Những “ám muội nhân sinh” đi vào văn học đã hình thành một trào lưu phát triển rực rỡ ở phương Tây với sự góp mặt của J.P.Sartre, F.Kafka, A.Camus, S.Beckett, E.Ionesco, … Ở Việt Nam, tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐH KHXH & NV TPHCM
KHOA VĂN HỌC
Chuyên đề:
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC
Đề tài:
NHÂN VẬT MANG CẢM THỨC HIỆN SINH
TRONG KHÔNG AI QUA SÔNG – NGUYỄN NGỌC TƯ
GVHD: GS.TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG HVTH: Nguyễn Thị Nhân
Lớp: CH Lí luận Văn học 2016-1
Trang 2NHÂN VẬT MANG CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG “KHÔNG AI QUA SÔNG”- NGUYỄN NGỌC TƯ
1 MỞ ĐẦU
Sự phát triển của khoa học tự nhiên đã từng khiến con người tin rằng họ có thể chế ngự tự nhiên, có thể tìm đến tận cùng bản chất, có thể có câu trả lời cho mọi khúc mắc của mình về thế giới xung quanh Thế nhưng, theo thời gian, con người hiện đại nhận ra rằng đó chỉ là ảo tưởng Cuộc sống luôn chứa đựng những phi lí, phía sau hiện tượng không phải bao giờ cũng là bản chất Chân lí như đường chân trời, càng tiến về gần nó,
nó lại càng lùi ra xa Con người nhận ra, trong cuộc hiện tồn đầy bất trắc này, họ là một thực thể yếu đuối và mỏng manh biết chừng nào
Những “ám muội nhân sinh” đi vào văn học đã hình thành một trào lưu phát triển rực rỡ ở phương Tây với sự góp mặt của J.P.Sartre, F.Kafka, A.Camus, S.Beckett, E.Ionesco, … Ở Việt Nam, trong văn học đương đại, đọc Nguyễn Ngọc Tư, ta ngỡ ngàng nhận ra những ảnh hưởng của nó qua những truyện ngắn, tùy bút hoang hoải nỗi buồn
người Trong phạm vi bài tiểu luận, chúng tôi thử đi tìm hiểu kiểu nhân vật cô đơn mang cảm thức hiện sinh qua tập truyện ngắn “Không ai qua sông” để thấy được dòng
chảy của văn học mang cảm hứng hiện sinh vẫn âm ỉ chảy ngay trong lòng thế kỉ hôm nay
Trang 32 NHÂN VẬT MANG CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG “KHÔNG AI QUA SÔNG”- NGUYỄN NGỌC TƯ
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Bà bắt đầu có tác phẩm xuất bản năm 2000 với tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt”-Giải Nhất cuộc thi Văn Học Tuổi Hai Mươi lần thứ II năm 2000, nhưng thực sự nổi tiếng phải kể đến khi “Cánh đồng bất tận” được công bố Từ khi cầm bút đến nay, bà cho ra đời 1 tiểu thuyết, 1 tập thơ, 23 tập truyện ngắn- tản văn và bút kí Các tác phẩm của bà đều được độc giả quan tâm, xuất bản và tái bản với số lượng lớn
Không ai qua sông (2016) là tập truyện ngắn xuất bản mới nhất của Nguyễn Ngọc
Tư, gồm 13 truyện ngắn với những đề tài sở trường người dân miệt vườn Nam Bộ Đó là những con người cô đơn, lạc lõng ngay trong cuộc sống hiện đại nhiều biến động Trong cuộc hiện sinh đầy bất trắc, có người trong số họ nỗ lực tìm kiếm con đường vượt thoát nỗi cô đơn nhưng cũng có người bị nỗi cô đơn nhấn chìm, bị cuộc sống tẻ nhạt mài mòn
để rồi trở nên lờ đờ, nói hay cười đều nhạt thếch
2.1 CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG CUỘC ĐỜI PHI LÍ
Bối cảnh trong Không ai qua sông vẫn là những xóm ấp Nam bộ quen thuộc trong
nhịp sống đều đều hằng ngày đến tẻ nhạt Cảm nhận như nhịp sống ở đây ngưng kết lại,
đặc quánh trong cái không khí tù túng đến ngạt thở Cái tù túng thể hiện ngay ở tiêu đề Vực không đáy, Tiều tụy vòng quanh, Giữa mùa Chán Chết và rải rác trong nội dung nhiều truyện.
Qua điểm nhìn của một cậu bé, cuộc sống làng quê được miêu tả trong Tiều tụy vòng quanh như thêm phần chán ngắt khi mà mọi người dân trong làng ngày nào cũng
lặp đi lặp lại những hành động quen thuộc “người cha diễn trò cất vó ngoài sông, bởi dì The hát ầu ơ cho tụi búp bê nằm võng vang cả phố trưa, cũng là diễn cho du khách khúc
ca để họ chạnh lòng quay lại chơi ở cái làng nửa thế kỷ trôi qua vẫn cổ”, “người làng cả ngày lơ đãng, kệ khách lại qua trước tiệm lụa nhà mình, nếu không có cái quạt ve vẫy
Trang 4trên tay thì chẳng khác nào tượng đá” Họ đang diễn theo hợp đồng với du lịch làng cổ Cuộc sống hàng ngày của họ là diễn, dật dờ diễn như thế suốt đời mình, rồi đến đời con cháu, cứ thế mà nối nhau Sự nhàm chán đã trở thành tù túng và hút hết sinh khí nơi đây
“Những trưa đi theo cái bóng của chính mình dọc theo đường chính của làng, không khí
êm đềm đến nỗi thằng nhỏ thở không ra hơi Nó cảm thấy mình sắp chết tới nơi”.
Sự tẻ nhạt đó ban đầu chỉ là diễn để phục vụ khách du lịch nhưng sau đó thực sự thấm vào lối sống của con người “Thằng nhỏ sinh ra đã thấy nhịp sống tẻ nhạt của cha mình, đến la rầy con cũng chẳng câu nào mới, mười bốn năm trời chỉ ba chữ “đồ con hoang” mà trên miệng ông đã mất dần cái âm sắc nhọn và độ rền của sự giận dữ.” Sự tẻ nhạt kéo dài đã bòn rút và vật hóa con người Đó là ông Út Gù những đêm “mất ngủ, cả đêm cứ lội bộ, lang thang, tru từng chập hệt chó rừng” Đó là thằng nhỏ từ “một đứa trẻ háo hức tràn ra mắt, không bao giờ nó ngừng thèm muốn, thôi cảm thấy đói ngấu những thứ tươi mới của cuộc đời” trở thành “thằng người lừ đừ ra chòi vó, chậm rãi đái một phát như chó đánh dấu lãnh thổ” và tự nguyện kế thừa vai diễn cất vó của cha nó ở cái làng “nửa thế kỉ trôi qua vẫn cổ” này
Nhịp sống tẻ nhạt được Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt nhấn mạnh trong Giữa mùa Chán Chết Định danh mùa Chán Chết như thể đó là một tiết thời hiển nhiên trong năm
của những người dân ở ấp Nhơn Thành Mùa Chán Chết là vào khoảng “Chừng hai tháng ròng giữa lúc lúa no đòng đòng cho đến khi lúa chín, dịch chán lây lan đến từng nóc gia trong xóm” Con người trong tiết thời này như những con bệnh dật dờ “đàn ông con trai bỗng dưng thấy tháng ngày dư dả Ngâm mình trong rượu bã bợt như hèm, sục sạo giãy nảy trên thân thể đàn bà, cầm cây rượt đánh con cũng thấy không làm sao hết ngày Cái nhàn hạ làm sức vóc lực điền bải hoải” Và, những con bệnh, nạn nhân tự nguyện của cái
“ao đời bằng phẳng này”, buồn thay, lại là những cá thể cô đơn, không ai hiểu ai, không
ai có ý định hiểu ai và có nhu cầu để ai hiểu mình
“Buồn” đã trở thành thương hiệu của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Bàng bạc trong 13 truyện ngắn là nỗi buồn của con người với nhiều cung bậc từ man mác đến khắc khoải, day dứt lo âu của con người giữa cuộc sống bộn bề Nhân vật của Nguyễn Ngọc
Trang 5Tư trong tập truyện này, nổi trội lên, là những người phụ nữ có cuộc sống đa đoan, nhiều uẩn khúc, trắc trở, mang trong mình những vết thương tinh thần không dễ gì xóa bỏ Đó
là Sáu Tím (Nút áo), cô gái ngoài ba mươi vẫn không chịu làm đàn bà, không chịu có
chồng vì tâm hồn không thể bình phục sau việc bị hãm hiếp ở tuổi mười lăm Toàn bộ những gì cô biết được về kẻ thủ ác chỉ là cái nút áo cô nắm khư khư khi tỉnh dậy Điệp khúc “Tròn, bằng nhựa cứng, trắng gợn nâu” mở đầu và kết lại truyện gợi ám ảnh về nỗi
đau không thể hóa giải của cô gái câm lặng ấy Đó là Mười (Nhổ quán), cả đời nhổ quán
đi theo Cao Bồi mà chưa một lần nghe được lời yêu thương Đó là Ngò (Mưa mây) phập
phồng với người chồng thương hồ rày đây mai đó ngày một thưa về Có lẽ hơi phiến diện nhưng chúng tôi cho rằng nỗi buồn cô đơn như hiển lộ sờ sờ ở những nhân vật nữ trong
Không ai qua sông bởi những cái tên Trầm, Thầm, Nhí, Ngò, Thiếp, Tím, Miền, Lem,
Muối,… gợi cho người đọc về những thân phận nhỏ bé đến tội nghiệp
Trong tập tiểu luận triết học Huyền thoại Sisyphe, Camus đã chỉ ra rằng, rốt cuộc con người sẽ mãi là một đối tượng mà “luôn luôn có một cái gì đó không thể quy giản được” và cũng vì thế họ cũng sẽ mãi “là người mà chúng ta không thể hiểu được” Quả
vậy, từ trước đến nay chưa có một học thuyết nào đủ tư cách khẳng định chúng có đủ hệ quy chiếu để khám phá hết bí ẩn về con người Nên trong một chừng mực nào đó, con người dù ràng buộc với nhau bằng những mối quan hệ gắn bó như thế nào, xét đến cùng cũng chỉ là những “kẻ xa lạ” của nhau
Kiểu nhân vật cô đơn ngay trong gia đình vì bị chối bỏ xuất hiện khá nhiều trong tập truyện Đó là những đứa con bất hạnh bị mẹ mình bỏ lại với cha để ra đi không lời từ
biệt Thằng nhỏ trong Tiều tụy vòng quanh sống lẻ loi bên người cha dật dờ rượu chè, nhận về những tiếng chửi “đồ con hoang” Đó là Ba Giàu (Đất), đứa con mà đào Tư
Phượng gói gửi về cho cha nó bằng tàu đò để rồi lớn lên trong sự ghẻ lạnh của người cha,
sự xa cách của má lớn Đó là Cẩm (Tiều tụy vòng quanh), cô gái điên ngày ngày đứng ở
đường ray chờ xe lửa chạy qua để vẫy tay chào người cha đã ra đi không một lời từ giã
Đó là Thiếp (Không ai qua sông), người mẹ lầm lỡ, bỏ con ra đi với anh lơ xe để rồi đến khi trở về, con chị không nhìn mặt mẹ Hay như Thầm (Thầm), cô gái phải chịu những
Trang 6hằn học không lời mà dai dẳng của người mẹ về sự ra đời của mình Hai mẹ con Thầm là hai thế giới không thể dung hợp nhau, hai cá thể rời rạc, âm thầm trong ngôi nhà của họ
Cô gái Thầm, như tên gọi, ít nói, ít tiếp xúc với người khác, lấy việc chạy ma ra tông, chạy đến khi các bó cơ rã ra chỉ để có được cơ hội nhìn thấy bóng mình và quên đi mọi suy nghĩ
Cũng như vậy, mẹ Bi- chị Ngà (Vực không đáy) là một con người mang trong
mình nỗi cô đơn, lạc lõng ngay trong tổ ấm Người chồng mà chị yêu thương đã không thể hiểu được chị đối xử ân cần với người đàn bà ăn xin chỉ bởi vì từ tâm và nỗi khát khao âm thầm được có một người mẹ của vợ mình Khi những nghi kị không thể che giấu bởi Ngà phát hiện tờ giấy kết quả thử ADN và hành động người chồng giằng con cá heo tên Quới ra khỏi vợ lúc say với câu hỏi gằn: “Quới là thằng nào?”, họ đã trở về co ro trong ốc đảo tâm hồn mình “mỗi lần gặp lại đều tỏ ra dè dặt, như người này là một mảnh thủy tinh vỡ, nếu không cẩn thận có thể làm người kia chảy máu” Ngăn cách giữa hai vợ chồng trong ngôi nhà là một “vực không đáy”
Nhí trong Lời yêu lại cô đơn theo một cách khác Nhí nghèo khó, lấy chồng Hàn
Quốc “không điên” nhưng lớn hơn mẹ vợ 2 tuổi, “mặt dúm như quả dừa khô” và “rụng hết mấy cái răng” Sống nơi đất khách quê người, vợ chồng lại không biết nói ngôn ngữ của nhau, “lời yêu” của Nhí với chồng là những lời giận đời “Mụ nội mày, Hi-ết”, “Bà cố nội cha mày”, “Tổ cha mày” Những cuộc gọi điện về quê nhà, Nhí toàn kể chuyện vui, chuyện tưởng tượng Đến khi Nhí trở về quê trong cái hũ với vài nắm tro, người mẹ vẫn không hiểu nỗi chuyện đã xảy ra Nguyễn Ngọc Tư không đặc tả nhưng người đọc vẫn tưởng tượng được cái cô đơn của cô gái tội nghiệp nơi xứ người
Martin Heidegger (1889 - 1976) cho rằng bản chất con người là lo âu, tâm trạng
chủ yếu của con người là sự sợ hãi Trong Không ai qua sông nỗi lo âu, sợ hãi là một sắc thái khác của sự cô đơn Cả gia đình Ba Giàu (Đất) đã sống trong trạng thái khủng khiếp bởi nỗi lo sợ không biết khi nào họ- những người đòi lấy đất của Ba Giàu xây sân gôn sẽ
trở lại Cuộc chiến chống lại những người chiếm đất của nhà Ba Giàu là cuộc chiến đơn độc khi mà những nhà xung quanh đều đã nhận đền bù Chung quanh nhà Ba Giàu là
Trang 7những tòa cao ốc Các thành viên trong gia đình phân công nhau canh gác bốn phía đất nhà mình trong nỗi thắc thỏm Nỗi chờ đợi trong lo sợ kéo dài đến độ họ quên mất khái niệm thời gian, không biết mình đang sống giữa tháng hai hay tháng sáu, ngôn ngữ thưa vắng dần dà họ quên mất cả tên mình, quên mất mình còn sống hay đã chết, là người hay
là ma
2.2 CON NGƯỜI KIẾM TÌM, NỔI LOẠN
Mỗi nhân vật có một lựa chọn hiện sinh cho riêng mình, song tất thảy họ đều xuất phát từ một nguyên cớ chung: đi như một khát vọng tự do, đi như là một cách tìm kiếm chính mình; đi như một hình thức vượt thoát cái đời sống phi lí, buồn nôn, tầm thường (quan niệm của Camus, Sartre, Heidegger) Không phải bao giờ nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư cũng chấp nhận nỗi cô đơn như định mệnh Thằng nhóc không tên trong ngôi
làng cổ bên sông Châu trong Tiều tụy vòng quanh không chịu nổi cái không khí tù đọng
của làng quê, đã nhảy tàu ra đi, chạy trốn cái tẻ nhạt của nơi này để tìm đến một thế giới
khác cho thỏa háo hức tuổi trẻ Cao Bồi trong Nhổ quán lại là kiểu người không thể ở yên
một chỗ, lúc nào cũng muốn ra đi đến những nơi khác lạ, đi đến chốn nào có thể “ở một
mình” bởi “khó chịu với con người” Út Nữa trong Giữa mùa Chán Chết thì đòi ra đi
“chưa biết đi đâu, nhưng khỏi bị Chán Chết ăn mòn là được.”
Nhưng rồi, sau mười bốn năm sau, thằng nhóc trở về là “một gã đàn ông sạm nắng, áo sứt nút, tóc phủ vành tai” trở thành “thằng người thừ lừ ngồi ngoài thềm, ruồi bu không đuổi, mắt đổ ghèn không dụi” với “cái thờ ơ ăn lan trên gương mặt, ánh mắt” Cuộc kiếm tìm mà anh rong ruổi, hao phí mười bốn năm cuộc đời ở những cuộc sống khác làng quê mình lại khiến anh tiếp tục lãng phí đến hết đời trong sự thờ ơ của trái tim nguội lạnh Hóa ra, đi đâu cũng không trốn được, cuộc đời “buồn nôn” mài mòn anh như một định mệnh chung với tất cả những người nhàn nhạt, chưa sống đã chết ở làng cổ đó
Khát vọng đi của Út Nữa trong Giữa mùa Chán Chết chưa kịp thực hiện thì đập
Chà Là vỡ Căn nguyên ngẫu nhiên đó giữ chân anh lại để rồi trong buổi nhậu, anh đã dùng dao gọt khế đâm chết Sa- người bạn nhậu với lí do như anh đã thành thật trước tòa
vì “bữa đó trong người bực bội” Lí do này khiến ta không thể không liên tưởng tới lí do
Trang 8bốn phát súng mà Meursault nổ vào cái xác không hồn của gã thanh niên người Ả Rập
trong “Kẻ xa lạ” –Albert Camus Cuộc sống vốn “bất khả tri”, không phải hành động nào
cũng có thể lí giải một cách rành mạch Lí do mà Út Nữa đưa ra khiến tòa án và mọi người quá bất ngờ Họ không hiểu nổi anh cũng như con người không thể hiểu nổi tất cả những hành động của đồng loại mình
Hành trình kiếm tìm của nhân vật trong truyện Nguyễn Ngọc Tư không phải bao
giờ cũng có đáp số Trả lời cho câu hỏi của thằng nhỏ (Tiều tụy vòng quanh)về mẹ mình, cha nó đáp gọn lỏn: “Đất nẻ mày lên” Thầm (Thầm) thử kiếm tìm gốc rễ cho sự xuất
hiện của mình trên đời: người cha mà mẹ cô không bao giờ nhắc đến Hành trình ba tiếng đồng hồ đi tìm địa chỉ một người bí ẩn tên Lê Văn Công mà mẹ mình ghi lại trên góc tờ báo khi còn sống của Thầm hóa ra chỉ là vô nghĩa khi gặp một bà già có cái tên bất đắc dĩ
do sự nhầm lẫn của cán bộ hộ tịch Rốt cuộc, Thầm vẫn không biết bố mình là ai cũng như không thể biết mẹ cô đã ghi lại dòng địa chỉ đó để làm gì
Trang 9KẾT LUẬN
“Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời đại không lặp lại” (Huỳnh Như Phương) nhưng những ảnh hưởng của nó đến văn học nói chung và văn học Việt Nam đương đại vẫn còn nhiều hứa hẹn Dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư thể hiện rõ ở việc xây dựng nhân vật mang trong mình nỗi cô đơn giữa cuộc sống hiện đại tưởng ngày càng văn minh sẽ ngày càng nhân văn nhưng thật ra lại càng lạnh lẽo, tẻ nhạt Các nhân vật dù cố gắng kiếm tìm, ra đi như một cách vượt thoát nhưng rồi hành trình của họ vòng vèo, lần quẩn rồi cũng lại trở về điểm xuất phát ban đầu Ám ảnh về kiếp người, về thân phận người phụ nữ trong cuộc hiện tồn giữa không khí xã hội ngột ngạt như đặc quánh trong trang viết của Nguyễn Ngọc Tư khiến người đọc không
khỏi day dứt, không khỏi đặt cho mình những câu hỏi: Con người ta nên sống như thế
nào? Phải sống như thế nào? Và rốt cuộc thì mình là ai?
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, hiện diện ở Việt Nam, TP Hồ Chí Minh: Tổng hợp.
2 Trần Thiện Đạo (2001), Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc, H: Văn
học
3 Đỗ Đức Hiểu (1978), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, H: Văn học.
4 Nguyễn Thành Thi (2010), Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nghiên cứu văn học, số 5 (459)
B Website
1 Thái Phan Vàng Anh (2015), Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986,
21-01-2017
2 Nguyễn Thái Hoàng (2015), Sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại
http://www.tapchicuaviet.com.vn/DuLieu/index.asp?