1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Những vấn đề khó của chương trình Địa lí 12

38 575 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Khó Của Chương Trình Địa Lí 12
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Địa lí
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 860 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản

Trang 1

Khuùc maéc

Trang 2

- Hãy cho biết kết quả tác động của quá trình ngoại lực

lên địa hình ?

Hoạt động xâm thực, bồi tụ được đẩy mạnh, hệ thống sông suối đã bồi đắp những đồng bằng châu thổ, các khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh được hình thành.

- Tìm các dẫn chứng để khẳng định giai đoạn tân kiến tạo vẫn còn đang tiếp diễn cho đến tận ngày nay?

- Dãy Hoàng Liên Sơn nằm ở khu vực rìa của dãy Hymalaya vẫn đang được tiếp tục nâng cao do các hoạt động địa chất ở khu vực Hymalaya.

- Các đồng bằng lớn của nước ta vẫn tiếp tục quá trình thành tạo và mở rộng, ví dụ Đồng bằng sông Hồng mỗi

Trang 4

-Quan sát hình 25.1 và dựa vào kiến thức đã học, hãy

giải thích tại sao kinh tế trang trại lại rất phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long ?

- Kinh tế trang trại ở nước ta phát triển từ kinh tế hộ gia đình.

- Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có mức tập trung cao và rất cao các sản phẩm cây hàng năm (lúa gạo, mía, đay cói ), mức độ tập trung rất cao sản phẩm thủy sản nước ngọt và gia cầm là các sản phẩm có tỉ lệ trang trại phân theo loại hình sản xuất thuộc loại cao nhất (trồng cây hàng năm : 28,7 % và nuôi trồng thủy sản : 30,1 % , năm 2005).

Trang 5

0.5

1.32 1.32

1.7

2.1 2.16

3.0

3.24 2.93

1.1

3.93

?

Trang 7

• Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI,

từ các chữ tiếng Anh Consumer Price Index) là

chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức

thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ

số này chỉ dựa vào một rổ hàng hóa đại diện

cho toàn bộ hàng tiêu dùng.

• Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để

đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá

chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản

phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP ).

Trang 8

• Chỉ số giá cả tiêu dùng CPI có liên hệ gì với lạm phát

Lạm phát thường được ưu tiên trong chính sách quản lý

kinh tế của các chính phủ vì những hậu quả của chúng

để lại hậu quả rất xấu cho nền kinh tế, sau đó là thất

nghiệp, lãi suất, năng suất, thâm hụt ngân sách chính

phủ, thâm hụt ngoại thương… Lạm phát vừa phải thường

có tác dụng tích cực, vì nó gây ra cho tâm lý người người tiêu dùng cần mua sớm nếu không mua thì hàng hóa sẽ còn tăng cao nữa từ đó hàng hóa sẽ được lưu thông tốt hơn xong tới một mức độ nào đó thì nó lại mất tác dụng

và gây ra hậu quả cho nền kinh tế Thường thì lạm phát

có nguyên nhân bắt nguồn chủ yếu từ cung tiền, đổi tiền, thay đổi chính sách về thuế, phúc lợi xã hội, v.v Song

cũng có những trường hợp ngoại lệ như trường hợp của

mỹ vào đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 là một ví dụ điển hình Xin trích một đoạn từ trang 97 đến 102 trong cuốn Macroeconomics Fifth Edition – Robert J Gordon (1991) NXB KHKT- 2000

Trang 9

• Giới chuyên môn bàn cãi khá nhiều về

nguyên nhân lạm phát và chính sách

chống lạm phát Lạm phát ở Việt Nam

được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của một rổ gồm 494 mặt hàng thiết yếu, chia ra làm 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ

Trang 10

• Lạm phát là gì ?

Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ

Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v ) Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát Những ví dụ cùng cực nhất của

siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên

1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3,25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá

cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4,19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi

15 giờ đồng hồ)

Trang 11

• 1 Lạm phát

• Không thể phủ nhận việc tăng giá dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường thế giới cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là nguyên nhân khách quan dẫn tới việc tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2007 Tuy

nhiên, lạm phát ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ các

nhân tố chủ quan, có tính cơ cấu của nền kinh tế vì nếu

lạm phát chủ yếu do giá thế giới tăng thì các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… cũng đều phải

chịu sức ép tương tự Tuy nhiên, lạm phát ở các nước này lại thấp hơn một cách đáng kể so với Việt Nam (xem Hình 1)

Trang 12

• Trong kinh tế học , lạm phát là sự tăng lên theo

thời gian của mức giá chung của nền kinh tế

của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh

tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương

nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.

