1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để dạy chủ đề khí quyển chương trình địa lí lớp 10 cơ bản nhằm phát triển năng lực của học sinh

89 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 8,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn dạy học, tôi mạnh dạn viết đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để dạy chủ đề: Khí quyển - chương trình địa lí

Trang 1

cơ sở đào tạo.

Phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đếnchất lượng đào tạo Một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điềukiện để giáo viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việctruyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Một phương pháp giảng dạykhoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú,say mê và sáng tạo của người học

Để đáp ứng những yêu cầu của đổi mới giáo dục, là một giáo viên đangtrực tiếp giảng dạy học sinh ở trường THPT tôi luôn nhận thức sâu sắc nhiệm

vụ và vai trò của một nhà giáo Trong mỗi tiết học cần phải chủ động tìm ra cácPPDH mới phù hợp với từng nội dung bài học và từng đối tượng học sinh Làmsao để mỗi tiết học không nặng nề căng thẳng, không áp đặt cách truyền thụkiến thức một chiều mà ngược lại để cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức

Vì vậy, vai trò mới của người giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mòcủa học sinh, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng

tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo

Trang 2

Dạy học giải quyết vấn đề đã có từ lâu, đây không phải là phương pháphoàn toàn mới, nhưng đến nay chưa được sử dụng nhiều trong dạy học Địa lí ởtrường phổ thông Khi sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề đòi hỏi

GV phải chuẩn bị hết sức công phu, kĩ lưỡng GV phải nắm vững, nắm sâu cáckiến thức của bài học, GV đưa HS vào tình huống có vấn đề rồi giúp HS giảiquyết vấn đề đặt ra Học sinh phải tìm tòi, khám phá, tư duy xâu chuỗi các kiếnthức liên quan để tổng hợp, giải quyết vấn đề Thông qua việc giải quyết vấn

đề, HS vừa lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng; vừa nắm được phương pháp nhậnthức, lại vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo Nếu như cả GV và HS thựchiện phương pháp dạy học giải quyết vấn đề hợp lí thì đã hướng tới hình thànhnăng lực rất quan trọng của người học, đó là năng lực giải quyết vấn đề

Qua thực tiễn dạy học tôi nhận thấy trong khi dạy chủ đề khí quyển

có rất nhiều vấn đề được đặt ra Khi sử dụng phương pháp dạy học giải quyếtvấn đề học sinh học tập rất tích cực, hào hứng khám phá tri thức mới, tư duy tốt

và phát triển năng lực giải quyết vấn đề Học sinh mong muốn được tự mìnhgiải quyết những mâu thuẫn giữa các kiến thức mới và những kiến thức đã biết,xâu chuỗi các kiến thức để giải thích, phân tích các hiện tượng trong khí quyển

Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn dạy học, tôi mạnh dạn

viết đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để dạy chủ đề: Khí quyển - chương trình địa lí lớp 10 cơ bản nhằm phát triển năng lực của học sinh”

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chủ đề khí quyển địa lí lớp 10 – cơ bản

+ Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề nhằm định hướng pháttriển năng lực của học sinh

Trang 3

+ Cách thức vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề vào chủ đề

“Chủ đề khí quyển địa lí lớp 10 – cơ bản " nhằm phát triển năng lực của họcsinh

và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếmthông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạocủa tư duy “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức,hướng dẫn của giáo viên”

.4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phương pháp GQVĐ trong dạy học

- Xác định những THCVĐ trong phần khí quyển địa lí lớp 10 cơ bản

- Nghiên cứu xây dựng chủ đề: Khí quyển chương trình địa lí 10 cơ bản

- Xây dựng tiến trình dạy học giải quyết vấn đề vào chủ đề ''Khí quyển''nhằm định hướng phát triển năng lực của học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả nghiên cứu tại đơn

vị công tác

- Đề xuất những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Địa lý THPTphù hợp với yêu cầu giai đoạn hiện nay

Trang 4

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, tôi đã lựa chọn phối hợpnhiều phương pháp trong đó có hai nhóm phương pháp chủ yếu:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Bao gồm: Thu thập tài liệu, đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu và xử lý các

số liệu cần thiết

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.1 Điều tra thực tế

- Điều tra tìm hiểu quan sát quá trình dạy học địa lý trên lớp

- Dự giờ một số giáo viên ở cả ba khối 10, 11, 12 tập trung nhiều nhất ở lớp10

6 GIẢ THIẾT KHOA HỌC

Đối với chủ đề khí quyển trong chương trình địa lí 10 cơ bản được sửdụng phương pháp đạy học giải quyết vấn đề góp phần phát huy tính tích cực,

tự giác của học sinh từ đó nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT

Trang 5

thực nghiệm sư phạm Phương pháp dạy học này thực sự đã kích thích được sựsay mê sáng tạo trong học tập của học sinh và khẳng định được vai trò chỉ đạo,

cố vấn của thầy trong việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tích cực hoạt độngGQVĐ đặt ra trong bài học cũng như trong những tình huống thực tiễn

PHẦN HAI - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

1.1.1 Khái niệm về năng lực

- Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng,thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong cáctình huống đa dạng của cuộc sống

- Phân loại năng lực:

+ Năng lực chung: Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu

hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống

và lao động nghề nghiệp Một số năng lực cốt lõi của học sinh: Năng lực tự họcgồm năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, nănglực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT, năng lực sử dụngngôn ngữ, năng lực tính toán

+ Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triểntrên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong cácloại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiếtcho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạtđộng như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…Một số năng lực

Trang 6

chuyên biệt môn Địa lí: Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, năng lực họctập tại thực địa, năng lực sử dụng bản đồ, năng lực sử dụng số liệu thống kê,năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình

1.1.2 Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được

mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể

Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:

Giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này

Trang 7

không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.

- Quy trình biên soạn hệ thống câu hỏi dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề trong chương trình để xác định kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng hình thành năng lực, (Chủ đề đó phải góp phần hình thành năng lực chuyên biệt cụ thể nào đó của bộ môn)

Bước 2: Xác định chuẩn kiến thứ , kỹ năng của chủ đề lựa chọn, xếp vào

ô của ma trận sao cho tương ứng với mức độ nhận thức; xác định các năng lực được hình thành

Bước 3: Mô tả các mức độ yêu cầu của các chuẩn bằng các động từ hành động

Bước 4: Biên soạn câu hỏi/bài tập theo các mức độ nhận thức của kiến thức, kỹ năng và định hướng hình thành năng lực

Bước 5: Tổ chức các hoạt động học tập cho chủ đề lựa chọn

1.2 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ)

1.2.1 Khái niệm vấn đề

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm "vấn đề" Theo ngôn ngữthông thường hiểu nôm na "vấn" là "hỏi", "đề" là "đặt ra" Vấn đề là câu hỏiđặt ra bao hàm cả nghĩa cần giải quyết

Từ điển tiếng Việt đã giải thích: Vấn đề được hiểu như một mâu thuẫnnào đó mà tư duy hay nhận thức cần xem xét, nghiên cứu và giải quyết

Như vậy vấn đề được hiểu như một mâu thuẫn nhận thức và cần thiết phảivượt qua, hay nói cách khác vấn đề xuất hiện khi con người đã ý thức được sựcấp bách của việc khắc phục mâu thuẫn trong sự vật khách quan để thúc đẩy sựphát triển của sự vật

Trang 8

1.2.2 Phương pháp dạy học GQVĐ

1.2.2.1 Bản chất

Có nhiều quan niệm cũng như tên gọi khác nhau để chỉ DHGQVĐnhư dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề… Dù tên gọi

có khác nhau nhưng nhìn chung mục tiêu cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề

là nhằm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề ở người học, là con đường quantrọng nhất để phát huy tính tích cực của người học Tất nhiên trong đó cần baogồm khả năng nhận biết và phát hiện vấn đề

Phương pháp dạy học GQVĐ (prolem posing and solving) hay dạy họcnêu vấn đề (problem based learning), là phương pháp trong đó giáo viên đặt ratrước học sinh một vấn đề hay một hệ thống những vấn đề nhận thức có chứađựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinh vàoTHCVĐ, kích thích các em tự giác, có nhu cầu mong muốn GQVĐ tức là làmcho các em tự giác trong việc dành lấy kiến thức một cách độc lập

Như vậy điểm mấu chốt ở phương pháp dạy học GQVĐ là ở chỗ làm thếnào để xuất hiện THCVĐ, tức là làm thế nào để tạo ra một trạng thái tâm lí màtrong đó học sinh tiếp nhận mâu thuẫn khách quan, khó khăn gặp phải trênbước đường nhận thức như là mâu thuẫn nội tại của bản thân, bị day dứt bởimâu thuẫn đó và có ham muốn giải quyết

1.2.2.2 Các bước tiến hành (cấu trúc) một bài học dạy theo phương pháp dạy học GQVĐ

Để phát huy đầy đủ vai trò của giáo viên trong sự định hướng hành độngtìm tòi, xây xựng tri thức của học sinh, cũng như phát huy vai trò tương tác củatập thể học sinh đối với quá trình nhận thức khoa học của mỗi cá nhân họcsinh, cấu trúc một bài dạy theo phương pháp dạy học GQVĐ thường là nhưsau:

Trang 9

* Bước 1 : Đặt vấn đề (Xây dựng bài toán nhận thức)

Giai đoạn này gồm các bước:

- Tạo THCVĐ

- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

Đây là giai đoạn chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hoá tri thức Mục đíchcủa giai đoạn này là làm xuất hiện trước học sinh mâu thuẫn nhận thức, giúphọc sinh xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và tiếp nhận nó, tức là tạo ra nhu cầunhận thức ở học sinh

Đặt vấn đề trong phần lớn trường hợp là đặt trước học sinh một câu hỏi.Tuy nhiên đó không phải là câu hỏi thông thường như trong đàm thoại, màphải là câu hỏi có tính chất nêu vấn đề Nghĩa là câu hỏi phải chứa đựng:

+ Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, giữa cái đã biết vàcái chưa biết cần phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có

và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng

Trang 10

Để vấn đề trở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đề phảiđạt 3 điều kiện sau:

+ Trong nội dung câu hỏi phải có phần học sinh đã biết, phần kiến thức

cũ và có phần học sinh chưa biết, phần kiến thức mới Hai phần này phải cómối quan hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phần chính của câuhỏi, học sinh phải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá

+ Nội dung câu hỏi phải thật sự kích thích, gây hứng thú nhận thức đốivới học sinh Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đề thực tếgần gũi thường lôi cuốn hứng thú học sinh nhiều hơn

+ Câu hỏi phải vừa sức học sinh Các em có thể giải quyết được hoặchiểu được cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn có của mìnhbằng hoạt động tư duy Trong các câu hỏi nên hàm chứa phương hướngGQVĐ, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tìm ra con đường giải quyếtđúng

THCVĐ có thể được tạo ra vào lúc bắt đầu bài mới, bắt đầu một mục củabài, hay lúc đề cập đến một nội dung cụ thể của bài, một khái niệm, một mốiquan hệ nhân quả

Đặt và tạo THCVĐ có thể bằng cách dùng lời nói, suy luận logic, mô tả,

kể chuyện, đọc một đoạn trích, dùng bản đồ, sơ đồ, tranh vẽ, hình ảnh, bănghình video

* Bước 2 : Giải quyết vấn đề đặt ra

- Đề xuất các giả thuyết để giải quyết vấn đề

- Lập kế hoạch để giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề

Trang 11

Mục đích của giai đoạn này là đưa học sinh vào con đường tìm kiếm kiếnthức thông qua các hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết vấn

đề Trên cơ sở đó làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học

Học sinh chỉ có thể rèn luyện được năng lực nhận thức một cách tự lực vàsáng tạo khi các em biết cách nghiên cứu GQVĐ

Trước một THCVĐ học sinh có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau.Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm chứng những giả thuyết đó, cách chọn lọctốt nhất là suy từ các giả thuyết ra các hệ quả khác nhau để họ giải quyết đúngđắn

* Bước 3 : Kết luận

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

Giai đoạn này học sinh ghi nhận tri thức mới và vận dụng một cách sángtạo tri thức đã thu nhận được, có nghĩa là vận dụng để giải quyết những tìnhhuống mới khác với tình huống đã có sẵn, đã gặp phải trong quá trình thu nhậnkiến thức

1.2.2.3 Các mức độ của phương pháp dạy học GQVĐ

Dạy học GQVĐ có nhiều mức độ khác nhau:

- Mức 1:

+ Giáo viên đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, nêu cách GQVĐ

+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ theo hướng dẫn của giáo viên

+ Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

Trang 12

Mức độ này học sinh hầu như không động não Có chăng chỉ có vài bahọc sinh khá trong lớp Số còn lại làm gì giáo viên không thể kiểm soát được.Yêu cầu đối với phương pháp dạy học không thể chỉ dừng lại ở đây Tuy rằnggiáo viên đã có ý thức sử dụng phương pháp mới để phát huy tính tích cực hoạtđộng cho học sinh nhưng hiệu quả chưa cao.

