1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Tiến trình văn học Chủ nghĩa hiện sinh

21 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 47,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là hiện tượng xã hội tất yếu phù hợp với xuhướng phát triển tâm lý thời đại chống lại bản thể luận và nhận thức luận trongsiêu hình học truyền thống, th

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN _ _ _ _ __ _ _ _ _ BÀI TẬP NHÓM 6

HỌC PHẦN : TIẾN TRÌNH VĂN HỌC

ĐỀ TÀI:

CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

Giảng viên Sinh viên thực hiện:

Trang 2

A.THUYẾT HIỆN SINH

I CHỦ NGHĨA HIỆN SINH THẾ GIỚI

1 Khái niệm.

Thuật ngữ “Existentialism”(Chủ nghĩa hiện sinh), có gốc từ “Existence”cónghĩa là sự tồn tại hay hiện hữu, nhưng không phải là sự tồn tại của các sự vật,hiện tượng vật lý hay sự tồn tại của sinh vật mà là sự tồn tại của con người

2 Sự hình thành chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở Đức cuối chiến tranh thế giới thứ nhất với hai đạibiểu lớn là Martin Heidegger (1889-1976) và Karl Jasper (1883 - 1969), sau đólan nhanh sang Pháp tạo nên các tên tuổi như Jean Paul Sartre (1905-1980),Garbie Marcel (1889 -1978), Albert Camus (1913-1960), Merleau Ponty (1908-1961)

Ban đầu, chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu văn học phản ánh triết lý sống tựnhiên, tự tại, tự do bằng các hình thức tiểu thuyết, truyện, kịch, thi ca, nhật ký,tiểu luận, v.v Theo dòng thời gian, triết lý sống đó được đa số người chấpnhận và lý luận hóa, trừu tượng hóa trở thành một trường phái triết học, mộtphong trào xã hội, ảnh hưởng sâu rộng trong lối sống giới trẻ

Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là hiện tượng xã hội tất yếu phù hợp với xuhướng phát triển tâm lý thời đại chống lại bản thể luận và nhận thức luận trongsiêu hình học truyền thống, theo đó các triết gia mải mê tìm kiếm nguồn gốc vũtrụ, lý giải quá trình nhận thức mà bỏ quên thân phận và kiếp sống con người,không lý giải mối quan hệ phụ thuộc giữa cá nhân và xã hội, giữa tự do và tấtyếu Tuy khoa học kỹ thuật có mặt để giảm nhẹ sức lao động, nhưng rồi chẳngmấy chốc máy móc đã ép con người theo guồng quay và trở thành nô lệ của nó.Trong cuộc sống hiện đại, để tồn tại con người nhiều lúc phải tự đánh mất mình,

bị đổi ngôi từ “nhân vị” thành “đại từ”, từ “chủ thể” thành “đối tượng”, từ “tôi”thành “nó” Chung quy là buộc phải tha hóa đúng như nhận định của triết giaNitschez: “Con người đã chết”

Chủ nghĩa hiện sinh đồng thời là sự đáp trả tư tưởng tư biện trừu tượng triết họcHegel trong quá trình đi tìm các khái niệm phổ biến mà không quan tâm đến đờisống hiện thực của con người và chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển đã

lý tưởng hóa tình yêu và cuộc sống, dẫn dắt con người ngày càng xa rời hiệnthực Triết học truyền thống quá lý thuyết, chủ nghĩa lãng mạn văn học cổ điển

Trang 3

lún sâu miêu tả những chuyện tình lâm ly bi tráng, trong khi đó con người sốngcàng ngày càng tự do và thực dụng, giao tiếp giữa người và người trở nên cởi

mở, thẳng thắn, đời sống con người đòi hỏi mọi vấn đề phải cụ thể hơn, sát thựchơn, dấn thân hay “hiện sinh hơn”

3 Những tiền đề lý luận của chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh không phải là sản phẩm nhất thời của thời hiện đại mà cónguồn gốc sâu xa trong lịch sử Quan niệm về đời người và thân phận con người

đã manh nha trong triết lý Phật giáo khi Đức Phật Thích Ca đắc đạo, đứng giữatrời đất, chỉ tay nói: “Thiên thượng, Địa hạ, duy Ngã độc tôn” “Tứ diệu đế”, tứcbốn chân lý tối cao mà Đức Phật “ngộ” ra trong những năm tháng tu hành khổluyện đã phản ánh chân thành cụ thể đời sống con người và nỗi khổ của nó - đó

là một cuộc hành trình tuân theo luật nhân quả “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” và

