1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình giáo dục học 1

67 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 406,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nảy sinh và phát triển của giáo dục là nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người - Trong quá trình sống, con người đã không ngừng đấu tranh trong xã hội, đấutranh với thiên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐHĐN

GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG 1

GIẢNG VIÊN : BÙI VĂN VÂN

KHOA: TÂM LÝ - GIÁO DỤC

Trang 2

CHƯƠNGI: GIÁO DỤC HỌC LÀ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI

MỤC TIÊU DẠY HỌC: Học xong bài học người học có được một cách tự giác:

1 Về tri thức:

- Đặc trưng của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội và một số tínhqui luật cơ bản nhất của giáo dục

- Đối tượng nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của giáo dục học

- Một số khái niệm và phạm trù của giáo dục học

2 Về kỹ năng:

- Kỹ năng vận dụng tri thức để phân tích hiện thực giáo dục

- Kỹ năng phân tích đánh giá các quan điểm giáo dục

3 Về thái độ: Trên cơ sở tri thức và kỹ năng trên, người học sẽ có thái độ đúng đốivới giáo dục học và việc học tập vì ngày mai là thầy cô giáo

B NỘI DUNG KHÁI QUÁT VÀ PHÂN PHỐI THỜI GIAN ( Lý thuyết)

I.Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt ( 2 tiết)

II.Đối tượng, nhiệm vụ, của giáo dục học (1tiết) :

III Một số phạm trù và khái niệm cơ bản của giáo dục học (1tiết)

IV.Phương pháp nghiên cứu giáo dục học (1tiết)

C PHƯƠNG PHÁP: Diễn giảng- nêu vấn đề, thảo luận

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt - Giáo dục học T1 - NXBGD, HN, 1998

2 N guyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê - Giáo dục học đại cương - Vụ Đại học ,

HN, 1995

3 Phạm Minh Hạc - Đổi mới tư duy giáo dục - NXBGD, HN, 1991

4 Roy Raja Singh - Nền giáo dục cho thế kỷ XXI- những triển vọng của châu

Á - Thái Bình Dương - Viện KHGDVN

5.T Makiguchi - Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo - NXB Trẻ - Trường ĐHTH,TPHCM,1994

6 A Tofler - Cú sốc tương lại - NXB thông tin lý luận, 1992

7 Tạp chí NCGD từ 1990 - 2005

8 Phạm Viết Vượng - Phương pháp nghiên cứu KHGD - Vụ Đại học - Bộ GD - ĐT,

HN , 1995

E KHỐI LỚP DẠY: Đại học sư phạm

F NỘI DUNG CHI TIẾT BÀI GIẢNG

I GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT

1 Sự nảy sinh và phát triển của giáo dục là nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người

- Trong quá trình sống, con người đã không ngừng đấu tranh trong xã hội, đấutranh với thiên nhiên, không ngừng lao động để tạo ra của cải vật chất và tinh thần.Trong quá trình đó con người đã tích lũy được những kinh nghiệm đấu tranh xã

Trang 3

hội, kinh nghiệm đấu tranh với tự nhiên, kinh nghiệm lao động sản xuất Để xã hộiloài người có thể tồn tại và phát triển, người ta phải truyền thụ cho nhau những kinhnghiệm đó Hiện tượng truyền thụ kinh nghiệm xã hội chính là hiện tượng giáo dục.Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội có đặc trưng cơ bản là:

- Thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm về lao động sảnxuất và sinh hoạt cộng đồng…

- Thế hệ đi sau tiếp thu những kinh nghiệm đó để tham gia đời sống xã hội, thamgia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác

Hay nói cách khác truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm đã được tích lũytrong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản củagiáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội

Chứa đựng những giá trị văn hóa của xã hội, kinh nghiệm xã hội bao gồm nhữngtri thức, kỹ năng, kỹ xảo, niềm tin, thái độ, v.v nghĩa là các chuẩn mực, cácphương tiện của các dạng hoạt động và giao lưu của con người trong xã hội Nhờlĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội mà cá thể trở thành nhân cách và nhâncách của mỗi người được phát triển đầy đủ hơn, những nhu cầu và năng lực của họphong phú đa dạng hơn, những sức mạnh tinh thần và sức mạnh thể chất của họtăng thêm Vì thế:

- Đi học là một nhu cầu cơ bản của con người, một quyền mà mỗi con ngườiphải được hưởng

- Đi học là một con đường tăng thu nhập của mỗi cá nhân

Giáo dục là phương thức để tái sản xuất sức lao động xã hội, tái sản xuất nhữngnhân cách cần thiết, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sửnhất định Với ý nghĩa đó, giáo dục là điều kiện không thể thiếu được để duy trì vàphát triển đời sống của con người, của xã hội loài người Đó là một loại hoạt động

có ý thức, có mục đích của con người là chức năng đặc trưng của xã hội loài người,

là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người và tồn tại vĩnh hằng cùng với xãhội loài người

Chính vì vậy giáo dục là một trong những hiện tượng xã hội, nhưng đó là hiệntượng xã hội đặc biệt

2 Các tính chất của giáo dục

a Tính chất lịch sử của giáo dục

Trang 4

a là một hiện tượng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối của các quá trình xã hộikhác như: kinh tế, chính trị, xã hội Giáo dục phát triển và biến đổi không ngừng,giáo dục mang tính lịch sử cụ thể Tính lịch sử của giáo dục được diễn đạt như sau:

Ở mỗi nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, có một nền giáo dục riêng biệt,

mà những đặc trưng của nó về tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phươngpháp, phương tiện đều do những điều kiện của giai đoạn đó qui định

b.Từ tính lịch sử của giáo dục, chúng ta rút ra một số kết luận quan trọng trongviệc xây dựng và phát triển giáo dục:

- Sao chép nguyên bản mô hình giáo dục của nước khác trong việc xây dựng nềngiáo dục của nước mình là việc làm phản khoa học

- Giữ nguyên mô hình giáo dục đã được hình thành ở một giai đoạn trước đây, khi

mà điều kiện của giai đoạn mới có sự thay đổi căn bản cũng là hành động trái quiluật

- Những điều chỉnh, cải tiến, cải cách, đổi mới giáo dục trong từng thời kỳ phát triển làmột tất yếu khách quan Song những biến động đó cần được dự báo chính xác, chuẩn bịcẩn thận và tiến hành tốt

Giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ

Thứ Năm, 08/01/2004 - 11:14 AM

Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâuđời Từ khi cộng đồng người Việt xuất hiện đã lưu truyền việc giáo dục kiếnthức để làm ra của cải vật chất, mưu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội

và giáo dục đạo đức nhân sinh, tạo nên nhân cách, con người Việt Nam

1 Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia,xây dựng nhà nước phong kiến Nền giáo dục phong kiến do nhà nước chỉ đạođược hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nộidung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử Các triều đạithường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức

ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành Tại các trường lớp tư gia, do các ông

đồ ngồi dạy trẻ Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là nhữngnhà Nho, bậc hưi quan, các nhà khoa bảng

Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô

Trang 5

đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa Các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn

tổ chức các khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình hay thi tiến sĩ) về cơ bản là giốngnhau Từ năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, đến năm 1919, nhàNguyễn tổ chức khoa thi cuối cùng Chế độ khoa cử của nền giáo dục phongkiến Việt Nam trải qua 844 năm với trên 180 khoá thi và hơn 2900 người đỗ từtiến sĩ đến trạng nguyên

Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạonhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếucho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội Nền giáo dục ấy đã đào tạonên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếngcùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắpnền văn hiến Việt Nam Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa,góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội Tuy nhiên, ý thức tồn cổcủa Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xãhội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tầm c hương trích cú, lýthuyết suông, chạy theo hư danh là những hạn chế của nền giáo dục phongkiến Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, thực dân pháp xâm chiếm nước ta Nền giáo dục phongkiến Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay bằng chữ quốc ngữ và chữPháp Từ nội dung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổchức các kỳ thi thay đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểuhọc, trung học phổ thông đến các trường chuyên nghiệp, đại học dần dần đượchình thành, thay thế các trường lớp cả nền giáo dục phong kiến

Thực dân Pháp coi nền giáo dục phong kiến là công cụ quan trọng đểchinh phục thuộc địa Chúng mở các trường nhằm đào tạo một số công chứccho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh Số trường học ít và số người đi họcngày càng ít hơn Trong khoảng từ năm 1931 đến năm 1940, cứ 100 người dânchưa được 3 người đi học và hầu hết là học bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạndân mới có một sinh viên (cao đẳng, đại học) Mặc dù đã thực hiện một số chínhsách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhưng thực dân Pháp vẫnkhông đạt được kết quảmong muốn Phần lớn những người Việt Nam đượcPháp đào tạo vẫn có ý thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nư ớc

Trang 6

chống Pháp, trở thành chiến sĩ cách mạng và đảng viên cộng sản.

Từ khi Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dânchống thực dân Pháp, giáo dục được coi là bộ phận của Cách mạng Việt Nam.Hội truyền bá Quốc ngữ thành lập năm 1938, Ðề cương Văn hoá Việt Nam rađời năm 1943 là những mốc quan trọng trong đấu tranh của Ðảng trên lĩnh vựcvăn hoá, giáo dục Tư tưởng dân tộc, khoa học đại chúng là những nguyên tắcchỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục Cách mạng Việt Nam

2 Giáo dục Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.

a.Giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ Giáo dục phục vụ khángchiến và kiến quốc (1945- 1954)

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nền giáo dục mới đượchình thành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc Nền giáo dụcmới dược tiến hành trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêucao cả là: "Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng?, đề caotinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổthông đến đại học

Trong phiên họp đầu tiên sau ngày 2- 9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phátđộng chiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nước Các lớp học bình dân được

mở ở khắp nơi Sau một năm, cả nước có gần 75.000 lớp học bình dân, trên95.000 giáo viên và 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ

Từ tháng 9/1945, cả nước cùng khai giảng năm học mới Nhân ngày khaitrường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, trong đó Người chỉ rõ:

"Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bướctới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính

là một phần lớn ở công học tập của các em."

Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiếntoàn quốc bùng nổ Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và cáckhu an toàn Phong trào xoá mù chữ vẫn được duy trì Ðến năm 1950, cả nước

có trên 10 triệu người được xoá mù chữ và đã có 10 tỉnh, 80 huyện, 1424 xã,

7248 thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn xoán nạn mù chữ

Năm 1950, Trung ương Ðảng và Chính phủ quyết địng tiến hành cải cách

Trang 7

giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc:Dân tộc, khoa học, đại chúng? Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lýluận gắn liền với thực tiễn Ðến năm học 1953- 1954, ở vùng giải phóng đã có

3673 trường cấp I, 397 trường cấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung họcchuyên nghiệp và 4 trường đại học

b.Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc và thốngnhất đất nước (1954- 1975)

Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trongkháng chiến chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụxây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trongquá trình xây dựng nền giáo dục XHCN Hệ thống giáo dục mới này được tiếnhành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyênnghiệp Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: đức, trí,thể, mỹ Phương châm giáo dục là "liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trườngvới đời sống xã hội"

Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ

sở giáo dục vừa tiến hành sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cảcác lớp học, các ngành học Có thể nói, ngành giáo dục của nước ta trong thời

kỳ này đã giữ vững được quy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tíchlớn

c.Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổi mớigiáo dục Việt Nam

Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng Nhiệm vụ cấp bách của ngànhgiáo dục là xây dựng một nền thống nhất theo định hướng XHCN Giáo dục miềnNam, được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc, nhanh chóng khôi phục

và hoạt động trở lại hoạt động bình thường Ðến năm 1976, việc đào tạo sau đạihọc được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứukhoa học được quyết định là cơ sở sau đại học

Trang 8

Tháng 1/1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai Hệ thống giáodục mười hai năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc Các bộ sách giáokhoa mới theo tinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp,bắt đầu từ năm học 1981- 1982 Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, cáctrường trung học chuyên nghiệp ở trung ương và địa phương được cải cách, từmục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy.

Tuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế- xã hội nói chung và bản thânngành giáo dục nói riêng đa tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển củangành, làm cho hệ thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Trướctình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáodục 3 năm (1987- 1990) Sau 3 năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡkhó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu được những kết quả đáng khíchlệ

Năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cậpgiáo dục tiểu học Trước đó, Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học

và xoa mù chữ là chương trình mục tiêu quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2000,tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dụctiểu học và xoá mù chữ

Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về

"tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo" Nghị quyết nêu lên 4 quan điểmchỉ đạophát triển giáo dục - đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạocùng với kho học công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu Tháng 12- 1996,Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Ðảng khoá VIII tiếp tục ra Nghịquyết chuyên đề về giáo dục đào tạo Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam thông qua luật Giáo dục, tháng 12 - 1998

Trong những năm cuối thập kỷ XX, Giáo dục - Ðào tạo Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu lớn Quy mô giáo dục - đào tạo tăng nhanh Tính đếntháng 8 ?1999, có hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành

và 90% quận, huyện đạt chuẩn quốc gia vè xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểuhọc Nhiều tỉnh đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở Giáo dục ở các vùng dântộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực

Trên 100 trường dân tộc nội trú đã được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi

Trang 9

cho con em các dân tộc theo học Ðội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳthi Olimpic quốc tế đem lại niềm tự hoà cho dân tộc Việt Nam Hơn 25 năm qua,năm nào học sinh Việt Nam cũng mang về cho đất nước nhiều huy chương vànhiều giải cao trong các kỳ thi Olimpic về toán, vật lý, hoa học, sinh học, tin học,ngoại ngữ.

Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam nhân dânViệt Nam đã xây dựng một nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, tính dân tộc,khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nềntảng Ðây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡngnhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

(Saigonnet

c Đổi mới giáo dục ở nước ta ( theo nghị quyết T Ư II.khóa VIII )

* Cơ sở kinh tế - xã hội của việc đổi mới giáo dục ở nước ta:

- Sự chuyển dịch nền kinh tế nước ta từ tập trung bao cấp, kế hoạch hóa sang nềnkinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa: một mặt giải phóng lực lưọng sảnxuất, phát triển kinh tế mặt khác nó đòi hỏi phỉa đáp ứng yêu cầu của nó về ngườilao động đó là những người tự chủ, năng động, sáng tạo

Nền giáo dục cách mạng nước ta sau 50 năm xây dựng và phát triển, là một thànhtích đáng tự hào của nhân dân ta Đó là sự tăng trưởng cả về qui mô, mạng lướitrường lớp, cơ cấu hệ thống và chất lượng Tuy nhiên so với yêu cầu của sự pháttriển kinh tế - xã hội, nền giáo dục nước ta còn nhiều hạn chế:

- Qui mô giáo dục, nhất là giáo dục đại học còn nhỏ bé

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật còn nghèo nàn

- Đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa yếu

- Điều đáng quan tâm nhất là: chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp Conngười được đào tao chậm thích nghi với cơ chế thị trường

* Tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa;

1 Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha

gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiêncường xây dựng và bảo vệ tổ quốc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dântộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc

Trang 10

và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân,làm chủ tri thức khoa học và công nghệ, có tưduy sáng tạo, có kỹ năng thực hànhgiỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là người kếthừa xây dựng CNXH vừa “ hồng” vừa “chuyên”.

Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục - đàotạo, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội Phát huy ảnh hưởngtích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục - đàotạo Chống khuynh hướng “thương mại hóa”, đề phòng khuynh hướng phi chính trịhóa giáo dục - đào tạo Không truyền bá tôn giáo trong trường học

2 Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc

giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư pháttriển Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt làchính sách đầu tư và chính sách tiền lương Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triểngiáo dục

3 Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười đi học.

Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức đảng, các cấp chính quyền,các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều

có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đóng góptrí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục - đào tạo Kết hợp giáo dục nhàtrường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lànhmạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể

4 Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi trọng cả

ba mặt; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáodục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lí luận gắn với thực tế, học

đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội

5 Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo Tạo điều kiện để ai

cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để họctập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng

Trang 11

6 Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lí, từ nội dung

chương trình, qui chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọingười có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình

* Các giải pháp chủ yếu:

1 Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục : đầu tư cho giáo dục lấy từ

nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước, hằngnăm tăng dần chỉ trọng ngân sách chi cho giáo dục

2 Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học: có

chính sách thu hút học sinh khá giỏi vào ngành sư phạm, nâng cao đời sống giáoviên, chuẩn hóa giáo viên, thường xuyên bồi dưỡng để nâng cao phẩm chất và năng

lực của đội ngũ giáo viên

3 Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và tăng cường cơ sở vật chất cho trượng học: tiếp tục đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giáo dục, đầu tư cơ sở vật chất, nhất là trang thiết bị cho thí nghiệm, thực hành