Trang 13

Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của

tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá

so sánh hay GDP thực) (Xem thêm

Thực và danh định trong kinh tế) Nó là phép đo mức giá

cả được sử dụng rộng rãi nhất Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như

chi phí tiêu dùng cá nhân Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang

đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân

và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính

sách kiềm chế lạm phát của mình

Trang 14

• Lạm phát là khi đồng tiền bị mất giá trị so với cách đó một thời gian nào đó Giảm

phát là đối nghịch lạm phát Khi bạn nghe

Tuy vậy, đừng nghe rằng có giảm phát mà mừng (vì đồng tiền tăng giá), vì thường

khi giảm phát là nền kinh tế sẽ bị đình

đốn Tóm lại, giảm phát, hay lạm phát cao

Trang 15

• [ sửa ] Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)

• Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá hai chữ số một năm, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát.

• [sửa] Siêu lạm phát

• Xem bài chính về Siêu lạm phát

• Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả

tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi) Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế

29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ

ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới

Trang 17

• Khi GDP tăng trưởng 8% có nghĩa là xã hội làm thêm ra được khối tài sản trị giá 8% khối tài sản cũ, nên nhà nước phải phát hành thêm 8% lượng tiền để lưu thông lượng giá trị tài sản ( hàng hoá, dịch vụ, trí tuệ,v.vvv) đó

Nhưngkhông hiểu vì lý do gì mà nhà nước lại phát hành thêm tới 20%, 30% hoặc 50% lượng tiền nên đồng tiền bị mất giá ( lạm phát ) , giá cả hàng hóa tăng cao, xã hội bất ổn

Bây giờ thì bớt phát hành tiền đi , tăng lãi suất tiết kiệm , nhốt tiền vào ngân hàng để lấy lại giá trị cho đồng tiên

( giảm phát ) Giảm phát và lãi xuất ngân hàng tăng cao thì người ta không thích đầu tư sản xuất nữa, gửi tiền vào ngân hàng sướng hơn Vả lại, đầu tư kinh doanh với tỷ lệ lãi phải thật cao thì mới đủ trể trả lãi vay ngân hàng Mà không sản xuất thì khong có công ăn việc làm, thất

nghiệp , đói nghèo cũng gây bất ổn xã hội

Trang 18

• Sức mua tương đương

• (hay được viết tắt là PPP xuất phát từ

purchasing power parity ) là một kiểu tính tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ

của hai nước Các nhà kinh tế học tính

xem cùng một lượng hàng của cùng một thứ hàng hóa khi bán ở hai nước khác

nhau bằng đơn vị tiền tệ của hai nước đó thì số tiền phải bỏ ra ra sao, rồi từ đó so sánh lượng hai đơn vị tiền tệ.

Trang 19

• Đo lường CPI như thế nào?

Bộ Thương mại biên soạn và công bố các số liệu hàng quý về GNP danh nghĩa, GNP thực tế và chỉ số ngầm giảm phát GNP, nhưng trên thực tế không sưu tầm các giá cả cá biệt của thịt bò, trứng và các sản phẩm khác Cục Thống Kê Lao động (BLS) tiến hành sưu tầm các giá cả cá biệt và công bố hai chỉ số giá cả là Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) và Chỉ số giá cả sản xuất (PPI)

Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI), được công bố hàng tháng, dựa vào giá cả

của hàng nghìn sản phẩm được xếp thành 224 nhóm Giá cả mà những người tiều dùng phải trả được hàng trăm người đi thu nhập giá ghi lại, những người này hàng tháng gọi điện thoại đến hay trực tiếp đến hàng nghìn cửa hàng tại 85 khu vực địa lý và thu nhập

được trên 100.000 giá Sau đó, các giá cả trung bình của từng sản phẩm cá biệt, như thịt bò và trứng chẳng hạn, được BLS kết hợp lại thành các chỉ số nhóm như chỉ số nhóm “thực phẩm và đồ uống” chẳng hạn Sau đó các chỉ số nhóm được kết hợp lại thành “tổng chỉ số giá cả tiêu dùng CPI” Những trọng lượng được sử dụng để kết hợp giá cả những sản phẩm cá biệt thành những chỉ số nhóm rồi đi tới “tổng chỉ số giá cả” dựa vào tỷ lệ các hạng mục ấy trong số

Trang 20

• Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng

• Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình

quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của

kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở Để làm được điều đó

phải tiến hành như sau:

– 1 Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta

sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua

– 2 Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm

– 3 Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả của từng loại

hàng hoá rồi cộng lại

– 4 Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức sau:

– CPIt = 100 xChi phí để mua giỏ hàng hoá thời

kỳ tChi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở

Trang 21

Hình 2: Biến động chỉ

số giá thức ăn thế giới (trục hoành: từ tháng

1 đến tháng 12) từ năm 2005 đến tháng 3-2008 (so với mức giá 1998-2000 được lấy là 100), nguồn FAO

Trang 22

• Hình 1 Đóng góp của thức ăn vào chỉ số giá cả (%, trục bên trái); chỉ số giá tiêu

dùng (trục phải) ở Việt Nam

(Nguồn:

http://www.dragoncapital.com/UserFiles/Fil e/monthly

%20report/2008/Apr/VNFocus_200804.pdf )

Trang 23

Hình 1 Đóng góp của thức ăn vào chỉ số giá cả (%, trục bên trái); chỉ số giá tiêu dùng (trục phải) ở Việt Nam (Nguồn:

Trang 24

• Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh theo nhịp độ tăng giá thức ăn thế giới từ tháng 9-2007, nhất là trong 4 tháng đầu năm

2008 khi CPI tháng 4 lên đến 21,42% so với tháng 4-2007(lương thực tăng 25,1%; thực phẩm tăng 15,6% so với tháng 12-2007).