“Luân hồi, Nghiệp báo” Triết lý nhân sinh Phật giáo đã đặt ra tình huống cóvấn đề về con người, mà cốt lõi là làm gì và làm như thế nào để giải thoát conngười khỏi “tam độc” (Tham, Sân, Si) đưa con người đến tự do, sống ung dung

tự tại trong thế giới đầy vật dục và biến động

Ở phương Tây cổ đại, triết gia Socrate với luận điểm “con người hãy tự nhậnthức chính mình” đã mở đầu giai đoạn nhận thức con người Theo ông, mọi tưtưởng và hoạt động phải làm gia tăng ý nghĩa của tồn tại con người, bởi vì, đốivới con người vấn đề không phải là sống mà là sống tốt, sống có ích cho xã hội.Cái chết của ông là một đề tài và nguồn cảm hứng bất tận của triết học và vănhọc nghệ thuật chứng minh cho sự bi đát của một kiếp người khao khát làm điềuthiện, nhưng bị tha nhân lên án, kết tội và bức tử

Xét về phương diện văn học, Kinh thánh (The Bible) của Đạo Ky tô là một tiểuthuyết miêu tả đời sống nhân quần buổi khai thiên lập địa Hình tượng Adam vàEva đại diện cho hai giới sống mù lòa, cô đơn buồn tủi đành phải ăn trái cấm đểđược sáng mắt, sáng lòng trên vườn địa đàng báo hiệu một lịch sử đau buồn vàphạm tội của nhân loại Abraham được miêu tả như một vị anh hùng sẵn sànghiến tế đứa con trai yêu dấu cho Thiên chúa, hành vi “bất đắc dĩ” này phản ánhmâu thuẫn giằng xé nội tâm trong sự lựa chọn của con người giữa một bên làtình cảm, bên kia là lý tưởng cao thượng

Đầu thời trung đại, Thánh Augustin đã tuyên bố: ''Hãy đi sâu vào bản thân, chân

lý nằm trong nội tâm con người'' Bằng luận điểm đó, ông đã đi sâu phân tíchthế giới nội tâm để qua đó khám phá nguồn gốc bất an và lo âu của con người.Tác phẩm Xưng tội (Confession) của ông đã lý giải về nguồn gốc thần thánh

Trang 4

của con người, về đời sống tâm linh phức tạp của nó, về mối quan hệ giữa người

và thần, theo đó Chúa đã sáng tạo và chi phối đời sống con người, do vậy đểđền đáp công ơn này, mỗi người cần phải dấn thân vào đời sống, phải yêuthương nhau, vì cái ác, sự đau khổ chỉ xuất hiện khi thiếu vắng tình yêu thương,khi con người hành động theo ý chí tự do nên bị sa ngã

Đến thời khai sáng, triết gia người Pháp - Pascal trong tác phẩm Các suy

tư (Pensses) đã phát biểu rằng, “con người chỉ là một cây sậy yếu ớt trong mọitạo vật, nhưng là một cây sậy biết tư duy” Qua việc đề cập đến tư tưởng tôngiáo và triết học, Pascal đã miêu tả sinh động việc nhân loại ngập chìm trongcảnh bao la vô tận của vũ trụ Theo ông, “tất cả phẩm giá con người là ở tưtưởng”, nhưng còn một cái quan trọng hơn, cao hơn cả tư tưởng là con tim., bởi

vì “con tim có lý lẽ riêng của nó mà lý trí không biết được” Có thể nói, quanniệm của Pascal mở đầu cho một khuynh hướng mới về nghiên cứu thân phậncon người - phát hiện tính mâu thuẫn trong giá trị người - một giá trị vừa caothượng vừa thấp hèn, nhỏ mọn “Con người - Pascal viết - một vật mới lạ! Mộtquái vật, một sự hỗn mang, một sự mâu thuẫn, một điều kỳ diệu! Là quan tòaxét xử muôn loài và đồng thời là một con giun đất đần độn; là kho chân lý, và là

bể chứa sự hoang mang và sai lầm; là niềm kiêu hãnh và là căn bã của vũ trụ”.Bước sang thời cận đại, văn hào Nga Dostoievsky - trong các tác phẩm văn họccủa mình, đặc biệt là trong tiểu thuyết Tội ác và sự trừng phạt đã miêu tả trạngthái tâm lý của các nhân vật dựa trên luận đề xuất phát: “Nếu không có thượng

Đế, thì mọi điều đều có thể làm” Luận đề này tuy đặt ra một tình huống giảđịnh, nhưng thực tế đã khẳng định vai trò của thần học và tôn giáo trong việccủng cố đạo đức con người, phản ánh tính mâu thuẫn trong suy nghĩ và hànhđộng của con người, đặt nền móng cho việc nghiên cứu đời sống tâm lý Khitrích dẫn luận đề này, triết gia hiện sinh người Pháp Paul Sactre cho rằng, “đâychính là điểm xuất phát của chủ nghĩa hiện sinh”

Chủ nghĩa hiện sinh hiện đại trực tiếp dựa trên quan niệm về con người của triếtgia Đan Mạch - Kỉerkegaard (1813-1855), ông đã sớm nhìn thấy tính chất tưbiện của Hegel khi triết gia này tìm cách thâu tóm mọi thực tại vào trong hệthống triết học của mình và trong quá trình luận giải thế giới ông đã đánh mấtyếu tố quan trọng là tồn tại người Trong khi đó đây lại là điều cốt yếu của triếthọc, vì tồn tại trước hết phải là tồn tại của một cá thể người, sống, khát vọng,lựa chọn và dấn thân.Thuyết hiện sinh của Kierkegaard có thể tóm lược trongquan niệm cho rằng, “mọi con người phải được hiểu như là sở hữu bản chất cốtyếu là người”

