2 Common law được hiểu là toàn bộ luật có nguồn gốc án lệ bao gồm cảequity law có thể gọi là Case law, phân biệt với luật thành văn Status law.3 Common law được hiểu là một dòng họ pháp
Trang 1Chương 3 DÒNG HỌ COMMON LAW
(13 tiết) Giải thích thuật ngữ Common Law
Dòng họ pháp luật này được các luật gia Việt nam gọi với nhiều tên gọikhác nhau như: DHPL Anh – Mỹ, DHPL Anglo – Saxon, DHPL án lệ, thôngluật… Tuy nhiên các tên gọi này đều không chính xác Trong môn học này sửdụng tên gọi dòng họ common law Tên gọi common law là thuật ngữ được hiểuvới nhiều nghĩa khác nhau:
(1) Thuật ngữ “Common law” chỉ loại luật có nguồn gốc từ hoạt động của cácTòa án Hoàng gia Anh, được áp dụng chung cho toàn bộ nước Anh, thay thế choluật địa phương Do đó có thể dịch thuật ngữ này là “luật chung”, hay “thôngluật” Theo nghĩa này thì common law là một bộ phận của hệ thống pháp luậtbên cạnh equity law (luật công bằng)
(2) Common law được hiểu là toàn bộ luật có nguồn gốc án lệ (bao gồm cảequity law) có thể gọi là Case law, phân biệt với luật thành văn (Status law).(3) Common law được hiểu là một dòng họ pháp luật cơ bản trên thế giới – baogồm các hệ thống pháp luật của các nước có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thốngpháp luật nước Anh
I SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ COMMON LAW.
Tầm quan trọng của pháp luật Anh.
- Common law được hình thành ở Anh sau đó mở rộng sang các quốc gia khác
trên thế giới Khoảng 1/3 loài người sinh sống tại các nước có HTPL có nguồngốc từ pháp luật Anh “Một điểm đặc trưng của pháp luật Anh là không có nướcnào tình nguyện chọn hệ thống luật này nhưng khi đã áp dụng thì không mộtnước nào muốn từ bỏ nữa.” (1) Dòng họ Common law mang trên mình dấu ấn
1 M.Bogdan, Luật so sánh, tr.111
Trang 2sâu sắc của lịch sử nước Anh, còn lịch sử của common law trước thế kỷ 18chính là lịch sử pháp luật Anh.(2) Như vậy, hệ thống pháp luật Anh là cội nguồn,
là hệ thống pháp luật bố/mẹ trong các hệ thống pháp luật thuộc dòng họcommon law
- Một trong những đặc điểm nổi bật của pháp luật Anh là tính kết nối bền vữngvới quá khứ, do tính liên tục không bị ngắt quãng của lịch sử phát triển phápluật
1 Sự hình thành của dòng họ Common law ở Anh.
Vương quốc Anh và Bắc Ailen được hợp thành bởi 4 nước: England,Wales, Scotland, và Northern Ireland Nói đến pháp luật Anh theo nghĩa này chỉgiới hạn trong phạm vi nước Anh và xứ Wales.(3) Pháp luật Anh ra đời sau khingười Norman chiếm cứ quốc đảo này, chủ yếu do kết quả hoạt động của cácTòa án hoàng gia Trước thế kỷ 11, pháp luật Anh phát triển độc lập, những lầntiếp xúc với Châu âu lục địa cũng chỉ để lại ảnh hưởng không đáng kể NướcAnh từng bị chiếm đóng bởi đế quốc La Mã trong 4 thế kỷ (từ thời hoàng đếClaudia - đầu thế kỷ V) nhưng pháp luật Anh ít chịu ảnh hưởng bởi Luật La Mã.Nguyên nhân từ người La Mã cho rằng Pháp luật của họ là thiêng liêng, tinh hoachỉ dành cho công dân La Mã mà không dành cho người ngoại tộc Sau khi Đếquốc La Mã suy tàn, nước Anh chia ra thành nhiều vương quốc nhỏ với các hệthống pháp luật mang tính địa phương chủ yếu của người Germain
a Thời kỳ từ 1066 đến 1485: Sự ra đời của Common law.
