Trần Quang Khải 1241-1294 Trần Quang Khải không chỉ là một nhà quân sự, một nhà ngoại giao giỏi mà còn là một bậc văn tàinổi tiếng của dân tộc.. Đây là bài thơ được Trần Quang Khải viết
Trang 1Lí Thường Kiệt (1019 - 1115)
Lý Thường Kiệt(chữ Hán: 李常傑; tên thật là Ngô
Tuấn; là một danh tướng nhà Lý có công đánh bại quân
nhà Tống vào năm 1075-1077
Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, ông tên thật là Ngô
Tuấn, là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ,
cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí
và cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương
Ngập–hoàng tử trưởng của Ngô Quyền , người phường
Thái Hòa, thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay Có tài
liệu lại nói quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức
(Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay)
Đền thờ Lý Thường Kiệt tại xã Ngọ Xá,huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
Gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng Khi còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươiđẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu, là thái giám theo hầu Lý Thái Tông, thăng dần đến chứcNội thị sảnh đô tri Lý Thánh Tông phong chức Thái bảo, ban tiết việt để đi thăm hỏi lại dân ởThanh Hóa, Nghệ An Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, ônglàm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman )
Năm 1075, trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ trương đem quân sangđánh hai châu Ung và châu Khâm, tạo thế chủ động và để quân ta có thêm thời gian chuẩn bị lựclượng
Đầu năm 1077, ông đã cho lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt và phá tan đạo quân xâm lược
Ngoài việc cầm quân đánh Tống, ông còn hai lần trực tiếp đi đánh Chiêm Thành vào các năm
1075 và 1104 Những năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103) Năm
1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113) đem quân đánh và lấy lại
3 châu Địa Lý v.v mà vua Chế Củ đã cắt cho Đại Việt Đến đây, Lý Thường Kiệt đi đánh, pháđược, Chế Ma Na lại nộp đất ấy cho Đại Việt
Vì có công, ông được ban "quốc tính", mang họ vua (do đó có họ tên là Lý Thường Kiệt), vàphong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn hạ, thượng trụ quốc,thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau lại có công nữa, đượcphong làm Thái úy
Tháng 6 năm 1105, Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 87 tuổi Vua Lý Nhân Tông ban cho ôngchức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công,thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước hầu
Trang 2Lý Thường Kiệt (1019 - 1105)
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn Thường Kiệt là tự; sau này ông được ban quốc tính nên mớiđổi tên thành Lý Thường Kiệt
Theo tài liệu mới phát hiện (bài văn khắc trên chuông chuà Bắc Biên và cuốn Tây Hồ Chí) thì ông
là người làng An Xá, huyện Quảng Đức, thuộc khu vực phía nam hồ Tây trong thành Thăng Long
Ông sinh năm 1019 và mất tháng Sáu năm Ất Dậu (tức từ 13 tháng Bảy đến 11 tháng Tám năm 1105)
Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn Năm 23 tuổi, ông đã được bổ làm Hoàng môn chi hậu rồi thăng đến chức Thái úỵ Ông có công rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: phá Tống, bình Chiêm, dẹp tan phản loạn
Tác phẩm còn lại gồm có bài Lộ Bố Văn phát ra cho nhân dân Trung Quốc ở các châu Ung Khâm Liêm nhân dịp chủ động đem quân sang đánh Tống năm 1075, lời tâu xin vua Lý Nhân Tông cho
đi dẹp loạn Lý Giác năm 1103, và tiêu biểu nhất là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà
Trần Quang Khải (1241-1294)
Trần Quang Khải không chỉ là một nhà quân sự, một nhà ngoại giao giỏi mà còn là một bậc văn tàinổi tiếng của dân tộc Sống dưới triều Trần, ông không chỉ được vua cha Trần Thái Tông rất yêu quý, mà những bậc lừng danh văn võ cũng rất nể trọng