Trang 13

- Mức 2 :

+ Giáo viên đặt vấn đề gợi ý học sinh tìm ra cách GQVĐ

+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ

+ Giáo viên cùng học sinh đánh giá

Mức độ này học sinh đã được hoạt động nhiều hơn, giáo viên thực sự làngười dẫn dắt để học sinh giải quyết các vấn đề Sự giúp đỡ của giáo viên chỉdừng lại ở mức hướng dẫn

Giáo viên thường sử dụng mức độ 2 khi vốn kinh nghiệm, vốn tri thức củahọc sinh chưa nhiều Trong nhiều trường hợp, mức độ 2 thể hiện được quanniệm dạy học hiện đại: học sinh tự mình tìm kiếm tri thức mới Chẳng hạntrong trình bày bài, hình thành kiến thức mới

- Mức 3:

+ Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống

+ Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh tự lực đề xuất các giảthiết và lựa chọn giải pháp

+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần.+ Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Giáo viên chỉ là người nêu tình huống, nhận xét, tổng kết, đánh giá kếtquả, biện pháp giải quyết của học sinh, còn toàn bộ quá trình GQVĐ đều dohọc sinh tự suy nghĩ, tìm ra cách GQVĐ thích hợp nhất

Khi sử dụng phương pháp GQVĐ đạt đến mức độ 3 thì khả năng sáng tạo,khả năng tự lập và tính tích cực hoạt động của học sinh đã tương đối hoànchỉnh Giờ học thực sự là giờ hoạt động của học sinh, học sinh tự làm việc để tìm

ra tri thức mới Học sinh là chủ thể của giờ học Nhưng nói vậy không đồng nghĩa

Trang 14

với việc phủ nhận vai trò của giáo viên mà yêu cầu đối với trình độ của giáo viêncòn phải cao hơn Giáo viên phải tạo được các tình huống kích thích suy nghĩ củahọc sinh, giáo viên phải biết thiết kế giờ học để làm sao không chỉ học sinh khágiỏi mà học sinh yếu kém cũng có hứng thú GQVĐ đó.

1.2.2.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học GQVĐ.

* Ưu điểm :

- Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có

HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết

- Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc

độ khác nhau Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy động được

Trang 15

tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè

và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề

- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện

và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các phương pháp thông thường

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trong chương trình địa lí 10 nội dung phần khí quyển bao gồm nhữngkiến thức mới và những kiến thức học sinh đã được học ở lớp 6 Tuy nhiên ởlớp 10 đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức hơn để phân tích giải thíchđược các hiện tượng khí hậu, thời tiết trong khí quyển, đặc biệt là biết liên hệvới thực tiễn

Qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kì, thông thường nếu đề bài ra

câu hỏi trực tiếp theo trong sách giáo khoa, ví dụ như “Phân tích những nhân

tố ảnh hưởng đến lượng mưa ?'', các em có thể trả lời tốt nếu đã học thuộc,

nhưng nếu giáo viên hỏi nhằm mục đích phát triển tư duy, liên hệ thực tiễn như

''Giải thích vì sao miền ven Đại Tây Dương của Tây Bắc Phi cũng nằm ở vĩ độ như nước ta, nhưng có khí hậu nhiệt đới khô, còn nước ta lại có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều ?'' thì phần lớn các em đều khó khăn để xác định được câu

Trang 16

trả lời, vì vậy kết quả học tập thường không cao, đặc biệt các em rất khó khănkhi vận dụng kiến thức để lí giải các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống Trước tình hình thực tiễn đó, tôi đã vận dụng phương pháp dạy học giảiquyết vấn đề để dạy chủ đề khí quyển dựa trên nội dung của 4 bài học trongSGK địa lí lớp 10 cơ bản, gồm:

- Bài 11: Khí quyển Sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái Đất

- Bài 12: Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính

- Bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển Mưa

- Bài 14: Thực hành : Đọc bản đồ sự phân hóa các đới và các kiểu khíhậu trên Trái Đất Phân tích biểu đồ một số kiểu khí hậu

Chủ đề nhằm góp phần ôn tập lại các kiến thức của lớp 6, vừa giúp họcsinh biết xâu chuỗi kiến thức, hệ thống kiến thức, khái quát kiến thức đã họcvới các kiến thức mới, đồng thời phát triển năng lực giải quyết vấn đề và ápdụng vào thực tiễn

Phương pháp giải quyết vấn đề (problem solving) đã phải trải qua nhiềuthử thách, thực nghiệm trong gần suốt một thế kỷ 20 để đến gần đây mới được

sử dụng thực sự ở nhiều trường học ở Hoa Kỳ và trở thành một yếu tố chủ đạotrong cải cách giáo dục ở một số nước khác Đó là một phương pháp dạy và họcmới phù hợp với triết lý về khoa học và giáo dục hiện đại, đáp ứng tốt những

yêu cầu về giáo dục trong thế kỷ 21 Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là

học sinh được tự mình khám phá tri thức, giải quyết mâu thuẫn nội tại và pháthuy năng lực giải quyết vấn đề Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp này ởtrường THPT nói chung và đơn vị tôi công tác nói riêng còn rất hạn chế Thiếtnghĩ, trước nhu cầu Đổi mới giáo dục, cần mạnh dạn áp dụng những phươngpháp tiến tiến, biến nó thành một trong những phương pháp dạy học thườngxuyên để nâng cao hiệu quả dạy và học là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG II - KHẢ NĂNG VẬN DUNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GQVĐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ KHÍ QUYỂN CHƯƠNG TRÌNH

ĐỊA LÍ LỚP 10 CƠ BẢN

1 Cách sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học chủ đề khí quyển

Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lí, trong đó học sinh tiếp nhậnmâu thuẫn khách quan (một khó khăn gặp phải trên bước đường nhận thức)như

là mâu thuẫn chủ quan (mâu thuẫn nội tại của bản thân), bị day dứt bởi chínhmâu thuẫn đó và có ham muốn giải quyết

Để vấn đề trở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đề cầnlưu ý những điểm sau:

- Trong thành phần câu hỏi, phải có phần học sinh đã biết, phần kiến thức

cũ và phần học sinh chưa biết, phần kiến thức mới Hai phần này phải có mốiquan hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phần chính của câu hỏi,Học sinh phải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá Ví dụ : “Thường những nơi gầnbiển thì khí hậu điều hòa,có mưa nhiều Nhưng tại sao bờ tây các lục địa ở cácvùng chí tuyến lại mưa ít, khí hậu khô khan?”

- Nội dung câu hỏi phải thực sự kích thích, gây hứng thú nhận thức đốivới học sinh Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đề thực tếgần gũi, thường lôi cuốn hứng thú học sinh nhiều hơn

- Câu hỏi phải vừa sức học sinh Các em có thể giải quyết được, hoặc hiểuđược cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn có của mình bằnghoạt động tư duy Trong câu hỏi nên hàm chứa phương hướng gải quyết vấn

đề, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tạo điều kiện tìm ra con đườnggiải quyết đúng

Trang 18

- Đặt và tạo tình huống có vấn đề có thể bằng cách dùng lời nói, suy luậnlogic, mô tả, kể chuyện, đọc một đoạn trích, dùng bản đồ, sơ đồ, hình vẽ

- THCVĐ có thể được sử dụng vào lúc bắt đầu bài mới mang một nộidung cụ thể của bài, một khái niệm, một mối liên hệ nhân quả hay để củng cốđánh giá bài học Nêu và tạo THCVĐ có thể bằng nhiều cách Việc sử dụngTHCVĐ đòi hỏi linh hoạt sáng tạo của người giáo viên Giáo viên cần căn cứvào trình độ nhận thức của học sinh, căn cứ vào nội dung bài học để sử dụngcho phù hợp tránh cứng nhắc, gò bó Vận dụng điều này giáo viên có thể sửdụng THCVĐ ở các bước sau:

1.1 Sử dụng THCVĐ để định hướng bài học mới

THCVĐ được sử dụng phần đầu giờ học nhằm mục đích gợi hứng thú, tạotâm thế cho học sinh khi bước vào bài học Điều đáng chú ý là khi sử dụngTHCVĐ làm nhiệm vụ định hướng cho bài học thì nội dung của tình huống phảichứa đựng những dữ kiện, những dấu hiệu triển khai ở phần nội dung bài học

Ví dụ 1: Khi giới thiệu về chủ đề khí quyển giáo viên có thể đặt vấn đề:

Thiên nhiên quanh chúng ta luôn xảy ra các hiện tượng mây, mưa, gió, bão Nhưng trên Trái Đất tất cả các hiện tượng đó xảy ra không giống nhau ở mỗi nơi khác nhau Trên Trái Đất có nơi mưa nhiều, nơi mưa rất ít thậm chí nơi không có mưa, cùng ở cùng một vĩ độ nhưng lại có nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa khác nhau Vì sao lại như vậy? Để trả lời được vấn đề đó trong chủ đề này chúng ta sẽ tìm hiểu về lớp không khí bao quanh chúng ta và các hiện tượng xảy ra trong lớp không khí đó.

1.2 Sử dụng THCVĐ để phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới của bài học

Đây là tình huống có nhiệm vụ quan trọng trong giờ dạy học Trong mộtbài học có khi THCVĐ được dùng để tìm tòi kiến thức cho một mục, cũng có

Trang 19

khi để hiểu rõ một khái niệm nào đấy Việc sử dụng 1 hay 2 THCVĐ trở lêntrong giờ dạy sẽ tạo ra sự khác nhau về tiến trình và tốc độ của giờ học, giáoviên cần đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa việc sử dụng THCVĐ với cácphương pháp khác để đạt được mục tiêu bài học Giáo viên cũng nên cân đốigiữa các kiến thức trong bài với các kiến thức được chọn để xây dựng THCVĐsao cho giữ được nhịp độ của giờ học thật hài hoà, uyển chuyển luôn hấp dẫnđược học sinh.

Ví dụ 1 sử dụng phương pháp GQVĐ trong dạy học nội dung “nhiệt độ

trung bình năm cao nhất và thấp nhất đều nằm ở lục địa

- Đặt vấn đề: Nơi nhận được lượng bức xạ nhiều, thường nhiệt độ cao Tạisao khu vực xích đạo là nơi nhận đượclượng bức xạ Mặt Trời lớn nhất, nhưng

đó không phải là nơi nóng nhất trên Trái Đất?

- Giải quyết vấn đề (GV hướng dẫn HS liên hệ, vận dụng kiến thức đã họcvào giải thích hiện tượng này) :

Không khí nhận được nhiệt của Mặt Trời đốt nóng trực tiếp và nhiệt từmặt đất truyền lên, trong đó lượng nhiệt nhận được từ mặt đất lớn hơn 400 lần

so với bức xạ và 500 nghìn lần so với dẫn nhiệt phân tử Nguồn cung cấp nhiệtchủ yếu cho không khí ở dưới thấp là nhiệt của bề mặt Trái Đất được Mặt Trờiđốt nóng

Khu vực Xích đạo chủ yếu là đại dương, rừng rậm Xích đạo ẩm ướt, mưanhiều, nước bốc hơi mạnh, nên nhiệt độ không cao Trong khi đó hai khu vựcchí tuyến cũng nhận được lượng nhiệt Mặt Trời nhiều, nhưng chỉ vì diện tíchlục địa tương đối lớn, mưa tương đối ít, nên ở đây là nơi nhiệt độ cao nhất trênTrái Đất

- Kết luận: Nhiệt độ trung bình năm cao nhất nằm trên lục địa Nơi cónhiệt độ cao nhất trên Trái Đất là khu vực chí tuyến

Trang 20

Ví dụ 2: Khi dạy về Các khối khí

- Đặt vấn đề: Tại sao các khối khí Cực (A), Ôn đới (P), nhiệt đới (T) đềuphân biệt thành hai kiểu là kiểu hải dương (ẩm) kí hiệu là m và kiểu lục địa(khô) kí hiệu là c Riêng khối khí xích đạo chỉ có một kiểu là khối khí hảidương, kí hiệu là Em (Chỉ riêng mình Em!)

- Giải quyết vấn đề: GV hướng dẫn HS liên hệ, vận dụng kiến thức đã họcvào giải thích hiện tượng này :

Vì ở Xích đạo diện tích lục địa ít,phần lớn diện tích là biển và đại dươngnên chỉ có một kiểu duy nhất là kiểu hải dương

-Kết luận: Xích đạo chỉ có một kiểu khối khí duy nhất là khối khí hảidương

Ví dụ 3: Khi dạy Bức xạ và nhiệt độ không khí.

- Đặt vấn đề: Góc chiếu càng lớn thì nhận được nhiệt càng nhiều.Nhưngtại sao nhiệt độ không khí lúc 13giờ (góc chiếu nhỏ hơn lúc 12 giờ) cao hơn 12giờ?

- Giải quyết vấn đề: Các tia bức xạ Mặt Trời đi qua khí quyển chỉ có19% được khí quyển hấp thu nên chưa trực tiếp làm cho khí quyển nóng lên.47% năng lượng bức xạ Mặt Trời được mặt đất hấp thụ rồi bức xạ lại vào khíquyển, lúc đó không khí mới nóng lên

- Kết luận: Nhiệt độ không khí lúc 13giờ cao hơn 12 giờ

Ví dụ 4:

- Đặt vấn đề: Ta thấy nhiệt độ trung bình thường thay đổi theo vĩ độnhưng tại sao khi ta quan sát hình 11.3 ta thấy cùng một vĩ độ nhưng biên độnhiệt của các điểm nằm trên khoảng vĩ tuyến 520Bắc lại có sự khác nhau?

Trang 21

- Giải quyết vấn đề: Nhiệt độ không khí còn phụ thuộc vào vị trí gần hay

xa đại dương, gần đại dương biên độ nhiệt độ năm thấp, càng vào sâu trong lụcđịa tính chất lục địa tăng nên biên độ nhiệt tăng

- Kết luận: Càng xa đại dương biên độ nhiệt độ năm càng tăng, do tínhchất lục địa tăng dần

Ví dụ 1: Sau khi học về Frông giáo viên có thể củng cố kiến thức bằng

câu hỏi nêu vấn đề như sau: Tại sao Hà Nội vào thời kì cuối mùa đông khi cógió mùa đông bắc tràn về thường có mưa nhưng sau đó có gió đông bắc bổsung thì hầu như không gây mưa?

- Giải quyết vấn đề: Giáo viên hướng dẫn,giúp đỡ học sinh liên hệ kiếnthức đã học vào giải quyết vấn đề: Cuối mùa đông, khối khí lục địa Bắc Á dịchsang phía đông nên khi tràn về nước ta tạo ra sự tranh lấn của khối không khílạnh với khối không khí nóng, gây mưa Khi có gió mùa đông bắc bổ sung, mặtFrông đã bị đẩy xuống phía nam nên ít có sự biến đổi về thời tiết

Kết luận: Do khác nhau về vĩ độ, bề mặt lục địa hay đại dương nên cáckhối khí trong tầng đối lưu có đặc điểm khác nhau Sự di chuyển các khối khí

sẽ làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, khí áp của các vùng nơi nó đi qua Nơi tiếp

Trang 22

xúc giữa các khối khí có tính chất khác nhau sẽ có sự biến động đột ngột củathời tiết

Ví dụ 2: Sau khi học xong “Sự ngưng đọng hơi nước trong khí quyển.

Mưa” Giáo viên có thể củng cố, đánh giá bằng câu hỏi: Chỉ trên bản đồ Phân

bố lượng mưa trên thế giới những khu vực mưa nhiều, mưa ít và giải thích tạisao ven Đại Tây Dương của Tây Bắc Phi cùng nằm ở vĩ độ cao như nước tanhưng Tây Bắc Phi có lượng mưa rất ít (dưới 200mm/năm) trong khi đó nước

ta có lượng mưa cao (trên 1500mm/năm)?

Tóm lại, dù vị trí của từng THCVĐ được đặt ra trong từng thời điểm khácnhau của giờ học nhưng chúng đều có chung một mục đích là tích cực hoá hoạtđộng học tập của học sinh tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực củabản thân cũng như gắn bó với tập thể khi tham gia vào quá trình GQVĐ TrướcTHCVĐ đòi hỏi học sinh phải giải quyết, các em có dịp tranh luận bày tỏ chínhkiến của mình, vì thế hiểu bài nhanh, khắc sâu kiến thức lý thuyết, rèn luyệnđược các kĩ năng đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào thựctiễn Vận dụng phương pháp dạy học GQVĐ còn cho phép phát huy khả năngsáng tạo của giáo viên Người thầy giáo với trình độ chuyên môn và khả năng

sư phạm của mình sẽ tạo ra được những giờ học lôi cuốn, hấp dẫn học sinhnhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạyhọc bộ môn

2 Một số tình huống có vấn đề được sử dụng trong dạy học chủ đề khí quyển chương trình địa lí lớp 10 cơ bản

- Thiên nhiên quanh chúng ta luôn xảy ra cáchiện tượng mây, mưa, gió, bão Nhưng trênTrái Đất tất cả các hiện tượng đó xảy rakhông giống nhau ở mỗi nơi khác nhau TrênTrái Đất có nơi mưa nhiều, nơi mưa rất ít

Trang 23

- Sự phân bố của nhiệt độ không khí trên Trái Đất

thậm chí nơi không có mưa, cùng ở cùng một

vĩ độ nhưng lại có nhiệt độ, độ ẩm, lượngmưa khác nhau Vì sao lại như vậy? Để trảlời được vấn đề đó trong chủ đề này chúng ta

sẽ tìm hiểu về lớp không khí bao quanhchúng ta và các hiện tượng xảy ra trong lớpkhông khí đó

- Tại sao các khối khí cực (A), ôn đới (P),chítuyến (T) đều có 2 kiểu là kiểu lục địa (c) vàkiểu hải dương (m) nhưng riêng khối khí xíchđạo chỉ có một kiểu duy nhất là kiểu hảidương (Em)?

- Frông là mặt ngăn cách của 2 khối khí khácbiệt nhau về tính chất vật lí Trên mỗi báncầu có 2 frông căn bản là Frông địa cực(FA)

và Frông ôn đới(FP).Nhưng tại sao ở chítuyến và xích đạo cũng là nơi gặp nhau của 2khối khí nhưng không tạo thành Frôngthường xuyên và rõ nét?

- Vì sao trên Trái Đất nhiệt độ trung bìnhhàng năm không cao nhất ở xích đạo mà lạicao nhất ở khu vực hai chí tuyến (vĩ tuyến

100 Bắc bán cầu)?

- Ta thấy nhiệt độ trung bình thường thay đổitheo vĩ độ nhưng tại sao khi ta quan sát hình

Trang 24

11.3 ta thấy cùng một vĩ độ nhưng biên độnhiệt của các điểm nằm trên khoảng vĩ tuyến

520Bắc lại có sự khác nhau?

- Lúc 12 giờ trưa góc chiếu của Mặt Trờixuống bề mặt Trái Đất lớn nhất nhưng tại saonhiệt độ không khí lúc 13 giờ lại cao hơn lúc

Chúng ta đã học qua các loại gió: Gió Mậudịch (Tín Phong), gió Tây ôn đới; nhưngngay nơi diễn ra gió Mậu dịch ( Tín Phong)

là loại gió được coi là ổn định và điều hòanhất vẫn còn có những khu vực có hoạt độngcủa gió mùa và các loại gió mang tính chấtđịa phương Vây nguyên nhân nào sinh ra cácloại gió đó?

là do đâu?

- Nhiệt độ giảm thì khí áp tăng.Nhưng tại saokhi lên cao nhiệt độ giảm nhưng khí áp lạigiảm?

- Một số loại gió chính

- Tại sao cùng xuất phát từ cao áp cùng chítuyến, nhưng gió Mậu Dịch nói chung là khô

và ít gây mưa, còn gió Tây Ôn Đới lại ẩm và

Trang 25

gây mưa nhiều?

- Gió mùa

- Gió phơn

- Vào mùa đông miền Bắc nước ta cùng chịutác động của gió mùa Đông Bắc nhưng tạisao đầu mùa đông thường có thời tiết lạnhkhô, cuối mùa đông lạnh ẩm?

- Cùng một dãy núi Trường Sơn nhưng tạisao lại có hiện tượng thời tiết, khí hậu khácnhau giữa hai sườn Đông – Tây? Em hiểunhư thế nào về câu hát “ Trường SơnĐông,Trường Sơn Tây bên nắng đốt, bênmưa bay”?

- Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa

- Dựa vào kiến thức đã học, hãy giải thích vìsao miền ven Đại Tây Dương của Tây Bắcchâu Phi cũng nằm ở vĩ độ như nước ta,nhưng có khí hậu nhiệt đới khô, còn ở nước

ta lại có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều?

- Dòng biển Ta thường thấy rằng những vùng gần biển,

đại dương thường có khí hậu điều hòa, nóng,

ẩm, mưa nhiều nhưng tại sao ở một số vùngven bờ vẫn hình thàng hoang mạc ví dụ như:Hoang mạc Namíp, hoang mạc Atacama?

3 Khả năng kết hợp phương pháp dạy học GQVĐ với các phương pháp dạy học khác khi dạy chủ đề khí quyển.

2.3.1 Kết hợp với phương pháp đàm thoại gợi mở

Trong thực tế dạy học hiện nay, một số giáo viên cho rằng phương phápgiải quyết vấn đề trong dạy học địa lí có nội dung tương tự phương pháp đàmthoại gợi mở, chẳng hạn cũng bắt đầu một nội dung, một mục hay mở bài bằng

Trang 26

một câu hỏi Sau đó giáo viên cũng tổ chức cho học sinh tìm kiếm câu trả lời

và kết luận, chuyển sang nội dung (hay mục) khác Thực ra không hẳn nhưvậy Sự khác nhau giữa hai phương pháp này nằm ở các điểm cơ bản : thứnhất, câu hỏi trong dạy học nêu vấn đề bắt buộc phải chứa đựng mâu thuẫnnhận thức; thứ hai, cũng là một phần hệ quả của loại câu hỏi có vấn đề - xuấthiện tình huống có vấn đề Trong dạy học GQVĐ, THCVĐ là phương tiện giáoviên sử dụng, dẫn dắt học sinh tiếp cận GQVĐ Khi phân tích dữ kiện củaTHCVĐ và quá trình GQVĐ học sinh thường gặp nhiều trở ngại lúng túng.Lúc này giáo viên nên trợ giúp các em vượt qua khó khăn bằng hệ thống câuhỏi gợi mở, học sinh phải hành động sáng tạo theo sự chỉ dẫn của giáo viên,đồng thời phải tích cực động não, huy động vốn sống, vốn hiểu biết kinhnghiệm của bản thân để từng bước GQVĐ Vì vậy dạy học GQVĐ đòi hỏi giáoviên sử dụng phương pháp đàm thoại như một biện pháp khéo léo đặt ra nhữngcâu hỏi mang tính chất nêu vấn đề hoặc những câu hỏi có mối liên hệ với nhau

mà mỗi câu hỏi đó là mỗi bước dẫn dắt tới GQVĐ cơ bản

Ví dụ : Vào mùa đông miền Bắc nước ta cùng chịu tác động của gió mùa

Đông Bắc nhưng tại sao đầu mùa đông thường có thời tiết lạnh khô, cuối mùađông lạnh ẩm?

GV gợi ý cho học sinh bằng những câu hỏi nhỏ:

- Gió mùa Đông Bắc xuất phát từ cao áp Xibia (gần cực, nằm sâu trongnội địa) nên bản chất gió này có đặc điểm gì? (lạnh và khô)

- Đầu mùa đông gió mùa Đông Bắc di chuyển qua những khu vực nàothổi đến nước ta? (qua lục địa Mông Cổ và Trung Quốc mới thối đến nước tanên nó được tăng cường tính lục địa- khô)

Trang 27

- Cuối mùa đông, có áp thấp A lê- út ở ngoài Thái Bình Dương được hìnhthành hút gió, sau đó thổi qua biển Hoàng Hải và Biển Nhật Bản mới vào nước

ta nên sẽ có đặc điểm thời tiết như thế nào? (lạnh ẩm, mưa phùn)

2.3.2 Kết hợp với phương pháp tranh luận.

Trong bài học địa lí có một số vấn đề có thể xuất hiện hai (hoặc nhiều)cách giải quyết khác nhau Gv có thể nêu ra các khả năng giải quyết, sau đó đặtcâu hỏi chung cho toàn lớp và lấy ý kiến (bằng cách đưa tay) để phân loại số

em theo cách này, số em theo cách khác Sau đó GV đặt câu hỏi “Tại sao emchọn cách này mà không chọn cách khác” để các em theo cách khác nhau cóthể tranh luận với nhau Trong quá trình tranh luận, GV nên có sự gợi ý hướngcác em vào chủ đề chính, không đi quá xa, hoặc uốn nắn, sữa chữa kịp thời các

ý kiến thiếu chính xác Kết quả cuối cùng cần có sự khẳng định của GV trên cơ

sở giải thích rõ ràng và lí lẽ thuyết phục, kết hợp với tổng kết ý kiến của HS(Lưu ý:có thể có cách giải quyết vấn đề được nhiều em ủng hộ hơn nhưng chưaphải là cách đúng nhất)

Ví dụ: Khi dạy về Frông

- Đặt vấn đề: Giữa các khối khí khác biệt nhau về tính chất vật lí có mộtmặt ngăn cách, gọi là Frông

Có ý kiến cho rằng, trên mỗi bán cầu có hai Frông căn bản: Frông địa cực(ngăn cách giữa khối khí cực và ôn đới), Frông ôn đới (ngăn cách khối khí ônđới và chí tuyến) Đây là ý kiến A

Có ý kiến khác lại cho rằng, trên mỗi bán cầu có ba Frông căn bản: Frôngđịa cực (ngăn cách giữa khối khí cực và ôn đới), Frông ôn đới (ngăn cách khốikhí ôn đới và chí tuyến), frông nội chí tuyến (hay còn gọi là hội tụ nhiệt đới).Đây là ý kiến B

Theo em ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai?

Trang 28

- Giải quyết vấn đề:

+ GV lấy ý kiến học sinh (bằng cách giơ tay) Có thể một số em ủng hộ ýkiến A, một số em ủng hộ ý kiến B

+ GV đặt câu hỏi tương tự cho cả hai phía HS “Tại sao em chọn cách này

mà không chọn cách khác?” Sau đó tổ chức cho học sinh tranh luận khoảng 5phút Lưu ý các em nói ngắn và một học sinh ở mỗi phía chỉ được phép nêumột ý kiến tranh luận

+ GV tổng hợp các ý kiến tranh luận, phân tích có cơ sở khoa học củaviệc không tạo thành frông thường xuyên và rõ nét giữa hai khối khí chí tuyến

và Xích đạo, bởi vì chúng đều nóng và có cùng một chế độ gió

- Kết luận: Ở khu vực Xích đạo, các khối khí Xích đạo ở Bán cầu Bắc vàBán cầu Nam tiếp xúc với nhau đều là các khối khí nóng ẩm, chỉ có hướngkhác nhau, vì thế chỉ tạo thành dải hội tụ nhiệt đới chung cho cả hai bán cầu

2.3.3 Kết hợp với phương pháp động não

Phương pháp động não là phương pháp người học được kích thích suynghĩ, bằng cách được thu thập ý kiến khác nhau về một vấn đề nào đó màkhông tiến hành đánh giá, trao đổi hay bình luận ý kiến đó Phương pháp nàycho phép làm xuất hiện một cách nhanh chóng một số ý kiến về một đề tàichung Do vậy trong khi sử dụng phương pháp GQVĐ nên kết hợp với phươngpháp động não để phát huy vai trò tích cực của nó Đặc biệt ở khâu khi họcsinh tự lực giải quyết được vấn đề, giáo viên sẽ làm nhiệm vụ cố vấn thêm đểhọc sinh hiểu sâu sắc nội dung của bài Như thế sẽ vừa phát huy được tính tíchcực, chủ động, đồng thời hạn chế sự thụ động, mệt mỏi cùng với tư duy táihiện trong học tập của học sinh

Ví dụ: Khi dạy về Gió phơn.

Trang 29

- GV nêu vấn đề: Cùng một dãy núi Trường Sơn nhưng tại sao lại có hiện

tượng thời tiết, khí hậu khác nhau giữa hai sườn Đông – Tây Em hiểu như thếnào về câu hát “ Trường Sơn Đông,Trường Sơn Tây bên nắng đốt, bên mưabay”?

- Giải quyết vấn đề: GV yêu cầu học sinh toàn lớp suy nghĩ câu trả lời.Sau đó GV gọi một số học sinh nêu suy nghĩ của mình GV tập hợp các ý kiếnghi lên bảng và cùng với học sinh toàn lớp chọn và đánh dấu vào ý kiến cho làhợp lí nhất.(Lưu ý trong quá trình nêu ý kiến GV nên hướng các em trả lờiđược các ý sau: Câu hát thể hiện hiện tượng phơn Khi gió Tây Nam (bản chấtnóng ẩm) thổi tới Trường Sơn Tây bị chặn lại, không khí ẩm đẩy lên cao vàgiảm nhiệt độ theo tiêu chuẩn của khí ẩm, trung bình lên cao 100m giảm 0,6

oC Vì nhiệt độ hạ, hơi nước ngưng tụ, mây hình thành và mưa rơi bên sườnTây; khi không khí vượt sang sườn Đông, hơi nước đã giảm nhiều, nhiệt độtăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi, trung bình 100m tăng

1oC, nên sườn Đông gió khô và rất nóng

- Kết luận: Tây Trường Sơn đón gió nên mưa nhiều, Đông Trường Sơnkhuất gió nên khô và nóng (Phơn tây Nam)

2.3.4 Kết hợp với phương pháp bản đồ

Bản đồ là một phương tiện day học Địa lý rất quan trọng và tương đươngvới nó là có phương pháp bản đồ – phương pháp đặc trưng trong dạy học Địa

lý Đối với Địa lý, phương pháp bản đồ có mặt trong hầu hết các bài giảng, nó

có thể kết hợp với rất nhiều phương pháp và giáo viên nào biết kết hợp nótrong giảng bài thì kết quả dạy học sẽ đạt hiệu quả cao bởi ngay chính trên bản

đồ nó đã chứa đựng ý đồ của phương pháp dạy học (theo hướng tích cực) Ngàyxưa bản đồ chỉ được em như phương tiện để minh họa cho kiến thức bài giảngnhưng bây giờ vai trò của bản đồ đã khác xưa, bản đồ là nguồn tri thức địa lý

Trang 30

rất quan trọng Do vậy, khi vận dụng phương pháp GQVĐ nên kết hợp vớiphương pháp bản đồ.

Ví dụ: Ta thấy nhiệt độ trung bình thường thay đổi theo vĩ độ nhưng tại sao

khi ta quan sát hình 11.3 ta thấy cùng một vĩ độ nhưng biên độ nhiệt của cácđiểm nằm trên khoảng vĩ tuyến 520Bắc lại có sự khác nhau?

2.3.5 Kết hợp với phương pháp sử dụng SGK

SGK là tài liệu chính, cụ thể hóa nội dung của chương trình, bảo đảmcung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cũng như các kĩ năng Địa lý phù hợpvới trình độ học sinh Trong SGK có nhiều hình ảnh chuyển tải nội dung kiếnthức bài học Vì vậy khi vận dụng phương pháp GQVĐ nên kết hợp vớiphương pháp sử dụng SGK

Ví dụ: Khi dạy Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa

Giáo viên có thể nêu vấn đề bằng câu hỏi trong SGK: “Dựa vào kiến thức

đã học, hãy giải thích vì sao miền ven Đại Tây Dương của Tây Bắc châu Phicũng nằm ở vĩ độ như nước ta, nhưng có khí hậu nhiệt đới khô, còn ở nước talại có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều?”

Đây là một mâu thuẫn đối với học sinh nhưng khi học sinh tư duy, kết hợpvới hướng dẫn của giáo viên và nội dụng về nhân tố “gió” ảnh hưởng đếnlượng mưa Học sinh sẽ nắm được vị trí của Việt Nam và miền ven Đại TâyDương của Tây Bắc châu Phi, từ đó sẽ thấy rằng với vị trí như thế các khu vực

sẽ chịu tác động của loại gió nào, ảnh hưởng của nó đến khí hậu và lượng mưa.Như vậy, dạy học GQVĐ đều hàm chứa và có khả năng kết hợp với hàngloạt các phương pháp khác Thông qua sự kết hợp đó các phương pháp sẽ bổsung cho nhau nhằm phát huy tính tích cực của mỗi phương pháp

Trang 31

CHƯƠNG III - VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐỂ DẠY CHỦ ĐỀ KHÍ QUYỂN CHƯƠNG TRÌNH

ĐỊA LÍ LỚP 10 CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC

SINH

1 BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNGNĂNG LỰC ĐƯỢC HÌNH THÀNH THEO CHỦ ĐỀ “KHÍ QUYỂN”

khái niệm

khí quyển,

frông

- Trìnhbày được

phân bố các

khối khí,

frông ở mỗi

- Hiểu được tínhchất của các khốikhí Giải thích đượctại sao có sự hìnhthành các khối khí cótính chất khác nhau

- Giải thích được

sự khác biệt giữafrông (F) và dải hội

tụ nhiệt đới(FIT).Phân tích đượcảnh hưởng củachúng đến thời tiết ởnhững nơi nó đi qua

- Mô tả được sựphân phối bức xạMặt Trời

- Giải thích được

- Lấy ví dụ về sựthay đổi nhiệt độtheo độ cao ở nước

ta

- Mục đích lợidụng gió đất gióbiển khi ra khơi vàtrở về của tàuthuyền

- Nhận xét vàgiải thích sự thayđổi biên độ nhiệt độnăm ở các địa điểmnằm trên khoảng vĩtuyến 520B

- Xác định trênbản đồ cho biết ViệtNam có những loại

- Ảnh hưởngcủa frông, hội

tụ nhiệt đới đếnkhí hậu nước ta

- Giải thíchđược sự hìnhthành và hoạtđộng của giómùa ở khu vựcNam Á vàĐông Nam Á

và của ViệtNam trên bản

Trang 32

- Phân tích đượcnguyên nhân làmthay đổi khí áp

- Giải thích sựhình thành và hoạtđộng của gió mùa,gió đất, gió biển vàgió phơn

- Chứng minhđược trên bản đồ cácđai khí áp phân bốkhông liên tục

- Phân tích đượccác nhân tố ảnhhưởng đến lượngmưa

- Dựa vào bản đồtrình bày và giảithích sự phân bốmưa theo vĩ độ, theo

vị trí gần hay xa đạidương

gió mùa nào,hướng

và tính chất của cácloại gió này

- Dựa vào bản đồtrình bày và giảithích tình hình phân

bố mưa theo vĩtuyến 400B từ Đôngsang Tây

- Đọc và phântích biểu đồ nhiệt độlượng mưa một sốkiểu khí hậu

Trung Bộ nướcta

- Giải thích

vì sao ven ĐạiTây Dương củaTây Bắc Phicùng nằm ở vĩ

độ như nước tanhưng lại có khíhậu nhiệt đớikhô còn nước talại có khí hậunhiệt đới ẩm,mưa nhiều

- Giải thích

sự phân bố mưa

ở một số kiểukhí hậu

Định hướng năng lực được hình thành

Trang 33

- Năng lực chung: giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, giao tiếp.

- Năng lực chuyên biệt: tư duy theo lãnh thổ; sử dụng bản đồ, video, hình ảnh, xáclập các mối quan hệ địa lí

2 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

2.1 Câu hỏi nhận biết

Câu 1.

a Trình bày khái niệm khí quyển

b Vai trò của khí quyển đối với đời sống trên Trái Đất

b Vai trò của khí quyển đối với đời sống trên Trái Đất

- Giữ ấm cho bề mặt Trái Đất

- Điều hòa sự phân phối nhiệt,ẩm

- Chống tác động phá hoại từ bên ngoài, lớp ôzôn ngăn chặn các tia tử ngoại,

khí quyển bảo vệ trái đất khỏi sức phá hoại của thiên thạch…

à Khí quyển rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sinh vật trên

Trái Đất, đồng thời là lớp vỏ bảo vệ Trái Đất

Câu 2

Dựa vào hình ảnh dưới đây kết hợp với sách giáo khoa hãy cho biết mỗi

bán cầu có mấy khối khí, kí hiệu, kiểu khối khí, tính chất của chúng?

Trang 34

NBC

BBC

Khối khí cực Khối khí Ôn đới

Khối khí Ôn đới Khối khí cực

Khối khí chí tuyến

Khối khí chí tuyến

Khối khí xích đạo

E E T

T P

P

A A

Trang 35

a Frông là gì?

b Kể tên các Frông cơ bản trên Trái Đất ?

Gợi ý trả lời

a Frông là mặt ngăn cách hai khối khí khác biệt nhau về tính chất vật lí

b Trên mỗi bán cầu có hai frông: FA và FP

+ Frông địa cực (FA)

+ Frông ôn đới (FP)

Câu 4:

Trang 36

Sơ đồ sự thay đổi nhiệt độ theo độ cao và theo hướng sườn

Quan sát sơ đồ trên và cho biết sự thay đổi của nhiệt độ theo độ cao vàhướng sườn, độ dốc địa hình

Gợi ý trả lời:

Sự thay đổi nhiệt độ:

- Theo độ cao: Trong tầng đối lưu, càng lên cao, nhiệt độ không khí cànggiảm, trung bình cứ lên cao 100m, nhiệt độ giảm 0,6˚C

- Hướng sườn: Nhiệt độ khác nhau ở các hướng của sườn núi, sườn phơinắng có nhiệt độ cao hơn ở sườn khuất nắng

- Độ dốc: Ở sườn phơi nắng, độ dốc càng lớn, nhiệt độ không khí càngcao, ở sườn khuất nắng, độ dốc càng lớn, nhiệt độ càng thấp

Câu 5:

a Trình bày khái niệm khí áp?

b Dựa vào hình ảnh dưới đây kết SGK hãy nêu vị trí phân bố các đai áptrên Trái Đất?

Trang 37

- Là loại gió thổi theo mùa, hướng gió ở hai mùa có chiều ngược với nhau

- Khu vực có gió mùa:

Trang 38

+ Thường ở đới nóng: Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông BắcÔxtrâylia

+ Một số nơi thuộc vĩ độ trung bình: đông Trung Quốc, Đông Nam LiênBang Nga, Đông Nam Hoa Kì

b

động

Thời gianhoạt động

Hướng Tính chất

Tây ôn đới Từ áp cao

cận chí tuyến

về áp thấp ônđới

Quanh năm - Tây Nam ở

Bắc bán cầu

- Tây Bắc ởNam bán cầu

Ẩm, gây mưaquanh năm

Mậu dịch Từ áp cao

cận chítuyến về ápthấp xích đạo

Quanh năm - Đông bắc ở

Bắc bán cầu

- Đông Nam

ở Nam báncầu

Trang 39

- Cùng một sườn núi, càng lên cao nhiệt độ càng giảm, lượng mưa càng

nhiều Tới một độ cao nào đó, độ ẩm không khí đã giảm nhiều, sẽ không cònmưa

- Cùng một dãy núi, sườn đón gió mưa nhiều, sườn khuất gió mưa ít, khôráo

2.2 Câu hỏi thông hiểu

Câu 1:

Tại sao có sự hình thành các khối khí có tính chất khác nhau?

Tại sao ở xích đạo chỉ có một kiểu duy nhất là khối khí hải dương (Em)?

Gợi ý trả lời:

- Do Trái Đất hình cầu, khả năng tiếp nhận năng lượng Mặt Trời ở mỗi vĩ

độ khác nhau, nên khả năng tiếp thu nhiệt lượng, cung cấp nước, độ ẩmkhác nhau tạo điều kiện hình thành các khối khí có tính chất khác nhau

- Ở xích đạo chỉ có một kiểu duy nhất là khối khí hải dương (Em) vì ởxích đạo diện tích đại dương lớn, diện tích rừng xích đạo lớn mà diệntích lục địa nhỏ

Trang 40

Miền có frông, nhất là dải hội tụ đi qua, thường mưa nhiều.

(dọc các frông nóng cũng như lạnh, không khí nóng bốc lên trên không khílạnh nên bị co lại và lạnh đi, gây ra mưa)

Câu 3:

Ngày đăng: 12/11/2019, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Tài liệu tập huấn: ''Kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường THPT - Môn Địa lí - Năm 2014. Vụ giáo dục trung học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh trong trường THPT - Môn Địa lí
2.''Chương trình giáo dục phổ thông môn địa lí ''. Năm 2006 - Nhà xuất bản GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn địa lí ''
Nhà XB: Nhà xuấtbản GD
4. Nguyễn Đức Vũ (2007), “Hướng dẫn tự học địa lí”, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn tự học địa lí”
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
5. “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông” – NXB Giáo dục, Năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. “Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn địa lí lớp 10” , NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn địa lí lớp 10
Nhà XB: NXB Đạihọc sư phạm
3. Sách giáo khoa Địa lí 10. Năm 2013 - Nhà xuất bản GD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w