Nội dung Tập làm văn lớp 2 cung cấp cho học sinh các kĩ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho học tập và giao tiếp. Ngoài các dạng bài dạy về các nghi thức lời nói tối thiểu, về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, phân môn Tập làm văn lớp 2 còn rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt và kĩ năng nghe. Ở lớp 1, thông qua môn Tiếng Việt học âm, vần, học sinh được luyện nói từng câu ngắn, đã được tập kể lại câu chuyện. Tuy nhiên, do vốn từ của các em còn ít nên việc diễn đạt còn rất hạn chế. Thực tế đến đầu năm lớp 2 hầu hết học sinh chỉ nói được những câu ngắn, trả lời chưa đủ ý, diễn đạt còn rời rạc. Những bài tập viết đoạn văn ngắn chủ yếu được các em trình bày dưới dạng trả lời các câu hỏi gợi ý có trong bài. Các em thường lặp lại ý đã viết, dùng từ sai, sử dụng dấu câu còn tùy tiện; có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc viết không đủ ý… Bên cạnh đó, việc lần đầu tiên được học phân môn Tập làm văn ở lớp 2 đã khiến nhiều học sinh khá lúng túng. Từ việc chỉ luyện nói ở lớp 1 chuyển sang viết thành đoạn văn ở lớp 2 trở thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Nếu không có phương pháp giảng dạy phù hợp chắc chắn học sinh sẽ khó tiếp thu, không hoàn thành được các nhiệm vụ học tập, từ đó, các em sẽ sợ học phân môn này. Chính vì lẽ đó, sau nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy, tôi mạnh dạn đề xuất giải pháp “Một số biện pháp giúp học sinh phát huy tính tích cực trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2”.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Q6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TH CHÂU VĂN LIÊM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
- Họ và tên: Đặng Thị Phương Hồng
- Chức vụ: GVCN lớp 2/2 – Tổ trưởng chuyên môn khối 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nội dung Tập làm văn lớp 2 cung cấp cho học sinh các kĩ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho học tập và giao tiếp Ngoài các dạng bài dạy về các nghi thức lời nói tối thiểu, về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, phân môn Tập làm văn lớp 2 còn rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt và kĩ năng nghe Ở lớp 1, thông qua môn Tiếng Việt học âm, vần, học sinh được luyện nói từng câu ngắn, đã được tập kể lại câu chuyện Tuy nhiên, do vốn từ của các em còn ít nên việc diễn đạt còn rất hạn chế Thực tế đến đầu năm lớp 2 hầu hết học sinh chỉ nói được những câu ngắn, trả lời chưa đủ ý, diễn đạt còn rời rạc Những bài tập viết đoạn văn ngắn chủ yếu được các em trình bày dưới dạng trả lời các câu hỏi gợi ý có trong bài Các em thường lặp lại ý đã viết, dùng từ sai, sử dụng dấu câu còn tùy tiện; có
em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc viết không đủ ý…
Bên cạnh đó, việc lần đầu tiên được học phân môn Tập làm văn ở lớp 2 đã khiến nhiều học sinh khá lúng túng Từ việc chỉ luyện nói ở lớp 1 chuyển sang viết thành đoạn văn ở lớp 2 trở thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn Nếu không có phương pháp giảng dạy phù hợp chắc chắn học sinh sẽ khó tiếp thu, không hoàn thành được các nhiệm vụ học tập, từ đó, các em sẽ sợ học phân môn này
Trang 2Chính vì lẽ đó, sau nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy, tôi mạnh dạn đề xuất giải pháp “Một số biện pháp giúp học sinh phát huy tính tích cực trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2”
II NỘI DUNG
1 Thực trạng hiện nay:
1.1 Về phía giáo viên:
Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác của môn Tiếng Việt,
vì vậy việc dạy – học ở phân môn này có những hạn chế nhất định
Trong việc rèn kĩ năng nói - viết cho học sinh, giáo viên có đầu tư nghiên cứu mục tiêu các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa sâu nên hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn chưa cao