Trần Quang Khải là con trai vua Trần Thái Tông (Tức Trần Cảnh) Dưới triều vua Trần Thánh Tông (anh ruột Quang Khải), ông được phong tước Chiêu Minh Đại Vương Năm Giáp Tuất (1274), ông được giao chức Tướng quốc thái uý Năm Nhâm Ngọ (1282), dưới triều vua Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng Tướng thái sư, nắm toàn quyền nội chính.Thời Trần, ba lần quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta nhưng cả ba lần đều thất bại thảm hại Các chiến thắng Đông Bộ Đầu, Hàm Tử Quan, Bạch Đằng vào các năm 1258, 1285, 1288 đã từng đi vào những trang sử chói lọi của dân tộc ta, đưa đất nước ta đến với cuộc sống thanh bình, nhân dân có điều kiện sinh sống, làm ăn, đất nước phát triển Trần Quang Khải là một trong nhữngngười có công xây dựng nền độc lập ấy Chiến dịch Hàm Tử tháng 4 năm Ất Dậu (1285), Trần Quang Khải là người giữ một vai trò quan trọng Toàn bộ quân giặc Nguyên Mông đóng tại Hàm
Tử đã nhanh chóng bị quân ta đánh tan tành Cũng trong năm đó, Trần Quang Khải được cử làm tổng chỉ huy chiến dịch Chương Dương và Thăng Long Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng của Trần Quang Khải đã đẩy lùi được quân Nguyên Mông ra hai vị trí này, góp phần khôi phục kinh thành Thăng Long Chiến công giải phóng kinh thành Thăng Long của ông được sử sách ca ngợi là chiến công to nhất lúc bấy giờ
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba (1288), Trần Quang Khải được bố trí theo hầu cận vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, vừa tham gia trận mạc dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Vua và Thượng hoàng Trong trận quyết chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng (ngày 9 tháng 4 năm 1288), cùng với hàng loạt tướng lĩnh xuất sắc khác, Trần Quang Khải đã góp phần to lớn vào việc đập tan toàn bộ quân Nguyên Mông, lập lại hoà bình cho đất nước
Không chỉ là nhà quân sự tài tình, Trần Quang Khải còn là một nhà thơ có vị trí trong văn học Việt
Trang 3Nam Thơ ông được Phan Huy Chú đánh giá là những vần thơ “thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa, lý thú” Các bài thơ trữ tình của ông đã thể hiện sự khoáng đạt, gần gũi, gắn bó với cuộc sống của một tâm hồn thi sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với quê hương đất nước
Thơ Trần Quang Khải còn thể hiện hào khí Đông A, hào khí đời Trần với giọng thơ hùng hồn, hàosảng, đanh thép Bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” là một trong số những bài thơ nổi tiếng của ông, được xếp vào trong những bài thơ hay của thơ cổ nước ta Đây là bài thơ được Trần Quang Khải viết nhân dịp Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh đô Thăng Long
tổ chức ăn mừng chiến thắng:
Ông viết Lạc đạo tập, và tác phẩm của ông nay còn lại một số bài thơ, liệt kê dưới đây:
- Tụng giá hoàn kinh sư
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi
ca là vị anh hùng cứu nước là bậc "Vua hiền của nhà Trần thuần
túy đạo mạo, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng " Thời gian
Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử thách ghê
gớm
Ông có tên là Trần Khâm (con trưởng của vua Thánh Tông, Trần
Hoảng) sinh nǎm 1258 và lên ngôi nǎm 21 tuổi (1279) Ông làm vua
14 nǎm đến 35 tuổi thì nhường ngôi cho con là Anh Tông để làm
Thượng hoàng Triều đại nhà Trần dưới quyền ông, quả là một thời
Tông
Những nǎm đầu cầm quyền, Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân sự Bình Than, phâncông các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282) Ông lại cùng với cha tổ chức hội nghị Diên Hồng (1284) để cùng nhất trí trẻ già, một lòng quyết đánh Chưa bao giờ tinh thần đánh giặc ở nước ta được phát triển mạnh như dưới thời vua Trần Nhân Tông Cả nước sục sôi chuẩn bị, quân sĩ tỏ thái độ quyết không đội trời chung với địch
Và quả nhiên quân ta đã ra quân là chiến thắng còn địch thì thất bại thảm hại Trận Bạch Đằng 4-1288) đại thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông, đế quốc cường bạo nhấthồi bấy giờ, đã chiến thắng từ Âu sang A', song chúng không làm gì xoay chuyển nổi tình thế ở Việt Nam Chiến công này là của toàn dân, của những vị nguyên soái, đại tướng tài giỏi như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão v.v Song công lao đầu thuộc về hai cha con Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông Trong cả 2 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông hai ông
(9-đã trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân lãnh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khǎn gian khổ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng
Trần Nhân Tông không những chỉ là một vị vua giỏi, một anh hùng cứu nước mà ông còn là một
Trang 4nhà vǎn xuất sắc, có công lớn đối với nền vǎn học quốc âm Từ đời nhà Lý trở về trước, cho đến các triều vua Trần: Thái Tông, Thánh Tông không có một tác phẩm vǎn chương quốc ngữ nào Những Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố mới chỉ nghe tên chứ chưa tìm ra tác phẩm Đến cuối thế kỷ
13, chỉ có Trần Nhân Tông với bài phú Cư trần lạc đạo là mở trang đầu cho cuốn sách sưu tầm
vǎn học quốc âm của thời đại
Khi đất nước sạch bóng quân thù, Trần Nhân Tông đã chú trọng đến việc khuyến khích trồng dâu nuôi tằm, chiêu mộ dân khai khẩn ruộng hoang, mở rộng các công trình thủy lợi, đại xá cho thiên
hạ Nơi nào bị địch tàn phá thì tha sưu thuế, những nơi khác thì giảm thuế hoặc miễn theo thứ bậc khác nhau Ông luôn luôn nhắc các quần thần phải biết thương dân Có lần ông trực tiếp phân xử phải trái cho những người dân đón đường thưa kiện, vạch rõ cái sai của quan lại cận thần Ông rất trân trọng sự đóng góp to lớn của tướng sĩ, quân dân đối với ba cuộc kháng chiến
Một nét độc đáo riêng của Trần Nhân Tông so với nhiều nhà vua khác là ông rất thích du lịch, ông thường tổ chức những chuyến đi xa gần, vừa để trò chuyện, thuyết lý về những quan điểm triết học, tôn giáo của ông, vừa để thu thập thêm nhiều kiến vǎn trong hay ngoài nước
Trần Nhân Tông nhường ngôi nǎm 1293 (lúc ông mới 35 tuổi) Sau khi nhường ngôi cho con, lên làm Thượng hoàng ông đã dành toàn quyền điều hành cho nhà vua trẻ Ông chỉ có một lần trở
về kinh vào nǎm 1295 để theo dõi việc nước, còn dành toàn bộ thời gian vào việc riêng của mình
và đi chu du khắp nước
Trần Nhân Tông không chỉ là một trong những tác giả Quốc âm đầu tiên của lịch sử vǎn học Việt Nam Ông còn là một nhà thơ chữ Hán có tài Có thể nghĩ rằng, trong các nhà thơ đời Trần, còn lưu lại tác phẩm đến ngày nay, ông là một trong những tác giả có hồn thơ thực sự, Hồn thơ ấy đậm
đà ở phong cách riêng của ông, mà cũng còn do ông tiếp thu được cái chất triết học sâu xa của Phật giáo Ông rất yêu thiên nhiên Trong tâm trí của ông, lúc nào cũng thầy tràn ngập ánh trǎng, dồi dào mây nước, và đắm đuối với giấc mơ xuân:
Nhất thiên như thuỷ, nguyệt như trú
Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường
Có nghĩa là:
Nước ấy vầng xanh, trǎng ấy ngọcĐầy song hoa quyện giấc mơ xuân
(Đào Phương Bình dịch)Sau 14 nǎm làm vua, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, về làm Thái thượng hoàng và đi tu trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học giúp triếthọc Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ thể hiện đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam Bắt đầu những ngày nhường ngôi, ông để tâm vào Phật giáo nghiên cứu những lẽ huyền vi để hệ thống cácquan điểm Từ nǎm 1298, ông khoác áo nhà sư đi thuyết pháp các nơi Lý thuyết của phái Trúc Lâm do ông khởi xướng là không kêu gọi tín đồ lìa bỏ cuộc sống trần tục, không ép xác khổ hạnh,
mà đề cao nhân nghĩa, giáo dục lòng nhân đạo, không phân biệt giàu sang, luôn luôn nhớ đến cội nguồn
Ông tổ chức giảng Kinh - Kinh Vô lượng cho hàng ngàn người nghe và mọi người đều tiếp thu tư tưởng của ông, nhận rõ đạo Phật Trúc Lâm là nhập thế, không huyền vi xa lạ Ông lên tu ở chùa Yên Tử, có pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà, hoặc là Trúc Lâm đại đà đầu đà, thu hút được
Trang 5nhiều đệ tử
Trần Nhân Tông mất trong một môi trường có nhiều giai thoại ý vị Sử chép rằng vào nǎm 1308, ông ở trên ngọn núi Tử Tiên, Yên Tử tu hành Bà chị là Thiên Thuỵ ốm nặng, ông xuống thǎm và bảo:
- Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi Dưới âm phủ có ai hỏi thì cứ trả lời: Xin đợi một chút, emtôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay
Nói xong, ông trở về núi, gọi pháp Loa đến dặn dò các việc, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa Trần Nhân Tông qua đời nǎm 1308 tại am Ngọa Vân núi Yên Tử ( Đông Triều, Quảng Ninh)
Người đương thời và sau đó đã tạc tượng Trần Nhân Tông Tượng ở Yên Tử, đặt trong Huệ QuangKim tháp, là một pho tượng khỏe mạnh, rắn chắc, cân đối, đầy sức mạnh và nghị lực, còn ở chùa tháp Phổ Minh (Nam Định) tượng có vẻ ung dung thanh thản, hợp với con người nhà vua Trần Nhân Tông đã bước vào cõi Niết Bàn, nhưng còn để lại hình ảnh của một chiến sĩ, một thi nhân, một triết nhân của dân tộc
Nguyễn Trãi (1930 - 1442)
Tiểu sử
Quê gốc Nguyễn Trãi là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
nhưng sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần
Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện
Thường Tín, tỉnh Hà Tây Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh (trước
đây có tên là Nguyễn Ứng Long), vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học
sinh và bà Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi
Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắt sang Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh
Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai là Nguyễn Phi Hùngtheo cha sang Trung Quốc Nhưng đến ải Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục chođất nước, ông đã trở về và bị quân Minh bắt giữ ở Đông Quan
Tướng văn trong khởi nghĩa Lam Sơn
Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo Lê Lợi Các tài liệu nói khác nhau về thời điểm Nguyễn Trãi thamgia khởi nghĩa Có tài liệu nói ông tham gia từ đầu, có tài liệu nói đến năm 1420 hoặc 1423 ôngmới theo Lê Lợi
Theo gia phả họ Đinh kể về thân thế Đinh Liệt, một tướng Lam Sơn khác, có đề cập đến việcNguyễn Trãi gia nhập quân Lam Sơn Theo đó, mùa xuân năm Quý Mão (1423) Nguyễn Trãi lấytên là Trần Văn, Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ vào Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân LamSơn trong khi Bình Định Vương lại cho Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan Vìkhông biết rõ lai lịch hai vị này, Nguyễn Như Lãm (cận thần của Lê Lợi) đã giao cho Trần Văn
Trang 6làm Ký lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách,
Lê Lợi mới biết rõ hai người này và giữ lại bên mình để lo giúp việc Tài liệu này có cơ sở vì các
sử sách khi nói về giai đoạn đầu của khởi nghĩa Lam Sơn cũng không nhắc tới Nguyễn Trãi.Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo để lật đổ ách đô hộ củanhà Minh, trở thành quân sư đắc lực của Lê Lợi (vua Lê Thái Tổ sau này) trong việc bày tính mưu
kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh cho Lê Lợi
Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành trì củaquân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản
ý chí chiến đấu của tướng giặc
Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở ViệnKhu mật Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương Thông Thôngrút vào cố thủ trong thành Đông Quan Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2
đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì sắpphải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra Lực lượng của Vương Thônghợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơilỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất 3 tướng giỏi: Lê Triện, Đinh Lễ bị tửtrận, Đỗ Bí và Nguyễn Xí bị bắt Chỉ có Nguyễn Xí sau đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốnthoát về
Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội ứng choLiễu Thăng và Mộc Thạnh Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm đó Ông kiến nghịvới Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướngrằng:
"Đánh Đông Quan là hạ sách Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng năm,chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến,thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứadũng khí chờ đánh viện binh Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải hàng, thế là
ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."
Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán Lê Lợi điều các tướng giỏi lên đánhchặn hai đạo viện binh, giết được Liễu Thăng, Mộc Thạnh bỏ chạy về nước Vương Thông trongthành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "hội thềĐông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa
Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam quốc sơn hà)
Công thần bị tội
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua
Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn, một tướng giỏi vốn làdòng dõi nhà Trần định mưu phản, nên sai người đi bắt hỏi tội Trần Nguyên Hãn nhảy xuốngsông tự vẫn Vì Nguyên Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng cũng bị bắt giam vì nghingờ có liên quan tới tội mưu phản Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại thả ông ra.Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa
Bị oan khuất, sau khi ra khỏi ngục, ông làm bài Oan thán bày tỏ nỗi bi phẫn, trong đó có câu:
"Hư danh thực hoạ thù kham tiếu,
Trang 7Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông Những năm đầu,
Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới Nhân bàn
về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua:
"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than"
Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ýthức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước
Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, ChíLinh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay
Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn
để Sát khống chế mãi Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức
và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó cóNguyễn Trãi Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm thêm chức Hàn lâm việnThừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước chia làm 5 đạo) Thời gian phòvua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông Tuy nhiên khi triều chínhkhá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp
Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử Các bà vợ tranh chấpngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí vàngôi thứ tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho concủa bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là NgôThị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìmcách hại bà Ngọc Dao Nguyễn Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bàNgọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này)
Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dươngngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua Trên đường về kinh Vua đột ngộtqua đời tai vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh Nguyễn Trãi bị triều đình dohoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16tháng 8 năm 1442 "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội, họ bên vợ và họ bên
mẹ của người đó Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn
có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứcủa Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều
bị xử tử
Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi Con cháu ông được tìm lại và
bổ dụng Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phongcho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoànđiền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chícủa Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngàymất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ
Minh oan cho Nguyễn Trãi, vua Thánh Tông ca ngợi ông: "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê) Năm 1467, vua Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn
Trang 8Nguyễn Trãi
Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà vua lúc gian nan,
mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong khi ông còn sống Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương
Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận ông là danhnhân văn hóa thế giới
(Theo Wikipedia tiếng Việt)
Nguyễn Trãi (1930 - 1442)
+ TIỂU SỬ:
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây) Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một quý tộc đời Trần
Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê,nơi cha dạy học Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc Nguyễn Trãi
và một người em đi theo chăm sóc Nghe lời cha khuyên, ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ Sau đó, ông tìm theo Lê Lợi Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc
Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng
bị nghi oan và bắt giam Sau đó ông được tha, nhưng không còn được tin cậy như trước Ông buồn, xin về Côn Sơn Đó là vào những năm 1438 - 1440 Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc và giao cho nhiều công việc quan trọng Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh) Vốn chứa thù từ lâu đối với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều đình vu cho ông âm mưu giết vua, khép vào tội phải giết cả ba họ năm 1442 Nỗi oan tày trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải tỏa, rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan
Nhìn chung, ở cuộc đời Nguyễn Trãi nổi lên hai điểm cơ bản sau:
Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến Ở Nguyễn Trãi có một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất
Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chụi những oan khiên thảm khốc, do xã hội cũ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử
+ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN:
- Nhà văn, nhà thơ lớn: là anh hùng dân tộc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn, nhà thơ lớn Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị "Quân trung từ mệnh tập" là những thư từ gửi cho các tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế "đánh vào lòng", ngày nay
Trang 9Về thơ, có hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập" bằng chữ Nôm, tức chữ Việt,
đó là thơ cả một đời, từ lúc trẻ đến tuổi già, nhiều nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian
về nghỉ ở Côn Sơn Nội dung thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với nước, với dân, với bao éo le trong cuộc đờị
- Tình yêu quê hương gia đình: Nội dung thơ văn ông rất phong phú Đây chỉ nói vắn tắt một vài khía cạnh Nét đầu tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên ở quê hương Bắt đầu là những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu, nhưng chan chứa thân thương Rau muống, mồng tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây mía đều thành vần điệu Đào, liễu, tùng, trúc cao sang đứng liền bên cạnh rau muống, mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên Không chút gì phân biệt sang hèn Tất cả đều được lòng ông trìu mến Ông nói một cách trang trọng: "Hái cúc, ương lan, hương bén áo, Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn", mà cũng vừa vui tươi chân chất: "Ao cạn, vớt bèo cấy muống, Trì thanh, phát cỏ ương sen" Ông phát hiện ra cái đẹp bình dị rất bất ngờ: Đêm trăng gánh nước thì gánh luôn trăng đem về ("Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về") Bầu trời không mây, trong suốt một màu xanh, ông thấy đó là một bầu ngọc đông lại ("Thế giới đông nên ngọc một bầu") Thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn thành một đám tằm lúc nhúc ("Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi").Con rùa, con hạc, núi, chim, mây, trăng, ông coi là con cái, là láng giềng, là anh em: "Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn, U ấp cùng ta làm cái con ", "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam" Có lúc, ông như hòa tan mình vào thiên nhiên đến mức dòng suối, tảng đá phủ rêu, vòm thông tán trúc như hòa nhập với ông làm một: "Côn Sơn có suối rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm, Trong lèn thông mọc như nêm, Tha hồ muôn lọng ta xem chốn nằm, Trong rừng có bóng trúc râm, Giữa màuxanh mát ta ngâm thơ nhàn" (Côn Sơn ca - dịch)
- Tiếp theo là niềm tha thiết với bà con thân thuộc ở quê nhà Thời còn giặc Minh, nhiều năm ông phải lẫn tránh khắp nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con thân thuộc với bao nỗi buồn rầu Đêm thu, xa nhà, bên ngọn đèn khuya, ông day dứt: :Gió thu đến, lá rụng rồi mình vẫn lận đận quê người, Đêm mưa, bên ngọn đèn leo lét, hồn mộng cứ vẫn vơ mãi nơi đất khách" (Đêm thu đất khách - dịch) Tiết Thanh minh đến, theo tục, con cháu phải về thăm mồ mã ông bà, sửa sang, bồi đắp, thắp nén hương tưởng nhớ, cho đúng đạo làm con cháu, thế mà đã bao năm ông không về được Ông chỉ não lòng: "Thân mình xa ngàn dặm, mồ mã ông bà ở quê không sao giẫy cỏ thắp hương, Mười năm đã qua, những nguời ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai, Đành mượn chén rượu ép mình uống, không cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê" (Thanh minh - dịch)
Ông mất mẹ lúc mới lên sáu Lòng con thương mẹ càng nồng Ông bà ngoại, cậu, dì đều ở Côn Sơn Quê nội nhiều đời cũng ở đó Một lần đi thuyền về thăm, ông ôn lại bao nỗi đắng cay trong những ngày lưu lạc Nghe sao mà tha thiết: "Mười năm rồi mình trôi dạc như cánh bèo, Đêm ngày nổi nhớ quê cứ như giày vò trong lòng, Bao lần đã gửi hồn tìm về quê cũ, Nhưng rồi đành nhỏ nước mắt thấm máu mà gội rửa trong tưởng tượng nấm mồ mẹ, mồ mả ông bà, còn xóm làng, bà con, trong lúc giặc giày xéo thì tránh sao được những hành vi bạo tàn của chúng! mà mình thì cứ đang phải thương xót suông, Trời: biết làm sao đây! Một đêm trôi qua bên gối, không cách nào nhắm mắt được" (viết trên thuyền về Côn Sơn - dịch)
- Đời sống trong sạch, suốt đời một lòng vì nước vì dân: Trở về với nông thôn, ông yên lòng và tự hào: "Quê cũ nhà ta thiếu của nào, Rau trong nội, cá trong ao" Cấy cày là niềm vui: "Một cày một cuốc thú nhà quề, Áng chúc lan chen vãi đậu kê" Người dân bùn lấm đáng được biết ơn: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày" Cuộc sống giản dị, nghèo mà thanh: "Bữa ăn dầu có dưa muối, Áo mặc nài chigấm là", "Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bô quen cật vận xềnh xoàng", xa lánh chốn lợi danh nham hiểm: "Co que thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi trái hòe" Ông ca ngợi chi tiết của tùng,trúc, mai, ba cây không chịu khuất phục trước giá lạnh mùa đông và ông luôn giữ một tấm lòng
Trang 10trong sạch, một tấm "lòng thơm"
Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương dân Có khi ông gọi đó là "lòng trung hiếu", "lòng ưu ái"
Nó suốt đời sôi nổi: "Bui có một lòng trung liễn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen", "Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" Nó dựa trên lý tưởng nhân nghĩạ Nhân nghĩa là một tư tưởng cao qúy xuyên thấm cuộc đời và thơ văn ông Đối với ông, nhân nghĩa
là "yên dân", "trừ bạo" hay "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược" Được như vậy mới thực sự "Có nhân, có trí, có anh hùng" Nhân trí, anh hùng ấy thuộc lòng yêu nước cao cả của ông, yêu nước bằng tư tưởng, tình cảm, bằng hành động cứu nước lo dân tuyệt vờị Nói cụ thể như Phạm Văn Đồng: "cái nhân, cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của nước, hạnh phúc của dân" Đất nước bị ngoại xâm, nó hiện thành lòng lòng căm thù giặc cao độ và ý chí kiên trì, gang thép tiêu diệt quân thù: "Căm giặc nước thề không cùng sống", "Nếmmật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh" Quân giặc quét sạch rồi, nó là khát khao xây dựng một đất nước hưng thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh phúc: "Xã tắc từ đây bền vững, Giang sơn từ đây đổi mớị , Muôn thuở nền thái bình vững chắc"
Đặng Trần Côn
Đặng Trần Côn là tác giả của Chinh phụ ngâm, kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán của Việt Nam.Tiểu sử của Đặng Trần Côn cho đến nay biết được còn rất ít Kể cả năm sinh năm mất cũng khôngbiết chính xác Các nhà nghiên cứu ước đoán ông sinh vào khoảng năm 1710 đến 1720, mất khoảng 1745, sống vào thời vua Lê Chúa Trịnh
Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục (còn gọi làng Mọc), huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, tức HàTây ngày nay Ông đỗ Hương cống, nhưng thi Hội thì hỏng Sau đó làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyện Thanh Oai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu
Có một vài giai thoại về Đặng Trần Côn Tương truyền lúc ấy chúa Trịnh Giang cấm nhân dân Thăng Long ban đêm không được đốt lửa, để đèn sáng, ông phải đào hầm dưới đất, thắp đèn mà học Khi mới làm thơ, Đặng Trần Côn có đem đến cho bà Đoàn Thị Điểm xem, Đoàn Thị Điểm cười nói: "nên học thêm sẽ làm thơ."
Ngoài Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn có một số bài thơ, bài phú tả cảnh thiên nhiên, nhưng chỉ
còn lưu lại một số bài như Tiêu tương bát cảnh, ba bài phú Trương Hàn tư thuần lô, Trương
Lương bố y, Khấu môn thanh Khuynh hướng chung của thơ văn ông là đi sâu vào tình cảm, đi sâu
vào nỗi lòng trắc ẩn, phức tạp, sâu kín của con người, nhất là đối với người phụ nữ
Đoàn Thị Điểm
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (段氏點) sinh năm 1705 tại làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) mất năm 1748 tại tỉnh Nghệ An Bà có tài, có sắc, thông minh từ nhỏ, học vấn uyên bác, viết nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà
là bản dịch Chinh phụ ngâm (Khúc ngâm của người vợ có chồng đi chiến trận) Khúc ngâm này
nguyên tác bằng chữ Hán của nhà thơ Đặng Trần Côn (1715-1750) quán làng Nhâm Mục (làng
Trang 11Mọc) thuộc Kinh thành Thăng Long.’
Ðoàn Thị Ðiểm hiệu Hồng Hà nữ sĩ, con của Ðoàn Doãn Nghi, em danh sĩ Ðoàn Doãn Luân Tổ quán vốn ở xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc, sau bà và mẹ về ở với anh ở huyện Ðường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là Hải Hưng) Năm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin
bà làm con nuôi rồi ngỏ ý muốn tiến bà vào cung chúa Trịnh, nhưng chỉ ở ít lâu bà xin về, cùng với anh cần cù học tập trở nên người sành văn chương
Khi người anh mất, bà đảm nhận gánh nặng gia đình Bấy giờ bà đã nhiều tuổi mà vẫn chưa lấy chồng Nhiều người đến hỏi, trong đó có cả những kẻ quyền quý (như công tử làng Hoạch Trạch làNhữ Ðình Toản; Thượng thư làng Kim Lũ ), bà đều từ chối Năm 37 tuổi, bà lập gia đình với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Phú Xá, huyện Từ Liêm Năm 1748, ông được cử làm Tham thị
ở Nghệ An Ngày cùng chồng lên đường đến nhiệm sở mới, bà bệnh nặng rồi mất ở Nghệ an ngày 11/09/1748
Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm để ghi nhận một hiện thực lịch sử của đất nước Trải bao thế
kỷ, dân tộc ta phải đương đầu chống giặc ngoại xâm, trai tráng trong nước phải tòng quân giết giặc, những người phụ nữ phải đảm nhiệm công việc gia đình, đồng ruộng Và kiên trì chờ đợi ngày về của người lính chiến Tình trạng ấy cũng diễn ra trong đời sống của tác giả và dịch giả là thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nạn binh hỏa liên miên không dứt
Dịch Chinh phụ ngâm từ thơ chữ Hán sang thơ tiếng Việt, Đoàn Thị Điểm không làm công việc chuyển dịch bình thường Bà đã tạo nên một công trình văn học dịch có giá trị cao, không những sát với nguyên tác mà có phần còn vượt nguyên tác Tâm tư và cảnh ngộ của bà giống hệt tâm tư cảnh ngộ của người vợ trong khúc ngâm Vì vậy, tuy là dịch thơ mà bà đã "dịch" chính đời mình
ra thơ:
"Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên"
Đời bà vất vả thế Ba mươi bảy tuổi lấy chồng (ông tiến sĩ Nguyễn Kiều) Lấy chồng được một tháng, chồng đi sứ ba năm Cảnh tiễn biệt:
"Cùng trông lại mà cùng chẳng thấyThấy xanh xanh những mấy ngàn dâuNgàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai rầu hơn ai?"
Chồng đi vắng, vợ ở nhà vừa làm nhiệm vụ con trai nuôi mẹ vừa làm nhiệm vụ người cha dạy con:
"Ngọt bùi thiếp đã hiếu namDạy con đèn sách, thiếp làm phụ thânNay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mẻ xiết bao"
Sau thời gian đi sứ, ông Nguyễn Kiều về Sum họp chẳng được bao lâu, ông được lệnh vào trị nhậm ở Nghệ An Bà đi cùng với ông Mới vào đến Nghệ An, chẳng may bà bị bệnh, mất đột ngột,không thực hiện được câu thơ:
"Liên ngâm, đối ẩm đòi phenCùng chàng lại kết mối duyên đến giàCho bõ lúc sầu xa cách nhớ
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình"
Đoàn Thị Điểm cùng với Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương là ba nhà thơ nữ kiệt xuất trong văn học Việt Nam xưa, góp phần làm vẻ vang cho văn học Việt Nam nói chung và văn học
nữ giới Việt Nam nói riêng Bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đã phổ biến sâu rộng, được rất nhiều người yêu thích và ngâm nga truyền miệng như văn học dân gian
Tác phẩm:
Trang 12- Chinh phụ ngâm (bản dịch)
- Truyền kỳ tân phả (hay Tục truyền kỳ)
Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào
cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với
phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ
Nôm Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của
văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19
Tiểu sử
Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bàithơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:
* Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinhcủa bà - thì dòng họ này đã suy tàn
* Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 Do đó bà
có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt
sự đổ nát của nhà nước phong kiến
* Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội
* Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương
* Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước
* Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến)
Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã
có một cuộc sống đầy sóng gió