(Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ) Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHƯƠNG CAO QUYỀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA
NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHƯƠNG CAO QUYỀN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA
NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phí Thị Hiếu
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Khương Cao Quyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến PGS.TS Phí Thị Hiếu, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Điện Biên Đông, Ban giám hiệu
và các thầy cô giáo ở các trường Bán trú THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Khương Cao Quyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý giáo dục 11
1.2.2 Tảo hôn, nạn tảo hôn, nạn tảo hôn của HS 12
1.2.3 Phòng ngừa, phòng ngừa nạn tảo hôn 15
1.2.4 Giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn 15
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS 15
Trang 61.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo
hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 16
1.3.1 Trường PTDTBT THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân 16
1.3.2 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của HS phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở 17
1.3.3 Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 19
1.3.4 Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 20
1.3.5 Lực lượng giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS 26
1.4 Lý luận về quản lý giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 28
1.4.1 Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS với vai trò quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS 28
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 33
1.5.1 Yếu tố chủ quan 33
1.5.2 Yếu tố khách quan 35
Kết luận chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN 39
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 39
2.1.1 Vài nét về khách thể khảo sát 39
Trang 72.1.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 41
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điện Biên 42
2.2.1 Thực trạng nạn tảo hôn của HS các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 42
2.2.2 Thực trạng nhận thức về vai trò của hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 43
2.3.2 Thực trạng các nội dung giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 46
2.3.3 Thực trạng các phương pháp giáo dục, phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 52
2.3.4 Thực trạng các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 53
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điện Biên 56
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch quản lý giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 56
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 63
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 66
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 69
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 72
2.6.1 Ưu điểm 77
2.6.2 Hạn chế 77
Kết luận chương 2 79
Trang 8Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
PHÒNG NGỪA NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS HUYỆN
ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 82
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 82
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 82
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 82
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 82
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 83
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 83
3.2.1 Tăng cường nhận thức cho CBQL, GV, HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở trường PTDTBT THCS 83
3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ quản lý, giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong môi trường học đường cho lực lượng GV chủ nhiệm, GV bộ môn và cho đội ngũ những người làm công tác quản lý HS bán trú ở trường PTDTBT THCS 86
3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp và đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn ở trường PTDTBT THCS 88
3.2.4 Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc quản lý hoạt động giáo dục, phòng ngừa nạn tảo hôn ở các trường PTDTBT THCS 90
3.2.5 Xây dựng kế hoạch và quy trình thực hiện công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS bán trú trong trường PTDTBT THCS một cách khoa học phù hợp với điều kiện nhà trường 92
Trang 93.2.6 Đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS ở trường PTDTBT THCS 94
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 96
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 97
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 97
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 97
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 97
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 97
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BGDĐT : Bộ giáo dục đào tạo CBQL : Cán bộ quản lý CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DTTS : Dân tộc thiểu số
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng HS các trường PTDTBT THCS tảo hôn
trong năm học 2017 - 2018 43 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQLGD, GV và HS về vai trò của hoạt động
giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điện Biên 44 Bảng 2.3 Mức độ thực hiện các nội dung hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điện Biên 47 Bảng 2.4 Thực trạng về mức độ thực hiện và kết qủa đạt được của các
chủ thể tham gia giáo dục, phòng ngừa nạn tảo hôn ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 50 Bảng 2.5 Thực trạng về phương pháp giáo dục, phòng ngừa nạn tảo
hôn ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 52 Bảng 2.6 Thực trạng về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 54 Bảng 2.7 Căn cứ để xây dựng nội dung kế hoạch giáo dục phòng ngừa
nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 56 Bảng 2.8 Các loại kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa
nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS 58 Bảng 2.9 Nội dung lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 60 Bảng 2.10 Thực trạng về tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 64 Bảng 2.11 Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa
nạn tảo hôn cho HS của Hiệu trưởng các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 67 Bảng 2.12 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả tổ chức hoạt động giáo
dục phòng ngừa nạn tảo hôn ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 70 Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục phòng
ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điện Biên 72 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp được đề xuất 97
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Khi thực hiện việc kết hôn ngoài yếu tố tự nguyện thì một trong những điều kiện bắt buộc phải tuân thủ là độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Khoản 1 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình (2014), độ tuổi kết hôn với nam từ 20 tuổi trở lên,
nữ từ 18 tuổi trở lên Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm sinh
lý của nam nữ thanh niên và điều quan trọng là để họ có khả năng đảm đương trách nhiệm làm vợ chồng, cha mẹ khi bước vào cuộc sống gia đình Tuân thủ quy định về tuổi kết hôn là cơ sở cần thiết để hạnh phúc gia đình bền vững
Hiện nay trên cả nước việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật quy định vẫn diễn ra thường xuyên ở một số vùng miền trên cả nước, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi nơi mà trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng, chất lượng cuộc sống còn lạc hậu Tục tảo hôn vừa thể hiện sự cổ hủ, sự lỗi thời của chế độ phong kiến xưa, vừa kìm hãm sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội
Qua thực tiễn công tác ở các tỉnh miền núi chúng tôi nhận thấy, hiện tượng tảo hôn gây ra nhiều hậu quả cho thanh thiếu niên Thứ nhất, tảo hôn dẫn đến hậu quả mang thai sớm và sinh đẻ trong lứa tuổi chưa thành niên, khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện Mặt khác, do vẫn còn quá trẻ, nên thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và chưa sẵn sàng tâm lý để mang thai đã ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thấp còi và tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 01 tuổi và dưới 05 tuổi, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản Thứ hai, tảo hôn ảnh hưởng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực Tảo hôn để lại những hậu quả khó lường cho thế hệ tương lai Tảo hôn cản trở sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, thế hệ nối tiếp theo của các cặp tảo hôn được sinh ra chậm phát triển, suy dinh dưỡng, dị tật hoặc mắc các bệnh khác cao hơn so với những trẻ em được sinh ra từ các cặp bố mẹ khác Thứ ba, tảo hôn làm cho thanh thiếu niên rơi vào vòng luẩn quẩn giữa đói nghèo - thất học - tảo hôn: Đói nghèo - thất học - tảo hôn là một vòng luẩn quẩn, là một chuỗi các mắt xích khép kín, khó có lối thoát Thực tế cho thấy, nơi nào có tỷ lệ đói nghèo cao thì tỉ lệ
Trang 13tảo hôn cũng cao Như chúng ta đã nghiên cứu, phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn Tuy nhiên, ở góc nhìn này, chúng ta thấy trình độ phát triển kinh tế và giáo dục còn là hậu quả của tảo hôn, làm suy giảm chất lượng cuộc sống
Huyện Điên Biên Đông thuộc huyện vùng cao, người dân tộc thiểu số chiếm 97% Trường PTDTBT THCS Chiềng Sơ đóng trên địa bàn huyện, nhưng phần lớn là HS con em dân tộc , dân tộc Thái chiếm trên 50%, dân tộc Sinh Mun chiếm trên 35%, dân tộc Mông chiếm 10% còn lại là các dân tộc thiểu số khác Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng Người dân tộc thiểu số có đời sống tinh thần đa dạng và phong phú về phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng và chữ viết, tiếng nói, văn hoá nghệ thuật Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp đậm đà bản sắc góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam thì tảo hôn là một hủ tục lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số Những cặp vợ chồng tảo hôn cũng không biết rằng chính việc tảo hôn đã đem lại bao hệ lụy
cho bản thân, gia đình, xã hội và cộng đồng
Theo quan điểm của họ thì lấy vợ về để giúp gia đình làm nương rẫy, lo toan cuộc sống; trai gái gặp nhau thấy thích là "cướp vợ”,… Vì vậy trong những năm qua, mặc dù đã được tuyên truyền giáo dục, song nạn tảo hôn ở Điện Biên Đông nói chung, trường PTDTBT THCS Chiềng Sơ nói riêng vẫn còn tồn tại Theo số liệu thống kê của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Điện Biên Đông, trong ba năm gần đây tổng số cặp vợ chồng tảo hôn của địa bàn huyện: năm 2015 có 58 cặp chiếm 17%; năm 2016 có 57 cặp chiếm 24,3%; năm 2017 có 52 cặp chiếm 23,3% Trong đó, số HS của trường năm học 2014 -
2015: 13 em; năm 2015 - 2016: 15 em; năm 2016- 2017: 9 em
Xuất phát từ những lý do trình bày trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên” làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý góp phần phòng ngừa tình trạng tảo hôn của HS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, chất lượng dân số của xã hội
Trang 143 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức và pháp luật cho HS ở các trường PTDTBT THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên trong thời gian qua đã được quan tâm nhưng chất lượng còn chưa cao Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của các trường PTDTBT THCS, đặc điểm tâm lý của HS dân tộc thiểu số thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
5.2 Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
6 Giới hạn nghiên cứu
15 CBQL, 12 cán bộ phụ trách HS bán trú, 48 GV, 214 HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp tổng hợp,
hệ thống hoá, phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử: để xác định các khái niệm và xây dựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Đây là phương pháp cơ bản
nhất trong đề tài để tiến hành lấy ý kiến của các khách thể điều tra thông qua
Trang 15bảng hỏi nhằm làm rõ thực trạng vấn đề tảo hôn của HS dân tộc thiểu số tại các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn HS, phụ huynh,
GV, CBQL các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; phỏng vấn các cán bộ phụ trách lĩnh vực dân số, văn hóa xã hội, lãnh đạo chính quyền huyện Điện Biên Đông để thu thập thông cần thiết cho đề tài Trên
cơ sở đó tổng hợp, so sánh các dữ liệu để làm rõ thực trạng tảo hôn của HS ở trường PTDTBT THCS với thực tế tại địa phương
7.2.3 Phương pháp chuyên gia: trưng cầu ý kiến chuyên gia về các
nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu: sử dụng một số công thức toán
thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu thực trạng và khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; phụ lục; danh mục tài liệu tham tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tình trạng tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA NẠN TẢO HÔN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ
THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về gia đình nói chung, về gia đình các dân tộc thiểu số, các phong tục tập quán, giá trị, chuẩn mực, định hướng giá trị nói riêng đã và đang là mảng đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Một số hiện tượng xã hội lệch chuẩn như bạo lực gia đình, kết hôn sớm… cũng được nhiều tác giả đề cập trong một số công trình nghiên cứu, trên một số phương tiện thông tin đại chúng
Nhận thức được những hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng tảo hôn đối với việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em, ngày 8/10/2003, trong Báo cáo thường niên, Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã tuyên bố rằng: “Kết hôn sớm, có thai ngoài ý muốn và HIV/AIDS ở độ tuổi vị thành niên trên thế giới đang là mối đe dọa cho sự phát triển và chúng ta cần phải chiến đấu chống lại giống như cuộc chiến chống nghèo đói” [59]
Có thể khẳng định rằng: xã hội càng văn minh thì số lượng người kết hôn sớm càng giảm Trên thế giới, tại các nước công nghiệp phát triển, người ta thường thấy một xu hướng tương đối phổ biến là tuổi kết hôn lần đầu muộn hơn so với các thế hệ trước; rất hiếm các trường hợp kết hôn sớm trước tuổi quy định Trong khi đó, ở các nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp, các nước đang phát triển vẫn còn tồn tại hiện tựợng tảo hôn Theo báo cáo mới đây của UNICEF, 74% bé gái vùng Amhara bị ép lấy chồng trước 15 tuổi Nguyên nhân chủ yếu là do người dân quá nghèo khổ, họ muốn gả con để họ và con khỏi bị chết đói Người dân ở đây cho tảo hôn là một hiện tượng bình thường vì đây là một tục lệ tồn tại đã lâu trong lịch sử, họ sợ bị mang tiếng xấu nếu không tìm được chỗ gửi gắm con gái trước tuổi thành niên,
họ sợ con mình sẽ phải sống độc thân suốt đời và không được cộng đồng thừa nhận; và một nguyên nhân nữa là vấn đề trinh tiết, họ sợ không bảo vệ được đứa trẻ, nếu đứa trẻ bị hãm hiếp thì khổ cho cả gia đình [57]
Một nhiên cứu khác của UNICEF trong sáu quốc gia Tây Phi cho thấy 44% phụ nữ được điều tra từ 20 - 24 tuổi ở Niger đã kết hôn ở độ tuổi dưới 15
Trang 17vì cần phải theo truyền thống, củng cố mối quan hệ giữa các cộng đồng và bảo
vệ các cô gái để không mang thai ngoài giá thú Trong cộng đồng nghiên cứu, tất cả các quyết định về thời gian của hôn nhân và sự lựa chọn đối tượng kết hôn được thực hiện bởi những người cha
Ở Bangladesh, nhiều cô gái đã kết hôn ngay sau khi dậy thì, một phần để giải phóng cha mẹ của họ từ một gánh nặng kinh tế và một phần để bảo vệ sự thuần khiết tình dục của các cô gái
Ở Albania, các gia đình ở khu vực nông thôn giảm nghèo đói bằng cách khuyến khích con gái mình kết hôn sớm với những người có tiềm năng kinh tế
để có công ăn việc làm và để tránh các mối đe dọa bị bắt cóc
Ở Yemen, gần 50% các cô gái làm hôn thú trước 18 tuổi, một số từ lúc 8 tuổi.Trên thực tế, luật tại Yemen cho phép các thiếu nữ, con gái làm hôn thú bất cứ vào tuổi nào, nhưng cấm việc giao du tình dục với họ cho tới khi họ đủ phát triển
Theo một khảo sát năm 2012 của Liên Hợp Quốc, có đến 30% phụ nữ ở Guatemala kết hôn trước lứa tuổi qui định và 39.000 trẻ em kết hôn mỗi ngày ở
Ấn Độ Nạn tảo hôn phổ biến ở nông thôn hoặc những khu vực có tỉ lệ mù chữ cao Hầu hết, những cô bé bị ép bỏ học và kết hôn với những người đàn ông lớn tuổi hơn mình, có khi là gấp đôi số tuổi của các em
Ở Afghanistan, những cô dâu “nhỏ” đã tự thiêu để chấm dứt nỗi đau cùng cực không có hồi kết Thật thương tâm khi đối với các em cái chết còn dễ chịu hơn sự sống
Năm 2017, khoảng 14% phụ nữ Indonesia kết hôn khi chưa tròn 18 tuổi
và 1% kết hôn trước tuổi 15 Báo cáo về tảo hôn đầu tiên của Indonesia thực hiện bởi chính quyền và UNICEF năm 2016 khẳng định tảo hôn là vi phạm nghiêm trọng quyền con người của trẻ em gái, bao gồm quyền đi học, quyền sức khỏe, quyền có thu nhập trong tương lai và quyền được đảm bảo an toàn
Nghiên cứu của tổ chức phi chính phủ Plan cho thấy tảo hôn "gây ra những hậu quả mang tính tàn phá, dẫn đến đói nghèo lâu dài, rủi ro về sức khỏe liên quan đến việc mang thai sớm" Các cô dâu trong những trường hợp tảo hôn cũng thường là nạn nhân của bạo hành gia đình
Các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng Fielding của UCLA phát hiện có khoảng 78.000 trẻ em Mỹ từ 15 đến 17 tuổi đã kết hôn
Brazil là nơi có số vụ kết hôn trẻ em lớn thứ tư trên thế giới Khoảng 1 triệu phụ nữ ở độ tuổi 20-24 đã kết hôn trước khi được 15 tuổi và 3 triệu người
Trang 18kết hôn trước 18 tuổi Tuổi kết hôn trung bình có sự đồng thuận của cha mẹ ở Brazil là 16 tuổi, trong khi tuổi trung bình có thai còn nhỏ hơn
Tảo hôn là một vấn nạn cần phải giải quyết càng sớm càng tốt Người ta ước tính rằng tới năm 2050, thế giới có khoảng 1,2 tỉ cô dâu chưa đến tuổi vị thành niên, chiếm khoảng 20% nữ giới Những cô gái này bị tổn thương nặng
nề về tinh thần và thể chất
Theo quy định của Ôt-xtrây-lia, người chưa thành niên được kết hôn phải
có sự tư vấn của người giám hộ, cha mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt với
sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan tư pháp địa phương hoặc tòa án các cấp
Ở Ấn Độ, tòa án tối cao Delhi đưa ra những phán quyết nghiêm khắc để trừng phạt những người vi phạm Luật nghiêm cấm Hôn nhân trẻ em Bất cứ trường hợp kết hôn giữa nam dưới 21 tuổi và nữ dưới 18 tuổi sẽ bị tuyên án là
vô hiệu Trẻ em gái đều có quyền tiếp cận với Tòa án theo mục 3 điều luật này
để tìm kiếm việc bảo vệ các quyền của mình thông qua hệ thống tư pháp Tuy nhiên, nếu trong trường hợp hôn nhân với trẻ em gái dưới 16 tuổi được coi là
đủ yếu tố cấu thành hành vi phạm tội theo điều 376 của Bộ luật Hình sự Ấn Độ
và sẽ bị truy tố, xét xử
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới chỉ đề cập đến thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn ở các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, giáo dục HS để phòng ngừa nạn tảo hôn và quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, cần thiết phải tiếp tục có những công trình nghiên cứu để tìm ra những biện pháp phòng ngừa và chấm dứt nạn tảo hôn ở các quốc gia hiện nay, đặc biệt là chấm dứt nạn tảo hôn ở môi trường học đường để các em có thể được sống, học tập và phát triển toàn diện về nhân cách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dân số cho mỗi quốc gia, cho nhân loại
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Thực trạng cho thấy tình trạng kết hôn sớm (tảo hôn) và hôn nhân cận huyết thống diễn ra khá phổ biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là
ở các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán Những hủ tục như cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép hôn mang tính gả bán, tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có người nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm nương rẫy, quan niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang
Trang 19của cải sang họ khác là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng kết hôn sớm, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ở Việt Nam, các tin tức, bài viết về vấn đề hôn nhân gia đình, đặc biệt là vấn đề tảo hôn xuất hiện tương đối nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc mới chỉ được một số nhà nghiên cứu quan tâm
Năm 2003, Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em thuộc Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm hôn nhân và gia đình các dân tộc H'Mông và Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng" Công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích, phản ánh rõ nét những đặc điểm cũng như thực trạng hôn nhân và gia đình của hai dân tộc H’Mông và Dao đồng thời đã đưa ra được những khuyến nghị cụ thể giúp cho việc hoạch định chính sách về dân số và gia đình Trong nghiên cứu này, thông qua việc tập trung đánh giá những vấn đề về hôn nhân và gia đình, như người quyết định hôn nhân, tiêu chí lựa chọn trong hôn nhân, tuổi kết hôn lần đầu, nhóm tác giả cũng đã đề cập đến hiện tượng tảo hôn, việc đăng ký kết hôn, các nghi lễ trong hôn nhân và một số đặc điểm về gia đình của hai dân tộc H’Mông và Dao
ở hai địa phương trên [40]
Tác giả Đỗ Thuý Bình - Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (nay là Viện Gia đình và Giới) trong đề tài "Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" (1994) đã mô tả tương đối chi tiết thực trạng hôn nhân và gia đình ở đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam; phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là phong tục tập quán đối với vấn đề hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc [6]
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương với đề tài: "Áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật Việt Nam", luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007 Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí, vai trò của phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là hết sức cần thiết trong việc "hỗ trợ" Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình đối với nhóm chủ thể đặc thù là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện thuận lợi cho pháp luật hôn nhân và gia đình
Trang 20dễ dàng đi vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, chung sống không đăng ký kết hôn… nhằm nâng cao hiệu quả thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam [33]
Tác giả Hoàng Thị Tây Ninh với đề tài "Thực trạng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại Hà Giang", luận văn thạc sĩ xã hội học - trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, năm 2008 đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến hiện tượng kết hôn sớm trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Hà Giang, đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ kết hôn sớm để tăng cường chất lượng sống của các gia đình trẻ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở địa bàn nghiên cứu [30]
Tác giả Nguyễn Văn Mạnh có bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (136) năm 2017, đề cập đến vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế Tác giả chỉ ra rằng nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở đồng bào các dân tộc thiểu số còn diễn biến khá phức tạp và chưa có chiều hướng giảm Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn tới nạn tảo hôn, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế về nhận thức, ảnh hưởng nặng nề từ những quan niệm, tập tục lạc hậu; do điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu công ăn việc làm; do các chế tài xử phạt vi phạm hôn nhân chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống [28]
Trong cuốn sách “Bàn về giáo dục pháp luật” của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Các tác giả đã đưa ra khái niệm giáo dục pháp luật, nghiên cứu về đối tượng, vai trò, chủ thể, phương pháp giáo dục, làm rõ mục đích của việc giáo dục pháp luật từ đó làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu
Tác giả Dương Thanh Mai với đề tài luận án tiến sĩ năm 1996 “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp” đã đi sâu phân tích công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta; đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, đây là khâu đầu tiên rất quan trọng trong hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật
Tác giả Ths Phạm Minh Sơn có bài viết đăng trên trang báo Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình ngày 10/4/2016, đã đề cập đến rất nhiều nội
Trang 21dung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình, quy định về kết hôn cận huyết thống phục vụ công tác DS-KHHGĐ Trong đó tác giả chỉ ra nhiều biện pháp, hình thức tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật
về hôn nhân và gia đình cho người dân, nhất là ở các địa phương vùng cao, vùng sâu, vùng xa
Các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung của hôn nhân và gia đình hoặc một vài khía cạnh về giáo dục pháp luật mà chưa tập trung đánh giá một cách toàn diện thực trạng và các nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng kết hôn sớm trước tuổi quy định - một hiện tượng còn phổ biến trong các nhóm cộng đồng dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tảo hôn, hôn nhân cận huyết có ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc cuộc sống gia đình
và những vấn đề liên quan như sức khoẻ sinh sản, mức sinh, chất lượng sống Việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tỷ lệ tảo hôn cũng chưa được quan tâm một cách thích đáng
Năm 2015, Chính phủ thực hiện chiến lược công tác dân tộc, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025" đã giao cho Ủy ban Dân tộc xây dựng Đề án để triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số Đề án đã chỉ rõ, tình trạng tảo hôn nhìn chung có giảm trên quy mô toàn quốc, nhưng vẫn diễn ra khá phổ biến ở vùng nông thôn, miền núi, nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống
Năm 2015, UBND tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định số UBND ngày 29/9/2015 về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2015-2025” Trong đó tập trung chỉ đạo xây dựng, triển khai các hoạt động nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại các xã có tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống cao Cụ thể:
928/QĐ Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, hôn nhân cận huyêt thống, tảo hôn
- Thông qua các hoạt động tổ chức tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành Pháp luật về hôn nhân và gia đình, chuyển đổi hành
vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiều số góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 22- Tạo sự đồng thuận của đồng bào dân tộc thiều số, tăng cường cơ chế phối hợp vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn thể trong việc tuyên truyền phổ biến Luật Hôn nhân và Gia đình nói chung và các văn bản về hôn nhân và gia đình cận huyết thống, tảo hôn
Kết quả qua 2 năm đầu thực hiện đề án, theo bà Chu Thùy Liên, Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên cho biết: Số liệu báo cáo năm 2017, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống còn xảy ra ở hầu hết các địa phương
và chưa có xu hướng giảm Toàn tỉnh hiện còn 3.062 trường hợp tảo hôn và 94 trường hợp hôn nhân cận huyết thống Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tập trung chủ yếu ở đồng bào các DTTS, nhiều nhất là dân tộc Mông, Thái, Dao, Khơ Mú… Độ tuổi tảo hôn trung bình của nam từ 16, nữ từ 14 tuổi Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà còn gây ra nhiều hậu quả nặng nề đối với cá nhân và
xã hội; làm gia tăng nhanh về số lượng, giảm chất lượng dân số, suy thoái giống nòi, gây khó khăn cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, chăm sóc sức khỏe sinh sản người phụ nữ… Từ đó, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên
Như vậy, các số liệu và thông tin tổng hợp trên cho thấy ở Việt Nam, các nghiên cứu về nạn tảo hôn mới chỉ được nghiên cứu dưới góc độ xã hội học, dân tộc học, luật học, hoàn toàn thiếu vắng các nghiên cứu chính thức dưới góc
độ giáo dục học và quản lý giáo dục Vì vậy, nghiên cứu thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS, đặc biệt là HS các trường PTDTBT THCS là một việc làm cấp thiết, cần sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà giáo dục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong môi trường luôn biến động [26]
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt nên quản lý giáo dục được hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục:
- Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất [26]
Trang 23- Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [40]
- Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [38]
- Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [54]
Những khái niệm về quản lý giáo dục nêu trên tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung lại có thể hiểu: Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản
lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là
nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kĩ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng
của giáo dục và đào tạo Hiểu một cách cụ thể là:
- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định
1.2.2 Tảo hôn, nạn tảo hôn, nạn tảo hôn của HS
* Khái niệm tảo hôn
Từ góc độ pháp luật, tảo hôn là hiện tượng kết hôn của hai người nam và
nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, luật pháp mỗi quốc gia lại quy định về tuổi kết hôn khác nhau Ở Anh độ tuổi kết hôn đối với cả nam, nữ theo pháp luật là từ 16 tuổi trở lên và cấm kết hôn giữa những người họ hàng trong phạm vi 4 đời Còn ở Pháp tuổi kết hôn được pháp luật quy định đối với nam là 18 và với nữ là 16 tuổi, đồng thời pháp luật cũng cấm những người có quan hệ họ hàng trong phạm vi 3 đời kết hôn với nhau
Trang 24Ở Việt Nam, khi thực hiện việc kết hôn, ngoài yếu tố tự nguyện, một trong những điều kiện phải tuân thủ là độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Theo khoản 1 Điều 8, Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014, độ tuổi kết hôn đối với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và đối với nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta nhằm đảm bảo cho sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của nam, nữ thanh niên và điều quan trọng là để họ có thể đảm đương trách nhiệm làm vợ, chồng, làm cha, mẹ khi bước vào cuộc sống gia đình Tuân thủ quy định về độ tuổi kết hôn là cơ sở cần thiết để hạnh phúc gia đình bền vững
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà việc nam, nữ kết hôn trước tuổi luật định vẫn diễn ra ở một số vùng miền trên
cả nước, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi nơi mà trình độ dân trí cũng như cơ sở hạ tầng, chất lượng cuộc sống còn lạc hậu, chưa phát triển
Theo đại từ điển tiếng Việt thì việc lấy chồng, lấy vợ quá sớm khi chưa
đủ tuổi pháp luật cho phép gọi là tảo hôn [55]
Về phương diện khoa học pháp lý, từ điển Luật học định nghĩa "tảo hôn là kết hôn khi chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật" [13] Theo cách
hiểu này thì tảo hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật, có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện độ tuổi kết hôn
Tại khoản 8, Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 giải
thích "tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này" Theo cách
giải thích của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện nay tồn tại các quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tảo hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng
có đăng ký kết hôn nhưng một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
- Quan điểm thứ hai cho rằng, tảo hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng không đăng ký kết hôn và một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
- Quan điểm thứ ba cho rằng, tảo hôn bao gồm cả hai trường hợp trên: tảo hôn là việc hai bên nam, nữ lấy vợ, lấy chồng có đăng ký kết hôn hoặc không đăng ký kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
Trang 25Từ các cách tiếp cận và các quan điểm nêu trên, tảo hôn có thể hiểu:
- Tảo hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng có đăng ký kết hôn nhưng một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật
- Tảo hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng không đăng ký kết hôn và một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật
Như vậy, việc xác lập "quan hệ vợ chồng" giữa nam, nữ khi một hoặc hai bên chưa đủ tuổi kết hôn đều bị coi là tảo hôn mà không phụ thuộc vào việc xác lập quan hệ đó có tuân theo quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn hay không Những hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn đều bị coi là vi phạm quy định của pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính, hoặc quy định tại Điều 145, Bộ Luật Hình sự năm 2015, ngày 27 tháng 11 năm 2015 về truy cứu trách nhiệm xử lý hình sự
* Nạn tảo hôn
Từ trước đến nay, cụm từ "nạn tảo hôn" được đề cập đến rất nhiều nhưng mới chỉ nêu ra một vài khía cạnh nào đó chứ chưa có một khái niệm cụ thể về nạn tảo hôn
Theo từ điển tiếng Việt [31], xét theo nghĩa danh từ: "nạn" là hiện tượng trong thiên nhiên hoặc xã hội gây hại lớn cho con người như nạn đói, nạn tham
ô, nạn cháy rừng Theo nghĩa hán việt, chữ “nạn” là điều rủi ro, gặp sự khó khăn, đem điều khó ra mà hỏi; "vấn nạn" là câu hỏi khó, câu hỏi lắt léo, Như
vậy, từ cơ sở các khái niệm: nạn, vấn nạn, tảo hôn, chúng ta có thể hiểu: nạn tảo hôn là hiện tượng nam, nữ lấy vợ, lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, gây ra những hệ lụy, rủi ro khó lường cho gia đình, cho xã hội, góp phần làm suy giảm sức khỏe giống nòi và sự phát triển bền vững của xã hội
* Nạn tảo hôn của HS
Nạn tảo hôn của HS là hiện tượng HS lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, gây ra những hệ lụy, rủi ro cho nhà trường, gia đình và xã hội như mù chữ, tái mù chữ, đói nghèo, thất học, thất nghiệp, làm suy giảm sức khỏe giống nòi, sức khỏe sinh sản vị thành niên, ảnh hưởng đến sự an toàn tính mạng bà mẹ và trẻ em, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội
Tảo hôn, kết hôn sớm đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay Rất nhiều HS phải nghỉ học để kết hôn sớm, nhiều nhất là độ tuổi 14 - 16 Các em buộc phải
Trang 26trở thành người lớn, thực hiện vai trò người chồng, người cha, người vợ, người
mẹ khi bản thân vẫn còn là những trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ
1.2.3 Phòng ngừa, phòng ngừa nạn tảo hôn
- Theo từ điển tiếng Việt (2010) phòng ngừa là “phòng trước không để cho cái xấu, cái không hay xảy ra” [31]
- Phòng ngừa nạn tảo hôn là ngăn chặn trước, phòng trước không để xảy
ra thực trạng nam, nữ lấy vợ, lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, nhằm tránh gây ra những hệ lụy, rủi ro khó lường cho gia đình, cho xã hội, góp phần nâng cao sức khỏe giống nòi và sự phát triển bền vững của xã hội
1.2.4 Giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn
- Giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn là quá trình tác động đến nhận thức của con người, cộng đồng, của mỗi cá nhân về mối nguy hiểm và hậu quả của nạn tảo hôn; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình; ngăn ngừa trước, không để thực trạng tảo hôn xảy ra
- Hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục đến HS, giúp HS nhận thức rõ về bản chất, nguyên nhân và tác hại, hậu quả của nạn tảo hôn; từ đó giúp đỡ, định hướng cho
HS thực hiện những hành vi, việc làm cụ thể, những biện pháp cần thiết để phòng ngừa, đẩy lùi, ngăn chặn nạn tảo hôn có thể xảy ra ở HS, ở cộng đồng xã hội
Luật Giáo dục năm 2015 quy định đối với tất cả các GV, người làm công tác quản lý giáo dục ngoài giúp HS lĩnh hội tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, còn phải giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách của người học, dạy chữ phải đi đôi với dạy người; phải xây dựng và
tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục môt cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển toàn diện nhân cách người học, phải tăng cường phòng, chống bạo lực học đường, phòng chống nạn tảo hôn và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình, cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của
HS, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình xảy ra trong môi trường học đường
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức cần thiết cho HS Là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục (GV) và đối tượng giáo dục (HS) nhằm
Trang 27đạt được mục tiêu giáo dục Qúa trình này bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích giáo dục, nhiệm vụ giáo dục; nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục; chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục…
Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để thực hiện quá trình tác động đến nhận thức của con người, cộng đồng, của mỗi cá nhân HS về mối nguy hiểm và hậu quả của nạn tảo hôn, ngăn ngừa trước, không để nạn tảo hôn xảy ra trong trường học
Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS PTDTBT THCS là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV,
HS PTDTBT THCS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để thực hiện quá trình tác động đến nhận thức của cộng đồng, của cha mẹ HS và HS PTDTBT THCS về mối nguy hiểm và hậu quả của nạn tảo hôn, ngăn ngừa trước không để nạn tảo hôn xảy ra trong trường học
Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong môi trường học đường được hiểu như là một hệ thống tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của nhà quản lý (Hiệu trưởng) đến GV, HS, các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của
họ vào việc thực hiện các hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong nhà trường, giúp cho hoạt động này diễn ra có hiệu quả, đáp ứng được các mục tiêu giáo dục nhất định
1.3 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho
HS ở các trường PTDTBT THCS
1.3.1 Trường PTDTBT THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT (ban hành kèm theo thông tư số: 24 /2010/TT-BGDĐT ngày 02 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) và Thông tư số 30/2015/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT ban hành kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định như sau:
Trường PTDTBT THCS là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn
Trang 28đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường PTDTBT THCS được tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ trường trung học cơ sở Là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, nằm giữa bậc tiểu học và bậc trung học phổ thông Bậc trung học cơ sở kéo dài 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9, độ tuổi của trẻ khoảng từ 11 đến 15 tuổi Đây là một bậc học bắt buộc, sau khi học xong trung học cơ sở, HS có thể học tiếp lên trung học phổ thông hoặc học nghề hay học trung cấp chuyên nghiệp
Trường PTDTBT THCS có ít nhất 50% HS bán trú và có ít nhất 50% trong tổng số HS của toàn trường là người dân tộc thiểu số HS bán trú là HS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở
- Tổ chức nuôi dưỡng và chăm sóc HS bán trú
- Thực hiện chế độ chính sách theo quy định tại Điều 6 của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT
- Thực hiện xã hội hóa để phục vụ các hoạt động giáo dục của trường PTDTBT
1.3.2 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của HS phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở
HS phổ thông dân tộc bán trú THCS là lứa tuổi đang trong giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi Lứa tuổi này có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: "thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi khủng hoảng", "tuổi bất trị",
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
Ở lứa tuổi HS THCS có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động của các em
Trang 29Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn, trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội Mặt thứ hai, những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn:
sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất
ít Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình
có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập,… còn quan
hệ với bạn gái như trẻ con Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi HS THCS có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này
HS các trường PTDTBT THCS là con em các đồng bào dân tộc thiểu số
ở miền núi, vùng sâu, vùng xa của tổ quốc Các gia đình đa số nền kinh tế còn nghèo, đời sống nhân dân lạc hậu Trong dân cư còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu, tỉ lệ mù chữ, tái mù cao so với mặt bằng chung của cả nước Nhiều địa phương, làng bản còn xu hướng sống co cụm ít giao lưu, trao đổi văn hóa, kinh
tế giữa các vùng miền, còn tự canh, tự cung, tự cấp Điều đó dẫn tới tình trạng người dân, kể cả các em HS ở vùng cao, vùng sâu ngại giao tiếp, ngại tiếp thu những cái mới, ngại thay đổi Họ sống tự nhiên như những gì vốn có, chấp nhận hủ tục trong đó có nạn tảo hôn như một điều tất yếu
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý ở lứa tuổi HS THCS, hiểu rõ đời sống văn hóa, thói quen, những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của HS các trường PTDTBT THCS sẽ giúp nhà giáo dục, các
Trang 30CBQL (Hiệu trưởng) có cách đối xử và giáo dục đúng đắn để các em không tảo hôn, không lấy vợ, lấy chồng sớm, phấn đấu có một cuộc sống ổn định, phát triển
1.3.3 Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho
HS ở các trường PTDTBT THCS
Giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS trước hết giúp cho môi trường giáo dục học đường được lành mạnh Nhà trường là địa chỉ tin cậy để thu hút HS vào trường Thông qua công tác này giúp nâng cao uy tín, thương hiệu của các nhà trường, của ngành giáo dục với
xã hội
Đối với bản thân HS, việc phòng ngừa nạn tảo hôn ở môi trường học đường giúp cho các em yên tâm tập trung vào học tập, tập trung lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, giúp cho các em thêm yêu quý mái trường, bạn bè Các em không bị cuốn vào vòng luẩn quẩn của các hủ tục, các thói quen xấu trong đời sống xã hội ở vùng sâu, vùng xa, miền núi Các em dần trưởng thành trong suy nghĩ và hành động, biết nhờ cậy thầy cô, người lớn hoặc tự mình đấu tranh chống lại các hủ tục lạc hậu như tảo hôn, lấy vợ lấy chồng sớm; phấn đấu học tập trở thành người có ích cho xã hội, trở thành tuyên truyền viên tích cực
ở địa phương, trong gia đình về phòng, chống và loại bỏ nạn tảo hôn ở các tỉnh miền núi hiện nay
Đối với mỗi gia đình, việc nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn là điều kiện cần thiết, là cơ sở của tương lai để xây dựng những gia đình không có nạn tảo hôn, không có tình trạng HS bỏ học lấy
vợ, lấy chồng sớm Là cơ sở để gia đình tin tưởng giao con em của mình cho nhà trường để HS được học tập trong môi trường lành mạnh tạo ra niềm hạnh phúc cho mỗi gia đình Gia đình tin tưởng vào nhà trường, sẵn sàng đóng góp
về tinh thần và vật chất để xây dựng trường học ngày càng hoàn thiện, phát triển hơn
Đối với toàn xã hội, thực hiện tốt việc phòng ngừa nạn tảo hôn trong các nhà trường sẽ góp phần làm tăng chất lượng dân số, bảo vệ sức khỏe sinh sản
vị thành niên, góp phần ổn định xã hội, giảm thiểu nguy cơ nghèo đói, thất nghiệp, mù chữ Mặt khác, phòng ngừa nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống xảy ra với HS làm giảm thiểu sự suy đồi của đạo đức xã hội, góp phần ngăn chặn nhưng hành vi sai lệch đáng báo động của một bộ phận giới trẻ hiện nay Phòng ngừa nạn tảo hôn còn giúp ổn định an ninh trật tự xã hội, góp phần
Trang 31không nhỏ đến việc phát triển nhân cách của HS, nhất là HS dân tộc thiểu số đang theo học ở các trường PTDTBT THCS trên cả nước
1.3.4 Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
1.3.4.1 Nội dung giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
- Hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong trường học nhằm giúp HS tăng cường khả năng nhận diện hậu quả và nguyên nhân của nạn tảo hôn Chuẩn bị cho HS sự sẵn sàng về tâm lý đấu tranh chống lại nạn tảo hôn, đấu tranh và giải thích cho cha mẹ, cho cộng đồng địa phương hiểu những hệ lụy, rủy ro từ việc kết hôn sớm, từ việc sinh con trước tuổi luật định
- Nâng cao nhận thức cho HS về nguy cơ và hậu quả của tảo hôn Những tổn thương về tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của HS khi trở thành nạn nhân của tảo hôn Đặc biệt, nạn tảo hôn đang làm suy thoái giống nòi, ảnh hưởng vô cùng lớn tới sự phát triển nhân cách của trẻ - thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước Trong cuộc đấu tranh này, không ai đứng ngoài cuộc Việc tuyên truyền về nguy cơ và hậu quả của nạn tảo hôn, nhà trường và các phương tiện truyền thông có vai trò quan trọng để giúp HS có ý thức phòng ngừa nạn tảo hôn
- Những nội dung giáo dục có liên quan đến chuẩn mực đạo đức, phương thức ứng xử giữa HS với HS, HS với GV, HS với cha mẹ, với gia đình có ý nghĩa quan trọng Tảo hôn sẽ không xảy ra khi HS có nhận thức đúng về sức khỏe sinh sản, tính mạng của bản thân; quyền được bảo vệ về sức khỏe và tính mạng của mình; quyền được học tập, được phát triển toàn diện về nhân cách
HS tiếp thu các chuẩn mực đạo đức, có khả năng giao tiếp tốt, biết cách xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh là điều kiện cần thiết để các em trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc chiến chống lại nạn tảo hôn mà chính các em có thể là nạn nhân
Các nội dung giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS, bao gồm:
- Giáo dục giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi HS THCS
- Giáo dục ý thức, kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng ngừa nạn tảo hôn, xâm hại tình dục và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện
Trang 32- Tăng cường khả năng ứng phó, kỹ năng từ chối, kỹ năng giải quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan tình cảm với bạn khác giới cho HS bán trú
- Giáo dục ý thức, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn với cha mẹ, với cộng đồng khi bị ép kết hôn sớm (tảo hôn)
- Giáo dục ý thức chấp hành pháp luật; Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành
- Đấu tranh lên án các phong tục, tập quán lạc hậu xâm phạm quyền trẻ
em, quyền con người về kết hôn, duy trì nòi giống
- Giáo dục ý thức chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường, xây dựng trường học thân thiện, bạn bè tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau
- Giáo dục học sinh có thái độ tích cực trong đấu tranh phòng ngừa tảo hôn của bản thân và bạn bè
- Giáo dục học sinh có hành vi đúng mực trong quan hệ tình cảm với bạn khác giới
- Giới thiệu, hỗ trợ đưa HS đến các cơ sở y tế, các chuyên gia điều trị tâm lý khi HS gặp bất lợi về sức khỏe sinh sản, tình cảm khác giới, tổn thương tâm lý mà nhà trường không giải quyết được
1.3.4.2 Phương pháp giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
Phương pháp giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS hiện nay được thực hiện khá đa dạng, phong phú Phòng chống nạn tảo hôn trong môi trường học đường phải được các CBQL trường học, các thầy cô giáo và HS chủ động tham gia tích cực và thường xuyên, được thực hiện mọi nơi, mọi lúc, đồng thời được các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh HS phối hợp thực hiện Tập trung ở một số các phương pháp sau:
- Phương pháp thuyết phục: Phương pháp này được sử dụng trong các
hoạt động dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giúp cho
HS nhận thức đúng, sai trong những hành vi ứng xử của bản thân đối với bạn
bè xung quanh, với bạn khác giới, với cha mẹ, dòng họ
- Phương pháp nêu gương: Đây là phương pháp sử dụng việc giáo dục
bằng truyền thống, giáo dục bằng những tấm gương tốt để cho HS noi theo Những tấm gương được sử dụng thường là những người có uy tín, thân thuộc đối với HS như: ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo, anh chị HS khóa trước, những người thành đạt ở địa phương, những người có ảnh hưởng tích cực trên mạng
xã hội…Phương pháp này giúp các em nhìn vào những tấm gương để phấn đấu noi theo Đây là phương pháp có nhiều ưu thế trong giáo dục phòng ngừa nạn
Trang 33tảo hôn vì cơ chế tâm lý của trẻ em là cơ chế bắt chước nên các em dễ dàng học theo những phẩm chất tốt, những việc làm đúng đắn của các tấm gương
- Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp GV dựa trên tri giác có
chủ định nhằm xác định các đặc điểm tâm lý của HS qua hành vi, cử chỉ, hành động, xúc cảm của HS
Phương pháp này cho phép những người thực hiện công tác giáo dục HS phòng ngừa nạn tảo hôn nắm được những biểu hiện về diễn biến tâm lý của HS trong quá trình trò chuyện, từ đó có sự điều chỉnh về cách thức tác động đến
HS sao cho phù hợp Mặt khác, phương pháp quan sát còn giúp tổ quản lý HS bán trú, Ban Giám hiệu, GV chủ nhiệm nắm được những biểu hiện trong đời sống sinh hoạt, trong tình cảm của HS bán trú, từ đó có kế hoạch giáo dục, tác động phù hợp hiệu quả tới HS
- Phương pháp đóng vai và xử lý tình huống: Đây là phương pháp giúp
HS vào những vai theo ý đồ của nhà giáo dục Tổ chức cho HS thực hành (làm thử) một số cách ứng xử trong tình huống giả định
Phương pháp này giúp HS suy nghĩ sâu sắc về nạn tảo hôn bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà HS quan sát được Từ sự trải nghiệm, quan sát
và đánh giá tình huống, HS được rèn luyện về những kỹ năng giải quyết các vấn đề của bản thân mình
Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục phòng ngừa tảo hôn cho HS, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, vốn kinh nghiệm sống của HS, với điều kiện thực tế của cộng đồng dân cư ở địa phương; đồng thời tình huống cần
để mở và phải có nhiều cách giải quyết để HS tự tìm ra phương án và cách ứng
xử phù hợp
Sau khi đóng vai và kết thúc tình huống, HS thảo luận về các hành động của mỗi nhân vật, đồng thời suy nghĩ về những câu hỏi đặt ra như: Vấn đề cần phải giải quyết trong tình huống đó là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến khó khăn, vướng mắc của nhân vật trong tình huống? Có thể có những cách giải quyết nào đối với vấn đề của nhân vật? Từ đó, gợi dẫn HS đưa ra các biện pháp giải quyết vấn đề có hiệu quả, đồng thời thảo luận về những khía cạnh phù hợp trong những điều kiện tình huống khác nhau
- Phương pháp khen thưởng, khích lệ, động viên HS: Phương pháp này
thường được CBQL, GV sử dụng trong các giờ chào cờ đầu tuần và các tiết sinh hoạt Thay mặt nhà trường, Hiệu trưởng hoặc GV chủ nhiệm thực hiện việc khen gợi, động viên những tập thể, cá nhân có thành tích học tập tốt, tích
Trang 34cực tham gia hiệu quả hoạt động phòng chống nạn tảo hôn Phương pháp này
có tác dụng lan truyền tâm lý giúp động viên, khích lệ HS khi các em có những thành tích học tập, thành tích trong phòng ngừa nạn tảo hôn ở nhà trường
- Phương pháp phê bình, trách phạt HS: Bên cạnh những biện pháp
mang tính nhân văn, việc giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cũng cần có những biện pháp mạnh để giúp cảnh tỉnh, giúp HS suy nghĩ sâu sắc tự điều chỉnh hành vi của mình Khi sử dụng phương pháp này cần kết hợp với các phương pháp khác như động viên, thuyết phục thì mới mang lại hiệu quả cao trong hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Là phương pháp thu thập thông
tin về học sinh trên diện rộng thông qua hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước Trong giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, phương pháp điều tra được sử dụng để khảo sát thực trạng tảo hôn của học sinh, khảo sát nhu cầu, mong muốn, vấn đề khó khăn học sinh đang gặp phải trong học tập, trong cuộc sống, trong tình cảm và cách thức học sinh đã sử dụng để phòng chống tảo hôn
Triển khai việc lấy thông tin theo nội dung phiếu một cách khách quan, dành đủ thời gian cho việc chia sẻ các quan điểm, ý kiến các nhân về các nội dung được gợi ý trong phiếu
Tiến hành tổng hợp, hệ thống hóa thông tin theo vấn đề đã xây dựng; phân tích và phân loại thông tin phục vụ cho các mục đích giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS
- Phương pháp trực quan (thông qua tranh ảnh, phương tiện kỹ thuật khác):
Đây là phương pháp giáo viên sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật trong quá trình giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn, nhằm giúp học sinh nhận diện vấn đề và từ đó có các biện pháp giải quyết khó khăn về tình cảm, về tảo hôn mà học sinh đang gặp phải
Phương pháp trực quan có thể được sử dụng với các hình thức như minh họa, trình bày gắn liền với việc giáo viên hoặc các chủ thể giáo dục khác sử dụng phim, băng hình video về những nội dung cần tư vấn, cần góp ý hoặc gợi dẫn học sinh thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân ra hình vẽ, cách thức sắp xếp đồ vật… từ đó có cách ứng xử phù hợp với các vấn đề liên quan đến tảo hôn trong học đường và ngoài xã hội
Trang 35Ngoài các phương pháp phổ biến trên mỗi nhà trường còn sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp khác tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của nhà trường
và đặc điểm tâm lý của những HS cần tác động như: phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình; phương pháp kể chuyện (về các tấm gương),
1.3.4.3 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS
Trong quá trình giáo dục thì giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cũng là một hoạt động nằm trong quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành thông qua những hình thức tổ chức sau:
- Thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm cho người
được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, nhân cách Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử, Giáo dục công dân,… có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho người học Những kiến thức các bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ, cách ứng xử, hành vi trong phòng ngừa nạn tảo hôn Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục nhân cách HS Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân cách và ý thức… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng… tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân, giảm thiểu các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội
- Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như các hoạt động
đoàn thể và hoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của HS là rất thích hoạt động, hứng thú với các hoạt động phong trào Vì vậy, cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề có nội dung giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý của
HS để lôi cuốn các em tham gia, thông qua đó giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường như chính quyền, đoàn thể, các câu lạc bộ,… Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục phòng ngừa tảo hôn cho HS
- Thông qua sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ: Đây là một trong các hình
thức hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức cho HS về nạn tảo hôn Các thầy cô thường lồng ghép giáo dục nhiều nội dung vào các giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ vì hình thức sinh hoạt này có ưu thế giáo dục được đông đảo cho HS trong toàn trường, đồng thời giáo dục đến từng HS ở các lớp học cụ thể
Trang 36- Giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn thông qua con đường tự rèn luyện,
tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi HS Mỗi HS từ chỗ là đối tượng của
quá trình giáo dục phòng, chống nạn tảo hôn sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục phòng, chống nạn tảo hôn Đặc biệt đối với HS PTDTBT THCS, cần thiết phải khơi dậy và kích thích các em tự giác, tích cực, tự giáo dục bản thân,
tự đấu tranh loại bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, các hủ tục của dân tộc mình, của gia đình và địa phương Chỉ khi HS đủ nhận thức và tự giác đấu tranh với chính bản thân mình noi gương cái tốt, bỏ cái xấu thì nạn tảo hôn mới được xóa bỏ triệt để
- Thông qua tham vấn tâm lý học đường: Khi học sinh gặp khó khăn tâm
lý, khó khăn về tình cảm hoặc bị cha mẹ ép tảo hôn các em tìm đến các tư vấn viên tâm lý để nhờ trợ giúp nhằm tìm ra biện pháp thích hợp để xử lý các vấn
đề bản thân đang gặp phải
- Thông qua các tấm gương đạo đức ở địa phương, ở nhà trường: Mỗi
tấm gương sáng ở địa phương đều có tác dụng tích cực giúp học sinh nhận thức đúng đắn về nạn tảo hôn và từ đó học tập theo các tấm gương, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, thành người có ích cho xã hội sau này
- Thông qua hoạt động trải nghiệm: Cho học sinh đi gặp gỡ, quan sát, trao
đổi trực tiếp với các "nạn nhân" của nạn tảo hôn để nhìn nhận, đánh giá hậu quả của tảo hôn, của sinh con sớm từ đó nhận thức được tác hại của nạn tảo hôn đối với thế hệ trẻ nói chung và học sinh THCS bán trú nói riêng Có ý thức phấn đấu
và rèn luyện để phát triển bản thân, đồng thời tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa nạn tảo hôn trong môi trường học đường và ở địa phương
- Thông qua hoạt động của Hội cha mẹ HS, các tổ chức chính trị, xã hội
ở địa phương giáo dục phòng ngừa tảo hôn cho HS: Để giáo dục phòng ngừa
nạn tảo hôn cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội, sự vào cuộc của chính quyền địa phương, của các tổ chức chính trị xã hội, của Hội cha mẹ học sinh mỗi nhà trường Các tổ chức này kết hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ Luật Hôn nhân và Gia đình cho học sinh,
có ý thức bảo vệ sức khỏe sinh sản của bản thân, đấu tranh bài trừ nạn tảo hôn
ra khỏi trường học để các em học sinh được sống, học tập và sinh hoạt (bán trú) trong môi trường lành mạnh, vì một tương lai tươi sáng
Các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn nói trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà giữa nhà trường, gia
Trang 37đình và xã hội Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình Trong đó, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục là hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn mới của HS mới đạt kết quả mong muốn
1.3.5 L ực lượng giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS
Để thực hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS cần sự tham gia vào cuộc của tất cả các ban ngành, các lực lượng chức năng, các tổ chức chính trị và toàn xã hội, đặc biệt lực lượng chính là các tổ chức giáo dục và mỗi nhà trường bán trú THCS Trong các thành phần đó thì lực lượng chủ yếu thực hiện các hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, bao gồm:
- Các tư vấn viên tâm lý: Đây là lực lượng có trình độ chuyên môn cao, hiểu rõ đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh, họ dễ dàng tiếp cận và tư vấn cho học sinh cách phòng trách tảo hôn, yêu sớm, có thai ngoài ý muốn Tuy nhiên, lực lượng này hiện nay còn mỏng, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, các trường quốc tế ở trong nước, còn các trường miền núi, vùng sâu, vùng xa thì rất
ít khi mời được các tư vấn viên tâm lý về tư vấn cho học sinh
- Cán bộ tổ phụ trách học sinh bán trú: Mỗi trường THCS bán trú đều có
tổ phụ trách học sinh bán trú gồm các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ hành chính, y tế, Ban Giám hiệu, đại diện Hội cha mẹ học sinh Lực lượng này luôn sâu sát với học sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh bán trú từng "miếng ăn, giấc ngủ", luôn giúp đỡ các em trong cuộc sống cũng như trong học tập, là lực lượng quan trọng trong công tác giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh phổ thông bán trú THCS
- Giáo viên chủ nhiệm: Trong công tác giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm được xem là linh hồn của hoạt động Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi nhất với các em học sinh bán trú, được các em tin tưởng và sẵn sàng chia sẻ những điều thầm kín trong tình cảm và lắng nghe lời khuyên bảo của thầy cô giáo
- Giáo viên bộ môn:Thông qua hoạt động giảng dạy hàng ngày, giáo viên
bộ môn có thể lồng ghép, tích hợp giáo dục các vấn đề liên quan tới giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh
Trang 38- Giáo viên phụ trách Đoàn-Đội: Các hạt động phong trào luôn thu hút một lực lượng lớn học sinh tham gia, giáo viên khéo léo truyền tải các thông điệp, kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, sức khỏe giới tính, kiến thức luật Hôn nhân và Gia đình cho học sinh
- Ban Giám hiệu: Là người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh nói riêng của nhà trường Hiệu quả của công tác này phụ thuộc chủ yếu vào năng lực quản lý, điều hành và trách nhiệm của Ban Giám hiệu mà đứng đầu là Hiệu trưởng nhà trường
- Chuyên viên Phòng Giáo dục: Lực lượng này kết hợp với Ban Giám hiệu mỗi nhà trường lên kế hoạch tổ chức chỉ đạo hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh Chuyên viên Phòng Giáo dục cũng có thể là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến kiến thức sức khỏe sinh sản, kiến thức pháp luật Hôn nhân và Gia đình tới học sinh, phụ huynh và giáo viên để định hướng hành vi phù hợp cho học sinh trong ứng xử, tránh xa các tệ nạn xã hội, phòng tránh nạn tảo hôn, tạo sợi dây liên kết các lực lượng trong hoạt động giáo dục phòng chống nạn tảo hôn cho học sinh
- Hội cha mẹ học sinh: Kết hợp với nhà trường và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, giáo dục con em mình không vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con em mình phát triển đúng đắn
- Gia đình: Là người ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, thái độ và hành vi của trẻ Vì vậy, đây phải là lực lượng chính cùng với giáo viên chủ nhiệm, với nhà trường trong giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho các em học sinh
- Cán bộ chính quyền địa phương: Tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, chấp hành Luật Hôn nhân và Gia đình cho mỗi gia đình, cho cộng đồng dân tộc ở địa phương Xây dựng, phổ biến và thực hiện các biện pháp, các chế tài đủ mạnh, đủ hiệu quả trong công tác phòng chống nạn tảo hôn ở địa phương, cũng như nạn tảo hôn của học sinh ở mỗi trường học trên địa bàn mình quản lý
- Nhân viên y tế trong trường có thể phối kết hợp với giáo viên và nhà trường tuyên truyền, phổ biến kiến thức sức khoẻ sinh sản, cách phòng chống các bệnh lây lan qua đường tình dục cho học sinh.v.v
Trang 391.4 Lý luận về quản lý giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS ở các trường PTDTBT THCS
1.4.1 Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS với vai trò quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS
Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS là người do cơ quan Nhà nước cấp huyện có thẩm quyền bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS phải là người giảng dạy ít nhất 5 năm ở bậc trung học hoặc bậc cao hơn, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực quản lý, được bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, có sức khoẻ, được tập thể GV, nhân viên tín nhiệm
Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, bao gồm cả hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS, cụ thể như sau:
- Xây dựng, thành lập và điều hành Ban quản lý HS bán trú; Thành lập tổ
tư vấn, tuyên truyền giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; kế hoạch giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS theo các giai đoạn
- Quản lý GV, nhân viên; quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong trường học; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS của GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên theo quy định
- Nắm vững chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, có hiểu biết về phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và đặc điểm tâm lý HS dân tộc của địa phương để hỗ trợ GV trong hoạt động giáo giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS có hiệu quả
- Biết sử dụng ít nhất một tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương để giao tiếp với HS và cộng đồng; tiếp xúc với phụ huynh, gia đình HS tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền thực hiện nghiêm túc pháp luật, Luật Hôn nhân và Gia đình, không kết hôn sớm (tảo hôn), không sinh con trước tuổi luật định
- Phối hợp với chính quyền, các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội ở địa phương trong quản lý, chăm sóc HS bán trú; trong hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường; quản lý cơ sở vật chất phục
vụ cho các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục phòng ngừa
Trang 40nạn tảo hôn cho HS nói riêng Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành, phấn đấu để nhà trường không có HS tảo hôn.v.v
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Để thực hiện chức năng kế hoạch, Hiệu trưởng trường PTDTBT THCS cần xác định rõ mục tiêu phát triển giáo dục từ đó quyết định dùng những biện pháp mang tính khả thi
Chức năng lập kế hoạch có vai trò khởi đầu, định hướng cho quá trình quản lý; là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực; là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện các mục tiêu
Việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn của HS là một nội dung quan trọng của công tác quản lý của Hiệu trưởng trường PTDTBT Kế hoạch xây dựng cụ thể, chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường sẽ giúp việc thực hiện kế hoạch dễ dàng và mang lại kết quả cao Bản kế hoạch hướng tới các nội dung sau:
- Xác định mục tiêu giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS
- Xác định nội dung các hoạt động giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho học sinh như lồng ghép giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào nội dung các môn học như môn giáo dục công dân, sinh học; giáo dục văn hóa ứng xử, tình bạn tình yêu qua môn văn học, giáo dục công dân; kỹ năng tự vệ qua môn thể chất Dự kiến thời gian, nguồn nhân lực, yếu tố cơ sở vật chất, tài chính để
tổ chức thực hiện nội dung giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn trong môi trường học đường
- Xác định phương pháp, cách tổ chức giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn xảy ra ở môi trường học đường
- Xác định đặc điểm của môi trường học đường và dự đoán những khó khăn trong công tác giáo dục phòng ngừa nạn tảo hôn cho HS; Xác định những thời điểm, điều kiện hoàn cảnh, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc tảo hôn của HS
- Xác định phương thức triển khai hoạt động