Chất lượng giảng dạy ở phân môn Tập làm văn vẫn chưa đáp ứng được sự mong mỏi của xã hội Đối với học sinh lớp 2, để giúp các em nói, viết được đoạn văn ngắn (3-5câu) theo chủ điểm, giáo viên thường gặp khó khăn bởi vốn từ của các em chưa nhiều, kiến thức từ thực tế còn hạn chế Một hạn chế nữa đó là do đặc điểm vùng miền, khả năng ngôn ngữ của học sinh không được lưu loát
1.2 Về phía học sinh:
Đối với học sinh lớp 2, phân môn Tập làm văn còn rất mới mẻ và lạ lẫm, vì thế học sinh sẽ không tránh khỏi bỡ ngỡ khi lần đầu tiên tiếp xúc Nếu không có một phương pháp học tập khoa học và hợp lý, học sinh sẽ mau chán và dẫn đến sợ học phân môn này
Khi luyện nói, do chưa biết cách sắp xếp các ý nên học sinh diễn đạt còn lúng túng, chưa theo thứ tự hợp lý, từ đó dẫn đến việc chưa mạnh dạn, tự tin khi trình bày
Trang 3Trong quá trình viết đoạn văn, nhiều em còn lúng túng khi dùng từ, đặt câu quá ngắn hoặc câu thiếu thành phần chính, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài, có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng không đủ ý
2 Các biện pháp chủ yếu:
2.1 Thực hiện tốt các dạng bài Trả lời câu hỏi, Luyện nói, … để
làm nền cho HS kể ngắn tốt:
Nội dung Tập làm văn lớp 2 được sắp xếp từ dễ đến khó một cách hợp lý
Đầu lớp 2, các em được thực hiện các bài tập dạng Trả lời câu hỏi (tuần 1, tuần 5, tuần 8, tuần 14), dạng bài tập Nói lại – nhắc lại (tuần 1, tuần 2), sau đó nâng lên một bước học sinh làm được các dạng bài tập Dựa theo nội dung các tranh để kể
lại câu chuyện, Sắp xếp lại các câu cho đúng thứ tự của truyện (tuần 3, tuần 5, tuần
7)
…” Do đó để giúp HS kể tốt, tôi tổ chức các biện pháp để giúp các em thực hiện tốt các bài tập trên Ngoài việc yêu cầu HS trả lời đúng nội dung, tôi yêu cầu các
em phải trả lời đủ câu Ví dụ: Bài Tập làm văn tuần 5.Câu hỏi: Bạn trai đang vẽ
ở đâu? Trả lời: Đang vẽ ở trên tường (câu cụt)Trả lời đầy đủ: Bạn trai đang vẽ ở trên tường Tôi yêu cầu các em phải trả lời lại cho đủ thành phần của câu Thực hiện nhiều lần như thế, kết quả các em có thói quen trả lời đủ câu Đây cũng là cơ
sở để các em kể chuyện tốt Đối với dạng bài tập “Kể lại theo tranh”, “Sắp xếp lại thứ tự các tranh, sau đó dựa theo nội dung các tranh ấy, kể lại câu chuyện”,
“Dựa vào tranh, trả lời câu hỏi”, “Dựa vào tranh vẽ, kể chuyện…”, tôi gợi ý cho
HS thêm thắt các từ ngữ để kết nối ý giữa các tranh cho câu chuyện thêm sinh động Đầu tiên tôi gợi ý để các em khá giỏi thực hiện trước, sau đó nhân ra cho cả lớp.Ví dụ: Tuần 1, HS làm bài tập “Kể lại nội dung dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu chuyện.” Theo yêu cầu của đề bài HS có thể kể: “Huệ cùng các bạn vào vườn hoa (tranh 1) Huệ thấy một khóm hồng đang nở rất đẹp (tranh 2).Huệ giơ tay định ngắt bông hồng Tuấn thấy thế vội ngăn lại (tranh 3) Tuấn khuyên Huệ
Trang 4không được ngắt hoa (tranh 4).Tôi gợi ý cho HS thêm thắt như sau: “Một hôm, Huệ cùng các bạn vào vườn hoa (tranh 1) Thấy một khóm hồng đang nở rất đẹp, Huệ thích lắm(tranh 2).Huệ len lén giơ tay định ngắt một bông hồng Tuấn thấy thế vội ngăn lại (tranh 3) Tuấn khuyên Huệ không nên ngắt hoa trong vườn Hoa của vườn hoa phải để cho tất cả mọi người cùng ngắm (tranh 4).Chú thích: các từ gạch chân là các từ thêm
Để có một tiết học hiệu quả, khâu chuẩn bị rất cần thiết với cả thầy và trò Với kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm, học sinh phải được hướng dẫn chuẩn bị ngay từ khi bắt đầu học mỗi chủ điểm Học sinh cần phải tích luỹ vốn từ, đặt câu qua các tiết học Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả
2.2 Hướng dẫn tìm hiểu đề bài:
tự xác định đúng yêu cầu để khi thực hành các em sẽ không lạc đề, đảm bảo đúng nội dung đề bài cần luyện tập
Học sinh hoạt động nhóm, tích lũy vốn
từ chuẩn bị cho tiết Tập làm văn.
Trang 52.3 Hướng dẫn tìm hiểu hệ thống câu hỏi gợi ý:
Hệ thống câu hỏi gợi ý tiết Tập làm văn kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm trong sách giáo khoa được sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn; học sinh dựa vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thành một đoạn văn ngắn Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu hỏi; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, dùng từ chính xác, câu văn đúng ngữ pháp Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo Tạo được sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn
Giáo viên cần giúp các em hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bày đúng yêu cầu, các từ ngữ này có thể là các từ mới hoặc các từ khó hiểu đối với địa phương
Trong các câu hỏi gợi ý, có một số câu hỏi gộp khiến học sinh lúng túng khi diễn đạt, do đó ý không trọn vẹn, bài văn thiếu sinh động, sáng tạo Giáo viên cần chia thành các câu gợi ý nhỏ để giúp các em có những ý tưởng phong phú, hồn nhiên Việc chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ sẽ có nhiều học sinh được rèn kĩ năng nói, giúp các em thêm tự tin và giáo viên dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh
Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình cảm, ý kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Song song với quá trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trả lời của bạn để học
Học sinh tìm hiểu
đề bài, gạch chân các từ ngữ quan trọng.
Trang 6sinh rút ra được những câu trả lời đúng, cách ứng xử hay Từ đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có hình ảnh, có cảm xúc Trên cơ sở đó, bài văn của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc đồng thời
hình thành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống
2.4 Hướng dẫn lập mạng ý nghĩa:
Có thể hiểu bước lập mạng ý nghĩa cũng chính là bước hướng dẫn học sinh
lập dàn ý để chuẩn bị cho phần nói theo chủ điểm
Yêu cầu học sinh:
- Nghĩ trước khi viết
- Viết ngắn gọn
- Viết có hệ thống
- Viết theo ý của mình, có chừa khoảng trống để bổ sung
Giáo viên làm mẫu, hướng dẫn học sinh thao tác vẽ và đọc trên mạng ý nghĩa Sau đó yêu cầu học sinh sử dụng vốn từ ngữ đã thu thập được qua quá trình chuẩn bị để tự hoàn thành mạng ý nghĩa của chính mình
Học sinh đọc các câu hỏi gợi ý trong đề bài.
Trang 7Từ bức ảnh trung tâm hoặc từ trung tâm (chủ điểm), học sinh có thể chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh là một ý chính Từ nhánh chính học sinh vẽ thêm các nhánh nhỏ với các từ ngữ để miêu tả cho ý chính đã nêu
Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản
đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi học sinh vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng khác nhau, theo một cách riêng, do đó việc lập mạng ý nghĩa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh
Việc xây dựng mạng ý nghĩa có thể thực hiện theo hình thức học tập cá nhân hoặc nhóm, tùy theo mức độ khó dễ của bài, hoặc phạm vi nội dung chủ đề sẽ nói
Các bước hướng dẫn học sinh lập mạng ý nghĩa:
- Bước 1: Xác định nội dung chính yêu cầu của đề bài (nói hay viết về chủ đề gì?)