4 Đối mới cơ chế quản lý giáo dục : qui định lại chức năng, nhiệm vụ của các

cơ quan quản lý giáo dụ; đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ ; xử lýnghiêm các hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục ; đổi mới công tác thi đua, coitrọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học trong ngành; tăng cường hợp tác traođổi quốc tế về giáo dục

b Tính chất giai cấp của giáo dục

Xã hội có phân chia giai cấp thì giáo dục là một phương thức đấu tranh giai cấp,nhà trường là công cụ đấu tranh giai cấp, hoạt động của giáo dục, của nhà trường làhoạt động đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và giáo dục đào tạo conngười mới, thế hệ mới, phục vụ tích cực cho công cuộc đấu tranh giai cấp, xây dựng

xã hội mới theo đường lối của giai cấp nắm chính quyền

Tính chất giai cấp của giáo dục và nhà trường thể hiện tập trung ở mục đích,nhiệm vụ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chứcgiáo dục và đào tạo

c Tính chất kế thừa của giáo dục

Trang 12

Giáo dục vừa mang tính chất lịch sử, vừa mang tính chất giai cấp, vừa mang tínhchất kế thừa vì đó là những kinh nghiệm, những thành tựu của nhân loại được đúckết qua quá trình xây dựng và phát triển giáo dục theo lịch sử phát triển của xã hội Tính kế thừa của giáo dục đòi hỏi : một mặt phải nghiên cứu, tiếp thu phát triểnnhững yếu tố tiến bộ, những kinh nghiệm quý báu trong các nền giáo dục trước, cácnền giáo dục thuộc các nước, các chế độ chính trị khác nhau Mặt khác phải phêphán loại bỏ những yếu tố lạc hậu, không phù hợp với sự phát triển mới của nềngiáo dục, của xã hội

3 Những chức năng xã hội của giáo dục

Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các

lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể.Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội họcđược gọi là những chức năng xã hội của giáo dục Có 3 loại chức năng xã hội củagiáo dục : Chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng - chính trị xã hội và chức năng

tư tưởng - văn hoá Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sựtồn tại và phát triển của xã hội về tất cả các mặt

Lao động dù đơn giản đến đâu cũng cần có sự huấn luyện để con người biết lao động, cókinh nghiệm lao động Lao động càng phức tạp, càng hiện đại càng đòi hỏi sự đầu tư vào

Mối liên hệ giữa giáo dục và sản xuất đươc hình thành trên sức lao động Sức lao động xãhội chỉ tồn tại trên nhân cách con người Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của conngười, vì vậy giáo dục được coi là phương thức tái sản xuất ra sức lao động xã hội Giáodục góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có tri thức, có

kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, phát triển kinh tế sản xuất.Giáo dục đào tạo lại nguồn nhân lực đã bị lỗi thời, tạo nên sức lao động mới, đáp ứng kịpthời nguồn nhân lực thiếu hụt do nhiều nguyên nhân Bằng con đường truyền thông, giáodục phát triển ở con người những năng lực chung và năng lực riêng biệt, giúp con ngườinâng cao năng lực làm việc, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi việc làm, góp phần phát triểnkinh tế sản xuất Giáo dục góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cộng đồng.Giáo dục tham gia vào chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Bằng conđường truyền thông, giáo dục giúp mọi người nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tăngnăng suất lao động, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo Như vậy,giáo dục góp phần phát triển kinh tế sản xuất.Giáo dục thông qua con đường truyền thông, tham gia vào chương trình dân số, kế hoạchhóa gia đình Giáo dục giúp cho mọi người nhận thức đúng đắn về dân số, sức khỏe sinhsản, giảm tỷ lệ tăng dân số, nâng Cao chất lượng cuộc sống, chất lượng giống nòi, góp

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục gắn liền với chất lượng sảnphẩm, hàng hóa Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa thì giáo dục phải nâng

Trang 13

cao chất lượng nguồn nhân lực Trong thời đại phát triển như bão táp của khoa học vàcông nghệ, nhân loại đang chuyển sang nền văn minh tin học, điện tử, sinh học Khoahọc-công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự phát triển lực lượng sản xuấtgắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợptác quốc tế Giáo dục không phải là yếu tố phi sản xuất, giáo dục là yếu tố bên trong, yếu

tố cấu thành của sản xuất xã hội Không thể phát triển lực lượng sản xuất nếu như khôngđầu tư thỏa đáng cho nhân tố con người, nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất Khôngthể xây dựng được quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nếu như không nâng cao trình

độ dân trí, doanh trí, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ và nhân dân Thực tiễn đã chỉ

ra rằng, không một quốc gia nào muốn phát triển lại đầu tư ít cho giáo dục Cuộc chạyđua phát triển kinh tế hiện nay là cuộc chạy đua về khoa học công nghệ, chạy đua về giáodục đào tạo, chạy đua về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hội nghị lần thứ hai banchấp hành trung ương khóa 8 đã nhấn mạnh: “ Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách,nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.” Đểlàm tốt chức năng này giáo dục đào tạo phải xây dựng được một xã hội học tập tạo điềukiện cho mọi người có thể học tập thường xuyên, học tập suốt đời Chính vì vậy, giáo dụcphải thực sự đi trước đón đầu thúc đẩy phát triển kinh tế sản xuất

Đọc thêm “ KINH TẾ TRI THỨC”

b Chức năng chính trị - xã hội

Giáo dục trực tiếp tác động đến cấu trúc xã hội, làm phân hóa các tầng lớp xã hội(giáo dục cũ ) hoặc xóa bỏ phân chia tầng lớp xã hội, xóa bỏ phân chia giai cấp( giáo dục XHCN ) , nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp làm thay đổi vị trí xã hội của mỗi người

c Chức năng tư tưởng - văn hóa

Giáo dục truyền bá và xây dựng hệ tư tưởng xã hội cho người học, xây dựng lốisống mới, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật cho toàn xã hội ( nâng caodân trí ), phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của xã hội, xây dựngnền văn hóa mới, tư tưởng mới theo yêu cầu phát triển xã hội, đào tạo và bồi dưỡngnhân tài cho xã hội

Thực hiện những chức năng cơ bản đó, giáo dục phải bám sát yêu cầu phát triểnkinh tế - sản xuất, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hóa để đáp ứng đầy đủ và kịpthời Đồng thời giáo dục phải được phát triển mạnh mẽ để tạo tiền đề cho sự pháttriển mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng

II ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC HỌC

1 Đối tượng của giáo dục học

Với chức năng hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục cần được nghiên cứutheo trạng thái động, tức là theo quan điểm quá trình : quá trình giáo dục Quá trình

Trang 14

giáo dục diễn ra trong thời gian , không gian nhất định , có nhiều nhân tố tham gia

và có liên hệ với nhau, có vận động và phát triển không ngừng Quá trình giáo dụcnói trên còn gọi là quá trình dạy học và giáo dục hoặc là quá trình giáo dục - họctập, hoặc là quá trình sư phạm tổng thể hay quá trình giáo dục học - đó chính là đốitượng của giáo dục học

a Các đặc trưng cơ bản của quá trình sư phạm tổng thể

- Quá trình giáo dục là một quá trình xã hội được tổ chức một cách có ý thức, cómục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt, lĩnh hội và phát triển những kinh nghiệm

xã hội để xây dựng và phát triển những kinh nghiệm xã hội, để xây dựng và pháttriển những nhân cách đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn lịch sử xã hội mới

- Quá trình giáo dục là một quá trình tác động lẫn nhau giữa người giáo dục vàngười đưọc giáo dục, giữa cá nhân và tập thể tạo thành những quan hệ đặc biệt, gọi

là quan hệ sư phạm

- Quá trình giáo dục là quá trình người giáo dục tổ chức hướng dẫn các loại hìnhhoạt động và giao lưu và người được giáo dục thì tích cực, tự giác tham gia vào cácloại hình hoạt động, giao lưu đó để chiếm lĩnh và biến những kinh nghiệm xã hội,những giá trị văn hóa xã hội thành vốn sống của mình

- Quá trình giáo dục là một bộ phận chủ yếu của hoạt động sống của con ngườiđược giáo dục, cho nên hoạt động sống càng phong phú đa dạng càng có ý nghĩagiáo dục

Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩa : Quá trình sư phạmtổng thể là một quá trình có tính chất xã hội hình thành con người được tổ chức cómục đích, có kế hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu lịch sử xã hội, được thực hiện thôngqua các hoạt động giáo dục, học tập và các hoạt động đa dạng khác của cuộc sốngđược tiến hành trong các mối quan hệ xã hội giữa người được giáo dục và ngườiđược giáo dục nhằm làm cho người được giáo dục chiếm lĩnh, phát triển kinhnghiệm xã hội loài người và phát triển toàn diện nhân cách của mình

b Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể

- Quá trình sư phạm tổng thể là sự thống nhất của hai quá trình bộ phận : quá trìnhdạy học và quá trình giáo dục Cả hai quá trình đó đều thực hiện chức năng chungcủa quá trình sư phạm tổng thê trong việc hình thành nhân cách toàn diện Song

Trang 15

mỗi quá trình bộ phận đều có chức năng trội của mình và dựa vào chức năng đó đểthực hiện chức năng khác

Chức năng trội của quá trình dạy học là trau dồi học vấn, là chuyển giao và lĩnhhội hệ thống tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và hoạt động Chức năng trội của quá trình giáo dục là xây dựng hệ thống niềm tin, lý tưởng,động cơ, thái độ, tính cách, thói quen Là hình thành và phát triển những phẩm chất

về thế giới quan khoa học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của cá nhân người học

- Quá trình giáo dục tổng thể cũng như quá trình giáo dục bộ phận đều được tạothành bởi nhiều yếu tố :

Mục đích giáo dục: Là mẫu nhân cách mà xã hội đòi hỏi được thể hiện thành

hệ thống các mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ giáo dục

Nội dung giáo dục: Là nội dung các hoạt động và các hình thái giao lưu màngười học tham gia, làmột bộ phận được lựa chọn của kinh nghiệm xã hội và củanền văn hóa của loài người

Phương pháp giáo dục:Là các con đường, các cách thức, các biện pháp hoạtđộng gắn bó lẫn nhau giữa thầy và trò để truyền đạt và chiếm lĩnh nội dung giáodục, đạt tới mục đích giáo dục

Hình thức tổ chức giáo dục : Là biểu hiện bên ngoài, là các hình thức tổ chứchoạt động giữa thầy và trò

Phương tiện giáo dục : Là những vật mang nội dung và phương pháp giáodục, là những phương tiện hoạt động giáo dục của thầy và hoạt động học tập của trò

Kết quả giáo dục: Là trình độ phát triển nhân cách theo phương hướng mụcđích giáo dục, là tác nhân kích thích và điều chỉnh quá trình giáo dục

Chủ thể giáo dục: Là thầy giáo và những người làm công tác giáo dục họcsinh

Khách thể giáo dục : Là cá nhân học sinh và tập thể học sinh

Tham gia quá trình giáo dục còn có các điều kiện giáo dục bên trong và bên ngoài

Đó là không khí tâm lý chung của nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, điều kiệnkinh tế - chính trị xã hội Toàn bộ các yếu tố trên vận động, phát triển và quan hệbiện chứng với nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong cùng một hệ thống

2 Nhiệm vụ của giáo dục học

Trang 16

Quá trình sư phạm tổng thể tổng thể theo quan niệm như trên chính là đối tượngnghiên cứu của giáo dục học Giáo dục học nghiên cứu quá trình giáo dục trongtính tổng thể, tính toàn vẹn của nó, cũng như các bộ phận, các yếu tố của quá trình

đó để nhận thức bản chất, cấu trúc và những tính qui luật của quá trình đó, nhậnthức những đặc điểm của quá trình đó diễn ra với các khách thể giáo dục khác nhau

và trên cơ sở xác định nhiệm vụ, nội dung, phương tiện và hình thức tổ chức đểthiết kế quá trình giáo dục đó xác định các lực lượng và các điều kiện để quá trình

đó được vận hành tối ưu

Lịch sử giáo dục học cung cấp cho giáo dục học các tư tưởng giáo dục tiên tiến,kiệt xuất, dựa trên sự kế thừa có chọn lọc, có phê phán các thành tựu và lý luận giáodục có giá trị ở trong nước và quốc tế giúp cho giáo dục học luôn phát triển, luônđổi mới, theo kịp xu thế thời đại

- Giáo dục học nằm trong khoa học giáo dục, bản thân nó là một hệ thống nhỏgồm nhiều phân môn khác nhau như : giáp dục học vưòn trẻ, giáo dục học mẫu giáo( trước tuổi học, tiền học đường ), giáo dục học lứa tuổi đi học (giáo dục phổ thông,giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề, giáo dục học đại học, giáo dục học người lớn )

- Giáo dục học còn được nghiên cứu ở từng chuyên môn - nghề nghiệp

Tuy đối tượng phục vụ khác nhau nhưng các phân môn giáo dục kể trên đều có cơ

sở chung là lý luận giáo dục học đại cương Từ những kiến thức và kỹ năng này màvận dụng, đáp ứng cho việc giáo dục ở các lĩnh vực khác nhau

- Giáo dục học chuyên biệt ( đặc biệt ) có nhiệm vụ chuyên nghiên cứunhững vấn đề dạy học và giáo dục những trẻ có tật về thị giác, thính giác, những trẻkhuyết tật hoặc chậm phát triển trí tuệ, ngôn ngữ

Trang 17

Đối với mỗi loại trẻ có tật này có những qui tắc, phương pháp dạy học và giáo dụcriêng rất phức tạp

- Lý luận dạy học bộ môn : nghiên cứu phương pháp dạy học các bộ môn khácnhau, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học các bộ môn

4 Quan hệ giữa giáo dục học và các khoa học khác

Với tư cách là một khoa học trong nhóm các khoa học xã hội, giáo dục học nghiêncứu một trong những chức năng quan trọng nhất của xã hội - vấn đề giáo dục Dovậy giáo dục học trong thực tế liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học xã hộikhác nhau như Đạo đức học, Mỹ học, Kinh tế học, Văn học, Điều đó cũng phảnánh mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục học với các lĩnh vực khác trong xã hội

a Mối quan hệ giữa giáo dục học với triết học và xã hội học

Vì hai ngành này cung cấp các quan điểm phương pháp luận về các quy luật ( lýluận và thực tiễn ) cho việc nghiên cứu sự vận động và phát triển của giáo dục

b Mối quan hệ giữa giáo dục học với sinh lý học và tâm lý học

- Muốn nghiên cứu về sự phát triển của con người trong quá trình dạy học và giáodục, giáo dục học phải dựa vào sinh lý học ( khi nghiên cứu chung, đặc biệt lànghiên cứu giáo dục thể chất ) và tâm lý học ( trong việc bồi dưỡng kiến thức, hìnhthành thái độ, các kỹ năng, kỹ xảo hành động )

- Tâm lý học có vai trò rất quan trọng đối với việc nghiên cứu những phát triển của

giáo dục học bởi vì “ Cơ sở để ứng dụng hợp lý các phương pháp dạy học và giáo dục là tâm lý học đại cương, đặc biệt là tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm “ (

Ilina T.A Những nguyên lý chung của giáo dục học NXB Giáo dục Hà Nội

-1973 ) Còn tâm lý học xã hội hỗ trợ nhiều cho giáo dục học trong việc nghiên cứu,giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục

Trong giai đoạn phát triển ngày càng cao của cách mạng khoa học kỹ thuật vàcông nghệ, các khoa học khác, kể cả nhiều ngành khoa học kỹ thuật đang thâm nhập

và được ứng dụng trong các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn giáo dục, tạo ranhững cách thức tổ chức mới, phương pháp mới, phương tiện mới trong lĩnh vựcgiáo dục và dạy học ( nhất là trong việc dạy học kỹ thuật, dạy học người lớn, dạyhọc từ xa, trong dạy các môn kỹ thuật, )

Từ trước tới nay người ta đã nói đến vai trò, tác dụng của điều khiển học, tin

học, và kể cả tư tưởng “ công nghệ học “ được vận dụng vào quá trình giáo dục

Trang 18

Như vậy, giống như các khoa học khác, giáo dục học có đối tượng, phạm vinghiên cứu tương đối riêng biệt của mình Nhưng để phát triển được, giáo dục họcluôn luôn có mối quan hệ mật thiết với các môn khoa học khác, đặc biệt là với triếthọc và các khoa học nghiên cứu về các quy luật phát triển tâm lý và thể chất củacon người thông qua môi trường sống và các hoạt động xã hội của họ

III KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC HỌC

Trong giáo dục học cũng giống như trong các khoa học khác, để có thể bắt đầu tưduy và hoạt động khoa học, nhà khoa học cần nắm vững hệ thống các khái niệm và

phạm trù khoa học, xem như là “ bộ máy công cụ “ để giúp hoạt động khoa học có

hiệu quả, đạt tới sự sáng tạo Dưới đây ta sẽ nghiên cứu :

a Giáo dục ( nghĩa rộng )

Là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thầncủa con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ chocon người ; với hàm nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạyhọc và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của conngười, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế xã hội

b Giáo dục ( nghĩa hẹp )

Bao gồm các quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan, lýtưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người, kể cả việc pháttriển nâng cao thể lực Quá trình này được xem là một bộ phận của quá trình giáodục tổng thể , kết quả không chỉ được xem xét về ý thức mà căn cứ trên các hành vi,

thói quen biểu hiện trình độ phát triển ( cao hay thấp ) của trình độ “ có giáo dục “

của mỗi người

Trang 19

- Người học tiếp thu một cách có ý thức độc lập và sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹnăng và kỹ xảo, hình thành năng lực và thái độ đúng đắn Người học là chủ thểsáng tạo của việc học, của việc hình thành nhân cách của bản thân

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống, thì vai trò chủ đạo của giáo viên luôn luôn có ýnghĩa đặc biệt đối với việc bảo đảm chất lượng của học sinh trong học tập

Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ýnghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhâncách của bản thân - vói ý nghĩa là chủ thể sáng tạo không thể thay thế Vì thế, giảngdạy và học tập nếu hiểu cho đúng là hai mặt của một quá trình bổ sung cho nhau,cái này chế ước và là tác động quan trọng của cái kia, kích thích động lực bên trongcủa mỗi chủ thể phát triển

IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC HỌC

a Trong học phần “ Giáo dục học đại cương “, chúng ta chỉ nghiên cứu, xem xétcác phương pháp nghiên cứu giáo dục học ở mức tổng quan, định hướng, không đềcập đến các vấn đề cụ thể, về phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của giáo dục học là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Khi áp dụng các quan điểm này vào nghiên cứu các quá trìnhgiáo dục, nhà nghiên cứu phải đặt các hiện tượng và quá trình này trong không gian

và thời gian xác định ( cụ thể ) với những điều kiện cụ thể tương quan, trong mốitương tác lẫn nhau giữa hoạt động giáo dục với các hiện tượng khác của đời sống xãhội Hoạt động giáo dục luôn luôn vận động và phát triển, vì vậy phải nghiên cứu

nó trong sự vận động và phát triển Thông qua đó, cái mới phát triển, cái bản chấtđược khẳng định

Với việc quán triệt các quan điểm trên, nhà nghiên cứu có thể thực hiện nghiêncứu theo các các phương hướng xác định :

- Nghiên cứu thông qua các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu trước đây,các sách báo, thông báo khoa học

- Nghiên cứu dưới dạng thí nghiệm, thực nghiệm trong thực tế ; giải thích khoahọc hoặc mô tả quá trình thực tế của việc dạy học và giáo dục - từ đó mà rút ra cáckết luận khoa học

b Khi nghiên cứu phải nắm vững và vận dụng có kết quả những phương phápnghiên cứu cụ thể như quan sát, đàm thoại, nghiên cứu sản phẩm do học sinh làm

Trang 20

ra, qua đó đánh giá, nhận xét trình độ tư duy, óc sáng tạo và khả năng thực hành vềmột lĩnh vực nào đó

Việc áp dụng phương pháp thăm dò ý kiến ( ankét ) trong nghiên cứu cũng có khảnăng tìm ra được những vấn đề trong giáo dục, đặc biệt các vấn đề tâm lý và giáodục có liên quan đến đời sống xã hội bên ngoài ( dư luận xã hội )

Ngày nay người ta thiên về sử dụng phương pháp thực nghiệm Đây là phương

pháp có tính chất “ tổng hợp “, vì muốn thực nghiệm phải chuẩn bị công phu : lập

giả định, kế hoạch hoặc phương pháp thực nghiệm, bộ công cụ để đánh giá, nghĩa

là được dự kiến và tính toán chính xác để từ thực nghiệm vạch ra được quy luật bên

trong của các hiện tượng giáo dục, phát hiện được trật tự chi phối “các bước “ diễn

biến của quá trình sư phạm nào đó

Ngoài ra trong nghiên cứu giáo dục học, người ta còn sử dụng phương pháp trắcnghiệm ( test ), phương pháp mô hình hóa các quá trình sư phạm, phương phápthống kê để hỗ trợ cho việc nghiên cứu giáo dục

CÂU HỎI TỰ HỌC

1 Đặc trưng của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội Theo ý nghĩa nào

có thể nói giáo dục là một phạm trù phổ biến, vĩnh viễn ?

2 Thế nào là tính lịch sử của xã hội đối với giáo dục ? Tính giai cấp của giáo dục thể hiện như thế nào ? Vì sao tính giai cấp là quy luật cơ bản của việc xây dựng và phát triển giáo dục trong xã hội có giai cấp.

3 Đặc trưng của quá trình sư phạm với tư cách là một quá trình xã hội ? Hãy phân tích các yếu tố hợp thành của quá trình sư phạm

4 Phân tích các chức năng xã hội của giáo dục và những xu hướng phát triển của giáo dục học ở Việt Nam hiện nay

Trang 21

CHƯƠNG II GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

A MỤC TIÊU DẠY HỌC: Giúp người học có được một cách tự giác:

1 Về tri thức:

- Khái niệm con người, nhân cách, sự phát triển nhân cách

- Vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách

- Ý nghĩa của việc nắm vững vai trò của các yếu tố đó trong quá trình giáodục học sinh

2 Về kỹ năng:

- Kỹ năng vận dụng tri thức để phân tích hiện thực phát triển nhân cách

- Kỹ năng phân tích đánh giá các quan điểm khác nhau về vai trò của các yếu tốảnh hưởng đế sự phát triển nhân cách

3 Về thái độ: Trên cơ sở tri thức và kỹ năng trên, người học sẽ có thái độ đúng đốivới việc tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển nhân cách trẻ embằng việc phát huy vai trò của các nhân tố đó

B NỘI DUNG KHÁI QUÁT VÀ PHÂN PHỐI THỜI GIAN ( Lý thuyết)

I Sự phát triển nhân cách của con người ( 1 tiết)

II Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách ( 2 tiết)

C PHƯƠNG PHÁP: Diễn giảng- nêu vấn đề, thảo luận

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt - Giáo dục học T1 - NXBGD, HN, 1989

2 Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê - Giáo dục học đại cương - Vụ Đại học ,

HN, 1995

3 Phạm Minh Hạc - Đổi mới tư duy giáo dục - NXBGD, HN, 1991

4 Roy Raja Singh - Nền giáo dục cho thế kỷ XXI- những triển vọng của châu

Á - Thái Bình Dương - Viện KHGDVN

5.T Makiguchi - Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo - NXB Trẻ - Trường ĐHTH,TPHCM,1994

6 A Tofler - Cú sốc tương lại - NXB thông tin lý luận, 1992

7 Nguyễn Anh Tuyết, tâm lý học lứa tuổi mầm non, NXBGD, HN, 1994

E KHỐI LỚP DẠY: Đại học sư phạm

F NỘI DUNG CHI TIẾT BÀI GIẢNG

I SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA CON NGƯỜI

1 Khái niệm con người, nhân cách trong giáo dục học

a Khái niệm con người

- Từ trước đến nay, có rât nhiều ngành khoa học nghiên cứu con người và người ta

đã gọi con người bằng những từ ngữ chứa đựng những nội dung khác nhau dựa trênmục đích và phương diện nghiên cứu của mình:

+ Có người hiểu con người như một” tồn tại thần bí “ Đây chính là quanđiểm sai lầm, dễ đưa chúng ta, nhất là thanh thiếu niên vào con đường mê tín dị

Trang 22

đoan, tin vào bói toán, số mệnh, sẽ có hại cho việc tu dưỡng, rèn luyện và sự cốnghiến của mỗi người

+ Có người còn cho rằng có “con người bản năng “ Đây cũng là một lýthuyết sai lầm mà hậu quả cuả nó là dẫn đến lối sống tự do, tùy tiện và tha hóa

- Khác hẳn với các quan điểm trên đây, lần đầu tiên trong lịch sử C Mác đã đưa

ra một quan điểm rất khoa học về con người: “ bản chất con người không phải làcái gì trừu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó,bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội “ ( C Mác: luận cương vềPhơ Bách, 1775 - 1833 )

Tồn tại khách quan xung quanh con người bao giờ cũng tác động vào con ngườithông qua các quan hệ xã hội ( ví dụ quan hệ sản xuất , quan hệ chính trị , quan hệcộng đồng , quan hệ giai cấp , quan hệ tôn giáo v.v ) hoặc dưới các hình thức củacác quan hệ xã hội mà tác động vào con người Đồng thời với tư cách là một chủthể hoạt động có ý thức , con người lại tác động lại tồn tại khách quan, làm biến đổimôi trường sống, làm thay đổi các mối quan hệ và các thể chế xã hội Chính thôngqua các hoạt động sống như học tập, lao động, vui chơi, giải trí, đấu tranh, xây dựngvới những người khác, con người đã thiết lập các mối quan hệ xã hội

- Nhấn mạnh tính xã hội trong con người không có nghĩa là phủ nhận phần thể xáchoặc tính tự nhiên của con người

Theo ý nghĩa đó, con người vẫn là một bộ phận, là khâu tiến hóa cao nhất của tựnhiên nói chung và của quá trình sinh học nói riêng, là một thực thể mang bản chất

tự nhiên - sinh học, mang trong mình sức sống của tự nhiên và tính tự nhiên là tínhbao trùm của sự sống Song điều quan trọng hơn, con người còn là một sản phẩmcủa lịch sử xã hội, là một thực thể mang bản chất xã hội, bao gồm những thuộc tính,những phẩm chất có ý nghĩa xã hội, được hình thành trong quá trình hoạt động và

do kết quả của sự tác động qua lại giữa người với người trong xã hội

b Khái niệm nhân cách

Như trên đã trình bày, trong mỗi con người đã tồn tại rất nhiều mối quan hệ màcon người cụ thể có khi được nhìn nhận như một chủ thể và có khi là một nhân cách

- Khi chúng ta nhìn nhận con người như một đại diện của loài, thì đó là cá nhân

Ví dụ : mỗi học sinh, mỗi cán bộ công nhân viên

Trang 23

- Khi cá nhân tiến hành các hoạt động một cách có mục đích, có ý thức thì cá nhân

đó được xem như là một chủ thể

- Khi xem xét, nhìn nhận con người với tư cách là một thành viên của xã hội, mộtchủ thể của các mối quan hệ và hoạt động thì ta nói đến nhân cách của họ

Như vậy, xét dưới góc độ giáo dục học, khái niệm nhân cách bao gồm tất cả cácnét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Những thuộctính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữa người đó và nhữngngười khác trong xã hội Nhân cách được hình thành và phát triển là nhờ nhữngquan hệ xã hội mà trong đó cá nhân đang lớn lên và đang biến đổi ấy bắt đầu quátrình hoạt động sống của mình

Cũng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, hàng loạtđặc điểm, thuộc tính, thái độ của họ được biến đổi và trở thành những đặc điểm,thuộc tính mang tính người đích thực - tính xã hội - đạo đức Khi nói đến nhâncách, người ta thường nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng nhất củanhân cách là định hướng giá trị Đó cũng chính là cốt lõi của nhân cách

Định hướng giá trị bao giờ cũng được hình thành và củng cố bởi năng lực nhậnthức, bởi kinh nghiệm sống của từng cá nhân qua quá trình thể nghiệm lâu dài Định hướng giá trị luôn gắn liền với việc giải quyết những mâu thuẫn trong hệ động

cơ, trong cuộc đấu tranh giữa nghĩa vụ và sự ham muốn, giữa hành vi đạo đức vànhững kích thích thực dụng Nội dung của định hướng giá trị là niềm tin chính trị,thế giới quan, đạo đức của con người cũng như những khát vọng sâu xa, nhữngnguyên tắc sống của họ Cần chú ý đến chiều sâu, đến vị thế định hướng của giátrị trong cấu trúc nhân cách để đề ra các con đường, các biện pháp nhằm hình thành

và phát triển nhân cách cho học sinh

Người Việt Nam ta, khi nói đến nhân cách thường quan niệm đó là sự thống nhấtbiện chứng giữa các phẩm chất và năng lực ( đức và tài ) của con người Sự hài hòagiữa đức và tài chính là những đặc điểm có ý nghãi xã hội, có giá trị xã hội của conngười

2 Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách

Sự phát triển nhân cách gồm các mặt phát triển sau đây :

- Sự phát triển về thể chất : biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, cơ bắp và sựhoàn thiện của các giác quan

Trang 24

- Sự phát triển về mặt tâm lý : biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các quátrình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen, nhất là ở sự hìnhthành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách

- Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở việc tích cực, tự giác tham gia vào cácmặt khác nhau của đời sống xã hội, cũng như những thay đổi trong việc cư xử vớimọi người xung quanh

Sự hình thành và phát triển nhân cách con người chịu sự tác động của nhiều nhân

tố, trong đó có nhân tố sinh học và nhân tố xã hội Vì vậy cần phải xem xét mộtcách đúng đắn, khách quan và khoa học các tác động của di truyền và của môitrường trong công tác giáo dục

II VAI TRÒ CỦA DI TRUYỀN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN

NHÂN CÁCH

1 Vai trò của di truyền

a Khái niệm di truyền : Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh

học có ở cha mẹ, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm, nhữngphẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen

Một số thuộc tính sinh học có ngay từ khi đứa trẻ mới sinh gọi là những thuộctính bẩm sinh

b Vai trò của di truyền trong sự phát triển nhân cách

- Vấn đề di truyền những tư chất và nhất là những năng lực, phẩm chất về một lĩnhvực hoạt động nào đó ở trẻ em là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vựcgiáo dục

Di truyền tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng chongười đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

Chính vì vậy, nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tựnhiên đó của con người Cần khai thác những tư chất, những năng lực vốn có,những say mê, hứng thú của trẻ em bằng cách sớm phát hiện, xác định rõ tính chất

và phương hướng cho những sức sống đó, để có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng kịpthời nhằm phát triển tài năng của trẻ Điều đó cũng có nghĩa là không được hạ thấpvai trò của các nhân tố học sinh trong hoạt động sống của con người

- Tuy nhiên, di truyền không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người Những đặc điểm sinh học dù có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng,

Trang 25

xúc cảm, sức khỏe, thể chất của con người nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề vật chất chohoạt động trong mối liên hệ mật thiết với tất cả những đặc điểm tâm lý, sinh lý của

cá nhân, tạo thành một hiệu quả hoạt động cao hơn những đứa trẻ khác trong cùnglứa tuổi, cùng hoạt động, khiến ta có thể nhận thấy sự nổi bật của em ấy so với bạn

bè, trong trường hợp ấy ta nói rằng em ấy có năng khiếu về lĩnh vực hoạt động ấy Như vậy, không phải chỉ cần có tư chất thì tự khắc có năng khiếu, năng lực, tàinăng Cái quyết định trong vấn đề hình thành và phát triển năng khiếu, năng lựcchính là điều kiện hoạt động và bản thân sự hoạt động ấy, bởi vì những cái đó đòihỏi đứa trẻ phải bộc lộ những phẩm chất nhân cách nhất định Chính vì vậy màkhông chỉ những đứa trẻ có sẵn những tư chất nào đó, mà ngay cả với trẻ em bìnhthường, khi được hoạt động dưới sự lãnh đạo, tổ chức đúng đắn về giáo dục thì kếtquả hoạt động của các em cũng rất cao

- Ngay cả đối với những em mà năng khiếu đã được biểu hiện ra, nếu điều kiệnhoạt động thuận lợi vì một lý do nào đó bị mất đi, các em không còn được hoạtđộng trong điều kiện như trước nữa thì năng khiếu dần dần cũng bị mai một đi

Tóm lại : cần chú ý đúng mức đến vai trò của di truyền trong sự hình thành và phát

triển nhân cách, nếu xem nhẹ vai trò của di truyền thì vô hình chung chúng ta đã bỏqua yếu tố tư chất, tiền đề thuận lợi cho sự phát triển Ngược lại, nếu tuyệt đối hóahoặc đánh giá quá cao ảnh hưởng của nhân tố này sẽ dẫn đến sai lầm về nhận thứcluận dẫn đến khả năng phủ nhận sự biến đổi bản chất của con người và hạ thấp vaitrò của giáo dục và tự giáo dục

2 Vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách

a Khái niệm môi trường

- Khác với ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh - di truyền là ảnh hưởng từ bên trongcon người, ảnh hưởng của môi trường là loại ảnh hưởng từ bên ngoài thông qua cáchoạt động của con người

Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hộixung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người - Các loạimôi trường

+ Môi trường tự nhiên

+ Môi trường xã hội

- Môi trường tự nhiên ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự phát triển cá nhân

Trang 26

Ví dụ : sự vận động của thiên nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển cân đối của cánhân Điều kiện địa lý ảnh hưởng đến cách sống, cách làm ăn của con người ở địaphương ấy, do đó ảnh hưởng đến nhân cách con người

- Môi trường xã hội là ảnh hưởng quan trong nhất Không có môi trường xã hội,không có giao tiếp với người khác thì nhân cách không thể nào hình thành được, bởi

vì bản chất con người là tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội

b Môi trường và sự phát triển nhân cách

- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trườngnhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện và điềukiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân mà nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được cáckinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình

- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành

và phát triển nhân cách tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhânđối với các ảnh hưởng đó, tùy thuộc vào xu hướng, năng lực và mức độ của cá nhântham gia cải biến môi trường

- Như vậy, cần chú ý đến hai mặt trong tác động qua lại giữa nhân cách và môitrường

+ Tính chất tác động của hoàn cảnh đã phản ảnh vào nhân cách

+ Sự tham gia của nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm làm cho hoàncảnh đó phục vụ lợi ích của mình

- Trong quá trình giáo dục cần gắn chặt từng bước việc giáo dục và học tập vớithực tiễn cải tạo xã hội, phải hướng vào việc hình thành ở học sinh những địnhhướng giá trị đúng đắn, xây dựng cho các em bản lĩnh vững vàng để chiếm lĩnhnhững ảnh hưởng tích cực của môi trường xung quanh, tạo điều kiện để các em tíchcực tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường Đó chính là một conđường để phát triển nhân cách học sinh

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cần đáng giá đúng mức vaitrò của môi trường Việc tuyệt đối hóa hay hạ thập vai trò của môi trường xã hộiđều là sai lầm

III GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

1 Giáo dục là một quá trình có mục đích được tổ chức một cách có kế hoạch,

có phương pháp nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với

Trang 27

những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn phát triển của nó Như vậy, có thể nóirằng, những tác động của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchkhông phải là mang tính tự phát , trái lại, mang tính tự giác rõ rệt

Giáo dục định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục diễn

ra theo một quá trình được tổ chức nghiêm ngặt với một mục đích xác định theonhưng yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử của nó.Mục đíchnày - mục đích giáo dục - phản ánh mô hình nhân cách mà xã hội đòi hỏi, mongmuốn

Người được giáo dục:

- Phải lấy đó làm cái đích để rèn luyện, tự phấn đấu sao cho đạt được một cách tựgiác, với nỗ lực cao nhất của mình

- Phải lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình, không đi chệchhướng, mà nếu như có một lúc nào đó chệch hướng thì họ nhạy bén tự điều chỉnhtrở lại hướng xác định

- Phải lấy đó làm chuẩn để tự đánh giá kết quả phát triển nhân cách của mình.Còn nhà giáo dục

- Phải lấy đó làm đích cho mọi hoạt động của mình

- Phải lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục của mình

- Phải lấy đó làm chuẩn để đánh giá mọi hoạt động của mình và của học sinh.Giáo dục tổ chức, hướng dẫn sự hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình

đã được định hướng

Như trên đã nói, giáo dục đưa ra mô hình nhân cách mong muốn phù hợp với nhucầu của xã hội nhằm định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách củangười được giáo dục Điều này là hết sức cần thiết, là quan trọng, song không phảichỉ có như vậy

Giáo dục lại còn tổ chức các hoạt động như dạy học, lao động, hoạt động xã hội,hoạt động tập thể, vui chơi , giải trí , trong đó, dưới sự tổ chức, điều khiển của nhàgiáo dục, người được giáo dục tích cực tham gia và qua đó, nhân cách được hìnhthành và phát triển theo định hướng xác định

Trong quá trình hoạt động, diễn ra sự điều chỉnh của nhà giáo dục và sự tự điềuchỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình hình thành và phát triểnnhân cách của người được giáo dục không bị chệch hướng Kết quả của quá trình

Trang 28

này, cuối cùng sẽ nhận được nhờ giáo dục đánh giá và người được giáo dục đánhgiá.

+ Giáo dục phát hiện, khai thác và tận dụng được những yếu tố thuận lợi, đồngthời phát hiện , hạn chế và góp phần khắc phục những yếu tố không thuận lợi của ditruyền , môi trường , nhằm phục vụ cho sự hình thành và phát triển nhân cách củangười được giáo dục

Thật vậy, di truyền không những tạo ra những tiến bộ sinh học thuận lợi mà đôikhi còn mang lại những yếu tố không thuận lợi Do đó, giáo dục cần và có thể :Phát hiện kịp thời và đầy đủ những tiền đề sinh học thuận lợi, không để chúng bịlãng quên, bị thui chột

Khai thác và tận dụng những tiền đề sinh học này phục vụ cho giáo dục và qua

đó , giúp cho chúng phát triển và trên cơ sở này, nhằm hình thành và phát triểnnhững thuộc tính hoặc phẩm chất tương ứng của nhân cách người được giáo dục Đồng thời, hạn chế hoặc cải tạo được những yếu tố không thuận lợi do bẩm sinh ditruyền mang lại

Thực tiễn giáo dục sinh động đã và đang chứng tỏ những điều đó

Thật vậy, giáo dục đã phát hiện khá sớm một số em có mầm mống toán học.Những mầm mống này được khai thác phục vụ cho việc dạy toán cho các em; qua

đó chúng được phát triển và ở các em này, óc toán học dần dần hình thành thực sự.Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy giáo dục phát hiện được những em điếc , câm,những em thiếu khả năng trí tuệ do những nguyên nhân sinh học gây ra Từ đó,giáo dục đã có những phương pháp hữu hiệu để giúp các em hạn chế được nhữngnhược điểm đó

Tương tự như vậy, môi trường không những tạo ra những yếu tố thuận lợi mà cònmang lại những yếu tố không thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cáchcon người được giáo dục Do đó, giáo dục cần và có thể :

- Phát hiện những yếu tố thuận lợi, không để chúng bị lãng quên, sử dụng chúngphục vụ cho mục đích giáo dục con người

- Hạn chế và có thể khắc phục những ảnh hưởng của nhữg yếu tố không thuận lợicủa môi trường

Và đặc biệt là có thể cải tạo ở chừng mực nhất định những yếu tố không thuận lợibiến chúng thành nhữgn yếu tố thuận lợi

Trang 29

Không những vậy, còn có thể tạo ra được những yếu tố thuận lợi, góp phần làmcho môi trường trong sạch, giúp ích cho sư hình thành và phát triển nhân cách Theo định hướng đã xác định.

Thực tiễn giáo dục sinh động đã chứng tỏ rằng giáo dục đã phát hiện và sr dụngđược những yếu tố thuận lợicủa môi trường nhà trường, môi trường gia đình, môitrường xã hội để tạo ra được sức mạnh tổng hợp trong quá trình giáo dục nhân cáchthế hệ trẻ

Hiện nay, khi mà trong xã hội tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực với nhiều tệ nạn xãhội ( cờ bạc, rượu chè, nghiện ma túy ) với nạn lan tràn văn hóa phẩm đồi trụy, bạolực một mặt giáo dục còn giúp cho người được giáo dục , trước hết là thế hệ trẻ cósức đề kháng để tự bảo vệ chống lại ảnh hưởng xấu xa đó Song mặt khác, giáo dụcnhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội phối hợp với nhau thực hiện cuộcvận động nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những tình trạng làm mất vệ sinh,

vi phạm lụật lệ giao thông, chiếu các băng Video đen

Kinh nghiệm thực tiễn cũng cho thấy, bằng những biện pháp thích hợp, nhiều nhàtrường đã đẩy công cuộc xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh Trong đó, cácmối quan hệ thầy - thầy, thầy - trò, trò - trò là những mối quan hệ tốt đẹp; các hoạtđộng có nề nếp, kỷ cương; môi tường tự nhiên đã được thầy trò cải tạo sạch vàđẹp Chính môi trường sư phạm lành mạnh được giáo dục tạo ra cũng chính nó đã

hỗ trợ trở lại giáo dục, góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triểnnhân cách thế hệ trẻ theo định hướng đã xác định

Đến đây, có một vấn đề được đặt ra là, giáo dục muốn phát huy được đầy dủ vaitrò chủ đạo của mình thì cần có những điều kiện nhất định:

Một là, giáo dục phải diễn ra theo một qui trình, trong đó có sự vận động và pháttriển đồng bộ của các thành tố của nó ( mục đích và nhiệm vụ giáo dục, nội dunggiáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục,kết quả giáo dục)

- Hai là, giáo dục phải đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển của ngườiđược giáo dục, nghĩa là giáo dục phải đưa ra được các yêu cầu cao, vừa sức đối vớingười được giáo dục mà họ có thể hoàn thành được với sự nỗ lực cao nhất

Trang 30

- Ba là, giáo dục và sự phát triển nhân cách có tác động qua lại mật thiết với nhau:giáo dục định hướng và kích thích sự phát triển nhân cách; kết quả phát triển nhâncách lại tạo tiền đề và điều kiện cho giáo dục được tiến hành ở trình độ cao hơn.Bốn là, giáo dục một mặt quan tâm đến trình độ, đặc điểm tâm sinh lý chung củangười được giáo dục, một mặt khác, cũng phải quan tâm đúng đến trình độ, đặcđiểm tâm sinh lý của từng cá nhân người được giáo dục.

Từ những điều đã trình bày trên, chúng ta nhận thấy giáo dục đóng vai trò chủ đạotrong sự hình thành và phát triển nhân cách ; giáo dục và sự phát triển nhân cách có

sự tác động qua lại tích cực đối với nhau; giáo dục muốn phát huy được đầy đue vaitrò của mình thì cần phải có những điều kiện nhất định

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là giáo dục là vạn năng, là quyết định sựhình thành và phát triển nhân cách như một số người lầm tưởng Đó là vì sự hìnhthành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào nhiều nhân tố mà giáo dục chỉ là mộttrong những nhân tố đó, mặc dù đó là nhân tố chủ đạo

3 Trình bày vai trò của giáo dục học nói chung và hoạt động tự giáo dục của cá nhân nói riêng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Từ đó chỉ rõ những điều kiện cơ bản để giáo dục phát huy được vai trò chủ đạo.

4 Trình bày các giai đoạn phát triển nhân cách của học sinh theo lứa tuổi và nêu những kết luận sư phạm cần thiết để giáo dục học sinh ở các lứa tuổi này.

Trang 31

CHƯƠNG III

MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC, HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

A MỤC TIÊU DẠY HỌC: Giúp người học có được một cách tự giác:

- Kỹ năng vận dụng tri thức để phân tích mục đích giáo dục, hiện thực giáo dục

- Kỹ năng phân tích đánh giá các yêu cầu của xã hội đối với hệ thống giáo dụcquốc dân và đối với con người mà nhà trường phải đào tạo

3 Về thái độ: Trên cơ sở tri thức và kỹ năng trên, người học sẽ có thái độ đúng

- Đối với việc học tập theo yêu cầu của bậc học, ngành học

- Đối với việc quán triệt mục tiêu đào tạo với tư cách là giáo viên trong tươnglai

B NỘI DUNG KHÁI QUÁT VÀ PHÂN PHỐI THỜI GIAN ( Lý thuyết)

I Phạm trù mục đích giáo dục - quan hệ giữa mục đích giáo dục và mục tiêu giáodục (1tiết)

II Các cơ sở xây dựng mục đích giáo dục (1 tiết)

III Mục đích tổng quát của nền giáo dục việt nam (2tiết)

IV Các nhiệm vụ giáo dục(2tiết)

V Hệ thống giáo dục quốc dân việt nam (1tiết)

C PHƯƠNG PHÁP: Diễn giảng- nêu vấn đề, thảo luận

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt - Giáo dục học T1 - NXBGD, HN, 1998

2 Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê - Giáo dục học đại cương - Vụ Đại học ,

HN, 1995

3 Phạm Minh Hạc - Đổi mới tư duy giáo dục - NXBGD, HN, 1991

4 Roy Raja Singh - Nền giáo dục cho thế kỷ XXI- những triển vọng của châu

Á - Thái Bình Dương - Viện KHGDVN

5.T Makiguchi - Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo - NXB Trẻ - Trường ĐHTH,TPHCM,1994

6 A Tofler - Cú sốc tương lại - NXB thông tin lý luận, 1992

7 Luật giáo duc, nhà xuất bản chính trị quốc gia 1999

E KHỐI LỚP DẠY: Đại học sư phạm

F NỘI DUNG CHI TIẾT BÀI GIẢNG

I PHẠM TRÙ MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC

1 Khái niệm chung

a Mục đích giáo dục

Trang 32

Mục đích giáo dục là một phạm trù cơ bản của giáo dục học, phản ánh trước kếtquả mong muốn trong tương lai của quá trình giáo dục, phản ánh trước sản phẩm dựkiến của hoạt động chung giáo dục và học tập

Với tư cách là mô hình giáo dục học về nhân cách của con người cần đượcđào tạo, mục đích giáo dục có những đặc trưng sau :

- Mục đích là kết quả dự kiến của một quá trình hoạt động dài lâu, với thời gianngắn, nó không cho kết quả rõ ràng

- Biểu thị những yêu cầu, những quan điểm chung nhất của xã hội đối với việcgiáo dục con người

- Tính chất quan trọng nhất của mục đích giáo dục là định hướng, nhưng khôngphải là một điểm có thể xác định được

3 Ý nghĩa của việc xác định mục đích giáo dục

- Mục đích giáo dục là tụ điểm của những đòi hỏi về kinh tế, chính trị, văn hóa,khoa học kỹ thuật trong một thời kỳ lịch sử nhất định của xã hội Vì vậy mục đíchgiáo dục có quan hệ trực tiếp đến việc phát huy sức mạnh của con người Nếu mụcđích giáo dục được xác định đúng đắn thì sức mạnh của con người được đào tạo sẽđược phát huy mạnh mẽ và đầy đủ và sức mạnh đó sẽ được hiện thực hóa trong sứcmạnh kinh tế, sức mạnh chính trị, sức mạnh văn hóa của đất nước Do đó vấn đềmục đích giáo dục là vấn đề cơ bản của chiến lược con người, là thuộc vào hệ thốngnhững vấn đề then chốt trong chiến lược kinh tê - xã hội của đất nước

- Đối với một nền giáo dục thì mục đích, mục tiêu giáo dục là một phạm trù cơbản nhất bởi vì “ Xét về bản chất của nó giáo dục là một hệ thống định hướng màcon người sáng tạo ra, sử dụng để tác động đến chính bản thân mình để tao ra mộtcon người thứ hai từ con người thứ nhất có tính tự nhiên ” Vì vậy một trong nhữngquan điểm có tác dụng định hướng cho hoạt động giáo dục chính là mục đích giáodục Mục đích giáo dục qui định tính chất và phương hướng của quá trình giáo dục,quy định nội dung, phương pháp và tổ chức của quá trình giáo dục, qui định tiêuchuẩn kiểm tra và đánh giá kết quả của quá trình giáo dục, qui định tính chất vàphong cách tác động qua lại giữa thầy và trò

- Đối với thực tiễn giáo dục, mục đích giáo dục như kim chỉ nam cho mọi hoạtđộng giáo dục của người giáo viên Việc xác định chuẩn xác mục đích giáo dục sẽ

hỗ trợ cho các nhà giáo rất nhiều, nhờ vậy họ ý thức đầy đủ về nội dung, yêu cầu,

Trang 33

cách thức tổ chức hoạt động nhằm đạt tới hiệu quả, chất lượng, phù hợp, đáp ứngđòi hỏi của mục đích giáo dục Trong thực tế người ta thấy rằng hiệu quả của hoạtđộng giáo dục cao hay thấp tùy thuộc vào việc người giáo viên có hình dung được

rõ nét mục đích của hoạt động dạy và học, có ý thức được đầy đủ về ý nghĩa xã hội

có tầm chiến lược của vấn đề mục đích giáo dục hay không Vì vậy đối với mỗingười giáo viên, việc xác định đúng đắn, rõ ràng va cụ thể mục đích giáo dục, quántriệt mục đích giáo dục trong toàn bộ công tác giáo dục, làm cho mục đích giáo dụctrở thành hệ thống mục tiêu phấn đấu trong suốt quá trình hoạt động dạy học là mộtđòi hỏi bức thiết của thực tiễn dạy học và giáo dục hiện nay

II CÁC CƠ SỞ ĐỂ XÂY DỰNG MỤC ĐÍCH

a Tư tưởng phát triển hài hòa con người

- Trong các xã hội bóc lột trước đây, giai cấp thống trị dùng nhà trường và

giáo dục để đào tạo ra những người thống trị, bóc lột còn những người bị trị thì chỉbiết lao động phục tùng một cách mù quáng và chịu cảnh dốt nát Chính việc đàotạo đó đã làm cho con người què quặt

Cùng với giai cấp thống trị, thì chế độ nhà thờ của tôn giáo, chế độ nhà trường củagiáo hội cũng làm cho con người phát triển què quặt, gò bó Ngay trong xã hội đó,

có một số người có tư tưởng tiến bộ, thương yêu con người đều đề xướng tư tưởngphát triển hài hòa Đó chính là tư tưởng giáo dục của các nhà triết học tiến bộ vàocuối thời kỳ nô lệ, các nhà giáo dục thời phục hưng, các nhà giáo dục xã hội chủnghĩa không tưởng

Những người trước Mác mong muốn phát triển hài hòa con người nhưng khôngthể thực hiện được, vì đó là xã hội bóc lột, giáo dục là một đặc quyền của giai cấpthống trị

- Tư tưởng phát triển toàn diện con người của chủ nghĩa Mác - Lênin

Mác - Ăng ghen , Lênin kế thừa các tư tưởng tiến bộ về phát triển hài hòacon người và hoàn thiện tư tưởng đó, chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của sự pháttriển què quặt, phát triển hài hòa, đưa lý luận đó trở thành học thuyết phát triển toàndiện con người của chủ nghĩa Mác - Lênin

Mác - Ăng Ghen chỉ ra nguyên nhân làm con người phát triển què quặt và cơ sởphát triển toàn diện con người chính là nền sản xuất đại cơ khí Nền sản xuất máymóc hiện đại làm nảy sinh hai xu hướng :

Ngày đăng: 09/08/2019, 08:06

w