Ở Anh, người ta gọi giai đoạn này trước 1066 là giai đoạn pháp luậtAnglo – Saxon Thuở xa xưa, người Anh cũng có luật bất thành văn tồn tại dướidạng tập quán địa phương Trong gần 4 thế kỷ cai trị nước Anh, đế quốc La Mãchỉ để lại ảnh hưởng về văn hóa đối với nước Anh Riêng về pháp luật La mã chỉ
2 Rene David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, tr.221
3 Rene David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, tr.222
Trang 3được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ giữa cư dân là người La Mã nên hầunhư không có ảnh hưởng nhiều tới pháp luật Anh
Khởi đầu cho lịch sử pháp luật Anh và lịch sử nước Anh là năm 1066 –khi nước Anh bị người Norman chiếm cứ Đây là sự kiện quan trọng vì nó manglại cho nước Anh chính quyền phong kiến tập trung được thiết lập (Chủ nghĩaphong kiến ở Anh: các chúa đất Norman đi theo William rơi vào đất nước mà họkhông biết đến, còn dân chúng và nếp sống bị họ khinh rẻ Họ cảm nhận đượcnhu cầu bức thiết là phải tập trung lại xung quanh ông chủ của mình để bảo vệđất đai chiếm được và sở hữu của mình Trong khi đó, Hoàng đế William tuyên
bố tất cả đất đai là của mình, coi những người sử dụng đất ở Anh là người thuêđất Ngày nay, toàn bộ đất đai ở Vương quốc Anh vẫn là tài sản của Hoàng gia,các tổ chức, cá nhân ở Anh chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữuđất Đồng thời, để tránh mối nguy hiểm có thể xuất phát từ các lãnh địa chư hầu:khi phân chia đất đai cho các chiến hữu của mình, ông không tạo ra một lãnh địalớn nào, do đó không lãnh chúa nào có thể cạnh tranh được với ông Điều nàythể hiện mối phụ thuộc trực tiếp của các lãnh chúa phong kiến vào nhà vua vàchính quyền phong kiến tập trung Chủ nghĩa phong kiến Anh tác động đến sự rađời và phát triển của common law).(4) Sau khi lên ngôi, Hoàng đế William tuyên
bố duy trì hiệu lực của pháp luật Anglo – Saxon Ông thành công trong việc xâydựng chế độ phong kiến hà khắc và tập trung cao độ với tổ chức tương đối đơngiản trong đó Vua là lãnh chúa phong kiến tối cao, thâu tóm tất cả quyền hànhpháp, lập pháp và tư pháp Trong lĩnh vực tư pháp, William đã thực thi quyềnlực của quan chánh án tối cao, chỉ giải quyết những vấn đề làm Hoàng đế lo ngại
ở Westminster và những tranh chấp hết sức đặc biệt, còn những vấn đề của địaphương vẫn tiếp tục do các tòa án quận/huyện và tòa án bách hộ khu giải quyết.Trong lĩnh vực tư pháp, William không bãi bỏ và không sửa đổi tức thì pháp luậttruyền thống vào năm 1066, thực tế thì nhu cầu quản lý hành chính chứ không
4 Rene David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, tr.225
Trang 4phải hoạt động lập pháp đã đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định bảnchất của common law ở Anh Trong lĩnh vực hành pháp, William đã cho lập sổđiền thổ vào năm 1086, thống kê tất cả đất đai của Quốc vương có trên Anhquốc nhằm đảm bảo số thuế lớn hơn sẽ được tập trung vào ngân sách Hoàng gia.Đồng thời, Vua cũng thành lập Hội đồng cố vấn của Quốc vương có chức năngkiểm soát việc nộp thuế của các thuộc hạ của Vua Đến thời Henry I (1110-1135), Hội đồng cố vấn đã phát triển thành Tòa án tài chính không chỉ đơn thuần
là chức năng kiểm soát mà còn thực hiện chức năng xét xử đối với tất cả các vụviệc liên quan tới thuế Lí do tài chính cũng là lí do căn bản để tăng sự can thiệpcủa Chính phủ Hoàng gia Trung ương vào các quan hệ pháp luật dân sự và hình
sự có liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế Bằng cách đó, tư pháp Hoàng gia đã pháttriển trong giai đoạn từ thế kỷ 12 tới thế kỷ 13 từ thẩm quyền đặc biệt để giảiquyết những vụ việc tài chính của quốc gia trở thành thẩm quyền chung, giảiquyết phạm vi rộng rãi các vụ việc Hệ quả là từ Hội đồng cố vấn của Quốcvương, ba tòa án trung ương thường trực đã dần dần được hình thành với độingũ thẩm phán chuyên biệt, có quyền thay mặt Quốc vương xét xử Bao gồm:Tòa án tài chính, tòa án thẩm quyền chung, tòa án Quốc vương Các tòa án nàyvới thẩm quyền được thiết lập từ 1300 và không thay đổi cho tới tận thế kỷ thứ
17
Người có công lớn trong việc thúc đẩy sự ra đời của common law làHoàng đế Henry đệ nhị (1154-1189) Henry đã cử các thẩm phán từ tòa ánHoàng gia Anh đặt tại thủ phủ Westminster đi giải quyết tranh chấp ở các địaphương trên toàn quốc Sau đó, các thẩm phán lại quay về Westminster và họthường thảo luận về các vụ án mà họ đã xử, những tập quán pháp mà họ đã ápdụng, những phán quyết mà họ đã ra Các phán quyết đó được ghi chép lại vàgọt giũa, sắp xếp có hệ thống Theo thời gian, nguyên tắc án lệ (stare decisis/rule
of precedent) phát triển, theo đó thẩm phán bị ràng buộc bởi những phán quyết
có liên quan của các thẩm phán khác trong quá khứ, bởi cách giải thích luật của
Trang 5các thẩm phán tiền bối Trên cơ sở áp dụng nguyên tắc tiền lệ pháp này, cácphán quyết của tòa án được duy trì đồng thời các tập quán địa phương từng bước
bị thay thế, áp dụng thống nhất trên toàn Anh quốc
b Thời kỳ từ cuối thế kỷ 15 đến thế kỷ 19: Sự ra đời của luật công bình.
Trong quá trình phát triển của common law dần trở nên cứng nhắc vàphức tạp dẫn đến những bất công trong xét xử Sang thế kỷ XV, bản thân thủ tục
tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát, vì thế thủ tục tố tụngthường được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện Nếuđơn kiện không rơi vào các một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bênnguyên sẽ mất quyền khởi kiện; mặt khác, nếu bên nguyên giành được trátnhưng trát đó không phù hợp với bản chất vụ kiện, bên nguyên cũng sẽ bị tòabác đơn Thực tế này nảy sinh nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới để khắc phục bấtcông trong xã hội và giải pháp đó chính là equity được văn phòng đại pháp quankhai thác để giải quyết vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyếtthỏa đáng bởi tòa án hoàng gia
Equity được hiểu là hệ thống các học thuyết và thủ tục pháp lí phát triểnsong song với common law và luật thành văn, được sử dụng trong hoạt động xét
xử tại Văn phòng đại pháp nhằm khắc phục những bất cập của common law Sựhình thành và phát triển của equity nhằm sửa đổi, bổ sung cho common law, đểhoàn tất common law chứ không nhằm mục đích thay thế common law
Văn phòng đại pháp thay mặt Vua giải quyết những khiếu kiện những vụkiện bị bác đơn hay bị thua kiện vì lí do kỹ thuật Sau đó phát triển thành tòa đạipháp Trong vài thế kỷ từ khi ra đời, euity đã phát triển độc lập bên ngoài tòa ánhoàng gia Trong thế kỷ XV, Đại pháp quan quyết định vụ việc theo những gìông ta cho là thích hợp, được các đại pháp quan kế nhiệm phát triển thêm, tùythuộc vào nhận thức cá nhân của mỗi viên đại pháp quan về sự công bằng và lẽphải Cuối thế kỷ XVI, các phán quyết của Đại pháp quan được xuất bản định kỳ
và ngay tức khắc, hoạt động của đại pháp quan ngày càng mang tính tư pháp và
Trang 6văn phòng của đại pháp quan trở thành Tòa đại pháp với thẩm phán duy nhất làviên Đại pháp quan Nửa đầu thế kỷ XVIII, đại pháp quan đã được trợ giúptrong hoạt động xét xử bởi viên trợ lí, chịu trách nhiệm giữ hồ sơ và sổ sách củaTòa đại pháp.
Thủ tục tố tụng tại tòa đại pháp khác với thủ tục tố tụng tại tòa hoàng gia:khởi đầu quá trình tố tụng bằng đơn thỉnh cầu Nếu thấy bên nguyên có lí và cầnđược bảo vệ, Đại pháp quan sẽ phát hành trát triệu tập đòi bên bị phải có mặt tạitòa mà không cần nếu lí do Khi hầu tòa, bên bị trả lời câu hỏi trên cơ sở tuyênthệ Việc xét xử không có sự tham gia của bồi thẩm đoàn Giải pháp của Đạipháp quan đưa ra rất khác với giải pháp của tòa án hoàng gia
Đóng góp lớn nhất của equity đối với hệ thống pháp luật Anh là đã tạo rachế định ủy thác
c Thời kỳ từ thế kỷ 19 đến nay: Thời kỳ cải cách và phát triển pháp luật Anh.
- Những bất cập trong hệ thống pháp luật Anh ở thế kỷ XIX được tìm thấy
ở cả common law và equity cũng như những yếu kém trong hoạt động của tòa án
đã dẫn đến nhu cầu cải tổ HTPL Anh
- Cải tổ HTPL Anh cuối thế kỉ XIX chủ yếu nhằm vào việc cải tổ hệthống tòa án thông qua việc ban hành một số đạo luật như: Luật tòa án tối caonăm 1873, Luật thẩm quyền xét xử phúc thẩm năm 1876 Theo đạo luật năm
1873, nhiều tòa án tồn tại độc lập trước cải tổ được quy tụ và đưa vào làm nênhai bộ phận cấu thành của một tòa án tối cao duy nhất là Tòa án cấp cao và Tòaphúc thẩm
- Đạo luật năm 1873 cũng đã đơn giản hóa thủ tục tố tụng bằng việc bãi
bỏ hình thức khởi kiện Trước khi cải tổ, để khởi kiện các bên nguyên vẫn phảilựa chọn trong số gần 80 hình thức khởi kiện khác nhau đang tồn tại Việc lựcchọn hình thức khởi kiện sẽ quyết định cách thức tiến hành các bước tố tụng tiếptheo: tiền lệ pháp nào sẽ được được áp dụng để giải quyết vụ việc mà nguyên
Trang 7đơn đưa đến tòa, bị đơn sẽ được triệu tập tới tòa như thế nào, chứng cứ phảiđược viện dẫn ra sao và phán quyết được thi hành như thế nào Việc duy trìnhiều hình thức khởi kiện với hệ thống trát phức tạp dẫn đến tình trạng phổ biến
đã dẫn đến tình trạng phổ biến là nguyên đơn của những vụ kiện phức tạpthường chọn nhầm hình thức khởi kiện và bị mất quyền khởi kiện chỉ vì lí do kĩthuật Tuy nhiên, theo Đạo luật năm 1873, tất cả các vụ việc đưa ra xét xử tại tòa
án cấp cao đều được bắt đầu cùng một loại trát là trát triệu tập
- Cuộc cải tổ này còn hợp nhất được common law law và equity, theo đótất cả các tòa chuyên trách trong tòa án cấp cao và tòa phúc thẩm đều phải ápdụng các quy phạm và nguyên tắc pháp lí của Anh quốc, bất kể chúng được hìnhthành từ Tòa án Hoàng gia hay Tòa đại pháp
- Cùng với cải tổ luật tố tụng, luật nội dung cũng được pháp điển hóatrong thế kỉ XIX Một số đạo luật điều chỉnh lĩnh vực thương mại được banhành, một số đạo luật tư khác điều chỉnh xã hội hiện đại cũng được ban hànhtrong giai đoạn này
2 Sự mở rộng Common Law sang các nước khác trên thế giới.
a Khái quát về sự mở rộng của Common Law sang các khu vực khác trên thế giới.
- Nguyên nhân sự mở rộng của common law mang tính lịch sử và liênquan đến sự mở rộng thuộc địa của Anh Sự bành trướng của common law củaAnh diễn ra suốt quá trình Hoàng gia Anh thực hiện chính sách thuộc địa hóa.Sau khi hình thành ở Anh quốc, common law đã lan sang khắp các châu lục từChâu Phi, châu Mỹ, châu Úc, châu Á và trở thành một trong hai dòng họ lớnnhất trên thế giới Tuy nhiên, rõ ràng common law không thể tiếp tục có mặtnhiều nơi nếu nó không có tính mềm dẻo và tính thực tiễn đặc biệt Mức độ ảnhhưởng của common law đối với các thuộc địa không giống nhau và có thể chiacác thuộc địa thành hai nhóm:
Trang 8+ Một là những miền đất mà trước khi người Anh xâm chiếm chưa cóngười sinh sống hoặc chỉ có thổ dân sinh sống mà chưa có cuộc sống văn minh.
Đó là Bắc Mỹ, Úc, Newzealand nơi trước khi người Anh tới chưa có hệ thốngpháp luật phát triển: Pháp luật Anh được người Anh di cư mang theo đươngnhiên xác lập vị trí thống trị
+ Hai là những vùng đất trước khi người Anh chinh phục đã có thủ lĩnhbản địa hoặc những vùng đã từng là thuộc địa của một cường quốc châu Âu màngười Anh giành được hoặc được chuyển nhượng Người Anh áp dụng chínhsách kiên định là tiếp tục duy trì pháp luật và thậm chí cả hệ thống tòa án bảnđịa chứ không thay thế common law của Anh Ví dụ Anh thay thế của Pháp ởBắc Mỹ, người Anh thừa nhận người Bắc Mỹ gốc Pháp sống ở lưu vực sôngSt.Lawrence tiếp tục áp dụng luật tư của họ dựa trên tập quán Paris; Tương tự,khi thế chân người Hà Lan ở Nam Phi người Anh không thay thế luật Hà Lan(thuộc civil law); Khi Ấn độ và nhiều nước Châu Phi thành thuộc địa của Anh,người Anh cũng không thay thế Luật Hồi giáo, luật Hindu và các tập quán bấtthành văn của người Châu Phi bằng common law của Anh Người Anh không cótham vọng áp đạt pháp luật Anh đối với cư dân bản địa, đặc biệt trong lĩnh vựcluật tư Tuy nhiên trong hoạt động thương mại, pháp luật Anh dần dần thay thếluật bản xứ, còn luật gia đình vẫn theo nguyên tắc của địa phương Điều đó lígiải vì sao nhiều nước đã từng là thuộc địa của Anh nhưng lại không có hệ thốngpháp luật thuộc common law
- Nguyên nhân thứ hai là trong thời gian dài, nước Anh là quốc gia dẫnđầu trong hoạt động thương mại và hàng hải Thực tế này góp phần phổ biếnpháp luật Anh tới những quốc gia trước đây không phải là thuộc địa Anh Một
số ngành luật của Anh đã trở nên phổ biến như lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
b Một số ví dụ điển hình về sự mở rộng của Common Law.
- Common Law ở Autralia
Trang 9Năm 1770, triều đình Anh thiết lập quyền sở hữu đất của mình trên vùngđất Autralia Những người Anh đầu tiên trên mảnh đất này là những phạm nhânchịu hình phạt đi đày Năm 1828, Luật về nghị viện Anh (Act of parliament) quyđịnh: luật áp dụng ở thuộc địa Autralia là common law và luật thành văn(statute) có hiệu lực ở nước Anh Thời kì này, ở Autralia đã có tổ chức chính trị
ở cấp địa phương (hội đồng địa phương ra đời từ bầu cử) Đến năm 1860, người
ta phát hiện ra mỏ vàng ở Autralia Ngày càng nhiều người nhập cư đến mảnhđất này Nước Anh không cần thiết phải đày phạm nhân đến nữa Lúc nàyAutralia đang tiến tới một nhà nước liên bang Luật về Hiến pháp liên bangAutralia năm 1900 (The commonweath of Autralia Constitution Act) ghi nhận
sự tồn tại của 6 bang: New South Wales, Victoria, Queensland, Tasmania, SouthAuttralia và West Autralia (ngày nay thêm hai vùng lãnh thổ) Mỗi bang có hiếnpháp và hệ thống pháp luật riêng Nội dung pháp luật ở mỗi bang tương tự nhau
vì đều theo khuôn mẫu của pháp luật Anh Án lệ của Autralia có giá trị thamkhảo đối với tòa án Anh Autralia có hệ thống tòa án tương tự Anh, Tòa án tốicao Autralia có thẩm quyền xét xử cao nhất đất nước
- Common Law ở Canada
Nhà nước tự trị Canada (Dominion of Canada) thành lập năm 1867 trên
cơ sở Luật về vấn đề Bắc Mỹ thuộc Anh (Britisth North America Act) Vào thờiđiểm này, Nhà nước liên bang Canada bao gồm 4 tỉnh (tương đương Nhà nướcthành viên của Liên bang): Quebec, Ontario, New Brunswick, Nova Scotia Đếnnăm 1869 mua thêm lãnh thổ của công ty Vịnh Hundson (Hundson’s BayCompany) Sau này một số tỉnh mới được thành lập: British Columbia (năm1905), New Land (năm 1949) Hiện nay, Canada có 10 tỉnh
Hiến pháp Canada là một loạt các đạo luật ban hành từ năm 1867 tới 1882trong đó có Luật hiến pháp Canada năm 1882 cho phép Canada có quyền tự sửađổi Hiến pháp Canada sử dụng common law theo đó bản án của tòa án cấp trên
và tòa án Anh có hiệu lực bắt buộc Về tổ chức tư pháp, mỗi tỉnh có hệ thống tư
Trang 10pháp riêng Tòa án tối cao Canada là tòa án cấp phúc thẩm, bao gồm 9 thẩmphán trong đó có 3 thẩm phán đến từ tỉnh Quebec Ở Canada không có hệ thốngtòa án hành chính Khiếu nại quyết định hành chính được xem xét ở tòa án thẩmchung (Tòa án tỉnh và tòa án liên bang) theo các đạo luật riêng Ở Canada việcđăng kí kết hôn được điều chỉnh bởi pháp luật tỉnh nhưng việc li hôn được điềuchỉnh bởi pháp luật liên bang.
- Common Law ở Hồng Kong
Năm 1842, Hồng Kong trở thành thuộc địa và ở đây hoàn toàn áp dụngpháp luật của Anh có sự kết hợp với những tập quán địa phương Khi hệ thốngpháp luật ở miền đất mà người Anh xâm chiếm không hỗ trợ cho người Anhthực hiện mục đích thuộc địa hóa của mình, người Anh sẽ thay thế hệ thốngpháp luật bản địa bằng common law của Anh, Hồng Kông và Singapore lànhững ví dụ tiêu biểu cho những thuộc địa kiểu này
Từ 5/4/1843, Hồng Kong có cơ quan lập pháp riêng, các đạo luật Anhđược thông qua trước ngày này được tiếp nhận một cách đương nhiên ở HồngKong với điều kiện đạo luật đó mang tính chất chung và phù hợp với điều kiệncủa Hồng Kong Các đạo luật thông qua sau ngày 5/4/1843 sẽ không được ápdụng ở Hồng Kong trừ khi có những quy định riêng hoặc được chính quyềnHồng Kong tiếp nhận
Năm 1997, Hồng Kong trở lại với chủ quyền của Trung Quốc như mộtđặc khu Theo hiệp định giữa Anh và Trung Quốc, Hồng Kong có quyền tự trịđồng thời với hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp riêng với chính sách thuế
và chính sách nhập cư độc lập Đến năm 2047, Hồng Kong vẫn giữ nguyên hệthống kinh tế xã hội và quy chế khu vực kinh tế mở Trung Quốc đã công nhận
140 luật của Anh để áp dụng tại Hồng Kong Hệ thống tòa án của Hồng Kongvẫn theo kiểu Anh và độc lập, tách rời với hệ thống tòa án Trung Quốc
II Pháp luật một số nước thuộc dòng họ Common Law.
1 Hệ thống pháp luật Anh.
Trang 112 Hệ thống pháp luật của Mỹ
2.1 Sơ lược quá trình phát triển của HTPL Mỹ
- Châu Mỹ được nhà thám hiểm, Christopher Columbus tìm thấy vào năm 1492
Từ đó, các quốc gia châu Âu tiến hành khai thác thuộc địa Các vùng đất ở Bắc
Mỹ chủ yếu là thuộc địa Anh Anh lập ra những khu vực thuộc địa đầu tiên,hướng tới xây dựng pháp luật bằng cách đem common law của Anh để áp dụng,bằng chứng là ví dụ một án lệ được ban hành vào năm 1608 Tuy nhiên, việc ápdụng common law phải mềm dẻo phù hợp với điều kiện của từng khu vực nhưngsuốt thế kỷ XVII, hầu như các khu vực gần như không tiếp nhận common lawcủa Anh Bởi vì, cư dân sinh sống ở Mỹ lúc này chủ yếu là người Anh, nhưng lànhững người yêu tự do, chán ghét sự hà khắc ở Anh nên tìm đường sang vùngđất này (họ gọi châu Mỹ là tân thế giới) Vì vậy, chính những người Anh di cưsang không chào đón pháp luật từ Anh mặc dầu chính quyền vẫn cứ áp đặt phápluật Anh Lí do tiếp theo là common law là hệ thống pháp luật phức tạp gắn liềnvới hệ thống tố tụng rắc rối, phức tạp Để áp dụng được nó cần có những người
am hiểu common law nhưng luật gia di cư sang Anh sang Mỹ chưa nhiều, việcđào tạo luật cũng hạn chế Vậy pháp luật áp dụng ở đây như thế nào? Một sốkhu vực như Pennsylvania và Massachusetts đã xây dựng chế độ thần quyềntrong đó mọi tranh chấp đều được giải quyết bởi các giáo sĩ cơ đốc giáo dựa trênKinh thánh chứ không dùng tới luật sư, thẩm phán và án lệ của Anh quốc Từnửa đầu thế kỉ XVII, các thuộc địa này có xu hướng coi trọng luật thành văn thểhiện ở việc pháp điển hóa và ban hành bộ luật ở Massachusetts năm 1634 vàPennsylvania năm 1682 Bước sang thế kỷ XVIII, tình hình kinh tế và xã hội cácvùng thuộc địa Anh ở Mỹ đã có nhiều biến chuyển do nhu cầu giao lưu thươngmại phát triển giữa các vùng thuộc địa với nhau, với nước mẹ Anh quốc tănglên Trước tình hình đó, chính trị thần quyền dần mất chỗ đứng ở các thuộc địanày, đồng thời một tầng lớp luật sư gồm những người đã tốt nghiệp các cơ sở
Trang 12đào tạo luật sư ở London từ trước khi di cư sang Mỹ đã bắt đầu hành nghề ởthuộc địa mới này Cùng với sự hiện diện và hoạt động của các luật sư, sáchluật từ Anh quốc cũng dần được sử dụng phổ biến ở các thuộc địa, đặc biệt làcuốn “Bình luận về pháp luật Anh” của Blackstone.
Chủ nghĩa đế quốc Anh vào giữa thế kỉ XVIII đã dẫn đến phong trào đấutranh giành độc lập ở Mỹ Người phát ngôn của cả hai phía là luật sư và cókhông dưới 25 luật sư trong số 56 người kí kết bản tuyên ngôn độc lập năm
1776 Sau khi giành được độc lập, Hiến pháp năm 1789 được ban hành thành lậpHợp chủng quốc Hoa Kì từ 13 thuộc địa từ Hoàng gia Anh Sau khi giành đượcđộc lập, đã có sự đấu tranh quyết liệt giữa hai trường phái: một ủng hộ commonlaw của Anh và một ủng hộ pháp điển hóa Năm 1808, New Orleans đã tách rakhỏi Lousiana lúc đó và đã thông qua Bộ luật dân sự kiểu Pháp Cuối cùng hệthống pháp luật Mỹ vẫn thuộc common law trừ New Orleans từ năm 1812 trởthành một bộ phận của bang Lousiana Lí do là common law đã ăn sâu vào tiềmthức của người dân Anh ở Mỹ vì thế khó có thể hoàn toàn dứt bỏ mô hình hệthống pháp luật này Còn quan điểm của Mỹ phải xây dựng hệ thống pháp luậtđộc lập không giống của Anh, muốn tiếp nhận civil law Tuy nhiên gặp rào cản
về ngôn ngữ, họ cũng thiếu các luật gia am hiểu tiếng Pháp, Đức để ứng dụngcách xây dựng pháp luật của họ Cuối cùng người Mỹ buộc miễn cưỡng quay lại
áp dụng comom law của Anh Ngày nay, Mỹ vẫn dựa trên những nguyên tắcpháp lí truyền thống của luật án lệ của Anh nhưng vốn là quốc gia đa sắc tộc, đatôn giáo với nền văn hóa đa dạng và lãnh thổ rộng lớn cùng những thay đổinhanh chóng về xã hội, kinh tế, Mỹ đã và đang xây dựng hệ thống pháp luật Mỹvới những đặc trưng riêng so với pháp luật Anh
Như vậy, sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật Mỹ và pháp luật Anh thểhiện qua những đặc điểm như sau:
- Nước Mỹ có luật bang và luật liên bang Nước Anh có cơ cấu chính trị đơnnhất nên có hệ thống pháp luật chung Trong khi đó, Mỹ có 50 bang và tồn tại
Trang 13dưới hình thức nhà nước cộng hòa liên bang Các bang vẫn có hệ thống phápluật riêng khá hoàn chỉnh của mình Mỗi bang của Mỹ đều có chính phủ và hiếnpháp riêng mặc dầu hiến pháp của các bang được soạn thảo theo mô hình hiếnpháp liên bang, cùng với cơ cấu chính phủ bang và những quyền dân sự, quyềncông dân tương tự nhau giữa các bang Hiến pháp năm 1789 đã thành lập Nhànước liên bang Theo đó, chính phủ liên bang được tổ chức thành ba nhánh: lậppháp, hành pháp, tư pháp Cơ quan lập pháp liên bang được chia thành hai bộphận: Hạ nghị viện với hơn 400 hạ nghị sĩ, được tuyển cử từ mỗi quận trongtừng bang, với nhiệm kỳ hai năm Thượng nghị sĩ với 100 người được tuyển cử
từ 50 bang với nhiệm kì sáu năm và thời điểm hết nhiệm kỳ được bố trí xen kẽgiữa các Thượng nghị sĩ Cơ quan hành pháp do Tổng thống đứng đầu, nhiệm kỳbốn năm và không được quá hai nhiệm kỳ Tổng thống có quyền tham gia vàoquá trình làm luật và có quyền phủ quyết đối với dự luật đã được Nghị việnthông qua, chịu trách nhiệm thi hành những đạo luật do Quốc hội thông qua vàban hành những đạo luật theo sự ủy quyền của Quốc hội Cơ quan tư pháp gồmTòa án tối cao, các tòa phúc thẩm và tòa án cấp quận Ngoài ra còn có một sốtòa án chuyên biệt trong hệ thống tòa án liên bang
