1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chapter 1 pathways of the pulp expert consult

39 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mục tiêu này không thể đạt được chỉ với việc sử dụng một số công thức điều trị hay các quy trình cơ học, mà chúng còn phải dựa trên nền tảng kiến thức chuyên sâu về bệnh lý lâm sàng.

Trang 1

NGHỆ THUẬT VÀ KHOA HỌC CHẨN ĐOÁN

Hầu hết trong các thế kỷ trước, Dr Hermann Prinz đã viết: “

Mục tiêu của nha khoa lâm sàng… là thực hiện các biện pháp

phòng ngừa, loại bỏ các cơn đau, và chữa bệnh Các mục tiêu

này không thể đạt được chỉ với việc sử dụng một số công thức

điều trị hay các quy trình cơ học, mà chúng còn phải dựa trên

nền tảng kiến thức chuyên sâu về bệnh lý lâm sàng.” Tuyên bố

này trở thành một kim chỉ nam trong chẩn đoán Nhưng các dữ

liệu khoa học đến hiện nay vẫn chưa đủ để tạo ra một chẩn đoán

lâm sàng chính xác Dữ liệu cần được diễn dịch và thực hiện

nhằm xác định thông tin nào là rõ nét, thông tin nào còn nghi

ngờ Trên thực tế, quy trình xác định sự hiện hữu của một bệnh

lý nha khoa là sự kết hợp của nghệ thuật và khoa học nhằm tạo

nên một chẩn đoán chính xác

Mục tiêu của chẩn đoán là xác định vấn đề nào bệnh nhân

đang có, và tại sao bệnh nhân lại có vấn đề đó Chính từ đây sẽ

hướng bác sĩ đến điều trị nào cần thực hiện Không có một điều

trị phù hợp nào được khuyến cáo cho tới khi trả lời được tất cả

các câu hỏi “tại sao” trên lâm sàng Do đó, một cách tiếp cận có

khoa học, rõ ràng và hệ thống là cần thiết

Quy trình để thực hiện chẩn đoán có thể chia ra làm 5 giai

đoạn:

1 Bệnh nhân nói cho nhà lâm sàng biết vì sao bệnh nhân đến

2 Nhà lâm sàng hỏi bệnh nhân về các hội chứng và tiền sử

dẫn tới cuộc hẹn này

3 Nhà lâm sàng thực hiện các test lâm sàng khách quan

4 Nhà lâm sàng kết hợp các thông tin khách quan với các chi

tiết chủ quan để tạo ra một chẩn đoán phân biệt

2

5 Nhà lâm sàng đưa ra chẩn đoán xác định

Thông tin là sự kết hợp của cách tiếp cận có tổ chức và hệ thống, đòi hỏi các phân tích lâm sàng rõ ràng Nhà lâm sàng cần phải tiếp cận vấn để bằng cách chọn lọc các câu hỏi cho bệnh nhân và làm thế nào để hỏi các câu hỏi quyết định Chú ý lắng nghe là tiên quyết để bắt đầu vẽ nên được hình ảnh vấn đề mà bệnh nhân đang gặp phải Các test chẩn đoán được sử dụng là khoa học đằng sau việc tạo nên một chẩn đoán xác định Không thể chỉ sử dụng nghệ thuật hay khoa học một mình Thiết lập được chẩn đoán phân biệt trong nội nha đòi hỏi kiến thức chắc chắn, kỹ năng và khả năng phỏng vấn tương tác với bệnh nhân trong buổi khám Việc đặt câu hỏi, lắng nghe, thử nghiệm test, diễn dịch và cuối cùng là trả lời cho câu hỏi chủ đề

“ tại sao” sẽ đưa nhà lâm sàng tới chẩn đoán chính xác và tăng thành công cho kế hoạch điều trị

Lý Do Đến Khám

Khi bệnh nhân tới khám nha khoa, rất cần thiết họ phải chuẩn bị thông tin về tiền sử bệnh lý và nha khoa (Hình 1-2 và 1-2) Các mẫu khai này cần được kí và ghi ngày tháng bởi chính bệnh nhân, cung cấp cho nhà lâm sàng các thông tin để tiện tìm hiểu lại (Xem chương 11)

Lý dó mà bệnh nhân tới khám thường quan trọng như các bài test chẩn đoán Các yếu tố này quyết định cho chẩn đoán chính xác của nhà lâm sàng Nếu không có các nhân tố chỉ hướng và trực tiếp, các quan sát khách quan có thể dẫn tới một chẩn đoán không chính xác

NGHỆ THUẬT VÀ KHOA HỌC CHẨN ĐOÁN

Lý Do Đến Khám

Tiền Sử Bệnh

Tiền Sử Răng Miệng

KHÁM VÀ THỬ NGHIỆM

Khám Ngoài Miệng Và Khám Trong Miệng

Thử Nghiệm Tủy

Các Thử Nghiệm Đặc Biệt

Chẩn Đoán Hình Ảnh Gãy Chân Răng Và Nứt Đau Quy Chiếu

PHÂN LOẠI LÂM SÀNG CÁC BỆNH LÝ TỦY VÀ CẬN CHÓP

Bệnh Lý Tủy Bệnh Lý Chóp Cơn Đau Không Do Răng

Trang 2

TELL US ABOUT YOUR SYMPTOMS

1 Are you experiencing any pain at this time? If not, please go to question 6

2 If yes, can you locate the tooth that is causing the pain?

3 When did you first notice the symptoms?

4 Did your symptoms occur suddenly or gradually?

5 Please check the frequency and quality of the discomfort, and the number that most closely

reflects the intensity of your pain:

LEVEL OF INTENSITY (On a scale of 1 to 10)

When eating or drinking, is your tooth sensitive to:

Does your tooth hurt when you bite down or chew?

Does it hurt if you press the gum tissue around this tooth?

Does a change in posture (lying down or bending over) cause your tooth to hurt?

6 Do you grind or clench your teeth?

7 If yes, do you wear a night guard?

8 Has a restoration (filling or crown) been placed on this tooth recently?

9 Prior to this appointment, has root canal therapy been initiated on this tooth?

10 Is there anything else we should know about your teeth, gums, or sinuses that would assist us in our

Yes No Yes No Yes No Yes No Yes No

diagnosis?

Hình 1-1 Bảng câu hỏi cho bệnh nhân miêu tả các triệu chứng răng miệng của mình

Trang 3

TELL US ABOUT YOUR HEALTH

When did you have your last physical exam?

If you are under the care of a physician, please give reason(s) for treatment

Physician’s Name, Address, and Telephone Number:

Have you ever had any trouble with prolonged bleeding after surgery?

Do you wear a pacemaker or any other kind of prosthetic device?

Are you taking any kind of medication or drugs at this time?

If yes, please give name(s) of the medicine(s) and reason(s) for taking them:

Yes No Yes No Yes No

If yes, please explain:

Please circle any past or present illness you have had:

If so, please explain

Is there any other information that should be known about your health?

Hình 1-2 Bảng câu hỏi về sức khoẻ tổng quát cung cấp cho bệnh nhân

Alcoholism

Allergies

Blood pressure Cancer

Epilepsy Glaucoma

Hepatitis Herpes

Kidney or liver Mental

Rheumatic fever Sinusitis

Trang 5

5

Nhà lâm sàng có thể tìm tháy các bệnh lý nha khoa, nhưng nó có

thể không phải là điều kiện bệnh lý đang khiến bệnh nhân tới

khám Đầu tư tìm hiểu về các lý do tới khám của bệnh nhân có

thể cho biết vấn đề này của bệnh nhân là hậu quả của một tình

trạng y khoa hay là kết quả của một điều trị nha khoa mới thực

hiện Đôi khi, lý do đến khám chỉ đơn giản là một nhà lâm sàng

khác đã khuyên bệnh nhân răng anh ta/cô ta có vấn đề răng

miệng trong khi bệnh nhân không có bất cứ triệu chứng nào Do

đó, nhà lâm sàng cần phải rất chú ý tới lý do chính mà bệnh

nhân phàn nàn, xác định thời gian của vấn đề và hỏi bệnh nhân

các câu hỏi khác bao gồm cả tiền sử và bệnh sử Để có thể tham

khảo trong tương lai hoặc nghi ngờ về chẩn đoán, các lý do mà

bệnh nhân tới khám cần được ghi lại, và theo cách diễn giải của

bệnh nhân

Tiền Sử Bệnh

Nhà lâm sàng có trách nhiệm tìm hiểu về tiền sử bệnh một cách

đầy đủ đối với từng bệnh nhân Có rất nhiều ví dụ về mẫu dạng

tiền sử bệnh, từ nhiều nguồn, hoặc mỗi bác sĩ lâm sàng có thể tự

thiết kế mẫu khai cho bệnh nhân Sau khi bệnh nhân hoàn thiện

mẫu khai này, nhà lâm sàng sẽ xem xét các câu trả lời Mỗi

bệnh nhân cần được hỏi lại vào mỗi lần tới khám để xác định họ

có thay đổi về thuốc sử dụng hoặc tiền sử bệnh lý hay không Sự

cập nhật thường xuyên và đầy đủ tiền sử của bệnh nhân là vô

cùng cần thiết nhất là các bệnh nhân nhiều năm sau mới gặp

lại.35 , 56

Đo mạch và huyết áp cần được thực hiện ở mỗi bệnh nhân

cho mỗi lần khám Tăng huyết áp hoặc mạch đập nhanh có thể

cho thấy bệnh nhân lo lắng, do đo đòi hỏi một quy trình giảm

stress, hoặc cũng có thể cho thấy bệnh nhân có vấn đề về tăng

huyết áp hoặc tim mạch khác Cũng cần phải ghi nhận các dấu

hiệu sống vào mỗi lần điều trị đối với các bệnh nhân có vấn đề y

khoa đặc biệt Nhiệt độ của bệnh nhân như sốt hoặc các dấu

hiệu nhiễm khuẩn cũng cần được kiểm tra.42,56,78

Nhà lâm sàng cần đánh giá câu trả lời của bệnh nhân với bảng

câu hỏi sức khoẻ dưới hai mức độ: (1) Các tình trạng y khoa và

các thuốc đang sử dụng có ảnh hưởng tới cách thức chăm sóc

nha khoa sẽ thực hiện và (2) các tình trạng y hoa này có thể bao

gồm các bệnh lý răng miệng hay không

Bệnh nhân với các tình trạng y khoa nguy hiểm đòi hỏi sự

thay đổi cách thức điều trị nha khoa hoặc thay đổi kế hoạch điều

trị (Box 1-1)

Bên cạnh đó, nhà lâm sàng nên cẩn thận nếu bệnh nhân dị

ứng thuốc hoặc các sản phẩm nha khoa, có khớp giả, hoặc cấy

ghép nội tạng hoặc dùng thuốc có tương tác xấu với các chất

gây tê tại chỗ, giảm đau và kháng sinh

Những điều trên có vẻ rắc rối nhưng chúng nhấn mạnh tầm

quan trọng của việc tìm hiểu chuyên sâu và đầy đủ tiền sử bệnh

trước khi bắt đầu điều trị nha khoa Có rất nhiều bài báo khoa

học và tạp chí cung cấp các phương pháp phù hợp để sử dụng

cho bệnh nhân có vấn đề y khoa đặc biệt Các nguồn này cung

cấp chi tiết về các tình trạng y khoa khác nhau và sự thay đổi

cách thức điều trị nha khoa như thế nào cho phù hợp

Rất nhiều tình trạng y khoa có các biểu hiện trong miệng, cần hết sức lưu ý để đưa ra chẩn đoán chính xác Nhiều biến đổi

mô mềm trong miệng xảy ra do dùng thuốc điều trị các vấn đề y khoa khác Nhiều ví dụ về tác dụng phụ của thuốc là viêm miệng, khô miệng, ban đỏ dưới niêm mạc, bầm, tổn thương niêm mạc dạng lichen, và chảy máu mô mềm.Khi đã đưa ra được chẩn đoán chính xác, nhà lâm sàng phải chú ý tới tình trạng y khoa có thể cho thấy các biểu hiện lâm sàng giống như các tổn thương bệnh lý miệng Ho lao bao gồm nổi hạch bạch huyết ở cổ và hàm dưới khiến có thể chẩn đoán sai rằng hạch hình thành do nhiễm trùng răng.U bạch huyết cũng cho thấy có các vùng sưng bạch huyết như trên Bệnh nhân rối loạn miễn dịch và bệnh nhân có tiểu đường không kiểm soát có thể có các

áp xe trong khoang miệng, cần được phân biệt với áp xe do răng Bệnh nhân thiếu máu do thiếu sắt, thiếu máu ác tính, ung thư bạch cầu thường mất cảm giác các mô mềm trong miệng Các biểu hiện này thường khiến việc chẩn đoán khó khăn hơn khi bệnh lý răng miệng khác cũng có ở cùng một vùng trong miệng Thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm là một yếu tố phức tạp gây cơn đau xương, giống như cơn đau răng và mất xương lá trên phim chụp, cũng như các tổn thương có nguồn gốc nội nha Đau tuỷ có thể gây lung lay răng không có lý do Xạ trị ở vùng đầu và cổ có thể tăng cảm giác răng và hoại tử xương Đau dây thần kinh số 5, đau quy chiếu do đau tim, xơ cứng cũng có biểu hiện giống đau răng (Xem chương 3) Viêm xoang hàm trên cấp

là tình trạng gây bối rối trong chẩn đoán phổ biến vì nó có biểu hiện giống đau răng ở một phần tư hàm trên phía sau Trong trường hợp này, các răng ở vùng liên quan thường có nhạy cảm cao với lạnh và gõ, rất giống triệu chứng của cơn đau tuỷ Điều này cho tháy nhà lâm sàng cần hết sức lưu ý giữa chẩn đoán các bệnh lý nha khoa với các bệnh lý y khoa đi kèm

medical Conditions That Warrant modification

of Dental Care or Treatment

Trang 6

6 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Nếu sau khi hoàn thiện khám răng, các thử nghiệm chủ quan

khách quan, lâm sàng, các phim chụp không cho thấy được chẩn

đoán cho nguyên nhân răng nghi ngờ, có thể cho rằng đó là do

vấn đề y khoa hiện hữu của bệnh nhân Bên cạnh đó, việc tham

khảo ý kiến của bác sĩ điều trị cho bệnh nhân cũng nên được

thực hiện

Tiền Sử Răng Miệng

Thời gian tuần tự xảy ra các sự kiện dẫn tới lý do đến khám của

bệnh nhân được ghi lại và gọi là bệnh sử hay tiền sử răng miệng

Thông tin này có thể giúp bác sĩ định hướng loại test chẩn đoán

nào cần thực hiện Bệnh sử bao gồm các hội chứng trong quá

khứ và hiện tại, cũng như các quy trình hoặc chấn thương có thể

gây ra lý do bệnh nhân than phiền Các thông tin cần được ghi

lại dưới dạng văn bản Có thể sử dụng các mẫu sẵn trong quá

trình hỏi bệnh sử và khám chẩn đoán Thường sử dụng S.O.A.P

có nghĩa là kế hoạch đánh giá chủ quan khách quan cho quá

trình chẩn đoán Ngoài ra còn có các khía cạnh khác được xây

dựng như các phần mềm xử lý cho phép ghi lại dưới dạng tập

tin điện tử quy trình và thông tin chẩn đoán (Hình 1-3 và 1-4)

Tiền Sử Và Vấn Đề Hiện Tại

Đối thoại giữa bệnh nhân và nhà lâm sàng nên tập trung vào các

chi tiết khiến gây ra lý do chính đến khám Đoạn đối thoại cần

được định hướng bởi nhà lâm sàng để có được các thông tin thời

gian cụ thể và chính xác về hội chứng mà bệnh nhân gặp phải

cũng như sự phát triển của chúng Để giúp thông tin rõ ràng

hơn, đầu tiên bệnh nhân điền vào mẫu khai tiền sử răng miệng

Sau đó, dựa vào bản mẫu này, nhà lâm sàng sẽ quyết định cách

tiếp cận nào sẽ sử dụng để hỏi bệnh nhân Sự phỏng vấn này đầu

tiên sẽ xác định cái gì đã xảy ra nhằm cố gắng xác định sau đó

tại sao vấn đề đó lại xảy ra để đặt mục đích xác định cái gì là

cần thiết để giải quyết lý do đến khám của bệnh nhân

Phỏng Vấn Về Tiền Sử Nha Khoa

Sau khi bắt đầu cuộc nói chuyện và xác định bản chất của phàn

nàn, nhà lâm sàng tiếp tục cuộc hội thoại bằng cách ghi lại các

di chứng của các hoạt động trước đó nhằm đánh giá vấn đề

Tiền sử răng miệng được chia ra thành 5 hướng cơ bản để hỏi:

định vị, bắt đầu, cường độ, các yếu tố kích thích và thời gian

kéo dài

Định Vị : “ Bạn có thể chỉ răng nào đau được không?” Thường

thì bệnh nhân có thể chỉ hoặc “gõ” vào răng bị tác động Điều này là một yếu tố quan trọng cho bác sĩ vì nó giúp định hướng đâu là nguyên nhân gây ra bệnh lý cho răng đó Bên cạnh đó, sự định vị cho phép các thử nghiệm chẩn đoán tập trung nhiều hơn vào răng này Khi các hội chứng không được đinh vị rõ, chẩn đoán sẽ khó khăn hơn

Sự bắt đầu : “Hội chứng đó xuất hiện lần đầu tiên khi nào?”

Một bệnh nhân có hội chứng có thể nhớ được chúng bắt đầu

từ khi nào Đôi khi, bệnh nhân có thể nhớ vấn đề bắt đầu như thế nào: Có thể đau tự nhiên, xuất hiện sau khi khám răng để trám, chấn thương cũng có thể là một nguyên nhân, hoặc cắn vào vật cứng thì các hội chứng này bắt đầu Tuy nhiên, nhà lâm sàng nên tránh đưa ra một chẩn đoán sớm chỉ dựa trên các yếu tố trên Các dữ kiện này chỉ góp phần cải thiện quy trình chẩn đoán

Cường độ :“ Cơn đau ở mức độ nào?” Điều này giúp đánh giá

được cơn đau của bệnh nhân nhiều thế nào Nhà lâm sàng có thể hỏi, “ Với thước đo 1-10, trong đó 10 là nặng nhất thì bạn đánh giá triệu chứng của mình ở mức nào? Theo lý thuyết, một bệnh nhân có thể diễn tả “ cơn đau kinh khủng khi nhai” hoặc nhạy cảm với lạnh nhưng thực tế chỉ cho điểm cơn đau đó 2-3 điểm Hội chứng này thường trái ngược hoàn toàn với dạng hội chứng có thể xảy ra trong khi ngủ Thường cường độ được đo một cách chủ quan bởi cần gì để giảm đau ngay, ví dụ như acetaminophen so với narcotic Cường độ có thể ảnh hưởng tới quyết định thực hiện nội nha hay không

Các yếu tố kích thích và giảm nhẹ cơn đau : “ Cái gì tạo ra và

giảm các hội chứng?” Ăn nhai hoặc thay đổi nhiệt độ tại chỗ thường là những yếu tố kích hoạt cho các cơn đau răng Bệnh nhân có thể cho biết uống đồ lạnh hoặc nhai cắn có thể khiến “đau” Bệnh nhân cũng có thể nói đôi khi cơn đau chỉ

do một hành động cắn đơn thuần Nhiều khi bệnh nhân cũng đem tới phòng nha thức uống lạnh trong tay và cho rằng các triệu chứng giảm nhanh khi ngậm nước lạnh Một số triệu chứng có thể được loại bỏ bằng cách không dùng thuốc (Xem chương 19) Cần ghi chú rằng các bệnh nhân sử dụng chất giảm đau narcotic có thể có các phản hồi khác biệt với các câu hỏi và test chẩn đoán, điều này có thể ảnh hưởng tính khách quan của kết quả chẩn đoán Các yếu tố kích thích và giảm nhẹ có thể giúp xác định các test chẩn đoán nào là phù hợp để có được một chẩn đoán khách quan

Thời gian : “ Các triệu chưng này kết thúc ngay hay kéo dài sau

khi bị kích ứng?” Sự khác biệt giữa cảm giác lạnh chỉ thoáng qua và kéo dài nhiều phút có thể xác định chỉ cần sửa chữa phục hồi hư hỏng hay phải điều trị nội nha Thời gian triệu chứng kéo dài sau khi kích thích nên được ghi lại như

là cảm giác kéo dài bao lâu theo đơn vị giây hoặc phút

Trang 7

7

Hình 1-3 Mẫu thăm khám có thể giúp ích trong việc khai thác tiền sử răng miệng bệnh nhân (Courtesy Dr Ravi Koka, San Francisco, Calif.)

Trang 8

8 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 1-4 Phần mềm khai thác bệnh và lưu trữ thông tin bệnh nhân (Courtesy PBS Endo, Cedar Park, Texas.)

Trang 9

Khi hoàn thành tiền sử răng miệng, nhà lâm sàng sẽ hiểu rõ

hơn vấn đề than phiền của bệnh nhân và tập trung và việc đánh

giá chẩn đoán khách quan, cho dù pha chủ quan của việc chẩn

đoán chưa hoàn thiện và tiếp tục sau nhiều pha đánh giá khoa

học và thử nghiệm

KHÁM THỬ NGHIỆM

Khám Ngoài Miệng

Quy trình chẩn đoán cơ bản bao gồm việc nhà lâm sàng quan sát

bệnh nhân khi bắt đầu vào cuộc khám Các dấu hiệu hạn chế của

cơ thể có thể được phô bày, ví dụ như sự mất cân đối khuôn mặt

và cổ khi có khối sưng Một vùng sưng ở mặt có thể được xác

định nhiều lần bằng cách sờ nắn khi có một phần u cục xuất

hiện một bên Khi có phần sưng ở cả 2 bên, thông thường sẽ

được phát hiện và thông báo bởi chính bệnh nhân; tuy nhiên,

đây cũng có thể là dấu hiệu của một căn bệnh hệ thống hoặc là

hệ quả của một quá trình phát triển Sờ nắn cho phép nhà lâm

sàng xác định vị trí khối u là tại chỗ hay lan toả, cứng chắc hay

lồi lõm- đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định phương

pháp điều trị phù hợp

Sờ nắn các hạch bạch huyết dưới hàm và cổ là một phần

không thể thiếu của quy trình khám Nếu có các hạch cứng chắc

và mềm dọc theo khối sưng mặt và tăng nhiệt độ, đây có thể là

dấu hiệu nhiễm trùng Quy trình bệnh lý sẽ được chuyển từ

trạng thái từ một răng nguyên nhân tại chỗ tới việc lan toả trong

cả hệ thống

Khối sưng ngoài mặt do răng điển hình là kết quả của một

nguyên nhân nội nha vì khối sưng lan toả mặt từ áp xe nha chu

rất hiếm Các khối sưng không do răng phải luôn được xem như

chẩn đoán phân biệt nếu không tìm thấy răng nguyên nhân Vấn

đề này sẽ được đề cập trong chương tiếp theo

Hình 1-6: Khối sưng mặt ngoài kết hợp với áp xe cận chóp của răng hàm lớn thứ hai hàm dưới bên trái

Một sự thay đổi khuôn mặt dễ thấy nữa đó là sự mất rãnh mũi môi ở một bên mũi (Hình 1-5), đây có thể là một dấu hiệu sớm của tình trạng nhiễm trùng khoảng răng nanh Hoại tử tuỷ

và bệnh lý cận chóp kết hợp một răng nanh hàm trên có thể được coi là nguồn gốc của vấn đề Răng cửa giữa hàm trên dài hơn có thể kết hợp với khoảng nhiễm trùng răng nanh, nhưng thông thường hầu hết các khối sưng ngoài mặt kết hợp với các răng cửa hàm trên tạo ra một khối sưng môi trên và nền mũi Nhiễm khuẩn mặt sẽ được đề cập chi tiết trong chương 15 Khi một vùng nào đó trong miệng bị ảnh hưởng, khối sưng

sẽ vượt ra ngoài miệng ở vùng sau má (Hình 1-6) Các khối sưng này thường kết hợp với các nhiễm trùng nguồn gốc chóp chân răng ngoài của các răng hàm nhỏ hàm trên và các răng hàm lớn hàm trên và hàm nhỏ hàm dưới (Hình 1-7_ cũng như các răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới Răng hàm lớn thứ hai và thứ

ba hàm dưới có thể bị ảnh hưởng, nhưng ổ nhiễm trùng kết hợp với hai răng này thường có xu hướng tiến về phía trong Đối với các nhiễm trùng kết hợp với các răng này, chân răng hàm trên phải nối phía trên chỗ bám của cơ mút vào hàm trên, và chóp răng hàm dưới phải nối phía dưới chỗ bám cơ mút vào hàm dưới

Trang 10

10 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 1-8 Khối sưng khoảng dưới cằm kết hợp với bệnh lý cận

chóp từ răng của hàm dưới.

Khối u ngoài miệng có thể kết hợp với các răng cửa hàm

dưới và gây viêm ở cung dưới cằm hoặc dưới hàm (Hình 1-8)

Các nhiễm trùng thường kết hợp với bất kỳ răng nào của hàm

dưới, lan tới xương ổ răng qua dây chằng và ở phía dưới chỗ

bám

của cơ hàm móng, được gọi là khối sưng hàm dưới Chương 15 cho thấy một cái nhìn đầy đủ hơn về nhiễm trùng hàm mặt

Đường dò xoang nguồn gốc do răng có thể xuyên qua da ra ngoài mặt (Hình 1-9 và 1-10) Những đầu dò này trên da có thể đóng lại một khi điều trị răng nguyên nhân và quá trình lành thương bắt đầu Sẹo dò có thể dễ dàng quan sát thấy trên bề mặt

da ở vùng lỗ mở hơn là ở mô niêm mạc trong miệng (Hình 1-11, xem thêm 1-9) Nhiều bệnh nhân với các ống dò ngoài miệng có thể cho thấy tiền sử điều trị bởi các nhà vật lý tổng quát và da liễu với kháng sinh đắp hoặc uống và/hoặc phẫu thuật nhằm đóng lỗ dò Đối với những trường hợp đặc biệt này, chỉ khi có các thất bại điều trị, bệnh nhân mới được chuyển tới nha khoa

để xác định có nguyên nhân do răng hay không.46

Khám Trong Miệng

Khám ngoài miệng có thể cho bác sĩ một ý tưởng vùng nào trong miệng cần tập trung đánh giá Các khối sưng ngoài miệng, các u hạch bạch huyết tại chỗ hoặc các ống dò ngoài miệng có thể cho biết nhiều chi tiết về cấu trúc trong miệng lân cận bị ảnh hưởng

bên trái Nhiễm trùng khoảng ngoài kết hợp với bệnh lý cận

chóp từ răng hàm nhỏ thứ hai hàm dưới bên trái Thấy vùng

thấu quang và phục hồi lớn của răng

Trang 11

11

Hình 1-10 A, Lỗ dò ngoài mặt ra da ở vùng cằm giữa B, Phim chụp răng cửa hàm dưới và răng nanh sau khi điều trị chân răng bằng nội nha.

Hình 1-9 A, Phía bên phải đằng trước có u nhọt nhỏ Dẫn lưu

kết hợp với bệnh lý cận chóp của răng nanh bên phải hàm dưới.B,

U ban đầu kết hợp với dẫn lưu ngoài mặt và điều trị nội nha răng

nanh.C, Vết rạch lành sau 3 tháng dẫn lưu Vùng sẹo hơi thay đổi

hình dạng.

dùng gạc thấm 2x2in Khi kéo lưỡi và má, tất cả mô mềm cần

được đánh giá về màu sắc và kết cấu Bất cứ tổn thương loét

hoặc mới xuất hiện nào cần được ghi nhận lại và nếu cần thiết

cần tham khảo ý kiến chuyên gia hoặc sinh thiết.58

Khối Sưng Trong Miệng

Các khối sưng trong miệng nên được quan sát và sờ nắn để xác định chúng thuộc lan tỏa hay chỉ tại chỗ và chúng cứng chắc hay ở dang di động Những khối sưng này có thể xuất hiện ở nướu dính, niêm mạc xương ổ răng, đường nối niêm mạc miệng, khẩu cái, hoặc mô dưới lưỡi Một số phương pháp thử nghiệm khác cần thiết thực hiện để xác định nguyên nhân nội nha, nha chu hay cả hai hoặc do răng hay không

Khối sưng ở phần trước khẩu cái (Hình 1-12) thường kết hợp hầu hết với ổ nhiễm trùng có tại chóp răng của bên hàm trên hoặc chân trong của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên Hơn 50% chóp chân răng cửa bên hàm trên lệch về phía xa hoặc phía trong Khối sưng phía sau khẩu cái (Hình 1-13) thường liên quan tới chân trong của một trong các răng cối lớn hàm trên

A

BA

B

Trang 12

12 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 1-11 A, Mẫu nuôi cấy sau khi dẫn lưu ngoài mặt của lỗ dò.

B, Lỗ dò thương sau 1 tháng điều trị nội nha hoàn tất Da hơi lồi ở

vùng có lỗ dò trước đó

Hình 1-12 Khối sưng di động ở khẩu cái trước kết hợp với bệnh

lý cận chóp từ chân răng trong của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm

trên.

Hình 1-13 Khối sưng di động ở vùng khẩu cái phía sau kết hợp với bệnh lý cận chóp từ chân răng trong của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên.

Hình 1-14 Khối sưng di động ở rãnh niêm mạc miệng kết hợp với bệnh lý cận chóp từ răng cửa giữa hàm trên

Khối sưng trong miệng có mặt ở rãnh niêm mạc miệng

(HÌnh 1-14) có thể là kết quả của một ổ nhiễm trùng liên quan

tới chóp của chân bất kỳ răng hàm trên nào, thông ra xương ổ

răng phía ngoài và phía dưới của điểm bám cơ ở vùng đó của

xương hàm (Xem thêm chương 15) Điều tương tự cũng xảy ra

với các răng hàm dưới nếu các chóp chân răng ở phía trên mức

bám của các cơ và ổ nhiễm trùng sẽ thông ra xương hàm đến

mặt Khối sưng trong miệng có thể xuất hiện trong khoảng dưới

lưỡi nếu ổ nhiễm trùng đến từ chóp chân răng lan rộng về phía lưỡi thông qua xương ổ răng và phía trên điểm báo cơ hàm móng Lưỡi có thể bị đẩy lên và khối sưng sẽ là hai bên do khoảng dưới lưỡi bị dính và không có đường chia giữa Nếu ổ nhiễm trùng thoát xương ổ răng tới lưỡi với răng hàm và nằm dưới đường bám ở hàm móng, khối sưng sẽ được cho là nằm ở

A

B

Trang 13

13

vùng dưới hàm Các ổ nhiễm trùng nặng bao gồm các răng hàm

hàm trên và dưới có thể lan tới vùng cận hầu, gây ra khối sưng

trong miệng ở vùng lưỡi gà và hầu Đây là tình trạng nguy hiểm

do chúng có thể bịt đường thở của bệnh nhân.55,94

Đường Dò Xoang Trong Miệng

Đôi khi một nhiễm trùng nội nha mãn tính sẽ dẫn lưu thông qua

một đường nối trong miệng ra bề mặt nướu và được gọi là lỗ dò

xoang Con đường này,đôi khi nối với biểu mô, sẽ mở rộng trực

tiếp từ nguồn nhiễm khuẩn tới bề mặt mở, hay còn gọi là lỗ dò,

trên bề mặt lợi dính Như miêu tả ở trên, nó có thể dò ra ngoài

miệng Thuật ngữ rò đôi khi không phù hợp để miêu tả dạng dẫn

lưu này Rò, được định nghĩa là một đường nối bất thường giữa

hai bộ phận bên trong hoặc một đường nối giữa hai bề mặt nối

biểu mô.1

Nghiên cứu mô học phát hiện răng hầu hết các ống xoang

không nối với biểu mô thông qua độ dài toàn phần của nó

Harrison và Larson cho rằng chỉ trong 10 ống xoang được

nghiên cứu nối với biểu mô 9 mẫu khác được nối với mô u hạt

Trong một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, Baumgartner và

đồng nghiệp cho thấy 20/30 mẫu không có biểu mô được mở

rộng phía ngoài mức bề mặt niêm mạc sống hàm 10 mẫu còn

lại có một số biểu mô mở rộng từ bề mặt niêm mạc miệng đến

tổn thương cận chóp Sự có mặt hay không của đường biểu mô

không được coi như là yếu tố phòng ngừa việc đóng ống, miễn

là nguồn gốc của vấn đề được chẩn đoán rõ răng và được điều

trị tối ưu và tổn thương nội nha lành thương Thất bại của việc

đóng đường thông xoang cần nhiều quy trình chẩn đoán hơn để

xác định đâu là các yếu tố nguyên nhân hoặc chẩn đoán sai

Nhìn chung, một ổ nhiễm khuẩn chận chóp có kết hợp với

ống thông xoang thường không đau, mặc dù thường có tiền sử

đau nhiều cơn trước khi ống được hình thành Bên cạnh việc tạo

ra một đường dẫn nhằm giảm nhẹ sự tiết dịch nhiễm khuẩn và

gián tiếp giảm nhẹ cơn đau, ống dẫn xoang có thể giúp xác định

nguồn gốc ổ nhiễm khuẩn Thỉnh thoảng các bằng chứng khách

quan như nguồn gốc của ổ nhiễm khuẩn do răng bị thiếu Lỗ

thoát của ống thông xoang có thể được xác định trực tiếp ổ

nhiễm khuẩn nằm ngay bên cạnh hay cách xa Vẽ đường thông

xoang có thể chẩn đoán một cách khách quan vị trí của răng

nguyên nhân Để vẽ được con đường này, chúng ta dùng côn

gutta percha #25 xuyên vào đầu lỗ dò Mặc dù sẽ có chút không

thoải mái cho bệnh nhân, côn nên được ấn vào cho tới khi cảm

nhận được lực cản Sau khi chụp phim cận chóp, đầu tận cùng

của ống thông xoang sẽ được xác định theo đường đi của côn

gutta (Hình 1-15) Điều này sẽ giúp nhà lâm sàng xác định răng

liên quan, và chi tiết hơn là chân răng nào là nguồn gốc của

bệnh lý Một khi nguyên nhân được tìm thấy và loại bỏ, lỗ dò và

ống thông xoang sẽ liền lại trong vòng ít ngày

Lỗ thoát của ống thông xoang trong miệng thường xuất hiện

ở niêm mạc xương ổ răng, trên lợi dính, hoặc thông qua chẽ

chân răng hoặc viền lợi Chúng có thể thoát ra mô mặt ngoài

hoặc mặt trong phụ thuộc vào khoảng cách của chóp chân răng

tới xương vỏ Nếu lỗ dò nằm trên viền nướu, thông thường

chúng ta sẽ quan sát thấy có tổn thương trên một hoặc hai vùng

riêng biệt dọc theo bề mặt chân răng Khi tổn thương hẹp xuất

hiện, chẩn đoán phân biệt có thể bao gồm lỗ dò của một tổn

thương nội nha cận chóp, gãy dọc chân răng, hoặc có sự xuất

hiện của nứt bề mặt chân

Hình 1-15 A, Để định vị nguồn gốc nhiễm khuẩn, ta sử dụng côn gutta percha.B, Phim chụp vùng cho thấy một ống tuỷ của răng

#4, và vùng thấu quang đáng nghi kết hợp với răng #5 không có dấu vết của ống thông xoang.C, Sau khi vẽ đường đi của ống thông xoang, côn gutta-percha chỉ ra ổ nhiễm khuẩn bắt nguồn từ chóp răng #5.

Dạng ống thông xoang có thể phân biệt với tổn thương sớm cận chóp do tạo nang và mất xương xung quanh chân Các thử nghiệm tuỷ khác cũg có thể giúp xác định nguyên nhân

A

B

Trang 14

14 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Sờ Nắn

Trong quá trình khám mô mềm, mô cứng xương ổ răng có thể

được sờ nắn Phù nề có thể được xác định khi cảm nhận được

khối sưng mô mềm hoặc giãn rộng xương, đặc biệt khi so sánh

với vùng bên cạnh hoặc đối diện Bên cạnh các phát hiện khách

quan, nhà lâm sàng nên hỏi bệnh nhân về vùng nào họ thường

cảm thấy khác biệt trong quá trình sờ nắn

Tham khảo các mối than phiền của bệnh nhân có thể chỉ định

thực hiện các test gõ cho từng trường hợp.Nếu bệnh nhân có các

cảm giác cấp hoặc đau khi ăn nhau, đáp ứng này sẽ nhân lên

nhiều khi gõ các răng, và cô lập ngay lập tức hội chứng giữa

răng nguyên nhân với các răng khác Đau khi gõ không cho biết

răng còn sống hay chết tuỷ, mà chỉ định sự viêm của dây chằng

nha chu (ví dụ viêm quanh chóp có triệu chứng) Vấn đề viêm

này có thể thứ cấp sau một chấn thương, điểm chạm sớm, bệnh

lý nha chu, hoặc các bệnh lý tuỷ lan tới vùng dây chằng nha

chu Chỉ định đâu là nơi bắt đầu cơn đau được thực hiện mởi các

nhân trung não, nhận các thông tin từ các dây thần kinh thụ

cảm Mặc dù vẫn còn tranh cãi, tuy nhiên một số ý kiến cho

rằng có vài tế bào thụ cảm nằm trong tuỷ răng; tuy nhiên, chúng

thường hoạt động ở vùng dây chằng nha chu Đó là lý do vì sao

để bệnh nhân phân biệt vị trí chính xác của cơn đau răng ở pha

sớm của bệnh lý, khi chỉ có sợi C hoạt động Một khi bệnh lý đã

lan toả tới vùng quanh răng, cơn đau có thể được định vị rõ nét

hơn, do đó răng nguyên nhân cũng dễ nhận biết hơn bằng cách

thử nghiệm gõ và nhai

Trước khi gõ bất kỳ răng này, nhà lâm sàng nên nói cho

bệnh nhân quy trình thực hiện test Do có sự xuất hiện các hội

chứng cấp, gây nên lo lắng và đáp ứng sai của bệnh nhân, nên

việc chỉ dẫn cho bệnh nhân hợp tác với nhà lâm sàng có thể giúp

kết quả chính xác hơn Răng đối diện nên được thử nghiệm

trước để kiểm soát, cũng như các răng bên cạnh răng nghi ngờ

để chắc chắn có đáp ứng bình thường Nhà lâm sàng nên khuyên

bệnh nhân nhận diện sự khác biệt giữa các răng, test chỉ được

thực hiện với cán của một dụng cụ, như cán gương chẳng hạn

(HÌnh 1-6) Các răng nên được gõ đầu tiên ở mặt nhai,và nếu

bệnh nhân không cảm thấy bất cứ sự khác biệt nào, test sẽ lặp

lại, gõ phía trong và phía ngoài răng Với bất cứ đáp ứng rõ nét

nào, test cũng cần được lặp lại để xác định tính chính xác và

liên tục, đồng thời ghi lại thông tin

Hình 1-16 Test gõ răng sử dụng cán gương

Hình 1-17 Test di động răng bằng cách sử dụng hai cán gương.

Độ Lung Lay

Cũng như thử nghiệm gõ, tăng độ lung lay răng không phải là bằng chứng độ sống của tuỷ Nó chỉ là một chỉ định về sự bám dính nha chu Sự đáp ứng nha chu này là kết quả cả một chấn thương mãn hoặc cấp tính, chấn thương khớp cắn, chuyển động chỉnh nha nhanh, các thói quen cận lâm sàng, bệnh lý nha chu, gãy chân răng, đặc biệt là nhiễm trùng ở vùng nha chu Thông thường lung lay răng sẽ biến mất sau khi các yếu tố phát sinh bị loại bỏ hoặc điều chỉnh lại Do nhận biết độ lung lay có thể hơi chủ quan nếu thực hiện bằng áp lực ngón tay, dùng hai cán gương để thực hiện ở mặt ngoài và mặt trong răng sẽ chính xác hơn (Hình 1-17) Bất cứ sự lung lay nào lớn hơn +1 cũng đều được cho là bất thường (Box 1-2) Tuy nhiên, các răng nên được đánh giá trên nền tảng so sánh với các răng kế bên hoặc cùng loại phía đối diện

Trang 15

15

Khám Nha Chu

Khám nha chu là một phần quan trọng của quy trình chẩn đoán

trong miệng Việc đo đạc kích thước túi nướu giúp bác sĩ biết

được độ sâu rãnh nướu, liên quan tới khoảng cách của nướu

viền tự do và chiều cao của phần bám dính phía dưới Sử dụng

một thám châm nha chu chuẩn, nhà lâm sàng nên ghi lại chiều

sâu nha chu ở các mặt gần, giữa, xa của cả phía ngoài và trong

của răng, đơn vị theo mm Thám trâm nha chu được “ bước tới”

chung quanh trục dọc của răng, tiến từ từ từng mm Tiêu xương

ổ răng rộng, được xác định bởi sự hẫng sâu của thám trâm, đây

là nguyên nhân bệnh lý nha chu và có thể xuất hiện ở những

vùng khác trong miệng tuy nhiên, vùng có mất xương dọc cô

lập có thể có nguyên nhân nội nha, đặc biệt từ một răng chết tuỷ

nhiễm trùng lan rộng tới vùng rãnh nướu cận chóp Thêm nữa,

việc thử tuỷ là bắt buộc, không phải chỉ để đưa ra chẩn đoán mà

còn tiên lượng cho trường hợp lâm sàng Ví dụ, túi nha chu

nguồn gốc nội nha có thể tự biến mất sau khi điều trị nội nha,

nhưng nếu răng sống kết hợp với túi nướu sâu, điều trị nội nha

có thể không cải thiện tình trạng nha chu Bên cạnh đó, như đã

thảo luận trong chương này, nứt dọc chân răng có thể gây ra túi

lợi tại chỗ hẹp mở rộng sâu về phía dưới của bề mặt chân răng

Thông thường, các vùng nha chu kế cận thường ở khoảng

bình thường.Mất xương ở chẽ có thể là hiện tượng thứ cấp sau

một bệnh lý tuỷ hoặc nha chu Lượng xương mất ở chẽ,theo

quan sát trên lâm sàng và phim cần được ghi lại (Box 1-3)

Thử Nghiệm Tủy

Thử nghiệm tuỷ bao gồm nhận diện sự đáp ứng của các dây thần

kinh tuỷ Các test này bao gồm kích thích điện và nhiệt trên răng

nhằm quan sát các phản ứng chủ quan từ bệnh nhân, hoặc các

test này có thể thực hiện một cách khách quan hơn nhờ các thiết

bị nhận diện độ toàn vẹn của hệ thống tuần hoàn tuỷ Không

may thay, việc dánh giá số lượng tình trạng tuỷ chỉ được thực

hiện bằng cách phân tích mô học, và có vẻ như không có mối

liên hệ nào giữa các triệu chứng lâm sàng khách quan nào với

mô học tuỷ.91 , 92

Nhiệt

Nhiều phương pháp và vật liệu được sử dụng để thử nghiệm đáp ứng của tuỷ với các kích thích nhiệt Ngưỡng cơ bản hay đáp ứng bình thường của một bệnh nhân với nóng hoặc lạnh là cảm giác được chúng nhưng cảm giác này nhanh chóng biến mất khi ngừng kích thích Các đáp ứng không bình thường bao gồm thiếu đáp ứng với kích thích, cường độ cao hoặc cơn đau sau khi

đã loại bỏ kích thích hoặc một cơn đau nhói, ngay lập tức khi vừa có kích thích vào răng

Các thử nghiệm nhiệt thường được sử dụng rộng rãi khi bệnh nhân than phiền về cơn đau kéo dài khi dùng thức ăn hoặc

đồ uống nóng Khi gặp bệnh nhân khó khăn nhận diện răng nào

bị nhạy cảm, cần thực hiện test nhiệt phù hợp Bắt đầu với răng phía sau nhất, mỗi răng được cô lập với đê cao su Một ống tiêm bơm đầy chất lỏng có nhiệt độ tương tự với loại gây ra cơn đau cho bệnh nhân Chất lỏng được đẩy vào răng cô lập để nhận diện đáp ứng bình thường hay bất thường Nhà lâm sàng di chuyển từng răng theo từng ¼ hàm răng, cô lập các răng với nhau cho tới khi xác định được răng nguyên nhân Răng này sẽ cho thấy các đáp ứng ngay lập tức, đau nhói kéo dài khi tiếp xúc nhiệt Với thử nghiệm nhiệt các đáp ứng sẽ xuất hiện chậm một chút, do đó nên chờ khoảng 10s để thu nhận các triệu chứng Một phương pháp khác để thử nghiệm nhiệt chính là dùng côn gutta percha hơ nóng hoặc một thanh nhựa chảy tác dụng lên răng Nếu phương pháp này được sử dụng, một lớp chất bôi trơn cần được quét lên trên bề mặt răng trước khi thực hiện để tránh côn hay nhựa dính vào bề mặt răng Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng ngày nay

Nếu thử nghiệm tuỷ xác định được kết quả của các thử nghiệm tuỷ khác, cần điều trị ngay lập tức Thường một răng nhạy cảm với nhiệt có thể tạo ra các cơn đau tự nhiên khác Trong trường hợp này bệnh nhân có thể dùng chai đồ uống lạnh

để giảm đau (Hình 1-18) Trong các trường hợp trên, tác động lạnh vào răng nguyên nhân có thể loại bỏ đau và khẳng định chẩn đoán Điển hình nhất, một răng đáp ứng với nhiệt và sau

đó giảm đau khi bị lạnh thường đã hoại tử

Lạnh là phương pháp thử nghiệm tuỷ thường sử dụng ngày nay Để tăng tính chính xác, thử nghiệm lạnh thường đi kèm với thử nghiệm điện để kết quả xác thực hơn Nếu một răng trưởng

Lung Lay Độ 1: Chuyển động có vẻ nhiều hơn bình thường

Lung Lay Độ 2: Chuyển động răng ngang không lớn hơn 1mm

Lung Lay Độ 3: Chuyển động răng ngang lớn hơn 1mm có hoặc

không chuyển động theo chiều dọc

Loại I: Chẽ có thể được phát hiện bằng thám trâm nhưng không

có độ sâu đáng kể Loại II: Thám trâm tiếp cận dễ dàng vào vùng chẽ nhưng không xuyên qua phía đối diện

Loại III: Tổn thương xuyên qua mặt đối diện hoàn toàn

Trang 16

16 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 1-18 Bệnh nhân có viêm tuỷ không hồi phục kết hợp với

răng hàm lớn thứ hai bên phải hàm dưới giảm nhanh cơn đau bằng

cách áp một bình nước đá bên má phải.

thành, không bị chấn thương không đáp ứng với cả thử nghiệm

lạnh và điện, có thể nó đã bị hoại tử Tuy nhiên, đối với một

răng nhiều chân, ít nhất có một chân chứa tuỷ sống, có thể đáp

ứng với thử nghiệm lạnh dù các chân khác có tuỷ hoại tử Thử

nghiệm lạnh có thể được sử dụng tương tự như thử nghiiệm

nóng, cần được cô lập các răng bằng đê cao su Kỹ thuật này

thường được sử dụng cho bệnh nhân có mão sứ kim loại hoặc

sứ đúc mà không có bề mặt răng tự nhiên nào được phô bày

Một tiện ích nữa của phương pháp này chính là không can thiệp

bằng dụng cụ nào khác ngoài đê cao su Nếu nhà lâm sàng chọn

sử dụng bằng thanh nước đá, rất cần thiết phải cô lập răng vì

nước đã chảy ra sẽ lan sang các răng và nha chu bên cạnh, gây

ra đáp ứng sai

Khí Carbondioxit đông lạnh cũng được sử dụng để tìm đáp

ứng dương tính nếu mô tuỷ sống còn trong răng Một nghiên

cứu chỉ ra rằng các răng sống sẽ đáp ứng với cả Co2 và đá lạnh-

tạo ra đáp ứng nhanh hơn CO2 còn được cho là hiệu quả hơn

khi đánh giá đáp ứng tuỷ ở những răng có mão răng toàn phần

mà không thể thử nghiệm bằng phương pháp thử điện Để thử

nghiệm người ta chuẩn bị một thanh CO2 bằng cách bơm CO2

vào một ống nhựa thiết kế đặc biệt (HÌnh 1-19) Thanh CO2 này

được đặt lên bề mặt ngoài của một răng tự nhiên hoặc có mão

răng Nhiều răng có thể thử nghiệm với chỉ một thanh CO2 Các

răng nên được cô lập và các mô mềm trong miệng nên được bảo

vệ bởi gạc 2x2 hoặc bông gòn cuộn để CO2 không tiếp xúc trực

tiếp với các cấu trúc này Do nhiệt độ của CO2 đặc biệt thấp

(-69ºF tới -119ºF; -56ºC tới -98ºC ), có thể gây ra bỏng mô mềm

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng trên các răng đã nhổ

việc thử nghiệm với CO2 có thể làm giảm nhiệt độ trong lòng

tuỷ nhiều và rõ rệt hơn các chất làm lạnh khác hay đá cục Các

nghiên cứu cũng cho thấy sử dụng CO2 trên các răng không tạo

ra các tổn thương không hồi phục cho mô tuỷ hoặc tạo ra nứt

men răng

Hình 1-19 A, Bình CO2 với các ống dẫn giúp tao thanh CO2 cứng B, , Gaz CO2 được tạo vào ống khuôn C, Thanh/que CO2 trồi lên phần cuối của ống đựng bằng nhựa.

Một phương pháp phổ biến của thử nghiệm lạnh là xịt chất làm lạnh Dễ sử dụng, có sẵn và cung cấp các kết quả chính xác, tương tự như sử dụng CO2 Một trong những sản phẩm hiện tại chứa 1,1,1,2- tetrafluoroethane, không có hại cho tầng ozon và thân thiện với môi trường Nó có nhiệt độ -26,2ºC.Chất xịt này hiệu quả nhất khi được sử dụng trên răng thông qua viên bông nhỏ #2 (Hình 1-20) Trong một nghiên cứu , nhiệt độ trong lòng tuỷ giảm rõ rệt khi đắp bông #2 chứa chất làm lạnh Bông thấm chất làm lạnh nên được đắp lên phần giữa mặt ngoài của răng hoặc mão răng Cũng như các phương pháp thử tuỷ khác, các răng bên cạnh và “bình thường” khác nên được thử nghiệm để thiết lập một phản ứng nền Có vẻ như CO2 và chất xịt lạnh có nhiều ưu điểm các phương pháp thử lạnh khác và tương đương hoặc hiệu quả ơn các thử nghiệm điện trong việc nhận định độ sống tuỷ.6,32

A

B

Trang 17

17

Hình 1-20 A, Bình chứa chất lạnh B, bông cuộn có thể sử dụng

để tạo ra một viên bông lớn hoặc cuộn bông cỡ #2 (rộng) có thể được sử dụng để đắp chấp làm lạnh lên bề mặt răng B,Viên bông nhỏ #4 không thể tạo ra bề mặt tiếp xúc đủ rộng như bông #2, do

đó không được sử dụng để thử nghiệm lạnh C, Viên bông lớn được xịt chất làm lạnh và sẵn sàng đắp lên bề mặt răng.

( A, Courtesy Coltène/Whaledent, Cuyahoga Falls, Ohio.)

Một nghiên cứu so sánh khả năng của phương pháp thử

nghiệm nhiệt và điện trên tuỷ để ghi lại sức sống của mô tuỷ Độ

nhạy cảm, là khả năng của một test nhận diện răng có bệnh lý, là

0.83 ở thử nghiệm lạnh và 0.86 ở thử nghiệm nóng và 0.72 ở thử

nghiệm điện Điều này có nghĩa là thử nghiệm lạnh có khả năng

nhận diện 83% các răng có tuỷ hoại tử, trong khi đó thử nghiệm

nhiệt nóng chỉ dừng ở mức 72%.Nghiên cứu tương tự đánh giá

tính đặc hiệu của ba loại thử nghiệm tuỷ này Đặc hiệu là khả

năng của một test có khả năng nhận diện răng không có bệnh lý

93% các răng có tuỷ khoẻ mạnh được nhận diện đúng nhờ cả

test lạnh và điện, trong khi đó chỉ có 41% các răng tuỷ khoẻ

mạnh được nhận biết đúng qua thử nghiệm nhiệt nóng Từ các

kết quả thử nghiệm ta rút ra răng thử nghiệm lạnh có độ chính

xác 86%, điện 81% và nhiệt nóng 71%

Điện

Tiếp cận độ sống của tuỷ thường được thực hiện bởi thử nghiệm

điện trên tuỷ hoặc/và thử nghiệm lạnh Khả năng sống của tuỷ

được xác định bằng độ toàn vẹn và sức khoẻ của hệ thống tuần

hoàn, không phải chỉ là đáp ứng của các sợi thần kinh trong tuỷ

Mặc dù nhiều tiến bộ khoa học giúp nhận biết độ sống của tuỷ

thông qua nền tảng là hệ cấp máu, kỹ thuật này không đủ chính

xác tại thời điểm hiện tại để được sử dụng như một công cụ thử

nghiệm lâm sàng tin cậy

Thử nghiệm tuỷ điện có các giới hạn trong việc cung cấp

thông tin về độ sống của tuỷ Đáp ứng của tuỷ với thử nghiệm

điện không cho biết sức khoẻ mô hoặc bệnh lý của tuỷ Đáp ứng

của tuỷ với dòng điện chạy qua chỉ kích hoạt vài sợi thần kinh

có trong tuỷ và có khả năng đáp ứng Các thông tin số trên máy

thử điện chỉ có giá trị nếu số liệu khác biệt hoàn toàn với các

thông số trên một răng bình thường ở trên cùng bệnh nhân và đầu electrode được đặt ở vị trí như nhau ở cả hai răng.Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, đáp ứng thường được ghi lại là có hoặc không Các nghiên cứu đã chỉ ra thử nghiệm tuỷ bằng điện chính xác nhất khi có tuỷ hoại tử Máy thử điện tuỷ không hoạt động trừ khi thám trâm được đặt tiếp xúc với cấu trúc răng tự nhiên Với các lưu ý toàn cầu về kiểm soát nhiễm khuẩn, bệnh nhân có thể được yêu cầu đặt một hoặc nhiều ngón tay trên thám trâm để hoàn thiện dòng điện đối với một số loại máy; tuy nhiên, hoạt động môi có thể ảnh hưởng tới bệnh nhân trong việc giữ máy thử tuỷ Việc sử dụng găng tay cao su giúp nhà lâm sàng cách điện Sử dụng đúng đắn máy thử điện đòi hỏi các răng được đánh giá phải cô lập tốt và thấm khô Một bằng chứng của dạng răng đang thử nghiệm và cùng vị trí trên cung hàm cần được thử trước để thiết lập đáp ứng nền tảng và cung cấp cho bệnh nhân nhận biết thế nào là cảm giác “ bình thường” Răng nghi ngờ nên được thử nghiệm ít nhất hai lần để xác định kết quả Đầu của thám trâm thử tuỷ phải được phủ với nước hoặc các chất trung tính có dầu Chất trung tính hay được

sử dụng nhất chính là kem đánh răng Đầu thám trâm nên được đặt ở 1/3 mặt cắn ở mặt ngoài răng dược thử nghiệm Một khi thám trâm tiếp xúc với răng, bệnh nhân được đề nghị chạm hoăc giữ thám trâm (Hình 1-21,A).3 Điều này sẽ hoàn thiện dòng điện kín chạy trong răng Bệnh nhân được hướng dẫn bỏ ngón tay ra khỏi thám trâm khi có cảm giác” ấm”, “đau nhói” trong răng Đọc chỉ số trên máy thử điện (Hình 1-21B) và đánh giá khi toàn bộ các răng phù hợp đều được thử nghiệm và các kết quả thu được từ các thử nghiệm khác

A

B

Trang 18

18 PART I • THE CORE SCIENCE OF ENDODONTICS

Hình 1-22 Nellcor OxiMax N-600x Oxi kế (Courtesy Nellocor Puritan Bennett [Boulder, Colo]; một phần của Coviden.)

Hình 1-21 A, Hình ảnh của một máy thử điện với thám trâm đi

kèm Đầu thám trâm sẽ được phủ chất trung tính như kem đánh

răng và đặt ở một cấu trúc răng tự nhiên Bệnh nhân sẽ kích hoạt

hệ thống này bằng cách đặt ngón tay lên phần kim loại của thám

trâm.B, Hình ảnh của một máy thử điện có màn hình kiểm soát:

Nút bấm bên phải của hệ thống kiểm soát mức độ dòng điện đi qua

răng Phần màn hình nhựa bên trái cho thấy các thông số thử

nghiệm tuỷ Thước đo số chạy từ 080 (Courtesy SybronEndo,

Orange,Calif)

Nếu răng có mão toàn phần hoặc có phục hồi lớn, kỹ thuật

chia cầu cần được thực hiện để đưa dòng điện tới bất kì cấu trúc

răng tự nhiên nào Đầu của một trâm nội nha được phủ bởi kem

đánh răng hoặc các chất trung tính khác đặt tiếp xúc với răng tự

nhiên Đầu của thám trâm thử điện phủ một ít kem đánh răng và

đặt tiếp xúc cạnh của trâm nội nha Bệnh nhân hoàn thiện dòng

điện như trên Nếu không có cấu trúc răng tự nhiên nào cần thực

hiện các thử nghiệm khác như nóng lạnh

Như đã đề cập ở trên, các nghiên cứu cho thấy không có sự

khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các kết quả thử nghiệm

tuỷ thu được giữa máy thử nghiệm điện và các phương pháp

nhiệt, mặc dù thử nghiệm lạnh có vẻ cho kết quả thuyết phục

hơn đối với các bệnh nhân trẻ ít phát triển chóp Tuy

nhiên,không giống như các thử nghiệm điện, thử nghiệm lạnh có

thể cho biết sức khỏe và độ toàn vẹn của mô tuỷ (ví dụ, không

đáp ứng, đáp ứng khoảnh khắc, đáp ứng dài, đau sau khi ngưng

tác động) Đó là lý do tại sao cần so sánh kết quả thử nghiệm

với các phương pháp khác Cho tới khi các phương pháp thử tuỷ

được sử dụng để xác định hệ tuần hoàn của tuỷ trở nên ít tốn

thời gian và tăng nhạy cảm, các thử nghiệm điện và nhiệt vẫn là

lựa chọn để xác định độ sống của tuỷ

Đo Lưu Lượng Laser Doppler (LDF)

Laser Doppler flowmetry LDF là một phương pháp được sử dụng để tiếp cận dòng máu lưu thông trong hệ thống vi mạch máu.Mục đích là tìm ra được dòng máu chảy trong tuỷ Một diot được sử đụng để tạo ra một chùm sáng hồng ngoại xuyên qua mão và buồng tuỷ răng Chùm tia hồng ngoại bị phân tán khi đi qua mô tuỷ Nguyên tắc Doppler là chùm ánh sánh sẽ lệch tần số bởi các tế bào hồng cầu chuyển động nhưng vẫn giữ nguyên khi

đi qua mô tĩnh Tần số Doppler trung bình bị lệch sẽ đo được vận tốc của các hồng cầu chuyển động.81

Nhiều nghiên cứu đã thấy rằng LDF là một phương pháp chính xác, có thể lặp lại và tin cậy để nhận diện dòng máu chảy trong tuỷ Mặc dù có nhiều ưu điểm, kỹ thuật này chưa đủ tiến bộ để được sử dụng phổ biến trong nha khoa thực hành Trong một thử nghiệm lâm sàng có các jig ổn định được chế tạo riêng biệt, LDF ghi lại các thông tin trong vòng gần 1h và không cùng chỉ số Nếu

kỹ thuật này có thể cải thiện và phát triển sao cho LDF có thể thực hiện trong vòng vài phút, nó có thể được sử dụng để thay thế cho thử lạnh và điện

Như đề cập ở chương 16, một số các vết thương trật khớp răng có thể gây ra các kết quả không chính xác cho thử nghiệm tuỷ bằng điện hoặc nhiệt LDF được cho là lựa chọn tuyệt vời trong các trường hợp này.96

Đo Lưu Lượng Oxy

Một trong những ưu điểm của thử nghiệm tuỷ với các thiết bị như máy đo lưu lượng dòng chảy Doppler laser là chúng thu nhận các dữ liệu dựa trên các kết quả khách quan hơn là các đáp ứng chủ quan của bệnh nhân Máy đo lưu lượng oxy là một thiết

bị không xâm lấn khác (Hình 1-22) Được sử dụng rộng rãi trong y học, nó được thiết kế để đo nồng độ oxy trong máu và

đo mạch Máy đo mạch lưu lượng oxy hoạt động bằng cách truyền hai bước sóng ánh sáng, đỏ và hồng ngoại, thông qua phần trong suốt của bệnh nhân (một ngón tay, dái tai, hoặc răng) Một số ánh sáng được hấp thụ và truyền qua mô; bao nhiêu lượng hấp thụ phụ thuộc vào mức hemoglobin oxy hoá và khử oxy trong máu Ở phía đối diện của các mô này, một máy sensor ghi nhận ánh sáng đã hấp thụ, và dựa trên sự khác biệt

A

B

Trang 19

19

giữa ánh sáng truyền đi và nhận lại, một máy tính sẽ cho biết

mạch và nồng độ oxy bão hoà trong máu Việc truyền ánh sáng

tới sensor đòi hỏi không có các cản trở từ các cấu trúc phục hồi-

đôi khi ảnh hưởng tới khả năng làm việc của máy đo mạch và

lưu lượng oxy trong thử tuỷ

Sử dụng máy này để chẩn đoán sức sống của tuỷ có thể cho

ra các kết quả trộn lẫn Một số nghiên cứu cho rằng máy này là

phương pháp tin cậy để thử tuỷ Một số khác cho rằng các dạng

máy hiện có này chưa đủ để chẩn đoán có giá trị sức sống của

tuỷ Hầu hết các vấn đề xuất hiện liên quan tới kỹ thuật hiện có

Một số nhà nghiên cứu kết luận răng các thiết bị này thường quá

phức tạp và cồng kềnh trong thực hành nha khoa hằng ngày

Tuy nhiên, Gopikrishana và cs phát triển một máy sensor có thể

đặt trực tiếp lên răng để kiểm tra sức sống của tuỷ và cho rằng

nó có độ chính xác hơn thử nghiệm nhiệt hay lạnh Thiết bị này

đặc biệt hữu ích để đánh giá các răng có chấn thương, do các

răng này thường gây khó khăn để nhận diện độ sống của tuỷ

thông qua các thử nghiệm tuỷ thông thường.4

Các Thử Nghiệm Đặc Biệt

Thử Nghiệm Cắn

Gõ và cắn được chỉ định khi bệnh nhân có cơn đau khi ăn nhai

Thông thường, bệnh nhân có thể không biết chính xác răng nào

nhạy cảm với áp lực cắn, và thử nghiệm gõ và cắn có thể giúp

định vị răng nào là nguyên nhân Răng có thể nhạy cảm với cắn

khi bệnh lý tuỷ lan rộng tới phần dây chằng nha chu, tạo ra viêm

quanh chóp, hoặc độ nhạy cảm có thể là thứ cấp của một vết nứt

trên răng Nhà lâm sàng có thể phân biệt giữa bệnh lý viêm

quanh chóp và nứt răng hoặc vỡ múi Nếu viêm quanh chóp,

răng sẽ đáp ứng với thử nghiệm gõ và cắn với cơn đau ở bất kỳ

nơi nào khi áp lực đặt lên phần thân của răng Một răng nứt

hoặc vỡ múi có thể chỉ đau khi test gõ và cắn đặt lên một số

hướng của múi hoặc một phần của răng (gõ phân ly).15 , 80

Với thử nghiệm cắn, để chính xác hơn bác sĩ có thể sử dụng

một thiết bị để đặt áp lực lên các múi răng độc lập hoặc một

vùng của răng Nhiều loại thiết bị được sử dụng trong thử

nghiệm cắn, bao gồm một cuộn bông, tăm, thanh gỗ hoặc bánh

cao su Hiện nay có rất nhiều thiết bị được thiết kế đặc biệt

chuyên dùng cho thử nghiệm cắn Dụng cụ Tooth Slooth

(Professional Results, Laguna Niguel, CA) (Hình 1-23) và

FracFinder (Hu-Friedy, Oakbrook, IL) được xem là hai thiết bị

phổ biến nhất để dùng cho thử nghiệm cắn Cũng như các thử

nghiệm tuỷ khác, các răng bên cạnh nên được sử dụng như bằng

chứng để bệnh nhân nhận biết đáp ứng “ bình thường” Phần

dạng chén nhỏ trên các thiết bị này được đặt trên múi răng thử

nghiệm Áp lực cắn được đặt từ từ cho tới khi đóng hoàn toàn

Áp lực lớn nên được thực hiện trong vài giây, bệnh nhân sau

đó được yêu cầu nhả khớp nhanh Mỗi múi răng trên một răng

cần được thử nghiệm như vậy Nhà lâm sàng cần ghi nhận lại ở

những nơi nào cơn đau xuất hiện trong quá trình cắn hay nhả

khớp Thông thường sẽ có một múi bị vỡ hoặc có nứt răng khi

và khi bệnh nhân cảm nhận được bất kì cơn đau nào trong quá trình khoan thì báo cho bác sĩ biết Nếu bệnh nhân cảm giác đau khi mũi khoan chạm ngà, ngừng khoan và phục hồi xoang loại I với chất trám phù hợp Cảm giác này chỉ có khi còn một số mô thần kinh tuỷ còn sống, không chắc chắn toàn bộ tuỷ khoẻ mạnh Nếu bệnh nhân không cảm thấy bất cứ gì khi mũi khoan chạm ngà, có nghĩa là tuỷ đã hoại tử và cần điều trị nội nha ngay

Thử Nghiệm Màu Và Chiếu Sáng

Để xác định có vết nứt trên bề mặt răng hay không, ta dùng màu bôi lên phần răng nghi ngờ Dùng ánh sáng sợi chiếu qua vùng răng Phương pháp này sẽ được đề cập sâu hơn trong phần nứt

và gãy răng

Gây Tê Chọn Lọc

Khi các hội chứng không được định vị và rõ nét, chẩn đoán là một thử thách ho các nhà lâm sàng Đôi khi bệnh nhân không thể xác định được cơn đau ở vùng hàm trên hay hàm dưới Trong các trường hợp này, khi thử nghiệm tuỷ không thể kết luận được, gây tê chọn lọc có thể hữu ích

Ngày đăng: 06/09/2019, 07:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. American Association of Endodontists: Glossary of End- odontic Terms, ed 7, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Glossary of End- "odontic Terms
49. Kaffe I, Gratt BM: Variations in the radiographic interpreta- tion of the periapical dental region, J Endod 14:330, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endod
50. Kahan RS, Gulabivala K, Snook M, Setchell DJ: Evaluation of a pulse oximeter and customized probe for pulp vitality testing, J Endod 22:105, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endod
51. Kawai K, Masaka N: Vertical root fracture treated by bonding fragments and rotational replantation, Dent Trau- matol 18(1):42, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dent Trau- "matol
52. Khocht A, Janal M, Harasty L, Chang K: Comparison of direct digital and conventional intraoral radiographs in detecting alveolar bone loss, J Am Dent Assoc 134(11):1468, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Dent Assoc
53. Lalla RV, D’Ambrosio JA: Dental management consider- ations for the patient with diabetes mellitus, J Am Dent Assoc 132:1425, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Dent "Assoc
54. Laskin DM: Anatomic considerations in diagnosis and treat- ment of odontogenic infections, J Am Dent Assoc 69:308, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Dent Assoc
55. Lertchirakarn V, Timyam A, Messer HH: Effects of root canal sealers on vertical root fracture resistance of end- odontically treated teeth, J Endod 28(3):217, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endod
56. Little JW, Falace DA, Miller CS, Rhodus NL: Dental management of the medically compromised patient, ed 7, St. Louis, 2008, Mosby Sách, tạp chí
Tiêu đề: Little JW, Falace DA, Miller CS, Rhodus NL: "Dental "management of the medically compromised patient
Limited cone-beam CT and intraoral radiography for the diagnosis of periapical pathology, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod 103(1):114–119, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral Surg Oral Med Oral "Pathol Oral Radiol Endod
Năm: 2007
58. Marder MZ: The standard of care for oral diagnosis as it relates to oral cancer, Compend 19(6):569, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compend
59. Mattson JS, Cerutis DR: Diabetes mellitus: a review of the literature and dental implications, Comp Cont Educ Dent 22:757, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comp Cont Educ Dent
60. Meister F, Lommel TJ, Gerstein H: Diagnosis and possible causes of vertical root fractures, Oral Surg 49(3):243, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral Surg
61. Mesaros S, Trope M, Maixner W, Burkes EJ: Comparison of two laser Doppler systems on the measurement of blood flow of premolar teeth under different pulpal conditions, Int Endod J 30:167, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int "Endod J
62. Michaelson RE, Seidberg BH, Guttuso J: An in vivo evalu- ation of interface media used with the electric pulp tester, J Am Dent Assoc 91:118, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Dent Assoc
63. Miles DA, VanDis ML: Advances in dental imaging, Dent Clin North Am 37(4):531, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miles DA, VanDis ML: Advances in dental imaging, "Dent "Clin North Am
64. Miller CS, Little JW, Falace DA: Supplemental corticoste- roids for dental patients with adrenal insufficiency: recon- sideration of the problem, J Am Dent Assoc 132:1570, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Dent Assoc
65. Mozzo P, Proccacci A, et al: A new volumetric CT machine for dental imaging based on the cone-beam technique:preliminary results, Eur Radiol 8:1558–1564, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur Radiol
66. Nair M, Pettigrew J, Mancuso A: Intracranial aneurysm as an incidental finding, Dentomaxillofac Radiol 36:107–112, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dentomaxillofac Radiol
67. Nakata K, Naitob M, Izumi M, Inamoto K, Ariji E, Nakamura H: Effectiveness of dental computed tomography in diagnos- tic imaging of periradicular lesion of each root of a multi- rooted tooth: a case report, J Endod 32(6):583–587, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endod

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN