Trong một ngày thì lúc hoàng hôn hay đêm khuya thanh vắng thường dễ gợi buồn nhất.Với những người đa cảm như Xuân Hương, đây là thời điểm mình sống thực với lòng mình vàchắc là tâm trạng
Trang 1- Những sáng tác của Hồ Xuân Hương bao gồm chữ Hán và chữ Nôm Bà là người phụ nữ duy
nhất trong xã hội Nho giáo có các tác phẩm đối đầu với các chuẩn mực xã hội lúc bấy giờ
- Tự tình nói lên tiếng lòng của tác giả, tâm trạng buồn và tủi cực cho hoàn cảnh duyên phận
muộn màng, lỡ dở nhưng tác giả cứ lạnh lùng trôi qua
* Thân bài.
- Hai câu đề:
+ Hình ảnh con người cô đơn ngồi một mình trong đêm khuya, cộng vào đó là tiếng trống canh
báo hiệu sự trôi chảy của thời gian
+ Cách dùng từ: Cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đời của chính mình
+ Câu thơ ngắt làm 3 như một sự chì chiết, bẽ bàng, buồn bực Cái hồng nhan ấy không được
quân tử yêu thương mà lại vô duyên, vô nghĩa, trơ lì ra với nước non
+ Hai câu thơ tạc vào không gian, thời gian hình tượng một người đàn bà trầm uất, đang đối diện với chính mình
- Hai câu thực:
+ Uống rượu mong giải sầu nhưng không được, Say lại tỉnh tỉnh càng buồn hơn.
+ Hình ảnh người phụ nữ uống rượu một mình giữa đêm trăng, đem chính cái hồng nhan củamình ra làm thức nhấm, để rồi sững sờ phát hiện ra rằng trong cuộc đời mình không có cái gì làviên mãn cả, đều dang dở, muộn màng
+ Hai câu đối thanh nghịch ý: Người say lại tỉnh, trăng khuyết vẫn khuyết, tức, bởi con ngườimuốn thay đổi mà hoàn cảnh cứ ỳ ra, con người rơi vào vòng luẩn quẩn, vô cùng cô đơn, buồn vàtuyệt vọng
- Hai câu luận:
+ Động từ mạnh: Xiên ngang, đâm toạc Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi thường, đầy sức sống:
Muốn phá phách, tung hoành - cá tính Hồ Xuân Hương: Mạnh mẽ, quyết liệt, tìm mọi cách vượtlên số phận
+ Phép đảo ngữ và nghệ thuật đối: Sự phẫn uất của thân phận rêu đá, cũng là sự phẫn uất, phảnkháng của tâm trạng nhân vật trữ tình
- Hai câu kết:
Trang 2+ Hai câu kết khép lại lời tự tình
+ Nỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuâncủa đất trời vẫn cứ tuần hoàn
+ Nỗi đau của con người lâm vào cảnh phải chia sẻ cái không thể chia sẻ: Mảnh tình san sẻ tí con con.
-+ Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đận của nhà thơ Cànggắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch
* Kết bài.
- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ
- Khẳng định vai trò của tác giả trong nền văn học trung đại Việt Nam
LUYỆN TẬP
1 Tâm trạng của hồ xuân hương qua bài thơ Tự tình 2.
Trong một ngày thì lúc hoàng hôn hay đêm khuya thanh vắng thường dễ gợi buồn nhất.Với những người đa cảm như Xuân Hương, đây là thời điểm mình sống thực với lòng mình vàchắc là tâm trạng của bà sau bao sóng gió cuộc đời cũng chẳng khác mấy tâm trạng Thuý Kiều
khi một mình một bóng trước ngọn đèn khuya: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa
Hồ Xuân Hương, nữ sĩ nổi tiếng thế kỉ XVIII đã được nhà thơ Xuân Diệu tôn vinh là Bà chúa thơ Nôm Theo giai thoại lưu truyền trong dân gian thì bà là người đa tài, đa tình, tính cách
phóng khoáng và giao thiệp rộng, có rất nhiều bạn văn chương Tuy thế, đường tình duyên của nữ
sĩ lại vô cùng lận đận, mấy lần lấy chồng đều không toại nguyện, vì thế mà bà luôn sống trong
tam trạng cô đơn Bài thơ Tự tình II có lẽ được sáng tác trong hoàn cảnh ấy Những cơn sóng cảm
xúc đang cuộn xoáy trong lòng khiến nữ sĩ suy tư trăn trở, thao thức thâu đêm Tiếng trống cầmcanh lâu lâu lại điểm, báo thời gian đang trôi qua:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.
Bước chân của đêm tối mới nặng nề, chậm chạp làm sao! Chậm chạp nhưng nó vẫn đi, còntâm trạng buồn thương của con người trong đêm khuya thì lắng đọng và chốc chốc lại như dồnnhư thúc, như chồng chất thêm lên khiến cho lòng càng nặng trĩu Nỗi đau đời âm ỉ, dai dẳngthiêu đốt tâm can nữ sĩ bấy lâu nay bật thốt thành lời chua chát, đắng cay Hồng nhan là gươngmặt đẹp, thường được dùng để chỉ phụ nữ nói chung và những người con gái đẹp nói riêng.Nhưng lại gọi với ý mỉa mai là cái hồng nhan thì nữ sĩ đã hạ nó xuống ngang hàng với những vật
vô tri vô giác Chao ôi! Biết bao là xót xa, hờn tủi trong cách gọi bất bình thường ấy! Lại còn trơ
Trang 3ra đó với nước non, có nghĩa là đã chai sạn mọi cảm giác, cảm xúc chứ không phải là trơ trọitrước cảnh nước non dào dạt sức sống, sức yêu Đó là tình cảnh và tâm trạng bi đát của nữ sĩ ởgiờ khắc đặc biệt này.
Tưởng như nỗi bất hạnh đã khiến tâm hồn hoá thành gỗ đá nhưng không phải Trái tim cònđập nên ý thức vẫn còn, nữ sĩ đành say cho quên vậy:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Muốn mượn chén rượu để say cho quên hết mọi đau khổ, bẽ bàng, lỡ lầm, dối trá… nhưngkhổ nỗi không sao quên được Hết say lại tỉnh mà bao hững hờ, dối trá của người đời vẫn sờ sờ ra
đó và nỗi bẽ bàng, đau khổ của mình thì cũng cứ còn nguyên Ước mong có được một mảy may
bù đắp, một chút an ủi mà nào có được! vầng trăng bóng xế giống như đời mình đã ngả chiều.Chờ đợi mỏi mòn mà ước mong cũng như vầng trăng kia cứ khuyết chưa tròn
Tỉnh thì đau khổ nhưng mình vẫn còn được là mình không đến nỗi tuyệt vọng Niềm tincủa nữ sĩ vẫn còn, trước hết là tin ở lòng mình, sức mình Lời dạy của trời đất sâu kín mà rànhrành trước mắt, ngụ ở ngay trong rêu trong đá:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mấy, đá mấy hòn.
Rêu yếu ớt là thế mà từng đám, từng đám vẫn tung sức sống xiên ngang mặt đất đón ánhmặt trời Đá im lìm là vậy mà hòn nọ tảng kia như đua nhau đâm toạc chân mây để khẳng định sựhiện diện của mình Cách đặt câu, đảo ngược đưa tính từ lên trước đã nhấn mạnh sức sống bấtdiệt của thiên nhiên Mình là con người nên đâu có thể dễ dàng biến thành gỗ đá được?!
Con người cô độc, bất hạnh trong thời điểm đó, không gian đó dường như chợt bừng tỉnh,muốn làm theo rêu theo đá, xiên ngang, đâm toạc tất cả những gì ngăn trở, ràng buộc, giam hãm,huỷ hoại thân phận mình, cuộc đời mình Khổ nỗi, thực tế xã hội với bao dối trá, lạnh nhạt, chưa
kể áp bức, bất công… vẫn còn đó Mà trái tim luôn rạo rực cảm xúc của nữ sĩ đâu có chịu imtiếng Nó có nhu cầu cấp thiết là được bày tỏ và chia sẻ:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!
Ngày tháng cứ tuần tự trôi qua Xuân đi xuân lại lại theo nhịp tuần hoàn của đất trời, nhưngtrước đôi mắt đầy tâm trạng của nữ sĩ thì nó lại như một sự cố tình trêu ngươi, vì mùa xuân củađời người chỉ có qua đi mà không bao giờ trở lại Vậy thì có đáng buồn, đáng chán hay không?Ngẫm đến mình thì tuổi xuân trôi qua đã lâu, tình thì chỉ còn một mảnh Cụ thể hoá tình yêu đếnnhư thế thì quả là nữ sĩ không chỉ chán chường mà còn ngao ngán đến cực độ Tuy nhiên vẫn
Trang 4chưa phải là tuyệt vọng Dẫu tình yêu, tình đời chỉ còn một mảnh tí con con nhưng nữ sĩ vẫnmuốn, tiếp tục đem san sẻ với mong ước chân thành là để cho nhân tình thế thái đỡ xanh như lá,bạc như vôi Đọc kĩ câu thơ, ta nghe như nỗi hờn giận, đau xót thấm đến tận chân tơ kẽ tóc, đếntừng tế bào nhưng nữ sĩ vẫn không nguôi hi vọng.
2 Đọc thêm Làm lẽ (Hồ Xuân Hương).
Hồ Xuân Hương, con người có sức sống mãnh liệt, có ý thức cá nhân sâu sắc, khao kháthạnh phúc lứa đôi lại rơi vào tấn bi kịch đau lòng nhất của người phụ nữ: làm lẽ
Bà là đứa con của một người vợ lẽ Rồi chính bà lấy chồng hai lần, cả hai lần đều làm lẽ.Tất cả những thảm cảnh làm lẽ của mẹ bà, của bà và của bao người đàn bà bất hạnh khác trong
chế độ đa thê đáng nguyền rủa dưới chế độ phong kiến đã dồn nén lại thành ngòi nổ: bài thơ Làm
lẽ Bài thơ có sức công phá ghê gớm vào chế độ đa thê, lớn tiếng đòi quyền sống, đòi hạnh phúc
lứa đôi cho người phụ nữ:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn, mướn không công, Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Hồ Xuân Hương bị dồn nén bị ấm ức với kiếp làm lẽ nên thơ mở lời đã bung nổ:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Câu thơ mở đầu rơi thẳng vào sự bất công trong hôn nhân, trong tình cảm Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng thì thật là tài tình Hình tượng thơ gợi ngay đến chuyện buồng the, chăn gối,
hạnh phúc lứa đôi vợ chồng Và sự bất công giữa vợ cả, vợ lẽ hiện ra như núi đôi và vực thẳm
Kẻ Đắp chăn bông ấm áp bao nhiêu thì kẻ nằm suông ngoài nhà lạnh bấy nhiêu Mà cái lạnh của thể xác chưa thấm vào đâu với cái lạnh tinh thần, lạnh trong lòng, lạnh lùng.
Hồ Xuân Hương đã chửi thẳng vào cái kiếp lẽ mọn, chung chạ:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Chửi cả bằng lời và bằng nhạc, câu thơ bảy chữ thì có bốn thanh trắc, (dấu sắc - chán, cái, kiếp, lấy) sắc như gươm Nhưng chửi rồi vẫn còn nguyên nỗi đau, ấy là cái kiếp lấy chồng chung.
Trang 5Chung cái không thể nào chung được, có đáng nguyền rủa không? Ca dao cũng đã cự tuyệt cảnhchồng chung:
Đói lòng nằm gốc cây sung, Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng.
Mà sao bà là bậc trí giả mà không đủ sáng suốt để hai lần đều lâm vào cảnh chồng chung? Đó chính là chỗ đáng thương của người phụ nữ Vì khao khát hạnh phúc lứa đôi nên biết
rằng mình làm lẽ chẳng ra gì nhưng vẫn không đừng được
Nữ sĩ Xuân Hương, nạn nhân của chế độ đa thê đã nói huỵch toẹt những bi thảm trong
buồng the của kiếp lấy chồng chung:
Năm thì mười họa hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không.
Nhà thơ đã dồn hai thành ngữ năm thì mười họa và gặp chăng hay chớ thành một câu thơ lấp lửng thật hay: Năm thì mười họa hay chăng chớ Câu thơ Đường đã trở thành câu thơ thuần
Việt diễn tả sự thưa thớt, họa hoằn của hành vi ái ân giữa chồng với vợ lẽ Có thể gọi ngôn ngữ
Hồ Xuân Hương trong trường trong trường hợp này là ngôn ngữ mờ, diễn đạt mờ vì là chuyệnkhó nói Vậy mà ai cũng hiểu, tài hoa Xuân Hương chính là ở đấy Cách đây hơn trăm năm giữamột xã hội khô cứng, đạo đức giả mà có một phụ nữ đã nói to lên khát vọng của da thịt, của ái ân,của yêu đương thì phải nói là Hồ Xuân Hương đã đi trước thời đại rất xa Có lẽ vì thế mà nhữngthanh niên Pháp ngày nay đọc Hồ Xuân Hương đã cả quyết rằng nàng thơ đang sống cùng thờivới họ!
Hồ Xuân Hương là người đàn bà có ý thức cá nhân sâu sắc, có bản lĩnh, lịch lãm mà vẫnkhông thoát khỏi tấn bi kịch này không thuộc về phần ý thức, bản lĩnh, hay trí tuệ mà thuộc vàođiều sâu thẳm trong tâm hồn của người đàn bà, mà Xuân Hương lại đàn bà hơn bất kì người đàn
bà nào trên cõi đời này Hãy lắng nghe nhịp tim đau đớn của người đàn bà đáng thương đáng kínhnày:
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Chỉ có Xuân Hương mới đủ can đảm và đủ tài hoa để vớ một thành ngữ mà lí giải hành vi
dẫn đến bi kịch hôn nhân Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, từ hành vi vật chất, hiện tượng vật chất, tác giả gợi đến hành vi tinh thần, tâm trạng của một kẻ lẽ mọn Từ cái mùi hẩm của xôi, nhà thơ đã gợi đến sự hẩm hiu của cảnh chồng chung Cách cụ thể hóa cái trừu tượng như vậy rất gần với thi
pháp dân gian Vì khát vọng một chút hạnh phúc lứa đôi nhỏ nhoi mà người đàn bà phải hạ mình
cố đấm ăn xôi, nhưng nhập cuộc rồi, người vợ lẽ mới nhận ra bản chất xấu xa của chế độ đa thê:
Trang 6Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Vợ lẽ chẳng qua là một người làm mướn, một người ở, mà còn tệ hơn người làm mướn là mướn không công Thật là hẩm hiu, tủi nhục Những điệp từ xôi, xôi, mướn, mướn tạo ra âm điệu
day dứt, đay nghiến, uất hận của kiếp làm lẽ
Bài thơ kết thúc bằng lời tự nhủ chua chát:
Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Đây là một cách nhận thức lại, không hình ảnh, không bóng bẩy, chỉ phô diễn trực tiếp ýtưởng của một đời làm lẽ Người đàn bà thuộc vào hàng trí giả như Xuân Hương cũng không thể
hình dung hết những điều cay nghiệt của kiếp lấy chồng chung Bà ngậm ngùi mà nghĩ rằng Thà trước thôi đành ở vậy xong Người đàn bà với thiên chức làm vợ, làm mẹ mà ở vậy là bi thảm nhất, vậy mà làm lẽ lại còn bi thảm hơn Thế mới càng thấy kiếp lấy chồng chung cay nghiệt đến
Với bài thơ làm lẽ, chế độ đa thê của xã hội phong kiến đã bị một đòn chí mạng Đã nói
lên những bất công trong chế độ đa thê, để đòi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi Hồ XuânHương đã phải trả giá cả cuộc đời mình Cho nên càng nghĩ càng cảm thấy yêu mến, kính nể Hồ
Xuân Hương, người đàn bà kì bí - bà chúa thơ nôm ( Xuân Diệu) trong nền văn học của nước
nhà
THU ĐIẾU Nguyễn Khuyến
2 Dàn ý.
* Mở bài.
- Nguyễn Khuyến (1835 -1909) là bậc túc nho tài, có cốt cách thanh cao, có lòng yêu nước
thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc Được mệnh danh là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam.
- Bài thơ Mùa thu câu cá một trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, viết trong thời gian
khi Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà
* Thân bài.
- Cảnh thu:
+ Điểm nhìn từ trên thuyền câu -> Nhìn ra mặt ao nhìn lên bầu trời -> Nhìn tới ngõ vắng
-> Trở về với ao thu
Trang 7-> Cảnh thu được đón nhận từ gần -> Cao xa -> Gần Cảnh sắc thu theo nhiều hướng thật sinhđộng.
+ Mang nét riêng của cảnh sắc mùa thu của làng quê Bắc bộ: Không khí dịu nhẹ, thanh sơ củacảnh vật:
• Màu sắc: các điệu xanh, màu vàng lá thu.
• Đường nét, chuyển động: Hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng.
-> Hình ảnh thơ bình dị, thân thuộc, không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn thể hiện cái
hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo ( Xuân Diệu).
+ Không gian thu tĩnh lặng, phảng phất buồn:
-> Các hình ảnh được miêu tả trong trạng thái ngưng chuyển động, hoặc chuyển động nhẹ, khẽ
- Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: Cá đâu đớp động dưới chân bèo ->
Không phá vỡ cái tĩnh lặng, mà ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật ->Thủ pháp lấy động nói tĩnh
- Tình thu:
+ Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng
• Một tâm thế nhàn: Tựa gối ôm cần.
• Một sự chờ đợi: Lâu chẳng được.
• Một cái chợt tỉnh mơ hồ: Cá đâu đớp động.
-> Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về mộtnỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân
-> Tâm hồn Nguyễn khuyến gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín,sâu sắc
+ Tâm sự yêu nước, u hoài trước sự thay đổi của thời cuộc
- Đặc sắc nghệ thuật:
Trang 8+ Cách gieo vần đặc biệt: Vần eo (tử vận) khó làm, được tác giả sử dụng một cách thần tình, độc
đáo, góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạngđầy uẩn khúc của nhà thơ
+ Lấy động nói tĩnh - nghệ thuật thơ cổ phương Đông
* Kết luận.
- Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu, tình yêu thiên nhiên, đất nước
- Tâm trạng thời thế của tác giả
LUYỆN TẬP
1 Nghệ thuật miêu tả qua bài thơ Mùa thu câu cá (Nguyễn Khuyến)
Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca Thơ viết về mùa thu của văn học Trung đại ViệtNam thường miêu tả cảnh đẹp vắng vẻ, úa tàn và u buồn Cảnh thu được ghi lại một cách ước lệ
tượng trưng với những nét chấm phá, chớp lấy cái hồn của tạo vật Thu điếu của Nguyễn Khuyến
cũng mang nét thi pháp ấy
Nhưng Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam Gần suốt đờimình, ông gắn bó với thôn quê, hòa hợp và thấu hiểu mảnh đất quê nhà Thế nên, cảnh vật làng
quê trong thơ ông hiện lên rất chân thực, giản dị, tinh tế Đọc Thu điếu, ta bắt gặp một bức tranh
thu đặc trưng của vùng chiêm trũng Bắc bộ, quê hương của nhà thơ Đấy chính là nét mới mẻ củatác phẩm so với thi pháp truyền thống của văn học Trung đại Việt Nam
Thu điếu viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật Cảnh thu được miêu tả
trong hầu hết 8 câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối bài Cảnh trongbài vẫn là trời nước, gió, trúc - những thi liệu quen thuộc nhưng hồn thơ thì đã vượt ra khỏi khuônsáo thi tứ cổ điển
Hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả là ao thu Từ lạnh lẽo đặc tả khí lạnh của ao nước mùa thu, dường như cái lạnh ấy thấm sâu vào da thịt con người Tính từ trong veo đã tuyệt đối
hóa độ trong của nước, đồng thời còn gợi ra độ thanh sạch, sự bất động, tĩnh lặng của mặt ao Hai
âm eo được gieo trong một câu khiến cho cảm giác về cái lạnh và sự ngưng đọng của không gian
càng trở nên tuyệt đối, đồng thời còn gợi ra không gian nhỏ hẹp của chiếc ao
Trên nền cảnh thu ấy xuất hiện một chiếc thuyền câu lẻ loi, đơn chiếc, bé nhỏ Số từ chỉ số
ít một chiếc kết hợp với từ láy tẻo teo khiến cho chiếc thuyền càng nhỏ bé hơn, như co lại thành
một nét chấm trên nền ao cũng bé xíu và trong trong tận đáy
Hai câu đề đã vẽ nên cảnh sắc rất riêng biệt, mộc mạc, đơn sơ của mùa thu Bắc bộ vớinhững nét đặc trưng nhất của khí thu, chất thu là cái lạnh, sự tĩnh lặng
Trang 9Mùa thu tiếp tục hiện lên với hình ảnh sóng biếc, lá vàng Cảnh vận động một cách khẽ
khàng Tác giả đã rất nhạy cảm, tinh tế khi chớp được những biến động tinh vi của tạo vật Đó là
sự chuyển động hơi gợn tí của sóng, là sự đưa nhẹ, khẽ khàng của chiếc lá vàng, là sự mong
manh uốn lượn của hơi nước mờ ảo trên mặt ao
Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh, các sự vật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, gió thổi làm
sóng gợn, làm lá rơi Các tính từ, trạng từ biếc, tí, vàng, khẽ, vèo được sử dụng một cách hợp lí,
giàu chất tạo hình, vừa tạo ra bức tranh màu sắc thanh nhã, có xanh có vàng, vừa gợi được sựuyển chuyển, sinh động của tạo vật Cảnh được miêu tả trong hai câu thực, mặc dù là động,nhưng vì động khẽ khàng quá nên thực chất là lấy động để tả cái tĩnh lặng của mùa thu trongkhông gian của một chiếc ao quê nhà
Không gian cảnh vật trong hai câu luận không chỉ dừng lại ở bề mặt chiếc ao mà còn mởrộng thêm chiều cao, chiều sâu
Chiều cao được cụ thể bằng sự lơ lửng của tầng mây và độ thăm thẳm của da trời xanh
ngắt Màu da trời mùa thu dường như có ám ảnh sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Khuyến nên
trong các bài thơ thu, ông thường nhắc tới: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao (Thu vịnh) hay Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt (Thu ẩm) Bởi vậy, màu xanh ngắt của da trời không chỉ đơn giản là
một sắc màu khách quan đặc trưng của trời thu mà có lẽ còn chính là tâm trạng nhiều ẩn ức, làchiều sâu tâm hồn đầy trăn trở của thi nhân
Chiều sâu của không gian được cụ thể bằng độ quanh co uốn lượn của bờ trúc Không gian
trong hai câu luận đậm dặc một màu xanh, màu xanh bao trùm cả trên cao và chiều rộng Cảnh
vật thoáng đãng và yên tĩnh Nguyên từ vắng đã nói rõ sự tĩnh lặng rồi nhưng vắng teo thì có
nghĩa là cảnh vắng tanh vắng ngắt, không chút cử động, không chút âm thanh, không một bóngngười
Bởi thế, hai câu thơ gợi ra sự trống vắng, nỗi cô đơn trong lòng người Hình ảnh con ngườixuất hiện trực tiếp với tư thế ngồi bó gối, trong trạng thái trầm tư mặc tưởng Nhà thơ ngồi câu cá
mà chẳng chú tâm đến việc câu, bởi vậy mới giật mình trước tiếng cá đớp động dưới chân bèo.
Không gian phải yên tĩnh lắm, tâm hồn nhà thơ phải trong trẻo lắm thì mới nghe rõ âm thanh nhỏnhẹ như vậy
Từ cá đâu là cách hỏi vừa tạo nên sự mơ hồ trong không gian vừa gợi ra sự ngỡ ngàng của
lòng người Nhà thơ dường như mất cảm giác về không gian thực tại mà chìm đắm trong khônggian suy tưởng nên không thể xác định rõ hướng gây ra tiếng động mặc dù đang ngồi trong mộtchiếc ao rất nhỏ
Trang 10Nhà thơ câu cá mà chẳng phải để bắt cá Câu chỉ là cái cớ để tìm sự thư thái trong tâm hồn.Trong lúc câu, thi nhân đã thâu tóm vào lòng những vẻ đẹp tinh diệu của đường nét, màu sắc,hình khối, sự vận động tinh tế, trong sáng của cảnh vật mùa thu Cảnh thu tuy đẹp mà buồn, buồn
vì quá quạnh quẽ, vắng lặng, buồn vì người ngắm cảnh cũng đang chất chứa nỗi niềm thế sự của
kẻ sĩ trước thời cuộc đất nước
2 Đọc thêm Thu vịnh (Nguyễn Khuyến).
Nhắc đến thơ viết về đề tài tình yêu không thể không nhắc đến Xuân Diệu; nhắc đến thơ cacách mạng không thể không nhắc đến Tố Hữu; còn nếu nhắc đến thơ viết về mùa thu, chúng takhông thể nào không nhắc tới cái tên Nguyễn Khuyến Ông có cả một chùm thơ hay viết về mùa
thu gồm 3 bài: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm.
Cả ba bài trong chùm thơ thu đều lấy bối cảnh là làng cảnh quê hương tác giả Đó là vùngđồng chiêm trũng Bình Lục một năm chỉ cấy được một mùa, còn lại toàn là ngập nước Làng quêBình Lục ấy cũng bình dị như biết bao làng quê thân thuộc khác, có vô số ao chuôm với những
bờ tre quanh co bao bọc những mái tranh nghèo
Nếu như trong Thu điếu bức tranh mùa thu được cảm nhận theo chiều không gian từ gần rồi đến cao, xa thì ở Thu Vịnh, nhà thơ thưởng thức bức tranh thu bắt đầu từ cao xuống thấp Mở
đầu bài thơ là hình ảnh bầu trời bao la, bát ngát, xanh trong rất điển hình của mùa thu nơi thôn dã:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Xanh ngắt có nghĩa là xanh thăm thẳm, dường như trời thu trong thơ Nguyễn Khuyến luôn được bao phủ bởi sắc màu xanh ngắt ấy Ví dụ như trong Thu ẩm ông viết:
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt.
Hay ở Thu điếu:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.
Xanh ngắt là sắc xanh trong, mở ra một không gian rất rộng, rất cao Đặc biệt, khi kết hợp với mấy từng cao càng làm không gian thêm bao la, thăm thẳm Mấy từng cao gợi cho chúng ra
cảm giác là rất cao, tưởng như có nhiều lớp, nhiều tầng Trên cái nền là bầu trời bao la nổi bật lên
hình ảnh thanh tú của cần trúc Không phải là khóm trúc mà là cần trúc, là cây trúc non dáng cong cong như chiếc cần câu đang đong đưa khe khẽ trước gió thu hắt hiu thổi Gió hắt hiu là gió
rất nhẹ, gió thổi không vội vàng cũng nhưng cũng không lưu luyến, gợi lên chút cảm giác hững
hờ Đến cả gió thu cũng đậm chất thu, phảng phất buồn như chứa chất tâm trạng bên trong Tất cả
dường như có một mối cảm thông thầm lặng, sâu kín, tinh tế và khó nắm bắt Giữa cái nền xanh ngắt, sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời.
Trang 11Bầu trời lại như dồn hết cái sâu lắng vào bên trong cần trúc, để cho nó vừa như đong đưa màcũng vừa như đứng yên Đó là nét động và nét tĩnh của cảnh thu, cũng chính là đặc tài trong nghệthutậ sử dụng lấy động tả tĩnh của nhà thơ Nguyễn Khuyến Thông qua hai câu đề này, nhà thơ đãchấm phá hai nét phong cảnh đơn sơ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả.Trong đó, mọi chi tiết, sắc màu, đường nét, cử động đều rất hài hoà Nhà thơ mới chỉ nói đến trờithu nhưng ta đã thấy cả hồn thu trong đó vậy.
Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Hai câu luận tiếp tục phác thảo rõ nét hơn cảnh sắc của mùa thu Nước biếc là màu nước
đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh Biếc ở đây chỉ sắc xanh của nước: vừa xanh,
vừa trong; còn gợi lên hình ảnh vừa tĩnh lặng vừa như sáng lấp lánh Mùa thu, vào sáng sớm vàchiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ Cảnh mặt nước khóisương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh Cách
sử dụng tầng khói phủ cũng đem lại hiệu ứng gợi hình, gợi cảm hơn hẳn Không phải làn mà lại
là tầng Tầng khói phủ khác làn khói phủ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều
cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong Nước biếc có tầng khói phủ thì màu nước khôngcòn biếc nữa mà hòa lẫn vào làn khói lam mờ, trở nên mông lung, huyền ảo Cách so sánh nàythấy sự rất độc đáo, rất thơ
Từ bầu trời nhìn xuống mặt nước, rồi lại từ mặt ngước lên bầu trời Tuy nhiên, khung cảnh
thu càng làm nên thơ mộng khi được dát lên mình màu trắng bạc của ánh trăng Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng trăng trở nên mênh
mông hơn, lặng lẽ hơn Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại
là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, mặc dù bị giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn
cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu, những trạng thái nào thì cũng đềutĩnh mịch và chất chứa suy tư
Cảnh thu trong bốn câu thơ đầu được miêu tả ở những thời điểm khác nhau Nhìn thấymàu trời xanh ngắt; cần trúc là lúc đang trưa; mặt nước biếc trông như tầng khói phủ là lúc hoànghôn và bóng trăng tràn qua song thưa là lúc trời đã vào đêm… Cảnh sắc chuyển biến theo thờigian, nhưng lại nhất quán trong ý thơ, trong tâm tư của hồn thi sĩ
Đến hai câu thơ thực, tác giả viết:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không, ngỗng nước nào.
Trang 12Sau khi nhìn mặt nước khói phủ lại đến ngắm ánh trăng tràn qua song thưa; lúc này nhàthơ trông ra bờ giậu ngoài sân thấy mấy chùm hoa đã nở Hoa nở thì đâu có gì lạ? Điều lạ làbỗng dưng, nhà thơ cảm thấy đó là hoa năm ngoái Nếu như ở bốn câu trên, cảnh vật được miêu
tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, thì đến đây cảm xúc của trái tim đã khoác lên cảnh vậtmàu sắc chủ quan Rõ ràng là thấy hoa nở ngay trước mắt, nhưng nhà thơ lại cảm thấy đó là hoa
nở từ năm ngoái Phải chăng con người đang ở hiện tại mà như lùi về quá khứ? Hay quá khứ đangtìm về với thực tại mới đúng đây?
Ở hai câu thơ này, âm điệu theo nhịp 4/1/2 Từ mấy chùm trước giậu đến hoa năm ngoái
có một đoạn suy tư, ngẫm nghĩ và sau đó đột nhiên xuất hiện cảm giác lạ lùng là hoa năm ngoái
chứ không phải hoa năm nay Cảm giác ấy khiến nhà thơ nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng
mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào?
Nếu như bốn câu đầu, cảnh vật hài hoà, giao cảm với nhau thì đến đây, con người hoà hợpvới cảnh vật trong một nỗi niềm u uất Cảnh vật thể hiện tâm tư con người và tâm tư con ngườithể hiện qua cách nhìn cảnh vật Như vậy, cảnh vật được miêu tả qua đôi mắt và trái tim rung cảmcủa nhà thơ Mùa thu tới, nhà thơ nhìn hoa trước sân, nghe tiếng chim kêu trên trời vẳng xuống
mà trỗi dậy cả một niềm xót xa, lặng lẽ mà như nẫu ruột, chết lòng Chiều sâu của tâm hồn thi sĩlắng đọng vào chiều sâu của câu thơ là vậy Quả ứng với câu:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Đứng trước cảnh thu, cảm nhận hồn thu khiến cảm hứng làm thơ của thi sĩ bỗng dạt dào.Ông toan cất bút nhưng rồi lại ngập ngừng:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Nhà thơ thẹn với ông Đào, là thẹn điều gì? Thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa
có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Câu hỏi ấy còn lửng lơ bỏ
ngỏ Một chữ thẹn vừa khiến nhịp thơ chùng xuống, vừa thấy được sự kính trọng, sùng bái của
nhà thơ với người thi sĩ nhà Đường không màng danh lợi Lời thơ trong câu kết có cái gì đó lửng
lơ mà kín đáo, do đó càng làm tăng thêm chất suy tư của cả bài thơ
Không thể phủ nhận Thu vịnh là một trong những bài thơ đỉnh cao viết về đề tài mùa thu, về
làng cảnh trong nền văn học Việt Nam Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh mùa thu thôn dãđẹp bình dị, mộc mạc mà gần gũi, qua đó còn thể hiện cái tâm của người thi sĩ yêu làng quê, đấtnước; người thi sĩ có tâm hồn cũng trong sáng, mộc mạc như chính cảnh sắc thu quê
Trang 133 Đọc thêm Thu ẩm (Nguyễn Khuyến).
Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu (Âm: uống, uống rượu) Nó có nghĩa là một trong bài thơ Nôm về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (Mùa thu câu cá) Thu vịnh (mùa thu làm thơ) và Thu ẩm Cũng có nhiều bài thơ khác về mùa thu bằng chữ Hán, ba bài này đều in
đậm hai nét tiêu biểu cho tâm hồn thơ của tác giả: đó là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc bộthời xưa và thắm đượm vào cảnh vật là tâm tư của nhà thơ trước cảnh tình đất nước thời gian ông
từ quan về sống ở quê nhà Tất nhiên, ở mỗi bài là dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng
Dáng thu trong Thu vịnh là cái gì cao thăm thẳm xa vời, quen mà hóa lạ Trời thu thì xanh
ngắt những mấy từng; cây tre thu lại chỉ còn một cần trúc; khói phủ thành từng trên mặt nước;song cửa để mặc bóng trăng vào; hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái, tiếng ngỗng vang trong
mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ấn chứa ở chiều sâu Dáng thu, hồn thu trong Thu điếu là cái gì cũng như thu mình cho nhỏ bé, cho lặng im: Chiếc thuyền câu bé tẻo teo, mặt ao chỉ
gọn tí, mảnh lá vàng rơi vèo không thành tiếng, cá quẫy chỉ động nhẹ dưới chăn bèo Tất cả cùngmọi vật khác đều như im lìm trong một không khí lặng yên, tĩnh mịch của một sự đợi, đợi chờtưởng như ông câu cũng hóa đá trong tư thế tựa gối ôm cần Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong cáilắng chìm vào bên trong, cái đợi chờ mỏi mòn trong yên lặng như thế
Với lên hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là mượn chút so sánh để nhìn được rõ hơn
dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này Dáng thu, hồn thu, cả tâm tư nhà thơ
có khác
Cảnh vật vẫn là cảnh vật ở hai bài thơ kia: Từ nhà từ vườn nhìn ra đồng, cái ao, rặng tre,hàng dậu, lối xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao.Khác một chút là ở hai bài thơ trên kia, Nguyễn Khuyến là nhà thơ, là ông câu cá, còn ở đây ôngkhề khà ly rượu Nhưng cũng chính từ cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến dạng, đầy bất ngờ
mà thú vị
Hai câu đề:
Ba gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy.Nhưng thấp le te đã rõ là thấp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng Tiếptheo: Ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm lập lòe làm cho ngõtối và đêm sâu lúc tối, lúc sáng thành ra cũng biến dạng
Hai câu thực cũng vậy:
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Trang 14Làm áo lóng lánh bónq trăng loe.
Sương thu lớt phớt như khói mỏng phủ bờ giậu khiến cho cây xanh cũng chẳng còn màuđêm Câu thơ đặc biệt miêu tả tài tình: Mặt ao cũng không còn phẳng lặng mà lăn tăn gợn sóng vàánh trăng chiếu vào nên lóng lánh; bóng trăng chiếu xuống nước gợn sóng cũng chẳng cònnguyên hình mà chao lại loe ra, dồn lại, biến dạng liên tiếp
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Cảnh trời và cảnh mình Trời cũng như mình đều do ai đó làm cho biến đổi: Trời thì ainhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy mà cũng đỏ hoe? Người nghiên cứu bảo cụ Tamnguyên đau mắt, có lần mắt đỏ như máu, hay là do rượu say? Say rượu cũng thường đỏ mắt Chữ
ai lấp lửng một mối hoài nghi, nghe lửng lơ nhưng chắc không phải vô ý Bỗng dưng lại lấy một thế lực nào đó bên ngoài tác động vào trời, nhuộm cả da trời, rồi bỗng dưng mắt mình đỏ hoe nước mắt Đây cũng là nét tâm tư của nhà thơ? Nó cùng một mạch cảm thương như hoa năm nay
mà nhìn ra hoa năm ngoái, và tiếng ngỗng bay qua trời mình mà nghĩ mà ngỡ là ngỗng nước nào.Tâm tư nhà thơ không ngoài nét buồn đau trước cánh nước mất, lũ giặc lũ gian giày xéo mà mìnhthì bất lực, bứt rứt không nguôi
Cuối cùng là tửu tượng cũng chẳng còn bình thường: Rượu tiếng rằng hay chả mấy nên
Độ năm ba chén đã say nhè Nhìn chung tại sao lại có sự biến hình đổi dạng này? Do rượu
chăng? Sao nhìn vật một hóa thành hai, ba, hoặc nhòa nhạt tất cả Dáng hình biến đổi, màu sắc,đường nét nổi lên nhòe ra chập lại, lảo đảo như say
Âm thanh cũng theo điệu ấy, có vẻ say Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở tất
cả các từ: le te, lập lòe, đỏ hoe, say nhè Cả câu: Làn ao lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm l, càng tăng gấp bội cái cảm giác ngửa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng
dưới nước mà ở cả mặt ao, làn ao Từ đó mà cảm giác ngả nghiêng chao đảo ấy lan tỏa ra toàn bài
để rồi kết thúc bằng hai chữ say nhè ở chót câu cuối nhưng rồi âm thanh và ý nghĩa lại dội ngược
lên toàn bài
Thế là nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu này Sau dăm ba chén, tâm
tư đã nhòa ra, thẩm thấu vào cảnh vật, khiến cho dáng thu, hồn thu đều cùng biến dạng, lảo đảo,
say nhè Cái hay, cái tài của bài thơ Thu Ẩm này là ở đó Nhà thơ say vì nỗi buồn trước vận nước
và bứt rứt khôn nguôi trong lòng Mượn vài chén rượu cho khuây nhưng uống vào lại thấy nỗiniềm ấy hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo cả cảnh vật đêm thu
BÀI 4 THƯƠNG VỢ (TRẦN TẾ XƯƠNG) Dàn ý.
Trang 15* Mở bài.
- Trần Tế Xương (1870 - 1907) thường gọi là Tú Xương Tú Xương sống 37 năm chỉ đỗ tú tàinhưng sự nghiệp thơ ca của ông trở thành bất tử
- Sáng tác của Tú Xương gồm 2 mảng: trữ tình và trào phúng
- Thương vợ là một trong những bài thơ hay nhất và cảm động nhất của Tú Xương.
* Thân bài.
- Hai câu đề:
+ Quanh năm: Cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này sang năm khác.
+ Mom sông: Địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định.
+ Nuôi đủ năm con… một chồng: Bà Tú nuôi sáu miệng ăn Ông Tú tự coi mình như một thứ con
riêng đặc biệt (Một mình ông = năm người khác)
-> Lòng biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú đối với cha con ông Tú Lòng vị tha cao quí của bàcàng thêm sáng tỏ
- Hai câu thực:
+ Lặn lội thân cò: Vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn.
+ Quãng vắng, đò đông: Cảnh kiếm sống chơi vơi, nguy hiểm.
+ Eo sèo: Chen lấn, xô đẩy, vì miếng cơm manh áo của chồng con mà đành phải rơi vào cảnh liều
lĩnh cau có, giành giật
+ Nghệ thuật đối: Sự vất vả, sự hi sinh lớn lao của bà Tú đối với gia đình
-> Nói bằng tất cả nỗi chua xót Thấm đẫm tình yêu thương
- Hai câu luận:
+ Một duyên / năm nắng.
+ Hai nợ / mười mưa.
+ Âu đành phận / dám quản công.
-> Câu thơ như một tiếng thở dài cam chịu -> Cách sử dụng phép đối, thành ngữ, từ ngữ dân
gian, bộc lộ kiếp nặng nề nhưng rất mực hi sinh của bà Tú
+ Dùng số từ tăng tiến: 1-2-5-10: Đức hi sinh thầm lặng cao quí Bà Tú hiện thân của một cuộc
đời vất vả, lận đận Ở bà hội tụ tất cả đức tính tần tảo đảm đang, nhẫn nại Tất cả hi sinh chochồng con
-> ÔngTú hiểu được điều đó có nghĩa là vô cùng thương bà Tú Nhân cách của Tú Xương càngthêm sáng tỏ
- Hai câu kết:
Trang 16+ Tú Xương tự chửi mình vì cái tội làm chồng mà hờ hững, để vợ phải vất vả lặn lội kiếm ăn.Ông vừa cay đắng vừa phẫn nộ.
+ Tú Xương chửi cả xã hội, chửi cái thói đời đểu cáng, bạc bẽo để cho bà Tú vất vả mà vẫn nghèođói
+ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội
* Kết bài.
- Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình
và trào phúng
- Chân dung người vợ trong cảm xúc yêu thương cùng tiếng cười tự trào và một cách nhìn về thân
phận người phụ nữ của Tú Xương
LUYỆN TẬP
1 Nỗi niềm thế sự của Tú Xương qua bài thơ Thương vợ.
Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam Ngoài những bàithơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồibại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗiniềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng
Thương vợ là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương Nó là
một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồnghậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo
Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu
thương chịu khó Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc (câu đối của
Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:
Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.
Quanh năm buôn bán là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không được một ngày nghỉ ngơi Bà Tú buôn bán ở mom sông, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh Hai chữ mom sông gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới nuôi đủ năm con với một chồng.
Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ Thông thường người ta chỉ
đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai con, đếm chồng (!) Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải ăn lương vợ Có
Trang 17thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tầntảo, đảm đang của mình.
Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú,Tú Xương đảo lại: lặn lội thân cò mỗi sáng mỗi tối đi đi về về lặn lội nơi quãng vắng Những bước đi bì bõm, chật chưỡng Ngôn ngữ thơ tăng
cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau,
bổ trợ và gia tăng Nỗi cực nhọc kiếm sông ở mom sông tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh con cò cái cò trong ca dao cổ: Con cò lặn lội bờ sông…, Con cò đi đón cơn mưa…, Cái
cò, cái vạc, cái nông, được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh thân cò lầm lũi, đã đem
đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, củangười phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:
Lặn lội thân cò nơi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Eo sèo là từ láy tượng thanh chi sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi mặt nước lúc đò đông Một cuộc đời lặn lội, một cảnh sống làm ăn eo sèo Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được nuôi đủ năm con với một chồng phải lặn lội trong mưa nắng, phải giành giật eo sèo, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn Chỉ đảo nhẹ một
cấu trúc câu, thay vài chữ trong kho tàng dân gian, nhà thơ đã sáng tạo ra hình tượng thẩm mĩ
chân thực, giản dị Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: một duyên hai nợ và năm nắng mười mưa, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm
sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình Âu đành phận,… dám quản công… giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le Chữ âu đành phận có gì đó
chua chát của cuộc đời người phụ nữ
Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa mộtvài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đứctính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc giađình Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh
Trang 18Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh thân cò… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp
Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một tríthức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo Tú Xương thương vợcũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!
Bài thơ Thương vợ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi mom sông của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với năm con, một chồng) vừa khái quát sâu sắc (người phụ
nữ ngày xưa) Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm
nỗi đau đời Thương vợ là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ
ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi vớingười mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.Tài thơ của vị thi hào Vị xuyên luôn được bà
con Nam Định ngợi khen với câu nói cửa miệng: Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương.
2 Đọc thêm: Nhà thơ Tú Xương, tửu sắc tương liên.
Nhà thơ Tú Xương vốn thích rượu, nhưng buổi sáng hôm ấy, các chai, nậm, trong nhà ôngkhông còn một giọt nào Người ông bần thần, chân tay rời rạc khiến ông không sao cầm bút viếtnổi một chữ Ông cứ đứng lên ngồi xuống, ra ra vào vào ngóng vợ, y như trẻ con ngóng mẹ
Bà Tú cắp thúng từ chợ Rồng về đến cửa, ông Tú đã ra đón, gãi đầu gãi tai, nói:
- Tôi mong bà phỏng cả mắt, bà có thấy sốt ruột nóng gan không?
- Có chuyện gì vậy ông? - Bà Tú ngạc nhiên hỏi
- Hôm nay tôi có nhu cầu uống với bà mấy chén rượu, tạo cảm hứng viết một bài thơ tặng
bà Tôi vừa tìm ra tứ
Trang 19Bà Tú (tên thật là Phạm Thị Mẫn) vốn cũng thuộc dòng nho gia Bà rất yêu thích thơ văn.Với văn chương ông Tú, bà là độc giả số một Vậy nên khi ông hé lộ việc ông sắp viết thơ tặng bàthì bà hưởng ứng ngay, dù bà thừa biết ông làm thơ tặng bà lúc này còn vì muốn được bà chuốcrượu
Bà Tú đã phỏng đoán không sai: Bà cầm cả mấy cái chai, cái nậm trong góc nhà giơ lênlắc lắc thì chẳng có cái nào phát ra thứ âm thanh chứng tỏ nó còn rượu Bà vội móc hầu bao saicon chạy ra quán đầu phố Hàng Nâu Một lúc sau, chai rượu nếp bắc cắm tăm đã được thằng bémang về Ông Tú mời bà Tú lên sập gụ ngồi đối diện với ông Ông rót rượu ra hai cái chén cổ,bưng mời bà một chén với phong độ rất trịnh trọng Ông nâng chén của mình nhấp một ngụm rồi
từ tốn đọc:
Rượu với thơ suông cũng nhạt phèo
Biết chồng có ý vòi đồ nhắm, bà Tú mau lẹ xuống bếp rán mấy thanh đậu phụ bà mới mua
ở chợ về Trong lúc bà rán đậu dưới bếp thì trên nhà, ông Tú đã đi được đôi ba chén, cái đầu lâng
lâng, tứ thơ bây giờ mới xuất thần Bà Tú bưng đồ nhắm lên, gắp một thanh đậu chấm nước mắm
bỏ vào bát ông Tú Ông Tú càng thêm hứng khởi, nói:
- Tôi vừa làm xong bài thơ tặng bà đây Rồi đọc:
Ông Tú nói giọng hài hước nhưng thật bụng:
- Tôi nói có chăng chứ tôi đâu đã khẳng định sẽ chừa! Mà suy cho cùng cũng chỉ bởi vì tôi
không chừa được bà cho nên mới không chừa được rượu Tửu sắc tương liên mà lỵ
(Theo: http://tapchimonngon.com/)
BÀI 5 BÀI CA NGẤT NGƯỞNG (NGUYỄN CÔNG TRỨ) Dàn ý.
* Mở bài.
- Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858), xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo Có tài, có cá tính,
đỗ đạt làm quan nhưng con đường làm quan gặp nhiều thăng trầm
- Bài thơ Bài ca ngất ngưởng sáng tác trong thời gian ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà.
Trang 20* Thân bài.
- Khổ đầu:
+ Nghệ thuật đối : Phận sự >< cảnh ngộ
+ Ông Hi Văn: Tự xưng, kiêu hãnh và tự hào.
+ Tài năng: Thi Hương đỗ giải Nguyên (thủ khoa), làm quan võ (Tham tán), làm quan văn (Tổngđốc) có tài thao lược
-> Trở nên ngất ngưởng, khác thiên hạ
+ Làm quan là phương tiện để ông thể hiện tài năng và hoài bão của mình, đồng thời để trọnnghĩa vua tôi
- Khổ giữa:
+ Khẳng định mình là người có tài:
• Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông
• Tài thao lược
• Lúc loạn giúp nước, lúc bình giúp vua
+ Nay về ở ẩn, có quan niệm sống khác người:
• Không cưỡi ngựa mà cưỡi bò, đeo đạc ngựa
• Lấy mo cau buộc vào đuôi bò để che miệng thế gian.
-> Cách sống tôn trọng cá tính, không uốn mình theo dư luận
- Hai khổ đôi:
+ Cách sống ngất ngưởng: khác đời khác người
+ Xưa là danh tướng, nay từ bi, hiền lành
+ Vãn cảnh chùa đem cô đầu đi theo Bụt phải nực cười, hay thiên hạ cười, hay Hi Văn tự cườimình?
+ Không quan tâm đến chuyện được mất
+ Bỏ ngoài tai mọi chuyện khen chê
+ Sống thảnh thơi, vui thú, sống trong sạch, thanh cao và ngất ngưởng.
+ Cách ngắt nhịp: 2/ 2/ 2 ; 2/ 2/ 3 nghệ thuật hoà thanh bằng trắc, giàu tính nhạc thể hiện phongthái dung dung, yêu đời của tác giả
- Khổ xếp:
+ Phường Hàn Phú…Vẹn đạo Sơ chung: Tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung
đạo vua tôi Đĩnh đạc tự xếp mình vào vị thế trong lịch sử
+ Kết thúc là một tiếng ông vang lên đĩnh đạc hào hùng
Trang 21-> Phải là con người thực tài, thực danh thì mới trở thành tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng
được Cách sống ngất ngưởng thể hiện chất tài hoa, tài tử Ngất ngưởng sang trọng
- Nghệ thuật:
+ Nhan đề: Độc đáo, cách bộc lộ bản ngã của Hi Văn cũng độc đáo
+ Cách ngắt nhịp: Tạo tính nhạc, thể hiện phong thái nhà thơ
+ Sử dụng nhiều từ Hán Nôm, bộc lộ chất tài hoa trí tuệ của tác giả
+ Bài hát nói có biến thể (dôi khổ), mang đậm chất thơ và bộc lộ phong phú tính cách, bản lĩnhcủa một danh sĩ đời Nguyễn
* Kết bài.
- Sự phù hợp của thể hát nói với việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm cảm tự do phóng túng, thoát rangoài khuôn khổ của tác giả
- Con người Nguyễn Công Trứ thể hiện trong hình ảnh ngất ngưỡng: từng làm nên sự nghiệp lớn,
tâm hồn tự do phóng khoáng, bản lĩnh sống mạnh, ít nhiều có sự phá cách về quan niệm sống,vượt qua khuôn sáo khắt khe của lễ giáo phong kiến
LUYỆN TẬP
1 Chất ngông của Nguyễn Công Trứ qua Bài ca ngất ngưởng.
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) xuất thân dòng dõi Nho gia, quê ở làng Uy Viễn, huyệnNghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Nhìn vào cuộc đời Nguyễn Công Trứ, chúng ta sẽ thấy rõ hai nét thấmnhuần đến tận chân tơ kẽ tóc đạo trung hiếu quân thần và ý thức rất rõ về tài đức của mình Điềuđáng quý là ông đem hết tài đức cống hiến cho nước, cho dân trên nhiều lĩnh vực hoạt động xãhội, từ văn hoá đến kinh tế, quân sự và đã làm nên sự nghiệp, danh tiếng để đời Chí hướng, nhiệthuyết ấy đương thời ít người sánh kịp Tuy nhiên, con đường làm quan của Nguyễn Công Trứkhông bằng phẳng mà thăng giáng thất thường, bởi cá tính mạnh mẽ và phong cách ngất ngưởng
của ông vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là
bản tự thuật ngắn gọn có ý nghĩa tổng kết cuộc đời và tính cách của Uy Viễn tướng công
Nguyễn Công Trứ đã phô trương thái độ ngang tàng, một lối sống chân thật, dám khẳngđịnh bản lĩnh cá nhân vượt ra ngoài khuôn khổ Nho giáo Cảm xúc phóng túng được tác giả gửivào thể ca trù có hình thức tương đối tự do, vừa là thơ vừa là ca, là nhạc:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,