Trong quan hệ gia đình, bộ luật đề cao vai trò của người chủ gia đình, người vợ cả và con trưởng trong trật tự gia đình phong kiến.+ Trong lĩnh vực tố tụng, bộ luật quy định rõ thẩm quyề
Trang 1Câu 1, Pháp luật triều Nguyễn:
* Bộ luật Gia Long(Hoàng Việt luật lệ)
Bộ luật được chia thành 22 quyển với 398 điều, quy mô khá lớn
Bộ luật Gia Long là bộ luật tổng hợp, điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Bộ luật Gia Long thể hiện tư tưởng kết hợp đức trị với pháp trị, bảo vệ cơ sở nền tảng của chế độ phong kiến, củng cố chế độ gia trưởng Nho giáo
Trong lĩnh vực hình sự, các nguyên tắc cơ bản gồm có: nguyên tắc luật định,
nguyên tắc so sánh luật và áp dụng tương tự, nguyên tắc áp dụng theo luật mới nhất, nguyên tắc chiếu cố, nguyên tắc thưởng cho người tố cáo, phạt những người che giấu tội phạm, nguyên tắc những người thân được che giấu tội cho nhau,
nguyên tắc áp dụng trách nhiệm dân sự liên đới, nguyên tắc luận tội theo tang vật, nguyên tắc chuộc tội bằng tiền
Các tội phạm được quy định trong luật gồm các nhóm tội: tội thập ác, đạo tặc, nhân mạng, đấu khẩu, lăng mạ, hối lộ, trá ngụy, phạm gian, tạp phạm và các nhóm tội khác Nhóm tôi thập ác cũng được quy định giống như Quốc triều hình luật
Hệ thống hình phạt gồm có Ngũ hình và các hình phạt khác Ngũ hình gồm có Xuy, Trượng, Đồ, Lưu, Tử
Trong lĩnh vực dân sự, chế độ sở hữu gồm có sở hữu công (sở hữu của nhà nước và
sở hữu làng xã); sở hữu tư nhân ( sở hữu cá nhân và hộ gia đình)
Về thừa kế, đề cao trách nhiệm của người gia trưởng, thừa nhận quyền thừa kế của con trai, con gái chỉ được thừa kế khi gia đình tuyệt tự, trong luật không có quy định vè quyền thừa kế của người vợ Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cũng có các điều kiện để tiến hành kết hôn, thủ tục kết hôn cũng có 2 giai đoạn chính là kết hôn và thành hôn Trong quan hệ gia đình, bộ luật đề cao vai trò của người chủ gia đình, người vợ cả và con trưởng trong trật tự gia đình phong kiến.+
Trong lĩnh vực tố tụng, bộ luật quy định rõ thẩm quyền, trình tự xét xử, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng, quá trình thi hành bản án và những trường hợp được miễn giảm, ân xá
Câu 2,* Bộ luật Hồng Đức (quốc triều hình luật=lê triều hình luật,
Trang 2Là bộ luật hành văn hoàn chỉnh đầu tiên ở nước ta, được duy trì và sửa đổi, bổ sung qua nhiều triêu đại Bộ luật có 13 chương, 722 điều đã thể hiện trình độ lập pháp rất cao của thời đại đó.
Bộ luật về hình thức là hình luật, nhưng thực chất nó lại là bộ luật tổng hợp của nhiều kĩnh vực khác nhau
Về nội dung, bộ luật nhằm bảo vệ vương quyền, chế độ quan liêu, trật tự, đẳng cấp, gia đình phụ hệ và ý thức hệ Nho giáo Bộ luật có mô phỏng luật của phương Bắc nhưng lại có nhiều nội dung mới, có tính tiến bộ về kế thừa một số tập quán cổ truyền của dân tộc Điểm tiến bộ, nổi bật của quốc triều hình luật là chú trọng đến quyền lợi của người phụ nữ, thể hiện trong chế độ thừa kế tài sản và chế độ xử lý
ly hôn Bên cạnh đó, quốc triều hình luật cũng quan tâm, bảo vệ dân thường, đặc biệt những người nghèo khổ Trong bộ luật có nhiều hình phạt đối với các quan lại, người quyền quý ức hiếp, sách nhiễu dân đinh
Trong lĩnh vực hình sự có nhiều nguyên tắc cơ bản như: nguyên tắc vô luật bất hình, nguyên tắc chiếu cố, nguyên tắc chuộc tội bằng tiền, nguyên tắc chịu trách nhiệm thay thế liên đới, nguyên tắc miễm giảm trách nhiệm hình sự, nguyên tắc thưởng cho người có công tố giác, trừng phạt người che dấu, nguyên tắc những người thân thuộc đước che giấu tội cho nhau
Các tội đước quy định trong bộ luật rất cụ thể, tuy nhiên có thể chia thành nhóm các tội thập ác(tội đặc biệt gây nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp đế vương quyền hay trật tự gia đình phong kiến) và nhóm các tội phạm khác
Hệ thống hình phạt được áp dụng khi có hành vi phạm tội xảy ra gồm có nhóm Ngũ hình với tư cách là nhóm hình phạt chính và nhóm các hình phạt bổ sung khác Ngũ hình gồm có Xuy, Trượng, Đồ, Lưu, Tử
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thể hiện nguyên tắc hôn nhân áp đặt, không được tự do hôn nhân, điều kiện kết hôn được quy định chặt chẽ, thủ tục kết hôn gồm đính hôn và thành hôn
Trong quan hệ gia đình, bảo vệ trật tự gia trưởng phong kiến, củng cố sự hòa
thuận, quy định trách nhiệm đối với nhau của các thành viên trong gia đình
Trang 3Trong lĩnh vự dân sự, khẳng định 2 chế độ sở hữu đối với ruộng đất là sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư), các hợp đồng về ruộng đất phải bằng văn bản do trưởng làng viết hoặc chứng kiến được gọi chung là văn khế.+
Quy định về thừa kế rất chặt chẽ, có điểm tiến bộ là ghi nhận phụ nữ cũng có quyền thừa kế ngang với quyền của nam giới
Trong lĩnh vực tố tụng, có quy đinh quyền khởi kiện của người dân, quy định thẩm quyền xét xử theo cấp Các quan lại là người hành pháp đồng thời là người xét xử
Câu 3, c/m tính tập quyền chuyên chế ở mức độ cao thời nguyễn.
Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó Đứng đầu Nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Thị thư viện (đến thời Minh Mạng thì đổi thành Văn thư phòng và năm 1829 thì lại đổi là Nội các) Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia
Đặc biệt, để đề cao uy quyền nhà vua và ngăn chặn nạn quyền thần lấn át hoàng
đế, vua Gia Long đã đặt ra lệ Tứ bất: Trong triều không lập Tể tướng, thi đình không lấy Trạng nguyên, trong cung không lập Hoàng hậu, không phong tước vương cho người ngoài họ vua
Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước:
Bộ Lại: coi việc khảo xét công trạng, thảo những tờ chiếu sắc
Bộ Hộ: coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc
Bộ Lễ: coi việc tế tự, tôn phong, cách thức học hành thi cử
Bộ Binh: coi việc binh lính
Bộ Hình: coi việc pháp luật
Bộ Công: coi việc làm cung điện, dinh thự
Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang, cùng với
Trang 4và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này
Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại đia phương Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng
Ngạch quan lại chia làm 2 ngành văn và võ Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh
và tòng 2 bậc Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà
Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm
Câu 4, Ngô - Đinh - Tiền Lê
Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê là thời kỳ đất nước gặp nhiều khó khăn sau một thời gian dài chịu sự cai trị của chính quyền Trung Hoa
Để bảo vệ chủ quyền còn non trẻ bên cạnh một nước lớn như Trung Hoa, việc xây dựng mô hình chính quyền quân sự có tính tự vệ là một phản ứng tự nhiên và là sứ mệnh có tính lịch sử
Trong giai đoạn phôi thai của nhà nước phong kiến, khi cuộc đấu tranh vũ trang giữa các lực lượng cát cứ và giữa chính quyền trung ương với các lực lượng cát cứ địa phương diễn ra mạnh mẽ thì chính quyền mới phải giải cho được bài toán về mối quan hệ giữa phân tán và tập quyền Phân tán là bản chất của tính tiểu nông vốn vẫn tiềm ẩn Trong thời kỳ cai trị phong kiến phương Bắc tính tự trị địa
phương là rất cao, luôn trong thế bùng phát, nguy cơ phân tán quyền