- Bước 2: Xác định nội dung cần nói, viết (hệ thống câu hỏi gợi ý, giới hạn phạm vi trình bày, xác định thứ tự các ý cần nói, viết để tránh trùng lắp, )
- Bước 3: Chọn từ trung tâm – chủ đề chính (cần ngắn gọn, cô đọng, khái quát được nội dung chính của bài)
- Bước 4: Ghi các ý cần nói, viết vào các nhánh của mạng ý nghĩa (dựa vào câu hỏi, hướng dẫn học sinh viết các từ ngữ chính trong câu hỏi vào các nhánh chính, vẽ tiếp các nhánh phụ ghi các ý trả lời hay cần mở rộng )
Trang 82.5 Báo cáo, thuyết minh về mạng ý nghĩa:
Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu miệng các câu mà mình lập được Ban đầu có thể chưa theo một trình tự nhất định nhưng các em phải nói trọn vẹn câu Sau đó, mới yêu cầu học sinh tự sắp xếp các câu sao cho hợp lí hơn
Đồng thời, giáo viên yêu cầu các học sinh khác lắng nghe để chỉnh sửa cách dùng từ, đặt câu cho các bạn Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, nhận xét để các em
tự hoàn thiện được mạng ý nghĩa, hình thành được đoạn văn
3 Giáo án minh họa:
Tuần 13: Kể về gia đình.
Học sinh dựa vào mạng ý nghĩa luyện nói.
Học sinh lập mạng ý nghĩa trong vở ghi chép cá nhân.
Trang 9I Mục tiêu :
1 Rèn kĩ năng nghe và nói :
- Biết kể về gia đình của mình theo gợi ý
- Biết nghe bạn kể để nhận xét và góp ý
2 Rèn kĩ năng viết :
Dựa vào những điều đã nói, viết một đoạn (3 đến 5 câu) kể về gia đình Viết rõ ý, dùng từ, đặt câu đúng
II Đồ dùng dạy học :
- Bảng phụ, thẻ từ, Sách giáo khoa, nhạc, video clip
III Các hoạt động dạy học :
1 Ổn định :
2 Kiểm tra bài cũ : Chia buồn, an
ủi.
- Nhận xét bài viết bức thư ngắn thăm
hỏi ông bà
- GV nhận xét phần kiểm tra bài cũ
3 Bài mới :
a Giới thiệu bài :
- Hs nghe đoạn nhạc và cho biết đây là
bài hát nào ? Bài hát nói về ai ?
- Đó là những người thân trong gia đình
– Tiết học hôm nay học bài Kể về gia
đình.
b Các hoạt động :
- GV nêu mục tiêu của bài
Hoạt động 1 : Luyện nói - nghe
Hát
2 HS đọc bài-nhận xét
Hs trả lời
Mở SGK trang 110
1 HS đọc to, còn lại đọc thầm
Kể về gia đình em
Trang 10- Yêu cầu HS đọc đề bài tập 1.
- Đề bài yêu cầu gì ?
- Hướng dẫn HS trả lời 3 câu hỏi gợi ý
a Gia đình em gồm mấy người ? Đó là
những ai?
Yêu cầu HS nêu nhận xét về nội dung kể
của các bạn
b Nói về từng người trong gia đình em.
Lưu ý HS kể về từng thành viên trong gia
đình, có thể kể về một điều nào đó mà
HS biết hoặc thích nhất, cần kể ngắn gọn,
không dài dòng
Yêu cầu HS nêu nhận xét về nội dung kể
của các bạn
c Em yêu quý những người trong gia
đình em như thế nào ?
Hướng dẫn HS trả lời : Các em có yêu
quý gia đình mình không ? Các em thể
hiện lòng yêu quý đó như thế nào ?
-Yêu cầu học sinh lập mạng ý nghĩa vào
vở ghi chép cá nhân
- Học sinh dựa vào mạng ý nghĩa kể cả
bài về gia đình mình
HS kể theo nhóm và giới thiệu hình của
gia đình mình
Chốt HĐ 1 : Khi kể về gia đình, các em
nhớ phải kể đúng sự thật về gia đình của
HS kể
Gia đình nào cũng có ba, mẹ, anh, chị,
em, ông, bà, …
HS kể
Có thể nói từng người về nghề nghiệp, tính tình, tuổi tác,…
HS kể
Làm việc cá nhân, 2-3 học sinh làm vào bảng nhóm
1 HS kể - HS nhận xét
HS làm việc theo nhóm
Đại diện các nhóm kể trước lớp
Trang 11chính bản thân mình Lời kể cần ngắn
gọn, tự nhiên, không dài dòng
Hoạt động 2 : Luyện viết.
- Yêu cầu HS đọc đề bài tập 2
- Đề bài yêu cầu gì ?
Lưu ý HS khi viết, có thể viết nhiều hơn
5 câu nhưng tránh viết dài dòng mà
không đủ ý Cần chú ý hình thức viết
đoạn văn, chỗ đầu dòng lùi vào 1 ô, chữ
đầu câu viết hoa, viết hết một câu phải
đặt dấu chấm
Yêu cầu HS đọc bài làm của mình
Chốt HĐ 2 : GV nhận xét bài làm của
HS
4 Củng cố :
- Cho HS xem đoạn video clip và hỏi nội
dung
- GDTT : Ngày 28/6 hằng năm là ngày
gia đình Việt Nam, đây là ngày lễ tôn
vinh gia đình Việt Nam, cũng là dịp để
mọi người hiểu hơn về giá trị của mái ấm
gia đình và cùng nhau vượt qua sóng gió
để có một gia đình hạnh phúc Là một
thành viên trong gia đình, em sẽ làm gì
để gia đình mình mãi hạnh phúc ?
- Nhận xét tiết học – dặn dò
1 HS đọc to, còn lại đọc thầm
HS trả lời
HS làm bài
HS đọc bài – nhận xét
HS trả lời
Trang 12Giới thiệu một số mạng ý nghĩa do học sinh tự thực hiện:
Đề bài: Viết về cô giáo (hoặc thầy giáo) cũ của em (tuần 8).
Gợi ý:
1 Cô giáo (hoặc thầy giáo cũ) lớp 1 của em tên là gì ?
2 Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào ?
3 Em nhớ nhất điều gì ở cô (hoặc thầy) ?
4 Tình cảm của em đối với cô giáo (hoặc thầy giáo) như thế nào ?
Trang 13Đề bài: Nói về cảnh biển (tuần 25, 26).
Gợi ý:
Tranh vẽ cảnh gì ?
Sóng biển như thế nào ?
Trên mặt biển có những gì ?
Trời bầu trời có những gì ?
Trang 14Đề bài: Kể về gia đình em (tuần 13).
Gợi ý:
1 Gia đình em gồm mấy người ? Đó là những ai ?
2 Nói về từng người trong gia đình em
3 Em yêu quý những người trong gia đình em như thế nào ?
Trang 15Đề bài: Kể về một con vật nuôi trong gia đình mà em biết (tuần 16).
Gợi ý:
1 Đó là con gì ? Em thấy nó ở đâu ?
2 Hình dáng nó như thế nào ?
3 Hoạt động của nó ra sao ?
4 Tình cảm của em đối với con vật đó như thế nào ?
Trang 16Đề bài: Viết về mùa hè (Tuần 20).
Gợi ý:
1 Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ?
2 Mặt trời mùa hè như thế nào ?
3 Cây trái trong vườn như thế nào ?
Trang 174 Kết quả nghiên cứu:
Qua quá trình vận dụng, vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm tôi đã đạt được một số kết quả sau:
+ Học sinh có thói quen làm việc, học tập một cách khoa học
Trang 18+ Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
+ Đặc biệt, việc được tự tay “thiết kế” mạng ý nghĩa làm cho học sinh vô cùng thích thú học phân môn Tập làm văn, tình cảm thầy trò ngày càng trở nên thân thiện hơn
+ Kĩ năng nói của học sinh ngày càng được hoàn thiện Học sinh biết tìm từ, ý; đặt câu đúng; khả năng diễn đạt ngôn ngữ tiến bộ rõ rệt, các em nói lưu loát, mạch lạc, trôi chảy
Năm học Số HS
GIỎI 9-10 điểm
KHÁ 7-8 điểm
TB 5-6 điểm
YẾU
< 5điểm
III KẾT LUẬN
Việc vận dụng mạng ý nghĩa khi dạy phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng để hình thành kĩ năng nói, viết cho học sinh Học sinh biết dùng từ chính xác, biết viết câu đủ thành phần, diễn đạt trọn vẹn ý thì các em sẽ mạnh dạn,
tự tin hơn trong học tập Để rồi sau này, mảng kiến thức đó sẽ giúp các em học tốt các phân môn có liên quan, giúp các em thể hiện được những điều muốn nói, muốn viết bằng chính ngôn phong của riêng mình một cách trôi chảy, rành mạch và tự tin
IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM: