Theo tìm hiểu của chúng tôi, những công trình sau có đề cập đến một số vấn đề về lập luận trong văn chính luận Trung đại Việt Nam: “Quân trung từ mệnh tập”, đỉnh cao của dòng văn học lu
Trang 1LẬP LUẬN TRONG VĂN CHÍNH LUẬN QUA MỘT SỐ TÁC
PHẨM TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Người hướng dẫn: GS.TS Đỗ Việt Hùng Người thực hiện: Lưu Thị Họa
Lớp: k25
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Lập luận 5
1.1.1 Lập luận trong Logic học 5
1.1.2 Lập luận trong các sách giáo khoa về văn nghị luận 6
1.1.3 Lập luận trong Ngữ dụng học 8
1.2 Văn chính luận và lập luận trong văn chính luận 11
1.2.1 Văn chính luận 11
1.2.2 Lập luận trong văn chính luận 13
1.3 Một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 14
Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2.KHẢO SÁT HÌNH THỨC LẬP LUẬNTRONG MỘT SỐ BÀI VĂNCHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 17
2.1 Các dạng thức trình bày văn bản và phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam 17
2.1.1 Kết cấu, bố cục một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 17
Trang 42.1.2 Phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung
đại Việt Nam 23
2.2 Cách tổ chức hệ thống lập luận trong một số tác phẩm Văn chính luận Trung đại Việt Nam 30
Tiểu kết chương 2 41
Chương 3.VAI TRÒ CỦA LẬP LUẬN ĐỐI VỚI TÍNH HÙNG BIỆN TRONG MỘT SỐ BÀI VĂN CHÍNH LUẬNTRUNG ĐẠI VIỆT NAM 43 3.1 Vai trò của lập luận đối với tính logic và khúc chiết trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 43
3.1.1 Vai trò của lập luận đối với tính logic trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 43
3.1.2 Vai trò của lập luận đối với tính khúc chiết trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 55
3.2 Vai trò của lập luận đối với tính thuyết phục trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 57
3.2.1 Vai trò của các thủ pháp lập luận đối với tính thuyết phục trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 57
3.2.2 Chiến lược đánh vào tâm lí của đối phương trong lập luận đối với tính thuyết phục trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam 67 Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 77
NGỮ LIỆU 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trên thế giới, lập luận không phải là vấn đề mới Ngay thời Hi Lạp, khi bàn
về nghệ thuật hùng biện, lập luận đã được đề cập Tuy nhiên, lúc này, lập luận vẫn giới hạn ở phạm vi logic học (luận lí học) Cũng như vậy, khi nói đến văn nghị luận, trong nhà trường đã giảng dạy về các cách thức lập luận như diễn dịch, quy nạp…Tuy nhiên phải đến khi có sự xuất hiện của Ngữ dụng học thì lập luận của phát ngôn mới trở thành đối tượng của Ngôn ngữ học Trong văn chính luận, lập luận được phát huy cao nhất, đặc trưng của nó được thể hiện rõ nhất
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, các nhà văn thời Trung đại đã để lại một khối lượng tác phẩm văn chính luận lớn với nhiều tác phẩm có giá trị Văn chính luận Trung đại Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tìm hiểu tính chất lịch sử, chính luận, chiến đấu mà hầu như chưa chú trọng đến vấn đề lập luận trong văn chính luận Trung đại
Trong lịch sử văn học Trung đại Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận đã xuất hiện, trong đó có Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn chính luận kiệt xuất Một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam đã được đưa vào giảng dạy ở bậc Phổ thông, Đại học và Cao học Việc tiếp nhận tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn lập luận là hướng đi có cơ sở khoa học, mang tính hiệu quả cao
Thực tế, khi nói (viết), người nói (người viết) luôn luôn sử dụng cách lập luận Đặc biệt, trong các thể loại tranh biện, kiến giải; trình bày một quan niệm; một
tư tưởng, lập luận trở thành phương tiện quan trọng, hữu dụng nhất Tuy nhiên, trong thực tế khi giảng dạy về văn nghị luận Trung đại Việt Nam, hầu như người ta chỉ quan tâm nó như một tác phẩm văn chương tức là loại văn nghệ thuật với hai đặc trưng: Tính hình tượng và tính hư cấu Trong khi đó, lập luận ít được chú ý Theo tìm hiểu của chúng tôi, những công trình sau có đề cập đến một số vấn đề về
lập luận trong văn chính luận Trung đại Việt Nam: “Quân trung từ mệnh tập”, đỉnh
cao của dòng văn học luận chiến ngoại giao chống xâm lược (bài viết của Nguyễn
Trang 6Huệ Chi), Tìm hiểu phương pháp lập luận của Nguyễn Trãi trong “Quân trung từ
mệnh tập” (bài viết của Đặng Thị Hảo), Cách giảng dạy các bài văn nghị luận Trung đại (luận án tiến sĩ của Huỳnh Văn Hoa), Lập luận trong văn chính luận của Nguyễn Trãi, khảo sát qua “Quân trung từ mệnh tập” (đề tài Sinh viên Nghiên cứu
Khoa học của Lưu Thị Họa)
Từ những căn cứ trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: Lập luận trong văn
chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Đi vào tiềm hiểu đề tài: Lập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm
Trung đại Việt NamLập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt Nam, nhằm mục đích tìm hiểu vai trò của lập luận đối với tính hùng biện trong
một số tác phẩm Trung đại Việt Nam, cụ thể ở các vấn đề sau:
- Vai trò của lập luận đối với tính logic và khúc chiết trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
- Vai trò của lập luận đối với tính thuyết phục trong mọt số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam cụ thể của: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm
- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức và vai trò của Lập luận trong văn
chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt Nam
4 Giả thuyết khoa học
Từ xa xưa, lập luận đã được quan tâm nhiều Lập luận đã được đề cập trong logic học từ trước công nguyên Trong nhà trường, lập luận đã được đề cập trong việc xây dựng cũng như phân tích các bài văn nghị luận Khi xuất hiện Ngữ dựng học, lập luận trở thành đối tượng của Ngữ dụng học Ở phần 1.1 của chương 1, chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ về lập luận trong Logic học, trong Sách giáo khoa về văn nghị luận và trong Ngữ dụng học
Trang 75 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến lập luận, đưa ra khung chiếu về lập luận
- Khảo sát hình thức lập luận trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam: các dạng thức trình bày văn bản, phương thức lập luận và phương thức lập luận trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
- Tìm hiểu vai trò của lập luận đối với tính hùng biện cụ thể ở tính logic, tính khúc chiết và tính thuyết phục qua những lí luận liên quan đến đề tài và khảo sát hình thức lập luận trong một số tác phẩm chính luận Trung đại Việt Nam
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát gồm: Tuyển tập Ngô Thì Nhậm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, thế kỉ X – XII, Tinh tuyển Văn học Việt Nam, Văn học thế kỉ X – XIV, Nguyễn Trãi toàn tập về các tác phẩm của các tác giả: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm
- Phạm vi nội dung nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là 63 bài văn chính luận của các tác giả Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn
7 Phương pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài “Lập luận trong văn chính luận qua một số tác
phẩm Trung đại Việt Nam”, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả:
Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi sử dụng các thủ pháp sau: Thủ pháp
xã hội học, thủ pháp phân tích ngôn cảnh, thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp logic học, thủ pháp thống kê toán học
Trang 89 Cấu trúc luận văn
Đề tài Lập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt
Namngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chúng tôi triển
khai qua ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát hình thức lập luận trong một số bài văn chính luận
Trung đại Việt Nam
Chương 3: Vai trò của lập luận đối với tính hùng biện trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lập luận
1.1.1 Lập luận trong Logic học
Trong Logic học, lập luận được hiểu gần giống suy luận Suy luận được hiểu
là “hình thức của tư duy nhờ đó rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán theo các quy tắc logic xác định” [5, tr.123] Phán đoán được hiểu là “hình thức của
tư duy trong đó nêu lên sự khẳng định hay phủ định về sự vật, các thuộc tính hoặc các quan hệ của chúng Phán đoán được biểu thị bằng câu” [5, tr.8]
Trong Logic học đại cương, Vương Tất Đạt viết: “Quan hệ suy diễn logic
giữa các tiên đề và kết luận được quy định bởi mối liên hệ giữa các tiền đề về mặt nội dung Nếu các phán đoán không có liên hệ về mặt nội dung thì không thể lập luận và rút ra kết luận Tính chân thực của kết luận phân tích và tính chân thực của các tiền đề và tính đúng đắn logic của mối quan hệ nội dung giữa các tiền đề Trong quá trình lập luận để thu được tri thức chân thực mới cần tuân theo hai điều kiện:
a) Thứ nhất: các tiền đề của suy luận phải chân thực;
b) Thứ hai: phải tuân theo các quy tắc logic của lập luận” [5, tr.124]
Như vậy với cách hiểu đó, kết luận trong logic học không thuộc lập luận Lập luận chỉ được hiểu là một phương thức để rút ra kết luận
“Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia ra thành suy luận diễn dịch (suy diễn) và suy luận quy nạp (quy nạp) Suy diễn là suy luận trong đó lập luận từ cái chung đến cái riêng, đơn nhất Quy nạp là suy luận trong đó lập luận từ cái riêng, cái đơn nhất đến cái chung” [5, tr.127] Suy diễn được chia thành suy diễn trực tiếp và suy diễn gián tiếp
Trong Logic học, thế lưỡng phân chân thực / giả dối hay đúng / sai rất quan
trọng trong quá trình lập luận Theo Logic học đại cương của Vương Tất Đạt: Tính
chân thực của nội dung tư tưởng là điều kiện cần để đạt tới các kết quả chân thực trong quá trình lập luận Nhưng nếu lập luận chỉ tuân theo các điều kiện đó thì chưa đủ; lập luận còn phải tuân theo tính đúng đắn về hình thức hay tính đúng đắn logic
Trang 10Tính đúng đắn logic của lập luận do các quy luật và các quy tắc tư duy (quy luật không cơ bản quy định) Trong quá trình lập luận, nếu chỉ vi phạm một trong những yêu cầu của chúng sẽ dẫn tới những sai lầm logic và kết quả thu được sẽ không phù hợp với hiện thực Để rút ra kết luận đúng đắn trong quá trình lập luận, cần phải tuân theo hai điều kiện: 1) Các tiên đề dùng để xây dựng lập luận phải chân thực và 2) Sử dụng chính xác các quy luật (và quy tắc) của tư duy [5, tr.13] Trong quá trình lập luận, Logic học đòi hỏi phải tuân theo quy luật đồng nhất, không mâu thuẫn, loại trừ cái thứ ba, lí do đầy đủ
“Trong logic có phép quy nạp và diễn dịch Quy nạp hay diễn dịch đều là đi
từ luận cứ đến kết luận Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát thì ta có quy nạp, nếu đi từ từ một tiền đề khái quát đến suy ra kết luận cục bộ thì ta có diễn dịch Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận…Ở tam đoạn luận logic kết luận là hệ quả tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và của thao tác suy diễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải đúng…Một kết luận logic chỉ có hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai, đúng hay sai không thể bác bỏ, có nghĩa là nếu kết luận logic đã đúng thì không thể lập luận chứng minh rằng nó sai Ngược lại nếu nó đã sai thì không thể chứng minh rằng nó đúng” [2, tr.165]
1.1.2 Lập luận trong các sách giáo khoa về văn nghị luận
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh (Chủ biên), lập luận được hiểu là: “Đưa ra những lí lẽ,
dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người viết, người nói muốn đạt” [13, tr.10] “Nói một cách khái quát, lập luận là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài
nói” [13, tr.12] Tác giả Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh
phổ thông cho rằng một lập luận có các yếu tố là luận cứ lập luận, kết luận lập luận,
cách thức lập luận, có các dạng lập luận thường gặp là lập luận diễn dịch, lập luận
Trang 11quy nạp, lập luận phối hợp Trong xây dựng lập luận, người xây dựng phải chú ý các thao tác như thao tác logic, thao tác trình bày Thao tác logic gồm phân tích, tổng hợp và tổng phân hợp Thao tác trình bày gồm giải thích, chứng minh, bình
luận, so sánh và nhân quả Đồng thời, tác giả Luyện cách lập luận trong đoạn văn
nghị luận cho học sinh phổ thông cũng chỉ ra các lỗi lập luận là lỗi luận cứ và lỗi
kết luận Lỗi luận cứ gồm: luận cứ không đầy đủ, luận cứ sắp xếp lộn xộn, luận cứ không phù hợp với kết luận, các luận cứ tương phản; mâu thuẫn nhau Lỗi kết luận gồm: thiếu kết luận, kết luận không rõ ràng
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh (Chủ biên), luận cứ; kết luận; cách thức lập luận được
hiểu là: “Những lí lẽ, những dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa nhận….dùng làm chỗ dựa, làm cơ sở cho việc dẫn tới kết luận” [13, tr.12] “Kết luận lập luận là điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và chứng minh trong quá trình lập luận” [13, tr.14] “Cách thức lập luận là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận” [11, tr.15].Luận cứ có thể chia thành hai loại là luận cứ thực tế và luận cứ nhân tạo Kết luận lập luận được phân làm hai loại là kết luận tường minh và kết luận không tường minh
“Trong văn bản, trong diễn ngôn, chúng ta thường nói tới tư tưởng chủ đề
Tư tưởng chủ đề thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn Nói khác đi, một văn bản, một diễn ngôn (hay một đoạn văn) là một lập luận đơn hay lập luận phức bất
kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, diễn ngôn” [2, tr.174]
Theo Bùi Trọng Ngoãn: Các phép lập luận đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử Ngữ Văn của nhân loại Các nhà triết học cổ đại Hi Lạp đã bàn về các phương pháp lập luận khi nói về nghệ thuật tranh luận Sau này, lập luận là một đối tượng của
Trang 12logic học, tức là một bước phát triển đỉnh cao của suy luận toán học và nó được hình thành thành một chuyên ngành khoa học từ thế kỉ XVIII
Logic học bao giờ cũng gọi một nội dung cần được làm sáng tỏ, làm thuyết minh là vấn đề Làm sáng tỏ nó, người ta cần các phán đoán
Ví dụ:
Khi nói đến Hà Nội, người ta sẽ nghĩ tới những phán đoán cơ bản sau:
- Phán đoán 1: Thành phố lớn
- Phán đoán 2: Có lịch sử lâu dài
- Phán đoán 3: Thủ đô của Việt Nam
Khi đi vào văn bản, vấn đề được gọi là luận đề và các phán đoán sẽ được gọi
là các luận điểm
1.1.3 Lập luận trong Ngữ dụng học
“Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và trong logic học Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đã đặc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận” [2, tr.154]… “Cũng chính O.Ducrot đã cho rằng lập luận là một hành động ở lời” [2, tr.174] “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới Có thể hiểu quan
hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là nội dung các phát ngôn) như sau:
- Con mèo này màu đen (p) (nên) rất dễ sợ (r)
p là một thông tin miêu tả
Trang 13- Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng rồi -cậu phải nghe nhạc một lát (r)
(q) Luận cứ và kết luận là những thành phần trong lập luận Thuật ngữ lập luận được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, tức toàn bộ cấu trúc của lập luận, về cả nội dung và hình thức” [2 Tr.155] Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm cần phân biệt lập luận logic với lập luận đời thường Tác giả viết: “Ngữ dụng là lĩnh vực của ngữ nghĩa không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng – sai logic Chứng minh bản chất ngữ dụng của lập luận đời thường là chứng minh rằng nó không bị chi phối bởi quy tắc, các tiêu chuẩn đánh giá của lập luận logic” [2, tr.165] “Một kết luận đúng logic thì chỉ cần một luận cứ, trong một lập luận logic, không thể dẫn nhiều luận cứ cho cùng một kết luận” [2, tr.167] Trong Ngữ dụng học, “giữa các luận cứ có quan
hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p và q được đưa ra để hướng tới một kết luận nào đấy P và q có thể đồng hướng lập luận khi cả hai đều dẫn đến một kết luận chung, kí hiệu:
p 3 r
q -3 r
p và q có thể nghịch hướng lập luận khi p hướng tới r còn q hướng tới – r (nên chú ý r và – r cùng một phạm trù, nói khác đi – r là phủ định của r Nếu p hướng tới kết luận r, q hướng tới kết luận s thì chúng khác biệt về định hướng lập luận) Kí hiệu:
p -3 r
q -3 – r” [2, tr 177]
“Xét theo quan hệ định hướng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập luận (force argumentative) khác nhau, có nghĩa là p có sức mạnh đối với kết luận (hoặc – r) lớn hơn q hoặc ngược lại Luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh hơn thường được đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn” [2, tr.178]
“Chỉ lập luận đời thường, không phải lập luận logic mới chấp nhận các hành
vi ở lời và các biểu thức (các phát ngôn ngữ vi) làm thành phần…Một nội dung
Trang 14miêu tả có thể được dùng làm luận cứ cho một lập luận đời thường Vì vậy muốn chứng minh một lập luận đời thường là vấn đề của ngữ dụng học thì ngoài việc chứng minh các thành phần của nó khác với những thành phần của lập luận logic, còn phải chứng minh giá trị nội dung miêu tả trong lập luận đời thường không phải được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic” [2, tr.171] “Có những nội dung miêu tả
tự nó có giá trị lập luận hướng về kết luận tốt hoặc xấu, không cần những chỉ dẫn lập luận bổ sung để làm rõ giá trị lập luận của chúng Thí dụ các nội dung miêu tả:
sẽ dẫn tới kết luận đánh giá tốt” [2, tr.172]
Khi nói đến lập luận trong Ngữ dụng học, người ta phải đề cập đến vấn đề lẽ thường “Lẽ thường là những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như tiên đề logic Do nhân loại là một thực thể trùm lên mọi dân tộc cho nên có những lẽ thường phổ quát (phổ quát nhưng không tất yếu, bắt buộc) chung cho toàn nhân loại hay một số dân tộc cùng một nền văn hóa Lại có khá nhiều lẽ thường riêng cho một quốc gia, thậm chí một địa phương trong một quốc gia [2, tr.191] “Lẽ thường có tính chung nghĩa là lẽ thường đó được mọi người công nhận Mọi người ở đây không nhất thiết là toàn nhân loại hoặc toàn thể nhân dân một đất nước, toàn thể nhân viên của một dân tộc Chung ở đây chỉ có nghĩa là được một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, cộng đồng này có thể lớn bé khác nhau” [2, tr.194] Đó chính là sự khác biệt của lập luận trong Ngữ dụng học và lập luận trong Logic học Hơn nữa, trong Logic học, chúng ta không thể bác bỏ một lập luận Bởi một lập luận trong Logic học có giá trị lưỡng phân: đúng/sai Trong Ngữ dụng học, đôi khi, người ta có thể bác bỏ một lập luận
Một số nhà Việt ngữ học cũng đề cấp đến vấn đề lập luận Tuy nhiên, hướng
đi của các nhà Việt ngữ này theo hướng đi của tác giả Đỗ Hữu Châu Trong số đó,
Trang 15chúng ta có thể kể đến tác giả Diệp Quang Ban với Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo
của văn bản hay tác giả Nguyễn Thiện Giáp với 777 Khái niệm ngôn ngữ học
Trong logic học, đôi khi một phán đoán (mệnh đề) được hiểu là luận cứ (luận chứng) lại là một lập luận trong Ngữ dụng học
Ví dụ:
Phán đoán “a v b” sau đây là một lập luận trong Ngữ dụng học: Cô ấy thành
công nhờ chăm chỉ hoặc nhờ thông minh
1.2 Văn chính luận và lập luận trong văn chính luận
1.2.1 Văn chính luận
“Văn chính luận là thể văn viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa,…Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng
tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính khuynh hướng công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền, hùng biện” [13, tr.400]
Trong những giờ phút trọng đại của lịch sử dân tộc, văn chính luận thường
đóng một vai trò rất quan trọng Ví dụ: Lí Công Uẩn viết Chiếu dời đô để luận giải cho việc chuyển kinh đô ra Thăng Long Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để vạch
ra tội ác của quân Nguyên và khích lệ quân sĩ đánh giặc, bảo vệ đất nước Nguyễn
Trãi viết Quân trung từ mệnh tập chỉ ra những việc phi nhân nghĩa và tất bại của
quân giặc, từ đó thuyết phục quân giặc ra hàng, củng cố lòng quân dân của ta Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập để luận giải, khẳng định quyền độc lập;
tự chủ của nước Việt Nam và tuyên bố việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa…
Trang 16Trong Phong cách học tiếng Việt (1982) của Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù
Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa, văn chính luận được hiểu là “một thể thông dụng hầu như ai ai cũng đọc, nhưng khó có một định nghĩa rõ ràng Thông thường, người ta giải thích: chính luận là văn nghị luận chính trị để phân biệt với nghị luận xã hội, nghị luận khoa học…Tuy nhiên, trong xã hội ta, những vấn đề xã hội như đạo đức, tác phong, nếp sống, v.v…cũng là những vấn đề chính trị Vì vậy căn cứ vào nội dung để phân loại là đúng nhưng chưa đủ” [8, tr 83] Nhóm tác giả trên còn cho rằng chính luận vừa mang phong cách khoa học vừa mang phong cách báo chí Vì vậy phong cách chính luận có những đặc trưng sau: Tính khái quát của khoa học chính trị kết hợp với tính thời sự nóng hổi, Tính trí tuệ của ngôn ngữ khoa học kết hợp với tính chiến đấu rất cao của văn báo chí, Tính trừu tượng của ngôn ngữ khoa học kết hợp với tính kích thích của ngôn ngữ báo chí
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại (2011), tác giả Hữu Đạt cho rằng:
Phong cách chính luận “là phong cách được dùng để tỏ bày thái độ, quan điểm của người viết (nói) về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm lôi kéo người đọc (nghe) về phía mình, hành động theo mình” [4, tr 264] Tác giả còn cho rằng ngôn ngữ trong phong cách chính luận có những đặc trưng sau: Ngôn ngữ giàu tính lí luận kết hợp với biểu cảm, Tính khúc chriết, giàu tính thuyết phục, Tính trong sáng và tình thẩm mĩ cao, Tính trang trọng và đại chúng, Đặc điểm về cách dùng từ Các dạng tồn tại của văn chính luận gồm tuyên ngôn, hịch, chiếu, cáo văn, lời kêu gọi, di chúc, điếu văn, các nghị quyết của Hội nghị trung ương, các Báo cáo Chính trị, Thông cáo chung, các bài xã luận, xã thuyết, nghị luận văn học
Theo thầy Bùi Trọng Ngoãn: “Phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận là phong cách được sử dụng trong các văn bản bàn bạc, thảo luận, kiến giải, nêu quan điểm…về các vấn đề chính trị - xã hội liên quan đến đời sống cộng đồng và việc nước, nhằm tuyên truyền, giáo dục, động viên
Văn bản chính luận tồn tại ở cả hai dạng nói và viết, gồm có:
+ hịch, cáo, lời kêu gọi, tuyên ngôn, + các bài xã luận, bình luận chính trị,
Trang 17+ các bài diễn thuyết chính trị trong các buổi mít tinh, các buổi đón tiếp ngoại giao,
+ các báo cáo chính trị, các nghị quyết chính trị…” [11, tr 91]
Thầy Bùi Trọng Ngoãn còn cho rằng phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận có những đặc trưng sau: Tính hàm súc, tính hùng biện (tính lí luận chặt chẽ, tính logic) và tính đại chúng
1.2.2 Lập luận trong văn chính luận
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra cách nhìn quan niệm của mình về lập luận,
lập luận trong văn nghị luận như sau:
“Trong một văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú, đa dạng và phức tạp” [13, tr.5] “Lập luận là đưa ra những lĩ lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người viết, người nói muốn đạt tới” [13, tr.10] “Nói cách khác, lập luận là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài nói” [13, tr.12]
Nguyễn Quang Ninh cho rằng một lập luận thường gồm ba yếu tố là luận cứ lập luận, kết luận lập luận và cách thức lập luận Luận cứ được hiểu là “căn cứ để rút ra kết luận Đó là những lí lẽ, những dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn của đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa nhận…dùng để làm chỗ dựa, làm cơ sở cho việc dẫn tới kết luận” [13, tr.12] “Nói tới lập luận không thể không nói đến việc giải thích, phân tích, chứng minh cho kết luận Những lí lẽ, dẫn chứng đưa ra nhằm mục đích giải thích, phân tích và chứng minh cho kết luận ấy chính là các luận cứ trong một lập luận” [13, tr 12] Nguyễn Quang Ninh chia luận cứ lập luận thành hai loại là luận cứ thực tế và luận cứ nhân tạo Trong đó, luận cứ tự nhiên là luận cứ có giá trị đối với kết luận của lập luận Kết luận lập luận được hiểu là “điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và chứng minh trong quá trình lập luận Kết luận là cái đích của một lập luận Đây là điều người viết, người nói muốn người đọc chấp nhận”….“Thông qua các luận cứ
Trang 18của lập luận, người viết, người nói có thể dẫn người đọc, người nghe đến với những kết luận rất khác nhau Có thể đó là một sự khẳng định, một sự phủ định hoặc một
sự bộc lộ thái độ, tình cảm…, nhưng dù khác nhau thế nào đi chăng nữa thì kết luận vẫn luôn luôn là cái cần có trong một lập luận” [13, tr.12] Nguyễn Quang Ninh chia kết luận thành kết luận tường minh và kết luận không tường minh Cách thức lập luận “là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận” [13, tr.15] Nguyễn Quang Ninh chỉ ra ba cách thức lập luận thường gặp là lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp
Lỗi kết luận: Thiếu, không đầy đủ
Trong văn nghị luận, lập luận có một vai trò rất quan trọng Lập luận tạo nên tính chặt chẽ, thuyết phục của văn nghị luận Trong văn nghị luận, người viết phải biết lập luận nghĩa là phải biết xây dựng và trình bày bố cục văn bản, triển khai các luận điểm, dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều muốn nói, để hướng người đọc đến đích lập luận của mình
1.3 Một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Trang 19Trong giai đoạn Văn học Trung đại Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận kiệt xuất đã xuất hiện Thông thường, họ là những tướng sĩ, quan lại, có thể là cả vua chúa Trong phạm vi luận văn, chúng tôi khảo sát 63 bài văn chính luận của bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn Các tác giả đó là Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm, cụ thể: 1 bài của Lý Thường Kiệt, 1 bài của Lý Công Uẩn, 2 bài của
Lý Phật Mã, 1 bài của Trần Quốc Tuấn, 2 bài của Trần Mạnh in trong Tinhtuyển
Văn học Việt Nam, Văn học thế kỉ X-XVII, 46 bài in trong Quân trung từ mệnh tập
của Nguyễn Trãi, 10 bài in trong Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm
Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn chính luận kiệt xuất nhất trong lịch sử Văn học Trung đại Việt Nam Chúng tôi tập trung vào khảo sát văn chính
luận của hai tác giả qua hai tập Quân trung từ mệnh tập và Hàn các anh hoa Do đó, chúng tôi xin nói thêm về hai tập này: Quân trung từ mệnh tập gồm những thư từ
gửi cho tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh,…Tác phẩm
là tập văn chiến đấu “có sức mạnh của mười vạn quân” (Phan Huy Chú) Sức mạnh
ấy có được từ sự kết hợp tuyệt diệu giữa tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước
với nghệ thuật viết văn chiến luận bậc thầy [15, tr.10] Như vậy, Quân tung từ mệnh
tập của Nguyễn Trãi được đánh giá rất cao Nó vừa có giá trị văn học vừa có giá
chính trị Giá trị văn học được thể hiện ở chỗ nó đưa thể văn chính luận lên đến đỉnh cao trong dòng chảy của Văn học trung đại Việt Nam nói riêng, Văn học Việt Nam nói chung Giá trị chính trị được thể hiện ở chỗ nó là sức mạnh đánh vào lòng quân
địch, khiến quân địch ở nhiều thành phải tự động ra hàng Hàn các anh hoa có giá
trị đặc biệt trong di sản văn hóa của Ngô Thì Nhậm Bởi vì đây là những bài văn Ngô Thì Nhậm viết thay cho Quang Trung trong các vấn đề quan trọng hàng đầu của đất nước, nên nội dung của nó thể hiện đường lối đối nội sáng suốt của Quang Trung và có một giá trị sử học to lớn Đồng thời đây cũng là những áng văn lớn Ngô Thì Nhậm đã nâng cao vị trí thể loại văn chiếu biểu là một thể loại văn học đã suy yếu từ sau Nguyễn Trãi Gắn với những nội dung có tính chất sử thi của thời đại, thể hiện nhiệt tình và tài năng lớn của người viết, một số bài văn từ mệnh của
Trang 20Ngô Thì Nhậm trong Hàn các anh hoa đã theo kịp văn từ mệnh của Nguyễn Trãi”
[Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, tr 100]
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 này, chúng tôi trình bày những vẫn đề lí luận liên quan đến
đề tài, cụ thể: Lập luận trong logic học, các sách giáo khoa về văn nghị luận và Ngữ dụng học, văn chính luận, một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam mà
đề tài khảo sát
Lập luận là đối tượng trong logic học Nó được phân tích trong các sách giáo khoa về văn nghị luận Trong những năm gần đây khi xuất hiện Ngữ dụng học, lập luận trở thành đối tượng của Ngôn ngữ học Hiểu một cách đơn giản, lập luận là việc đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để hướng đến kết luận
Văn chính luận là thể văn viết về những vấn đề mang tính thời sự và tính cộng đồng Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận đã xuất hiện Trong đó, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai đỉnh cao Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát 63 bài văn chính luận của bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn, cụ thể là những bài văn chính luận của Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm
Trang 21CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT HÌNH THỨC LẬP LUẬNTRONG MỘT SỐ BÀI VĂN
CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên 63 bài văn chính luận của
bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, cụ thể: 46 bài trongQuân
trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, 10 bài trong Hàn các anh hoa của Ngô Thì
Nhậm, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Luận về việc dùng người và Luận về
nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết của Trần Mạnh, Lộ bố về việc đánh Tống của Lý
Thường Kiệt, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Chiếu đánh dẹp họ Nùng và Chiếu
tha thuế của Lý Phật Mã Trong đó, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn
chính luận xuất sắc nhất trong Văn học Trung đại Việt Nam nên chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát văn chính luận của hai tác giả này
2.1 Các dạng thức trình bày văn bản và phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
2.1.1 Kết cấu, bố cục một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Một văn bản thông thường có ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Theo khảo sát của chúng tôi, bố cục của 63 bài văn chính luận trên nằm trong năm mô hình sau:
- Dạng 1: phần mở đầu – phần nội dung – phần kết luận
Xuất hiện ở 29 bài (chiếm 46 %), cụ thể: Lộ bố về việc đánh Tống, Chiếu dời
đô, Chiếu tha thuế, Hịch tướng sĩ, Thư xin hàng, Thư cho tổng binh cùng quan phủ
vệ Thanh – Hóa, Thư cho Thái giám Sơn Thọ, Thư cho Phương Chính, Thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Thư cho tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Biểu cầu phong, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Thư cho Thái đô đốc, Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An, Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Thư cho Vương Thông, Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi, Tờ
Trang 22chiếu khuyến nông, Tờ chiếu cầu hiền, Tờ chiếu về việc lập nhà thái học, Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long, Tờ chiếu về việc ban
ơn
Ví dụ:
Tờ chiếu khuyến nông (Ngô Thì Nhậm)
Có thể thấy, trong văn bản Tờ chiếu khuyến nông được chia làm 3 phần:
Phần mở đầu – phần nội dung và phần kết luận Phần mở đầu nói về tình hình ruộng đất cũng như số đinh hiện tại và quyết định ra chiếu khuyến nông cho quan viên và dân chúng thực thi để cho dân giàu, nước mạnh Phần nội dung tờ chiếu đưa ra những công việc mà các viên chức cũng như người dân cần phải thực hiện Phần kết luận nhấn mạnh, khẳng định việc cần thiết của việc thực thi chính sách này
- Dạng 2: Phần mở đầu – Phần nội dung
Xuất hiện ở 1 bài (chiếm 1.6%), cụ thể: Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng
tử biết
Ví dụ:
Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết (Trần Mạnh)
Văn bản có hình thức : phần mở đầu và phần nội dung Ở đây, tác giả đưa ra lời mở đầu: kẻ tốt, người xấu đều phải nêu ra Sau đó bàn luận về người chuyện xấu tốt, người xấu người tốt và về mặt hình thức bản thân tác giả không đem ra một kết luận gì thay vào đó là một kết luận hàm ẩn
- Dạng 4: Phần nội dung – kết luận
Trang 23Xuất hiện ở 29 bài (chiếm 46%), cụ thể: Chiếu đánh dẹp họ Nùng, Luận về việc dùng người, Lại thư trả lời cho Phương Chính, Thư gửi bọn Hoa đại nhân, Thư cho Thái Công, Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư trả lời Vương Thông, Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Sơn Thọ, Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần), Thư cho Vương Thông, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Lại thư cho Sơn Thọ, Lại thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu, Thư dụ thành Bắc Giang, Thư dụ hàng thành Tam Giang, Thư cho Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Chiếu khuyến dụ hào kiệt, Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều
cũ, Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa, Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành
Ví dụ:
Trong bài “Chiếu đánh dẹp họ Nùng” của Lý Phật Mã, tác giả đi thẳng vào
nội dung là: mọi thần dân đều thuần phục nhà vua, Nùng Tồn Phúc không thuần phục, chống lại nhà vua và kết luận thẳng là: nhà vua bắt được bọn Nùng Tồn Phúc đem chém đầu
- Dạng 5: Phần nội dung
Xuất hiện ở 2 bài (chiếm 3,2%), cụ thể: Lại thư cho Vương Thông, Tờ tấu về việc tìm hiểu con cháu họ Trần
Ví dụ:
Trong “Tờ tấu về việc tìm hiểu con cháu họ Trần”, tác giả đi thẳng vào
phần nội dung trình bày : Thân tộc họ Trần trước bị Hồ Quý Ly giết hết, Ta tìm được Trần Cảo tự xưng là con cháu nhà Trần và xin lập làm vua, Không ngờ Trần Cảo ốm chết, Con cháu họ Trần hiện không còn ai, Nếu có thì ta đã tâu lên nhà Minh, Ta đã trả hết quan lại quân nhân cho nhà Minh, không còn một ai cả
Trang 24Dưới đây là bảng khảo sát của chúng tôi:
Bảng 2.1: Kết cấu, bố cục của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Mở đầu – Nội dung – Kết luận
Mở đầu – Nội dung
Mở đầu – Kết luận
Nội dung – Kết luận
Nội dung
7 Luận về nhân vật thiện, ác để
Trang 2511 Thư cho Phương Chính X
12 Thư trả lời Phương Chính X
13 Lại thư trả lời Phương Chính X
15 Lại thư trả lời Phương Chính X
16 Thư trả lời bọn tổng binh Vương
Thông và thái giám Sơn Thọ X
19 Thư cho hình nội quan cùng bọn
Đả Trung và Lương Nhữ Hốt X
20 Lại thư cho Đả Trung và Lương
22 Lại thư gửi cho Vương Thông
24 Lại thư cho Vương Thông X
26 Lại thư cho Vương
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà
Trang 2633 Lại thư cho Vương Thông X
34 Thư cho Đả Trung và Lương
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu
45 Thư cho Thái đô đốc X
47 Thư dụ các thành Thanh Hóa,
48
Lệnh dụ các tướng hiệu quân
nhân ở Nghệ An, Tân Bình,
Thuận Hóa
X
49 Thư cho Vương Thông X
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu
HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
Trang 2754 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng
công Giám quốc X
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn
57 Tờ chiếu phát phối hàng binh
58 Tờ chiếu khuyến nông X
60 Tờ chiếu về việc lập nhà học X
61 Tờ biểu của hai ban văn võ
62
Tờ biểu của đình thần văn võ
xin Quang Trung ngự giá ra
2.1.2 Phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
Ở mục này, chúng tôi khảo sát phương thức lập luận của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam ở cấp độ văn bản Những văn bản chỉ có một đoạn văn, chúng tôi quan niệm nó là một đoạn văn thuần túy, có một luận điểm Luận điểm đó
Trang 28có thể có những luận cứ lập luận Khi đó, kết luận của chúng sẽ nằm ở tiêu đề văn bản hoặc là kết luận hàm ẩn
“Cách thức lập luận (phương thức lập luận – người viết) là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận Các luận cứ trong một lập luận không bao giờ nằm tách biệt nhau mà luôn ở trong mối quan hệ ràng buộc, liên kết chặt chẽ với nhau Bởi vậy, khi tiến hành lập luận, chỉ khi nào người viết, người nói xác định thật rõ được mối quan hệ giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận cứ với kết luận thì khi ấy người nói, người viết mới có thể lựa chọn được một cách thức lập luận phù hợp, nghĩa là chọn được chính xác một quỹ đạo chung cho các luận cứ và kết luận” [12, tr.15] Nguyễn Quang Ninh chỉ ra ba cách lập luận thường gặp là: Lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp và lập luận phối hợp Cách thức lập luận ở đây được tác giả đề cập trong phạm
vi đoạn văn Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng lí thuyết phương thức lập luận vào khảo sát từng đoạn văn cụ thể nói riêng và từng văn bản nói chung Dưới đây là kết quả khảo sát của chúng tôi về các dạng lập luận ở cấp độ văn bản của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
- Dạng lập luận diễn dịch: Lập luận diễn dịch là phương thức lập luận xuất
hiện từ cái khái quát đến cái cụ thể Văn bản được lập luận theo phương thức diễn dịch là văn bản có phần mở đầu nêu nội dung khái quát và phần nội dung triển khai nội dung khái quát đó Những bài văn có hình thức một đoạn văn có thể xuất hiện dưới dạng lập luận diễn dịch Khi đó, kết luận của văn bản chính là tiêu đề của văn bản Theo khảo sát của chúng tôi, dạng lập luận này xuất hiện ở 11 bài, cụ thể: Luận
về nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết, Thư xin hàng, Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần), Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu, Thư dụ thành Bắc Giang, Thư dụ hàng thành Tam Giang, Lại thư dụ Vương Thông, Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ
An, Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Chiếu khuyến dụ hào kiệt, Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần
Ví dụ:
Trang 29Trong “Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu”, đượct rình bày theo dạng lập
luận diễn dịch Mở đầu tác giả khẳng định: lẽ tự nhiên của loài vật là cuối cùng cũng trở vể chốn cũ ““quạ đi lại về chốn cũ, cáo chết quay đầu về núi” Cầm thú còn thế, huống nữa là các người” sau đó tác giả đi vào chứng minh cho các thổ quan bằng những dẫn chứng đầy thuyết phục nhằm dụ hàng bọn thổ quan: những thổ quan đều là người nước ta, những mất mát mà họ chịu là do họ Hồ và nhà Minh, trời trao cho Lê Lợi làm vua để giải thoát dân khỏi giặc Minh, nhân dân theo Lê Lợi nên đi đến đâu Lê Lợi đánh thắng đến đó và Nguyễn Trãi chỉ cho chúng sự lựa chọn dứt khoát là theo Lê Lợi thì sẽ được tha, được trọng hậu ngược lại thì sẽ bị trừng trị
- Dạng lập luận quy nạp: Lập luận quy nạp là phương thức lập luận xuất hiện
đi từ cái riêng đến cái khái quát Văn bản lập luận theo phương thức quy nạp là văn bản có phần nội dung – kết luận hoặc mở đầu – kết luận Những bài văn có hình thức một đoạn văn có thể xuất hiện dưới dạng lập luận quy nạp Khi đó, văn bản có kết luận hàm ẩn Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này xuất hiện ở 42 bài, cụ thể: Chiếu tha thuế, Luận về việc dùng người, Thư cho Tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh – Hóa, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư cho Phương Chính, Thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời cho Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Thư gửi bọn Hoa đại nhân, Thư cho Thái Công, Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư trả lời Vương Thông, Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Sơn Thọ, Thư cho Vương Thông, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Lại thư cho Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Thái đô đốc, Thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lộ bố về việc đánh Tống, Chiếu đánh dẹp họ Nùng, Thư cho
Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông,
Trang 30Tờ tấu cầu phong, Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều cũ, Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa, Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành
Ví dụ:
Trong “Chiếu tha thuế” (Lý Phật Mã), tác trình bày tình hình tình hình mùa
màng cũng như đời sống của nhân dân và nhà vua (Việc đánh dẹp phương xa làm tổn hại đến công việc nhà nông, Mùa màng được mùa lớn, Trăm họ no đủ, nhà vua không lo nữa.) cuối cùng đem ra quyết định cuối cùng là: Giảm thuế cho nhà nông (
Xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế để an ủi.)
- Dạng lập luận tổng – phân – hợp: Lập luận tổng – phân – hợp là phương
thức lập luận nối giữa cách thức lập luận và quy nạp Văn bản lập luận theo phương thức này là văn bản có đầy đủ ba phần mở đầu – nội dung – kết luận Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này xuất hiện ở 10 bài, cụ thể:Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Biểu cầu phong, Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi, Tờ chiếu khuyến nông, Tờ chiếu cầu hiền, Tờ chiếu về việc lập nhà thái học, Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long, Tờ chiếu về việc ban
ơn
Ví dụ:
Trong “Tờ chiếu khuyến nông”, Ngô Thì Nhậm viết thay cho Quang Trung
Mở đầu là nhắc nhở mọi người phải chú trọng đến về vấn đề nông nghiệp sau đó tác giả đề ra những vấn đề cần thực hiện trong chính sách: chính sách khuyến khích sản xuất, làm cho dân giàu, phải được tiến hành lần lượt; dân lưu tán phải trở về nguyên quán, ruộng đất không được bỏ hoang, sưu thuế hợp lí; mọi người phải thi hành chiếu chỉ Cuối cùng là khẳng định nếu mọi người thi hành việc khuyến nông sẽ được hưởng hạnh phúc
- Dạng lập luận song hành: Là phương thức lập luận tạo nên sự bình đẳng
giữa các luận cứ (trong đoạn văn) và các luận điểm (trong văn bản) Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này không xuất hiện ở bài nào
- Dạng lập luận móc xích: Là phương thức lập luận tạo nên sự tiếp nối phát
triển nghĩa là nội dung luận cứ sau (trong đoạn văn) hoặc luận điểm sau (trong văn
Trang 31bản) phát triển nội dung của luận cứ trước hoặc luận điểm trước Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này không xuất hiện ở bài nào
Như vậy, 63 bài văn chính luận đã khảo sát chỉ xuất hiện ba dạng lập luận ở cấp độ văn bản: Dạng lập luận quy nạp xuất hiện nhiều nhất, sau đó là dạng lập luận diễn dịch và dạng lập luận tổng – phân – hợp Dưới đây là bảng khảo sát của chúng tôi về các phương thức lập luận 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam:
Quy nạp
Tổng – phân – hợp
Song hành
Móc xích
7 Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử
QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI
Trang 3213 Lại thư trả lời Phương Chính X
15 Lại thư trả lời Phương Chính X
16 Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông
19 Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả
20 Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt X
21 Lại thư trả lời Vương Thông X
22 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ X
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần) X
Trang 3332 Lại thư cho Sơn Thọ X
34 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt X
36 Lại thư cho thái giám Sơn Thọ X
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu X
38 Thư dụ thành Bắc Giang X
39 Thư dụ hàng thành Tam Giang X
41 Lại thư dụ Vương Thông X
47 Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An X
48 Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở
Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa X
52 Chiếu khuyến dụ hào kiệt X
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần X
HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
54 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều X
Trang 34cũ
57 Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội
61 Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc
62 Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang
- Dạng lập luận diễn dịch: Xuất hiện 9 đoạn văn ở những văn bản sau: Chiếu
dời đô (1 đoạn), Chiếu đánh dẹp họ Nùng (1 đoạn), Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết (1 đoạn), Tờ chỉ dụ cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi (2 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (1 đoạn)
- Dạng lập luận quy nạp: Xuất hiện lần 68 đoạn văn ở những văn bản sau:
Lộ bố về việc đánh Tống (3 đoạn), Chiếu dời đô (2 đoạn), Chiếu đánh dẹp họ Nùng (1 đoạn), Hịch tướng sĩ (5 đoạn), Luận về việc dùng người (1 đoạn), Lại thư cho Phương Chính (1 đoạn), Thư gửi bọn Hoa đại nhân (1 đoạn), Thư cho Thái công,
Trang 35Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Lại thư trả lời Vương Thông (1 đoạn), Lại thư gửi Vương Thông Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư cho Sơn Thọ (1 đoạn), Biểu cầu phong (2 đoạn), Văn tấu cao (Liệt thánh nhà Trần) (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư cho Sơn Thọ (1 đoạn), Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu (1 đoạn), Thư dụ thành Bắc Giang (1 đoạn), Thư dụ hàng thành Tam Giang (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư dụ Vương Thông (1 đoạn), Lại thư dụ Vương Thông (2 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ tấu cầu phong (1 đoạn), Chiếu khuyến dụ hào kiệt (1 đoạn),Tờ tấu về việc tìm kiếm con cháu họ Trần (1 đoạn), Tờ dụ ủy cho Sùng Nhượng Công Giám quốc (3 đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (4 đoạn), Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều cũ (1 đoạn), Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa (1 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (2 đoạn), Tờ chiếu về việc lập nhà học (3 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành (1 đoạn), Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long (9 đoạn)
- Dạng lập luận tổng – phân – hợp: Xuất hiện 26 đoạn văn ở những văn bản
sau: Chiếu dời đô (1 đoạn), Chiếu tha thuế (1 đoạn), Hịch tướng sĩ (1 đoạn), Thư xin hàng (1 đoạn), Thư cho tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh – Hóa (1 đoạn), Thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Thư cho Phương Chính (1 đoạn), Thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Lại thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Lại thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Thư cho bọn tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Biểu cầu phong (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông 1 đoạn), Thư cho Thái
đô đốc (1 đoạn), Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An (1 đoạn), Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ chỉ dụ cho Sùng Nhượng công Giám quốc (1 đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (1 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (1 đoạn), Tờ
Trang 36chiếu về việc lập nhà thái học (1 đoạn), Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long (1 đoạn), Tờ chiếu về việc ban ơn (1 đoạn)
- Dạng lập luận song hành: Xuất hiện 15 đoạn văn ở những văn bản sau: Lộ
bố về việc đánh Tống (1 bài), Hịch tướng sĩ (4 đoạn), Luận về việc dùng người (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần (1 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (3 đoạn), Tờ chiếu về việc lập nhà thái học (1 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành (1 đoạn), Tờ chiếu về việc ban ơn (1 đoạn)
- Dạng lập luận móc xích: Xuất hiện 4 đoạn văn ở những văn bản sau: Hịch
tướng sĩ (1 đoạn), Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (1 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo
đã thành (1 đoạn)
Bảng 2.3: Phương thức lập luận ở cấp độ đoạn văn của 63 bài văn chính
luận Trung đại Việt Nam
Quy nạp
Tổng – phân – hợp
Song hành
Móc xích
Trang 37TRẦN MẠNH
7 Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử
16 Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông
19 Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả
20 Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt 1
21 Lại thư trả lời Vương Thông 1
22 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ 1
Trang 3827 Lại thư cho Sơn Thọ 1
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần) 1
34 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt 1
36 Lại thư cho thái giám Sơn Thọ 1
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu 1
39 Thư dụ hàng thành Tam Giang 1
47 Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An 1
48 Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần 1
Trang 39HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
54 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều
57 Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội
61 Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc
62 Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang
Trung ngự giá ra Thăng Long 9 1
Để tạo nên tính chặt chẽ cũng như phương thức lập luận giữa các câu văn trong đoạn văn cũng như trong văn bản có hình thức một đoạn văn phải có những phương thức liên kết (phép liên kết) nhất định
Phương thức liên kết (phép liên kết) là cách sử dụng các phương tiện liên kết
có đặc tính chung vào việc liên kết câu với câu [1, tr.351]
Đi vào khảo sát 63 tác phẩm, chúng tôi đi vào khảo sát các phương thức liên kết: phương thức dùng câu hỏi, phương thức thế, phương thức lặp, phương thức nối
và phương thức liên tưởng
Phương thức dùng câu hỏi: ngoại trừ câu hỏi đối thoại, trong văn bản đơn thoại, câu hỏi tu từ và câu hỏi đơn thoại có chức năng liên kết rõ rệt câu hỏi có thể đặt ở đầu đoạn mà cũng có thể đặt ở cuối đoạn văn” [9, tr.52]
Trang 40“Phép thế là việc sử dụng ở câu này các đại từ thay thế như đó, đây, kia,… thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế đó,… thế cho động từ (cụm động từ), tính từ
(cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú) tương ứng có mặt trong các câu khác; trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết được với nhau” [1, tr378] Hay nói cách khác, phương thức thế là cách thay thế những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương (cùng chỉ sự vật ban đầu) nhằm tạo tính liên kết giữa các phần văn bản chứa chúng
Phương thức lặp: “Lặp từ ngữ là sử dụng trong câu sau từ ngữ đã được dùng
ở câu trước, theo kiểu lặp y nguyên như vốn có, trên cơ sở đó liên kết những câu chứa chúng với nhau” [1, tr.382]
Phương thức nối:“ Phép nối (conjunction) là việc tạo các kiểu quan hệ nghĩa – logic giữa các câu có quan hệ nghĩa với nhau bằng các phương tiện từ ngữ có tác dụng nối” [1, tr.352] Các phương tiện từ ngữ có tác dụng nối mang ý nghĩa chỉ quan hệ (các kết từ, kết ngữ, trợ từ, phó từ, tính từ) có các tác dụng chuyển tiếp để liên kết các câu trong văn bản, đoạn văn
“Phương thức liên tưởng là cách sử dụng những từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng có thể nghĩ đến theo một định hướng nào đó, xuất phát từ những từ ngữ ban đầu nhằm tạo ra mối liên kết giữa các phần chứa chúng trong văn bản.” [10, tr.129]
Ví dụ: Luận về việc dùng người (Trần Mạnh)
Bậc nhân quân dùng người, không phải là có tình riêng với người ấy Đã gọi rằng tôi hiền thì phải biết suy bụng của ta, giữ tròn chức của ta, theo đuổi sự ngiệp của ta, hết sức vì nỗi vất vả của ta, cho nên gọi là “hiền” mà trao trách nhiệm
Ta quả thật là ông vua hiền, thì người mà ta phó thác cũng hiền Nghiêu, Thuấn đối với Tắc Tiết, Quỳ Long chính là như vậy Còn ta không phải là ông vua hiền? Thì người mà ta phó thác cũng không hiền Kiệt Trụ đối với Phi Liêm, Ác Lai chính là loại ấy Đó là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, hợp nhau theo loại vậy Kiệt Trụ há có tình riêng gì với những người kia đâu! Bảo là ngu tối thì đúng chứ bảo là có tình riêng thì không đúng