Về tổ chức chính quyền ở trung ương, Ngô Quyền đã đặt ra các chức quan văn,
quan võ , quy định các nghi lễ trong triều đình và màu sắc, trang phục của quan lại các cấp
Trang 5Đến thời nhà Đinh, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế chọn Hoa Lư làm kinh đô và cũng là
căn cứ quân sự Chính quyền lựa chọn việc đóng đô ở Hoa Lư là sự lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh, chống lại sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ Để bảo vệ một chính quyền non trẻ vừa mới giành lại được, việc chọn Hoa Lư làm kinh đô là một lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh trong bối cảnh bấy giờ Hoa Lư có địa thế hiểm yếu, khả năng phòng thủ tốt, nhưng lại có bất lợi rất lớn là không thuận lợi về vị trí địa lý cũng như điều kiện tự nhiên để phát triển thành trung tâm kinh
tế, văn hoá
Năm 974 Đinh Tiên Hoàng tổ chức lại quân đội trong cả nước tổ chức quân đội thành 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người Tổng chỉ huy quân đội là Thập đạo tướng quân điện tiền chỉ huy sứ
Lê Hoàn Nếu đúng như vậy thì quân đội lúc đó lên đến 1 triệu người
Có hai vấn đề đặt ra:
Thứ nhất, với số liệu trên cho ta thấy, tổng số quân đội thời kì này lên đến
1.000.000 người Nhưng liệu sự thật có phải tổng số quân ở thời kì đó đã đạt được con số khổng lồ như vậy trên tổng dân số Đại Việt mới có khoảng 3.000.000 dân? Với tư liệu sử sách quá ít ỏi, chưa cho phép ta khẳng định một cách xác đáng, nghiêm túc về vấn đề này, nhưng phần nào cũng giúp ta nhận diện rằng đây là thời
kì quân đội được chú trọng xây dựng và phát triển cả về số lượng và chế độ luyện tập
Thứ hai, cả nước chia thành 10 đạo, trong 10 đạo ấy liệu có bao gồm những người
thường dân khác hay không? Tại sao 10 đạo lại tương ứng với 1 triệu người Vậy những người thường dân khác nằm trong bộ phận nào? hoà nhập hay tách riêng? qui chế pháp lí gì riêng cho thường dân không? Tất cả vẫn là những câu hỏi chưa
có lời giải đáp, chỉ biết rằng bằng tư duy lí luận - lịch sử ta có thể khẳng định rằng việc phân chia thành các đạo, 10 đạo tương ứng 1 triệu quân chứng tỏ tính chất của
nó không giản đơn là đơn vị hành chính mà thực chất đạo là một đơn vị tổ chức quân sự
Dưới Triều Đinh Tiên Hoàng, chưa xuất hiện thiết chế Lục Bộ Đinh Tiên Hoàng phong Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Giang Cự Vong làm Nha hiệu
Năm 1002 Lê Hoàn (Lê Đại Hành) đổi 10 Đạo thành Lộ, Phủ, Châu Dưới triều
Tiền Lê, Lê Hoàn và các đời vua tiếp sau củng cố và tăng cường thêm quân đội thường trực, đặt ngạch thân binh, tuyển lính túc vệ đóng quân ở kinh thành Các chức quan cao cấp chỉ huy quân đội được đặt ra như Thái Uý, Khu mật sứ Ngoài quân đội của nhà vua, còn có quân đội của các vương hầu, quý tộc chiêu mộ và điều khiển ở điền trang, thái ấp mà vua có thể điều động khi cần thiết
Trong triều đình Ngô - Đinh - Tiền Lê, các vị vua đã tiến hành phong tước, mà trước hết là một số người trong hoàng tộc Thời kỳ này trật tự lễ nghi trong triều đình đã bước đầu được định hình
Trang 6Từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đến các biện pháp quản lý xã hội thời kỳ
này còn mang đậm tính chất quân sự.
Thực chất nhà nước thời kỳ này vẫn mang dáng dấp của một cái làng lớn, chủ yếu giải quyết tính đại diện của nhà nước về quân sự Làng xã với tính chất tự quản mạnh vẫn thể hiện rõ nét tính độc lập của mình trong quan hệ với chính quyền trung ương
Mỗi nhà nước phải có bệ đỡ về tư tưởng, chính quyền thời này không muốn dập khuôn theo mô hình Nho giáo, đã chọn Phật giáo nhằm tranh thủ nhân tâm Điều
đáng tiếc là Phật giáo lại quá xa lạ với luật pháp có tính quân sự của nhà Đinh, vì
vậy đã tạo ra một sự phản kháng hết sức gay gắt trong thời gian này
Câu 5, thời Lê- sơ
Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục lại quốc hiệu Đại Việt, tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước mới
Chính quyền phong kiến được hoàn thiện dần và đến thời vua Lê Thánh Tông thì hoàn chỉnh nhất Đứng đầu triều đình là vua Để tập trung quyền lực vào nhà vua,
Lê Thánh Tông bãi bỏ một số chức vụ cao cấp nhất như tướng quốc, đại tổng quản, đại hành khiển Vua trực tiếp nắm mọi quyền hành, kể cả chức tổng chỉ huy quân đội Giúp việc vua có các quan đại thần Ở triều đình có sáu bộ, ngoài ra còn có một số cơ quan chuyên môn
Ở địa phương, thời vua Lê Thái Tổ và Lê Nhân Tông, cả nước được chia làm 5 đạo
Dưới đạo là phủ, huyện (miền núi gọi là châu), xã Đến thời vua Lê Thánh Tông, đổi chia 5 đạo thành 13 đạo thừa tuyên, thay chức An phủ sứ đứng đầu mỗi đạo bằng 3 ti phụ trách ba mặt hoạt động khác nhau ở mỗi đạo thừa tuyên
Dưới đạo thừa tuyên có phủ, châu, huyện, xã Pháp luật: Bộ luật Hồng đức
Tính chất tập quyền quan liêu của nhà nước thời Lê sơ.
Trung ương:
_ Tính quan liêu thể hiện rõ nhất ở việc xóa bỏ các cơ quan trung gian và thành lập
ra các cơ quan mới: 6 bộ: 6 tự, 6 khoa, đảm trách những công việc cụ thể, thể hiện tính chất chuyên môn hóa, trong đó vai trò giải quết các công việc hành chính của Triều đình được chủ yếu giao cho 6 bộ
_ Tách 6 bộ ( lịa, hộ, lễ, binh, công, hình) ra khỏi thượng thư sảnh để lập 6 cơ quan riêng cai quản các mặt hoạt động của nhà nước, mỗi bộ có 1 thượng thư phụ trách, chịu trách nhiệm trước nhà Vua
_ Những công việc lặt vặt chuyên trách trong bộ thì giao cho các thanh lại ty, có quan lang trung trông coi và quan viên ngoại lang giúp việc Riêng bộ hộ và bộ
Trang 7hình còn thêm chiếu ma sở có quan chiếu ma phụ trách việc ghi chép văn thư vào sổ.
_Tuy nhiện, công việc của 6 bộ rắt nhiều, có nhiều công việc không thể đảm trách hết được, do đó Vua Lê Thánh Tông lập ra 6 tự phụ trách công việc phụ của 6 bộ Điều đáng lưu ý là 6 tự ( Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thường bảo tự) là cơ quan độc lập với 6 bộ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của nhà Vua
_ Để đảm bảo 6 bộ hoạt động có hiệu quả, các quan lại có trách nhiệm hơn, thì nhà Vua Lê Thánh Tông thành lập 6 khoa ( lại khoa, hộ khoa, lễ khoa, binh khoa, hình khoa, công khoa) có chức năng giám sát tương ứng với 6 bộ Quan phụ trách cao nhất của mỗi khoa là quan Đô cấp sự trung với trật chánh nhất phẩm, dưới là quan chấp sự trung trật chánh bát phẩm Lục khoa không phải là cơ quan cấp dưới của lục bộ mà là cơ quan giám sát lục bộ và báo cáo trực tiếp lên nhà Vua, cho nên mặc
dù quan phụ trách ở khoa tuy phẩm trật không lớn nhưng rất có thực quyền
_ Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác được cải cách phù hợp với chức năng nhiệm vụ tương ứng với một đối tượng và đảm trách từng công việc cụ thể hơn
=> Từ sự cải cách theo nguyên tắc quan liêu như đã nêu trên ta thấy có nhiều cơ quan mới được thành lập, nhưng bộ máy nhà nước trung ương trở nên tinh gọn hơn, hoạt động hiệu quả hơn, nhiều chức quan mới xuất hiện tuy phẩm trật khác nhau nhưng thật quyền như nhau và có trách nhiệm hơn
Đia phương:
_ Tính quan liêu thể hiện ở việc thành lập 13 đạo để thu hẹp bớt quyền của chính
quyền địa phương và xóa bỏ một số đơn vị trung gian Chính trong việc tổ chức mỗi đạo củng thể hiện tính quan liêu rỏ nét Lê Thánh Tông đã cho cải tổ việc quản
lý địa phương bằng cách trao quyền phụ trách ở một đạo cho 3 cơ quan:
+) Thừa Ty: phụ trách công các công việc thuộc về lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự
+) Đô ty: phụ trách quân sự
+) Hiến ty: có chức năng giám sát các công việc trong đạo để tâu lên vua
_ Chức quan đứng đầu mỗi cơ quan đảm trách công việc phù hợp với chức năng và trình độ của mình
_ Để đảm bảo trách nhiệm của từng cá nhân, thì công tác thanh tra giám sát ở địa phương củng được chú trọng Vua lê thánh tông cho đặt giám sát ngự sử ở 13 đạo làm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các hiến ty giám sát hoặc các hành vi sai trái của quan lại các thừa tuyên, phủ, huyện Đồng thời Lê Thánh Tông củng quy định rõ chức trách của các quan giám sát ngự sử
Trang 8_ Ngoài ra, tính quan liêu còn thể hiện rất rõ ở cấp xã: chia tách và quy định rỏ từng loại xã và người đứng đầu của từng xã
+) Bỏ chế độ xã quan và đổi thành xã trưởng, phân định rõ số lượng xã trưởng cho từng loại xã: đại xã thì dùng 5 người, trung xã thì 4 người, xã nhỏ hơn thì 2 người
để cừng xã trưởng giải quyết công việc
Nguyên tắc quan liêu ở địa phương mục đích là tránh tình trạng cát cứ địa phương ảnh hưởng đến chính quyền trung ương
Câu 6, Tổng kết nhà nước thời kì phong kiến.
- Đặc trưng cơ bản của nhà nước phong kiến:
+ hinh thức nhà nước là hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối phổ biến ở các nhà nước phương đông
+ cơ sở kinh tế là chế độ sỡ hữu nhà nước về ruộng đất dưới hai hình thức sỡ hữu nhà nước và sỡ hữu làng xã, cơ sở tư tưởng là hệ tư tuongr nho giáo.+ cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và chế độ quan chức đều mô phỏng nhà nước phong kiến trung hoa mang đậm dấu ấn lịch sử của hơn 10 thế kỷ bắc thuộc
- Đặc trưng của pháp luật:
+ PL phong kiến Việt nam thể hiện tính giai cấp công khai, pháp luật đẳng cấp và đặc quyền
+ PL mang tính dã man, tàn bạo ( trong bộ luat HĐ)
+ Pl bảo vệ quyền thống trị của nha nuoc phong kien tập quyền
+ PL liên quan mật thiết với tôn giáo và đạo đức phong kiến
Câu 7, Thời Lý- Trần:
- Tổ chức Bộ MÁY NHÀ NC & Quan chế:
+ Quan chế của nhà nước Lý - Trần có quy củ, chặt chẽ hơn các triều đại trước Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, dưới Hoàng đế có 3 chức đứng đầu
các quan lại trong triều, đó là thái sư, thái phó, thái bảo(tam thái) Dưới đó
là chức thái úy , nắm giữ việc chính trị, quân sự trong nước, về sau chức này được gọi là tể tướng Tiếp đến là các chức tư không, thiếu phó, thiếu bảo, thiếu úy (phụ trách cấm quân), nội điện đô trị sự, ngoại điện đô trị sự, kiểm hiệu bình chuơng sự Đây là những chức vụ trọng yếu nhất giúp việc nhà
vua Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước, còn có các cơ quan chuyên
Trang 9trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự sử đài, Hành khiển tượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình uý, Hàn lâm học sĩ.
+ Năm 1097, nhà Lý cho biên soạn và ban hành Hội điển , quy định các
phép tắc chính trị, tổ chức bộ máy quan lại Từ đó, quy chế tổ chức hành chính và quan lại được xác lập, thể hiện bước tiến bộ rõ rệt trong việc quản
lý xã hội, đất nước Các quan lại cao cấp có nhiều công lao được phong thực phong, thực ấp Chỉ con cháu những người có quan tước, được tập ấm, mới được làm quan
+ Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn thời Lý Khác với nhà Lý, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng Các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng (hoàng thái tử) nhưng vẫn cùng
với vua (con) trông coi chính sự, tự xưng là Thái thượng hoàng Chế độ
Thái thượng hoàng thời Trần có tác dụng ngăn chặn tình trạng các đại thần chuyên quyền, cướp ngôi khi vua còn ít tuổi Trong triều đình, đứng đầu các quan vẫn là ba chức thái (sư phó, bảo) chỉ có điểm khác thời Lý ở chỗ nhà
Trần đặt thêm hàm thống quốc, tá thánh, phụ quốc để gia phong thêm (như
thống quốc thái sư, tá thánh thái sư phụ quốc thái bảo) Chức thái úy thời Lý
(tướng quốc) đổi thành tả hữu tướng quốc bình chương sự Giúp việc cho tể tướng (tướng quốc) thời Trần đặt thêm các chứchành khiển nằm trong cơ quan mật viện Các hành khiển thường kiêm cả các chức thượng thư (đứng đầu bộ), tả hữu bộc xạ, tả hữu gián nghị đại phu Dưới các chức vụ nói trên,
các quan được chia thành hai ban văn và võ Bên văn có các bộ, đứng đầu
mỗi bộ là một viên thượng thư Ban đầu mới có thượng thư hành khiển,
thượng thư hữu bật (2 bộ), từ cuối thế kỷ XIV (1388-1398), đời Quang Thái
mới có thêm thượng thư các bộ binh, hình Dưới thượng thư có thị lang, lang trung giúp việc Bên võ có các chức vụ phiêu kỵ tướng quân, đại
tướng, đô tướng, tướng quân , lúc có chiến tranh, đặt thêm chức tiết chế tổng chỉ huy toàn quân.
+ Ngoài bộ, có các cơ quan chuyên trách như ở thời Lý, nhưng nhiều hơn, tổ
chức chặt chẽ hơn như: các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục);
các đài (Ngự sử đài với các chức tả hữu gián nghị đại phu, thị ngự sử, giám sát ngự sử v.v.); các viện (Khu mật viện với các chức tri mật viện sự, khu mật tham chính, thiêm tri mật viện sự, giám sự, v.v.), hàn lâm viện (với các
chức hàn lâm học sĩ phụng chỉ, hàn lâm viện học sĩ ), Quốc sử viện, Thâm
hình viện; giám (Quốc tử giám),v.v
+ Nhìn chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở, nhưng ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn từ thời Lý đến thời Trần Ở các địa
phương, nhà Lý từ năm 1011 đổi 10 đạo thời Lê làm 24 lộ , đặt thêm một số đạo vàtrại, châu Một số châu, trại đổi làm phủ , các vùng xa gọi
là châu (như châu Vĩnh An, Đằng Châu, châu Lâm Tây, v.v.) Dưới lộ
có huyện, hương.
+ Ở Kinh đô, nhà Lý giao cho một hoàng tử hay thân vương trông coi gọi
là kinh sư lưu thủ Ở các châu gần, đặt các chức tri châu, thông phán, tổng
Trang 10quản để trông coi Ở các châu biên giới đặt chức châu mục đứng đầu Đứng đầu phủ có chức tri phủ, tri phủ sự, phán phủ sự phụ trách.
+ Nhà Trần đổi 24 lộ thành 12 lộ (từ năm 1242): Lộ Thiên Trường (gồm Xuân Trường, Mỹ Lộc thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), Long Hưng (Tiên Hưng, Thái Bình) Quốc Oai (Hà Tây), Bắc Giang (nay là Bắc Giang), Hải Đông (Quảng Ninh), Trường Yên (Hà Nam), Kiến Xương (Thái Bình), Hồng (Hải Dương), Khoái (Hưng Yên), Thanh Hoá, Hoàng Giang (Hà Nam), Lạng
Giang (Lạng Sơn) Dưới lộ, phủ là châu, huyện, xã Đứng đầu các lộ là an phủ sử , ở các phủ là tri phủ, trấn phủ rồi đến các viên chức thông phán, thiên phán, tào, vận lệnh uý v.v Các châu do chuyển vận sứ, thông
phán quản lý, ở huyện dolệnh uý, chủ bạ coi giữ Chế độ xã quan được phổ biến ở các xã Đứng đầu các xã là đại tư xã và tiểu tư xã Các viên xã quan
được tuyển chọn trong hàng ngũ những người có phẩm hàm, từ ngũ phẩm trở lên làm đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống giữ chức tiểu tư xã (xã nhỏ)
Dưới đại, tiểu tư xã có các chức xã trưởng, xã giám giúp việc sổ sách.
+ Nhà Trần còn đặt thêm một tổ chức phụ trách về dòng họ nhà vua gọi
là tông chính phủ Năm 1230, nhà Trần cho ban hành bộ sách Thông chế gồm 20 quyển, lại cho soạn sách Quốc triều thường lễ , ghi chép công việc
của triều đình Việc cai quản đất nước dưới thời Trần theo quy chế rõ ràng,
có bước tiến bộ, phát triển hơn thời Lý Nhà Trần cũng thực hiện chế độ ban phong thái ấp cho vương hầu, tôn thất và cho phép họ được xây dựng phủ đệ riêng
+ Thời Lý, các quan lại đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc; sang thời Trần, tất
cả các chức vụ quan trọng trong triều cũng đều giao cho vương hầu quý tộc nhà Trần nắm giữ Bởi vậy nhà Trần nắm khá chắc toàn bộ công việc chủ chốt trong triều, quyền lực tập trung trong tay nhà nước trung ương; chế độ quân chủ trung ương tập quyền được củng cố thêm một bước
+ Cách sử dụng, bổ nhiệm quan lại của nhà nước Lý - Trần đã phản ánh rõ nét tính đẳng cấp sâu sắc, nhất là dưới thời Trần Cũng có thể nói nhà nước
thời Lý - Trần là nhà nước quân chủ quý tộc
- Pháp luật:
+ Về mặt pháp chế, thời Lý - Trần có bước tiến bộ hơn thời Khúc, Ngô - Đinh - Lê ở chỗ nhà nước tăng cường hoạt động lập pháp, ban hành các luật
lệ đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời trung đại
+ Năm 1040, Lý Thái Tông xuống chiếu từ nay về sau phàm nhân dân trong nước, ai có việc kiện tụng thì giao cho thái tử xét xử trước khi trình lên vua quyết định Năm 1042, nhà Lý biên soạn và cho ban hành bộ luật Hình thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước quân chủ Việt Nam Bộ Hình thư ra đời thay thế cho các quy chế, luật lệ, chiếu chỉ trước đó Nhu cầu và tác dụng của Hình thư được phản ánh trong nhận xét của nhà sử học Ngô Sĩ Liên như sau: "Trước kia, trong nước, việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng Vua lấy làm thương xót, sai sửa định luật lệnh, châm chước cho, thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản làm sách hình luật của một
Trang 11triều đại để cho người xem dễ biết Sách làm xong, chiếu ban ra cho thi hành Dân đều lấy làm tiện".
+ Các triều vua Lý về sau tiếp tục ban hành những luật lệ bổ sung về hành chính, hình sự, dân sự
+ Pháp luật thời Lý nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước trung ương tập quyền, của giai cấp thống trị, trước hết là của nhà vua Củng cố chế độ đẳng cấp, hạn chế sự bành trướng thế lực của bọn quan liêu quý tộc, bảo vệ nguồn bóc lột của nhà nước Đối với tội thập ác, đặc biệt tội chống đối lại nhà Lý thì bị hình phạt rất nặng, tàn khốc như bị xẻo thịt, róc xương ở chợ, bị tùng xẻo, chặt chân, tay Pháp chế thời Lý cũng có những mặt tích cực như coi trọng việc bảo vệ và phát triển sức sản xuất của dân tộc, quan tâm đến đời sống của con người, thể hiện tinh thần nhân ái trong pháp trị, tiêu biểu nhất
là dưới triều đại Lý Thánh Tông (l054-l072) "Thánh Tông thành thực thương dân, khoan rộng việc hình Cứ theo đạo ấy mà làm, thói dở đâu còn che lấp, dân tình đâu còn không thông, thiên hạ đâu còn lo chẳng thịnh trị"
+ Đến thời Trần, pháp luật từng bước được đổi mới Hoạt động pháp chế được tăng cường Gốc nhân ái của pháp luật vẫn được giữ gìn, nhưng tinh thần pháp trị ngày càng được đề cao
+ Năm 1225, nhà Trần thay thế nhà Lý cai quản đất nước Năm 1230, Trần
Thái Tôn đã cho soạn Quốc triều hình luật Năm 1341, Trần Dụ Tông sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn Hình thư Tên Hình luật và
Hình thư đã nói rõ tính chất của các bộ luật đó Việc xừ án, thi hành án cũng được chú ý
+ Luật của nhà Trần về nội dung cũng giống luật của nhà Lý, bảo vệ địa vị
và quyền lợi kinh tế của vua quan, quý tộc, củng cố quyền lực của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, đặc biệt của nhà vua Đối với tội thập ác, đặc biệt tội phản nghịch, phản quốc bị xử rất nặng "Hình phạt nhà Trần rất tàn khốc, kẻ ăn trộm và kẻ trốn tránh thì bị chặt ngón chân, giao cho người (sự chủ) được thoả ý (xử trị) hoặc cho voi giầy chết"
+ Có thể nói, nếu nhà Lý mở đầu cho thời kỳ pháp luật thành văn và đưa pháp luật chính thức đi vào cuộc sống, thì nhà Trần đã kế thừa di sản tích cực đó, nâng cao hơn một bước để thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đất nước, có tác dụng góp phần bảo vệ thành công nền độc lập, thống nhất quốc gia Nét đặc sắc của pháp luật thời Lý - Trần là tinh thần pháp chế ngày càng được đề cao nhưng cái gốc của đạo trị nước là nhân và đức vẫn được chú trọng trong thực thi pháp luật, mặc dù tính giai cấp và đẳng cấp trong pháp luật vẫn rất đậm nét
c/m tâp quyen thân dân:
Thứ nhất , trên bình diện tư tưởng, triết lý thân dân là một dòng chảy liên tục và có
hệ thống trong tư tưởng chính trị thời Lý – Trần Chúng ta biết rằng, ở Đại Việt thời Lý, tư tưởng dân bản, thân dân được thể hiện khá đâm nét trong đời sống xã hội Trong hoàn cảnh mà sự phân tầng xã hội còn khá mờ nhạt, các vua Lý đều nói tới người dân qua những cách diễn đạt khác nhau như “thuận lòng dân” (Lý Thái
Trang 12Tổ), “yêu dân như con” (Lý Thánh Tông) Quan hệ vua quan – thần dân còn khá gần gũi Sử sách ghi lại rằng năm 1012, vua Lý Thái Tổ cho xây cung Long Đức ở ngoài thành cho Hoàng thái tử Khai Thiên Vương Phật Mã ở, “ý cho thái tử hiểu hết mọi việc của dân” Nhà vua cũng thi hành chính sách thân dân: năm 1013 định lại các lệ thuế, từ thuế ruộng đất ao hồ đến thuế bãi dâu, các thuế sản vật …và nhiều năm xá thuế cho nhân dân, được chính sử đánh giá là “khoan thứ nhân từ, tử
tế, hòa nhã, có lượng đế vương” Năm 1040, vua Lý Thái Tông dạy cung nữ dệt gấm vóc, cho công chúa cùng cung nữ trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa Dân chúng kinh thành Thăng Long trong những ngày hội (như hội đền Quảng Chiếu) đã được vào tận Đoan Môn của Cấm Thành tham dự; họ cũng được phép tới thềm điện Long Trì đánh chuông kêu cầu oan ức Vào dịp đầu năm, vua Lý Anh Tông đã ra tận ruộng để cày ruộng tịch điền cùng với nhân dân Trong bài Lộ bố văn khi chinh phạt Tống, Lý Thường Kiệt đã trịnh trọng tuyên bố một nguyên tắc dân bản: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục, đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” Còn thiền tăng Viên Thông thì nêu lên nội dung cụ thể của quan điểm thân dân là:
“Muốn yên dân thì phải tôn trọng những người dưới” Như vậy, ngay từ thời Lý, việc chăm lo đời sống nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân đã được xem là công việc hệ trọng nhất của việc trị nước
Trong thời Trần, dòng tư tưởng thân dân, trọng dân vẫn được tiếp tục Các vua đều
tự coi mình cha mẹ của dân, thi hành một chính sách thân dân kiểu gia trưởng Vua Trần Thái Tông khi đang đêm bỏ kinh thành lên núi Yên Tử xuất gia tu hành đã khẳng định: “Trẫm muốn ra ngoài chơi để được nghe tiếng nói của dân, xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân” Điều này nói lên rằng, các vua thời Trần đã có những quan hệ khá gần gũi với dân chúng, chứ không chỉ ngồi yên
vị ở ngai vàng như những triều đại sau này Sử cũ chép rằng, các vua thường xuyên
đi xuống các làng mạc địa phương thăm hỏi việc đắp đê, gặt lúa, đánh cá, dự các lễ hội đấu vật, đua thuyền hoặc du hành đi chơi phố Một sự kiện để lại dấu ấn đậm nét của tinh thần thân dân là việc Thượng hoàng Trần Thánh Tông mời các bô lão trong nước đến dự Hội nghị Diên Hồng, hỏi ý kiến về việc đánh giặc Nguyên
Mông Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoài Vănthì đây thực sự là một “quốc dân đại hội”1 của Đại Việt thời trung đại
Mặt khác, trong thời kỳ này, nhân dân được xem như là cơ sở để tiến hành những cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập Bởi vậy, Trần Hưng Đạo cho rằng phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ, coi đó là thượng sách để giữ nước Điều này có
ý nghĩa biểu thị sự quan tâm của nhà nước đối với sản xuất và đời sống của nhân dân để xây dựng một nền thái bình thịnh trị lâu dài
Sự hiện diện một cách rõ rệt và có hệ thống của triết lý thân dân trong lĩnh vực tư tưởng của giai cấp cầm quyền chính là cơ sở để nhà nước Lý - Trần tiến hành hàng loạt các chính sách nhằm hiện thực hóa triết lý đó trong đời sống xã hội, mang lại sức mạnh to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước