Đầu tư ra nước ngoài là phương thức bỏ vốn của chủ đầu tư vào kinh doanh dài hạn ở nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đạt được mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định. Tầm quan t
Trang 1Mở đầu:
Đầu tư ra nước ngoài là phương thức bỏ vốn của chủ đầu tư vào kinh doanh dàihạn ở nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đạt được mục tiêu kinh tế-xãhội nhất định Tầm quan trọng của FDI không chỉ ở chỗ thu hút được nhiều nguồnvốn mà còn là kết hợp một cách hết sức hiệu quả giữa vốn, các mối quan hệ có liênquan như an ninh quốc gia nhằm đảm bảo cho môi trường đầu tư lành mạnh, ổn định,tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu quản lý tri thức và công nghệ hiện đại.Đây thật sự là một đòn bẩy sắc bén cho phát triển kinh tế và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế gắn liền với bảo đảm an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập khu vực vàtoàn cầu
Đối với Việt Nam, việc thu hút được các nguồn vốn FDI trong những năm qua
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước, nhất là trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI nhằm bổ sung một nguồn vốnquan trọng cho đầu tư phát triển, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế ViệtNam
I ĐẦU TƯ FDI VÀO VIỆT NAM TỪ 1988 ĐẾN NAY:
1 Tình hình chung:
Trong 3 năm 1988-1990, khi mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạiViệt Nam, kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước Trong thời
kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước Thời kỳ1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như là “lànsóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốnđăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môitrường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầutư-kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giánhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lantỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêukinh tế-xã hội của đất nước Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tănggấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD) Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký,tăng 45% so với năm trước
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn
13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy
mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp phéptrong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khókhăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông)
Trang 2Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệuphục hồi chậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so vớinăm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉbằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002.
Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với nămtrước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lụctrong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi sovới năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ , vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ Từ năm 2006, khi nắm được thông tin Việt Nam sẽ gia nhập WTO, nhiều nhà đầu tư đã “đón đầu” sự kiện nên đã tích cực đầu tư vào Việt Nam Chính vì thế, ngay trong năm 2006, FDI đã tăng mạnh và đặc biệt năm 2007, sau một năm gia nhập WTO, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép,điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp v.v.)
Tính đến năm 2008, cả nước có hơn 10.900 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tưvới tổng vốn đăng ký khoảng 163 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án đã hếtthời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có trên 8.600 dự án còn hiệu lựcvới tổng vốn đăng ký hơn 80 tỷ USD
Lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày một nhiều với những con số ấn tượng.Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 8 tháng đầu năm 2009, cả nước đã thuhút 47,1 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (gồm cả vốn cấp mới và vốn đăng
ký tăng thêm), tăng 5 lần so với cùng kỳ năm 2007 và vượt 3 lần so với kế hoạch của
cả năm 2008 Kết quả này đã vượt qua tất cả những kỷ lục và cả những dự đoán đượcxem là lạc quan nhất về nguồn vốn FDI vào nước ta trong năm nay Cụ thể, trong số
772 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, vốn đăng ký tập trung chủ yếu vàolĩnh vực dịch vụ với 23,6 tỷ USD, chiếm 50,9% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng là 22,5 tỷ USD, chiếm 48,6% và 0,5% số vốn còn lại thuộc về
Trang 3Tổng nguồn vốn FDI đăng kí vào 4 tháng đầu năm 2009 khoảng 2.493 tỉ đôlavới 5 nhà đầu tư lớn nhất là: Hàn Quốc, Hongkong, BritishVirgin Island, Singapore
và Đài Loan
Trang 4Tính đến tháng 08/2009, Về đối tác đầu tư, Đài Loan tiếp tục đứng đầu danhsách 38 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 112 dự án cùng với sốvốn 8,6 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đăng ký Tiếp sau Đài Loan là Nhật Bản với
78 dự án cùng 7,2 tỷ USD; Malaysia với 29 dự án cùng 6,2 tỷ USD… Điều thú vị là,nếu trước đây xuất hiện nhiều hình thức đầu tư khác nhau, thì từ đầu năm đến nay các
dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu được thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài(585 dự án, vốn đăng ký 29,7 tỷ USD), chiếm 64,2% về vốn đăng ký Bên cạnh đó, dự
án có vốn đăng ký có giá trị lớn ngày càng tăng, tiêu biểu như: Dự án gang thép HưngNghiệp Formosa do Tập đoàn Formosa (Đài Loan) đầu tư có số vốn gần 7,9 tỷ USDtại Vũng Áng (Hà Tĩnh) và liên doanh giữa Công ty Lọc dầu Nghi Sơn với các tậpđoàn của Nhật Bản và Kuwait với số vốn 6,2 tỷ USD tại Thanh Hoá
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động cóhiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất là từnăm 2001 trở lại đây Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do sốlượng doanh nghiệp ĐTNN còn ít Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước Trong
đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm
2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng35% Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốntăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới Đến tháng08/2009, có hơn 149 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm là 4,828
tỷ USD, tăng 3,8% so cùng kỳ
Trang 5Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tếtrọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm phía Namchiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và71,5% trong giai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 71% và 65% Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%; 20,4% ;21,1% ; 24% và 20%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất côngnghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7% trong giaiđoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007
tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm.
.Bên cạnh đó, tình hình phát triển các KCN, KCX, KCNC, KKT (gọi chung làKCN) cũng rất khả quan Cả nước hiện có 154 KCN được thành lập với tổng diện tíchđất tự nhiên gần 33.000 ha, phân bổ trên 55 địa phương, 10 Khu kinh tế (KKT) đượcthành lập với tổng diện tích đất tự nhiên xấp xỉ 550.000 ha và 2 KCNC (Hoà Lạc và tp
Hồ Chí Minh) Trong hơn 16 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX và hơn 3 nămthành lập KKT cho thấy khu vực này có đóng góp ngày càng quan trọng trong việcthu hút vốn ĐTNN, đến cuối năm 2007 đã thu hút gần 2.700 dự án ĐTNN còn hiệulực với tổng vốn đăng ký khoảng 31 tỷ USD, chiếm 34% về số dự án và 37% tổngvốn đăng ký của cả nước Các dự án đầu tư công nghiệp đang có xu hướng tăngnhanh tại các KCN-KCX Các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài trong KCN,KCX đa dạng về hình thức đầu tư (số liệu năm 2007)
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép 1988 - 2007
Số dựán
Vốn đăng
ký (Triệu đô la Mỹ) (*)
Tổng sốvốn thực hiện
Trang 6Vốnđăng ký
(Triệu đô la Mỹ) (*)
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và
Thương nghiệp; Sửa chữa xe có động
cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia
Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc 295 6954.4
Các hoạt động liên quan đến kinh
Trang 7Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 61 994.3
(*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được
cấp giấy phép từ các năm trước.
1.1 Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến nay
a ĐTNN phân theo ngành nghề:
Lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư
Đến cuối năm 2007, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệulực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện, (giảm từ 7,4% sovới năm 2006) Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọnglớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệuquả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau Tiếp theo là các dự ántrồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành Rồi tớilĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7% Cuối cùng là lĩnh vựctrồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án Có 130 dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là
450 triệu USD,
Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngànhnông-lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản,Trung Quốc, Hồng Kông, ) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp(riêng Đài Loan là 28%) Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm
có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%) Một số nước có ngành nôngnghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vàongành nông nghiệp nước ta
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thuhút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng Trong những năm 90 thực hiện chủtrương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự
án : (i) sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ
lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và
có tỷ lệ nội địa hoá cao
Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp - xây dựngtuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướngkhuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ
Trang 8khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đâycũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế sosánh khi thu hút ĐTNN Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vựcnêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sảnphẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vai trò quantrọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thunhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cựctheo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệthông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới: Intel,Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Hầu hết các dự án ĐTNN này sử dụng thiết bị hiệnđại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao,
do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giá trị của toàn ngành
Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhấtvới 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số
Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản,bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầngkhu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du lịch-khách sạn(24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%) (xem bảng)
STT Chuyên ngành Số dự án Vốn đầu tư
(triệu USD) Đầu tư đã thực hiện
Trang 92008 và 2009 vẫn tiếp tục đi theo hướng này.
Trang 10b ĐTNN phân theo vùng, lãnh thổ :
Tính đến năm 2008, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương
“trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự làvùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùng phụ cận
Trang 11Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24
tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốnthực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự án với tổng vốn đăng ký12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thực hiện cả vùng Tiếp theo thứ
tự là Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hà Tây, Bắc Ninh và Quảng Ninh
Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu tư 44,87 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước (2.398
dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9% tổng vốn đăng ký của Vùng Tiếp theo thứ tự là Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An
Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký 8,6
tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước,trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD) hiện đứng đầu cáctỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có vốn đăng ký 1,7 tỷUSD Tiếp theo là Đà Nẵng, Quảng Nam
Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như vùngĐông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 1% về
số dự án Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn ĐTNN còn thấp so với các vùngkhác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cảnước
Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiệnđịa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tại cácđịa bàn này còn rất thấp
Trang 12Tình hình FDI theo vùng miền từ 1998 – 2008
2 Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án ĐTNN.
2.1 Vốn giải ngân ĐTNN từ 1988 đến nay:
Trong số 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ đô la Mỹ,
đã có khoảng 50% dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD (bao gồm cảvốn thực hiện của các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn), chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký, trong đó, vốn của bên nước ngoài đưa vào (gồm vốn góp vàvốn vay) khoảng 37,9 tỷ USD, chiếm 89,5% tổng vốn thực hiện, các dự án ĐTNN đã
bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đất nước qua từngthời kỳ theo mục tiêu kế hoạch đề ra
Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trongkhi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh Nếu như cả giaiđoạn 1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký mới( bao gồm phần vốn góp của Bên Việt Nam trên 1 tỷ USD - chủ yếu là giá trị quyền
sử dụng đất và vốn nước ngoài đưa vào khoảng 6,1 tỷ USD) thì trong thời kỳ
1996-2000, mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, vốn thực hiện
đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8% tổng vốn đăng kýmới (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ USD và vốn từ nước ngoài đạt 12
tỷ USD) và tăng 90% so với 5 năm trước Trong 5 năm 2001-2005 vốn thực hiện đạt14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm trước vàvượt 30% dự báo ban đầu (11 tỷ USD) nêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, trong đó,vốn góp của Bên Việt Nam đạt trên 1,1 tỷ USD và vốn từ nước ngoài đạt 12,6 tỷUSD Riêng hai năm 2006 và 2007 tổng vốn thực hiện đạt 8,7 tỷ USD (trong đó, vốn