• Tất nhiên lạm phát không chỉ do tăng giá thức ăn gây ra, việc tăng giá năng lượng, vật liệu (với quyền số gần 10%) cũng góp phần không nhỏ, và giá thế giới của các mặt hàng đó cũng tăng cao Tăng trưởng tín dụng, lượng cung tiền cũng góp phần tăng lạm phát

• Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Dragon Capital nguyên nhân chính của lạm phát trong thời gian qua là sự tăng giá thức ăn và năng lượng trên thế giới đã tác động đến giá của các mặt hàng có quyền số lớn như đã nêu ở trên Và nếu vậy thì theo họ các biện pháp chống lạm phát vừa qua mà chủ yếu là thắt chặt chính sách tiền tệ là chưa hoàn toàn trúng

Trang 25

Hình 4 Lạm phát ở Việt Nam,

Trang 26

• 2 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vượt tốc độ tăng

trưởng:

Tổng mức tăng giá tiêu dùng (CPI) đạt 12,63% - vượt

xa mức tăng trưởng GDP 8,5% trong năm nay Đây là

mức tăng CPI cao kỷ lục Chỉ số CPI tăng cao tác động bất lợi đến sản xuất, khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống của đại bộ phận nhân dân Mặc dù Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như giảm thuế hay siết chặt chính sách về tiền tệ nhưng do các biện pháp đưa ra không kịp thời và buông lỏng việc kiểm soát giá nên việc kiềm chế tốc độ tăng giá

đã không thu được hiệu quả như mong muốn

Trang 28

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay

được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách

có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những

sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số

này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc

chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn

có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là

khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra)

Trang 29

• Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch

vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này) Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ

hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là

mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm

Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng

ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả

là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước

của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó

Trang 30

Nguyên nhân và tác hại

Giảm phát do tổng cầu giảm

Nguyên nhân chính của giảm phát là do tổng cầu giảm, Có thể dùng sơ đồ AD-AS để minh họa điều này Ban đầu tổng cầu tương ứng với đường AD Điểm cân bằng của nền kinh tế là điểm E tại giao điểm của hai đường AD và đường AS (đường

song sang trái thành đường AD' cắt đường AS ở điểm E' E' là

Trang 31

• Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số :

- Chỉ số giá cả sản xuất PPI ( Producer Price Index ) Đây là chỉ số

giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu Mang

so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào Chỉ

số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.

- Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI ( Consumer Price Index ) Chỉ số giá

cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước

đó

Trang 32

Nguyên nhân đưa đến lạm phát

Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát,

trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận hơn cả với “mô hình tam giác”

nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó :

- Lạm phát do nhu cầu tăng ( Demand-pull inflation ) Lạm phát do nhu cầu sản xuất và dịch vụ

(gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp Còn gọi là

Phillips Curve Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế

sẽ gây lạm phát Phe Marxist-Leninist bám vào lý luận này và cho rằng kinh tế tư bản luôn luôn cố

ý giữ một tỉ lệ thất nghiệp để dễ bóc lột công nhân hơn.

- Lạm phát do đột biến giá cả ( Cost-push inflation ) Giá cả một số nguyên vật liệu trọng yếu, ví

dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.

- Lạm phát sẵn có tự nhiên ( Built-in inflation ) Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện tượng “vòng

xoắn giá/lương” ( price/wage spiral ) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh

tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi Chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát

Ngày đăng: 05/09/2013, 13:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Biến động chỉ - Những vấn đề khó của chương trình Địa lí 12
Hình 2 Biến động chỉ (Trang 21)
Hình  1.  Đóng  góp  của  thức  ăn  vào  chỉ  số  giá  cả  (%,  trục  bên  trái);  chỉ  số  giá  tiêu  dùng  (trục  phải)  ở  Việt  Nam - Những vấn đề khó của chương trình Địa lí 12
nh 1. Đóng góp của thức ăn vào chỉ số giá cả (%, trục bên trái); chỉ số giá tiêu dùng (trục phải) ở Việt Nam (Trang 23)
Hình 4. Lạm phát ở Việt Nam,  Philippines, Trung Quốc, Thái Lan và - Những vấn đề khó của chương trình Địa lí 12
Hình 4. Lạm phát ở Việt Nam, Philippines, Trung Quốc, Thái Lan và (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w