRM_G và REL_G đều đạt tiêu

chuẩn cho phân tích EFA tiếp theo Kết quả phân tích EFA

của thang đo Sự thỏa mãn được thể hiện ở Bảng 4 Kiểm định

Bartlett’s với Mức ý nghĩa = 0,000 (< 0,05) chứng tỏ các biến

không có tương quan với nhau trong tổng, đồng thời hệ số

KMO = 0,856, do đó phân tích EFA cho việc nhóm các biến

của thang đo sự thỏa mãn khách hàng với nhau là thích hợp

Với phương pháp trích nhân tố Principal Axis factoring với

phép quay Promax, kết quả cho thấy 5 biến quan sát có hệ số

tải nhân tố đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,3 Vì vậy

thang đo sự thỏa mãn khách hàng được sử dụng cho phân tích

hồi quy tiếp theo

Kết quả của EFA đã trích được 1 nhân tố tại Eigenvalue là 3,163 và tổng phương sai trích được là 63,263% lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 50% Yếu tố này được đặt tên là Sự thỏa mãn

Bảng 4: EFA thành phần thang đo sự thỏa mãn khách hàng

Biến quan sát Nhân tố Giải thích nhân

tố

1

Sự thỏa mãnkhách hàng

Phương sai trích 63,263

Mức ý nghĩa (sig.) 0,000 Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu bằng SPSS 16.0

3.3 Phân tích hồi quy và Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Phương trình hồi quy tuyến tính đa biến biểu diễn mức độ ảnh hưởng của các nhân tố giá cả, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, chương trình khuyến mãi và sự tin cậy lên sự

thỏa mãn khách hàng có dạng như sau:

SAT = + *PRC+ *QLY+ *SEV+ *PRM+ *REL Trong đó, SAT là biến phụ thuộc, biểu diễn sự thỏa mãn khách hàng đối với hình thức bán hàng qua truyền hình; PRC, QLY, SEV, PRM, REL là các biến độc lập đại diện cho giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, chương trình khuyến mãi và sự tin tưởng của khách hàng là hệ số chặn; (i=1,…,5) là các hệ số hồi quy tương ứng với các biến độc lập

Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinal Least Squares–OLS) Kết quả phân tích hồi quy được trình bày ở Bảng 4 cho thấy hệ số tương quan bội (R) bằng 0,912 là rất tốt Hệ số bình phương tương quan bội (R2) bằng 0,832 và bình phương hệ số tương quan bội hiệu chỉnh (R2 hiệu chỉnh) bằng 0,830 có nghĩa là 83,0%

sự biến thiên của sự thỏa mãn khách hàng có thể được giải thích từ mối liên hệ tuyến tính

Bảng 5: Kết quả phân tích hồi quy

Mô hình

Hệ số tương quan ( )

t Mức ý nghĩa

Hệ số phóng đại VIF

Hệ số chặn 5,089E-16 0,000 1,000 Giá sản phẩm 0,326 11,264 0,000 2,367 Chất lượng sản phẩm 0,159 5,292 0,000 2,533 Chất lượng dịch vụ 0,213 8,363 0,000 1,829

Trang 6

Khuyến mãi 0,178 8,180 0,000 1,336

Sự tin tưởng 0,272 10,341 0,000 1,958

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu bằng SPSS 16.0

Từ kết quả hồi quy thể hiện trong Bảng 5, phương trình hồi

quy tuyến tính đa biến được xác định như sau:

SAT = 5,089E-16 + 0,326*PRC + 0,159*QLY + 0,213*SEV

+ 0,178*PRM + 0,272*REL (1) Bảng 5 cho thấy tất cả các hệ số hồi quy đều có mức ý nghĩa

sig = 0,000, nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa đặt ra sig ≤

0,005 Do đó, các hệ số hồi quy đều có ý nghĩa thống kê, hay

nói cách khác cả năm giả thuyết nêu trên được chứng minh là

đúng Hệ số phóng đại phương sai VIF của các nhân tố thành

phần trong mô hình đều rất nhỏ hơn so với 10, chứng tỏ các

nhân tố độc lập không có quan hệ chặt chẽ với nhau Đại

lượng Durbin-Watson bằng 1,789, xoay quanh giá trị 2, nên

các phần dư không có tương quan chuỗi bậc nhất (Trọng và

Ngọc, 2008; Cohen và cộng sự, 2003) Hệ số Sig (F) = 0,000

nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa α = 5% nên mô hình hồi

quy có ý nghĩa, tức là các biến độc lập có ảnh hưởng đến biến

phụ thuộc SAT

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1 Kết luận

Phân tích trên cho thấy rằng cả 5 nhân tố bao gồm Giá sản

phẩm, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, chương trình

khuyến mãi và sự tin tưởng của khách hàng đều có ảnh hưởng

dương đến sự thỏa mãn khách hàng, nghĩa là nếu có bất kỳ sự

thay đổi tích cực nào trong các thành phần của phương trình

hồi quy (1) cũng đều làm gia tăng sự thỏa mãn

- Giá cả sản phẩm có ảnh hưởng cao nhất đến sự thỏa mãn

khách hàng ( =0,326) Điều này có thể giải thích rằng, do tính

cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nên các doanh nghiệp

thường sử dụng công cụ giảm giá để kích thích khách hàng

mua sắm, nên khách hàng có xu hướng tìm hiểu thông tin về

giá sản phẩm trước khi đưa ra quyết định mua sắm, họ thường

chọn mua sản phẩm từ những doanh nghiệp có giá bán hợp lý

nhất và có tính cạnh tranh cao nhất khi so sánh với các doanh

nghiệp khác Khách hàng sẽ cảm thấy thỏa mãn khi mua được

một sản phẩm có giá tốt hơn mong đợi, nghĩa là giá cả phù

hợp với chất lượng sản phẩm, với các dịch vụ hỗ trợ, và với

thu nhập của họ

- Nhân tố sự tin tưởng của khách hàng có ảnh hưởng cao

thứ đến sự thỏa mãn khách hàng ( =0,272) Điều này có thể

được giải thích rằng, một trong những yếu tố quan trọng trong

việc thu hút khách hàng đến với hình thức mua sắm qua truyền hình là sự thuận tiện khi thực hiện một giao dịch Khi khách hàng tin tưởng rằng doanh nghiệp luôn mang lại sự thuận tiện cho họ và thực hiện đầy đủ các cam kết về dịch vụ ngoài mong đợi, khách hàng sẽ cảm thấy thỏa mãn Bên cạnh

đó, đối với hình thức mua bán trực tuyến, khi thực hiện giao dịch khách hàng chủ yếu tin tưởng vào uy tín của doanh nghiệp, do đó sự thỏa mãn có thể xảy ra khi khách hàng cảm nhận niềm tin của họ được đặt đúng chỗ

- Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng cao thứ 3 đến sự thỏa mãn khách hàng với =0,213 Điều này được giải thích rằng, trong bán hàng qua truyền hình, chất lượng dịch vụ là mối quan tâm lớn của khách hàng khi thực hiện giao dịch Chất lượng dịch vụ phản ảnh việc thực hiện tốt các công đoạn của một giao dịch, bao gồm từ giai đoạn tư vấn đặt hàng đến giai đoạn hỗ trợ sau bán hàng Việc xây dựng cơ chế đổi hoặc trả hàng thuận tiện, luôn giao hàng đúng thời gian, và giao đúng sản phẩm như khách hàng đã đặt mua là rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt Chất lượng dịch vụ tốt hơn mong đợi sẽ dẫn đến sự thỏa mãn của khách hàng

- Nhân tố có ảnh hưởng cao thứ 4 đến sự thỏa mãn là khuyến mãi với =0,178 Trong bán hàng qua truyền hình, do lợi thế về chi phí thấp và mức độ quảng bá rộng nên các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ khuyến mãi để tạo ra lợi thế

so với các hình thức bán hàng truyền thống khác Khách hàng ngày càng được hưởng lợi từ các hoạt động khuyến mãi này

Sự thỏa mãn xảy ra khi khách hàng được trúng thưởng hoặc nhận được lợi ích cộng thêm ngoài sản phẩm mua được

- Thật bất ngờ khi kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, chất lượng sản phẩm có ít ảnh hưởng nhất đến sự thỏa mãn ( =0,159) Tuy nhiên, điều này có thể được giải thích rằng, do đặc thù của bán hàng qua truyền hình là khách hàng không thể kiểm tra thực tế sản phẩm, nên việc nhiều nhà cung cấp cố tình cung cấp sản phẩm chất lượng không cao, lập lờ nhãn mác, xuất xứ sản phẩm hoặc cung cấp hàng giả cho khách hàng đã làm cho khách hàng Điều này đã ảnh hưởng đến tâm

lý khách hàng khi đánh giá chất lượng sản phẩm bán trên truyền hình

4.2 Các kiến nghị

Để nâng cao sự thỏa mãn khách hàng đối với mô hình bán hàng qua truyền hình, các doanh nghiệp cần phải cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao, chất lượng dịch vụ đảm bảo, giá

cả phù hợp với giá thị trường, đi kèm theo đó là các chương trình khuyến mãi có ý nghĩa Việc phối hợp chặt chẽ với nhà cung cấp để kiểm soát chất lượng sản phẩm ngay từ nhà cung cấp sẽ giúp doanh nghiệp loại bỏ được sản phẩm không đạt yêu cầu Bên cạnh đó, liên tục kiểm soát, phân tích các than phiền của khách hàng để cải tiến chất lượng dịch vụ sẽ giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được chất lượng phục vụ khách hàng, đặc biệt là trong hoạt động giao nhận, đổi trả hàng

Trang 7

Doanh nghiệp nên thường xuyên điều tra và nghiên cứu thị

trường, điều này sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được mức giá

cạnh tranh nhất cho từng loại sản phẩm và xây dựng được các

chương trình khuyến mãi tốt vào những thời điểm thích hợp

Nhằm đảm bảo cho một thị trường bán lẻ trên truyền hình

được minh bạch, thực sự là một kênh bán hàng tiện lợi, tác giả

cũng kiến nghị các cơ quan quản lý cần phải tăng cường kiểm

tra, kiểm soát chất lượng hàng hóa nhằm đảm bảo hàng hóa cung cấp trên truyền hình có chất lượng tốt Tăng cường khâu kiểm duyệt kịch bản để đảm bảo thông tin cung cấp trên truyền hình là đúng và phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam Bên cạnh đó, phải tích cực giám sát các chương trình khuyến mãi nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Anderson, R., & Srinivasan, S (2003) E-satisfaction and e-loyalty: A contingency framework Psychology and Marketing,

20(2), 123–138

Aurimas, D., & Melnikas, B (2009) Influence of price and quality to customer satisfaction: Neuromarketing approach

Mokslas-Lietuvos Ateitis, 1(3), 17-20

Cohen, J., Cohen, P., West, S G., & Aiken, L S (2003) Applied multiple regression/correlation analysis for the behavioral

sciences London: Lawrence Erlbaum Associates

Hair, J F J., Anderson, R E., Tatham, R L., & Black, W C (1998) Multivariate Data Analysis, New Jersey: Prentice Hall Harold, A., Linstone, & Murray, T (2002) The Delphi Method: Techniques and Applications New Jersey: Addison-Wesley

Hasan, A., Muhammad, A K., Kashif, R., Imran, A., & Sobia, W (2010) Consumer’s Trust in the Brand: Can it Be Built

through Brand Reputation, Brand Competence and Brand Predictability Journal of International Business Research, 3(1), 43-51

Kotler, P (2000) Marketing Management New Jersey: Prentice-Hall

Moss, S., Prosser, H., & Costello, H (1998) Reliability and validity of the PAS–ADD Checklist for detecting psychiatric

disorders in adults with intellectual disability Journal of Intellectual Disability Research, 173– 183

Needham, D (1996) Business for Higher Award Oxford, England: Heinemann

Nunnally, & Burnstein (1994) Pschy chrometric theory New York: McGraw Hill

Oliver, R L (1980) A cognitive model for the antecedents and consequences of satisfaction Journal of Marketing Research,

17, 460-469

Parasuraman, A., Zeithaml, V., A.,, & Berry, L., L (1985) A conceptual model of service quality and its implication Journal of

Marketing, 49, 41 - 50

Parasuraman, A., Zeithaml, V., & Berry, L (1994) Reassessment of expetation as a comparision standard in measuring service

quality: Implication for future research Journal of Makerting, 58, 111 – 124

Parasuraman, A., Zeithaml, V A., & Malholtra (2005) E-S-QUAL: a Multiple-item scale for assessing electronic service

quality Journal of Service Research, 7(3), 13-33

Singh, H (2006) The Importance of Customer Satisfaction in Relation to Customer Loyalty and Retention Kuala Lumpur:

UCTI

Sureshchanndra, G S., Rajendran, C., & Anantharama, R N (2003) The relationship between service quality and customer

satisfaction - a factor specific approach Journal of Service Marketing, 16, 357-389

Solomon, M R., Surprenant, C., Czepiel, J A., & Gutman, E G (1985) A Role Theory Perspective on Dyadic Interactions:

The Service Encounter Journal of Marketing, 49(Winter), 99-111

Teas, R K (1993) Expectations, Performance Evaluation, and Consumers’ Perceptions of Quality Journal of Marketing,

57(October), 18-34

Trong, H., & Ngoc, C (2008) Phân tích dữ liệu với SPSS TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Hồng Đức

Trịnh, B V., & Nhân, T N (2013) Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ cho vay của NHTM cổ phần Công

thương khu vực Vĩnh Long và Cần Thơ Tạp chí Phát triển và hội nhập, 13(23), 59-64

Wan-Ping, P., & Hsieh-Hong, H (2011) Effects of promotion on relationship quality and customer loyalty in the airline

industry: The elationship marketing approach African Journal of Business Management, Vol.5(11), 4403-4414 Wilson, A., Zeithaml, V A., Bitner, M., & Gremier, D (2008) Services marketing: integrating customer focus across the firm

(First European Edition ed.) United Kingdom: McGraw Hill

Wolfinbarger, M., & Mary, C G (2003) eTailQ: Dimension-alizing, Measuring, and Predicting etail Quality Journal of

Retailing, 79(3), 183-198

Trang 8

91 Economy and Forecast Review

Yu-Hui, F., Chao-Min, C., & Eric, W T G (2011, May 7) understanding customers' satisfaction adn repurchase intentions: an

integration of IS success model, trust and justice Internet Research, 21, 479-503

Zeithaml, V A (1988) Consumer perception of price, quality and value: A Means- End model and synthesis of evidence

Journal of Marketing, 2-22

Zeithaml, V., & Bitner, M J (1996) Services Marketing Singapore: McGraw-Hill

Zeithaml, V A., & Bitner, M J (2000) Services Marketing: Integrating Customer Focus across the Firm (2nd ed.) New York,

NY: McGraw Hill

Ngày đăng: 28/09/2019, 11:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w