- Tòa án liên bang và Tòa án bang
Hệ thống tòa án Mỹ cũng được tổ chức khác với hệ thống tòa án Anh, thể hiện ở
sự tồn tại của hệ thống tòa án kép ở Mỹ, gồm hệ thống tòa án bang và tòa án liênbang Mỗi bang có hệ thống tòa án riêng
- Thẩm quyền của Tòa công lý: Ở Mỹ, sau nhiều thế kỉ cạnh tranh, tòa áncommon law và tòa công lý (court of equity) đã sáp nhập ở gần như khắp nơi và
vì vậy, ngày nay chỉ có một loại tòa án và một loại luật ở Mỹ.(5) Ở Anh, cuộc cải
tổ hệ thống tòa án Anh vào cuối thế kỷ XIX cũng hợp nhất common law vàequity, theo đó tất cả các tòa chuyên trách trong tòa án cấp cao và cấp phúc thẩmđều phải áp dụng các quy phạm và nguyên tắc pháp lí của Anh quốc, bất kể
5 Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình luật so sánh, tr 297.
Trang 14chúng được hình thành từ Tòa án hoàng gia (common law) hay từ Tòa đại pháp(equity).(6)
- Luật hiến pháp và luật hành chính của Mỹ cũng khác của Anh Trong khi Hiếnpháp Mỹ thừa nhận tam quyền phân lập theo đó ba cơ quan nhà nước (lập pháp,hành pháp, tư pháp) hoàn toàn độc lập thì ở Anh trong nhiều thế kỉ học thuyếtnày hoàn toàn bị phủ nhận, thể hiện ở chỗ Thượng nghị viện Anh đồng thời lại
là cấp xét xử cao nhất trong hệ thống tòa án Anh mãi tới thời gian gần đây(trước 01/01/2009) Luật hành chính của Mỹ cũng khác với luật hành chính củaAnh vì luật hành chính của Mỹ điều chỉnh cả về tổ chức và hoạt động của hàngloạt các ủy ban ở cấp Liên bang và cấp bang mà ở Anh không hề có
- Luật lao động và luật công ty, ngân hàng
- Thuật ngữ pháp lí được sử dụng ở hai quốc gia cũng có sự khác nhau Ví dụthuật ngữ “high court” ở Mỹ được hiểu là tòa án tối cao trong khi đó ở Anh chỉđược hiểu là tòa án sơ thẩm có thẩm quyền xét xử những vụ việc dân sự có giátrị tranh chấp lớn và xét xử phúc thẩm những vụ việc hình sự từ tòa án hình sựcấp cơ sở
2.2 Nguồn luật
a Án lệ
- Án lệ ở Mỹ được coi là một phương pháp, cách thức giải thích luật, là căn cứpháp lý để thẩm phán áp dụng Ở giai đầu, Mỹ cũng tương tự như Anh đã phânchia pháp luật thành án lệ và luật công bằng Ở Anh, sự phân biệt này tiếp tụcđược duy trì vì trong nhiều năm khi Anh quốc thừa nhận sự tồn tại của hai loạitòa án (Tòa án Hoàng gia và Tòa Đại pháp) Tòa đại pháp nói chung mềm dẻohơn và sáng tạo hơn Tòa án Hoàng gia truyền thống, vì vậy có một sự cạnh tranhđáng kể giữa hai loại tòa án này Tình hình diễn ra tương tự ở Mỹ, sau nhiều thế
kỉ cạnh tranh, tòa án common law và tòa công lí (court of equity) đã sáp nhập ở
6 Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình luật so sánh, tr 232.