Trang 5

Nhìn chung, sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh như một liệu pháp tâm lý giải tỏanhững ức chế của đời sống xã hội đã bị giam hãm một thời gian dài, bị cầm tùbởi những cấm kỵ của chế độ phong kiến, lên án thói đạo đức giả và sự tha hóacon người trong xã hội biến động về khoa học công nghệ, mong ước cứu vớtcon người trước thảm họa chiến tranh, đưa con người trở về ngôi vị làm ngườichân chính.

4 Quan niệm hiện sinh về con người và thân phận con người

Triết lý của chủ nghĩa hiện sinh xoay quanh chủ đề con người, trọng tâm là bảntính, thân phận, thế giới nội tâm, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh sống Quan hệ giữa tồn tại và bản chất của con người Theo chủ nghĩa hiện sinh, tồntại của con người có trước bản chất của nó Định nghĩa con người là không thể,bởi con người không là gì khác ngoài sự hiện hữu hay hiện diện (của thể xác).Paul Sartre cho rằng, “con người trước hết phải hiện hữu, gặp gỡ nhau, xuấthiện ra trong thế giới đã, rồi theo đó tự định nghĩa mình Con người, nếu khôngthể định nghĩa được, chính là vì trước hết nó là hư vô Nó chỉ tồn tại sau đó, và

sẽ là tồn tại như những gì nó sẽ tự tạo nên Con người không chỉ tồn tại như nóđược quan niệm, mà còn tồn tại như nó muốn thể hiện Con người không là gìkhác ngoài những gì mà nó tự tạo nên Đó là nguyên tắc đầu tiên của thuyếthiện sinh Đó cũng là điều mà người ta gọi là tính chủ thể con người có mộtphẩm giá cao hơn hòn đá hay cái bàn con người trước hết là một dự phóng(project) đang sống về mặt chủ thể, thay vì là một thứ rêu, một thứ nấm mốchay một búp súp lơ con người trước hết sẽ là những gì mà nó dự định tồntại” Như vậy, con người là tồn tại tối cao, vượt lên trên mọi tồn tại khác của vũtrụ Tồn tại người có trước, sau đó mới hình thành bản chất người Bản chấtngười hiện diện trong mọi cá thể riêng biệt, thể hiện qua hành động và tính cáchcủa nó, không có bản chất người chung chung, trừu tượng

Con người là một cá thể chịu trách nhiệm trước cộng đồng Khi đã hiện hữu hay

có mặt ở đời, con người phải dấn thân vào cuộc sống, suy nghĩ và hành động đểbộc lộ thái độ sống của mình Tuy nhiên, không phải mỗi cá nhân sống theocách riêng của mình, mà phải hòa nhập vào cuộc sống chung cộng đồng Dovậy, “nếu đúng là tồn tại đi trước bản chất, thì con người chịu trách nhiệm vềnhững gì nó đang tồn tại Bước đi đầu tiên của thuyết hiện sinh là lên conngười toàn bộ trách nhiệm về sự hiện hữu của mình, nhưng không phải về cái cánhân chật hẹp mà chịu trách nhiệm cho tất cả mọi người” Con người là một tồntại có lý trí, lý trí giúp con người tổ chức cuộc sống, từ mô hình gia đình, đến

Trang 6

cộng đồng và toàn nhân loại “Trách nhiệm của chúng ta lớn lao hơn nhiều sovới những gì mà chúng ta có thể nghĩ đến, vì nó liên quan đến toàn thể nhânloại Tôi chịu trách nhiệm với chính mình và với mọi người, và tôi đã sáng tạo

ra một hình ảnh nào đó về con người mà tôi đã lựa chọn, khi chọn lấy chính tôi,tôi chọn con người”

Con người là một thực thể tự do và không có gì khác ngoài đời sống của chínhmình Con người cũng là một tồn tại, nhưng tồn tại người khác tồn tại vật ở chỗ,con người có lý trí, nên nó ít bị chi phối bởi quy luật tất yếu mà có tự do - tự dolựa chọn, tự do hành động Jasper cho rằng, “chỉ mình con người có lịch sử,nghĩa là không sống bằng di sản sinh lý như loài vật mà còn sống bằng cả di sảntinh thần Nên đời sống con người không trôi dạt theo tự nhiên mà phải đượchướng dẫn bằng tự do” Triết gia Paul Sactre khẳng định: “Không có thuyết tấtđịnh, con người là tự do, con người được tự do và không có một bản tính conngười nào khác để tôi có thể đặt nền tảng trên đó”

Tuy nhiên, vì con người sống trong xã hội, nên tự do hiểu theo nghĩa hiện sinhkhông phải là tự do tùy tiện mà tự do trong khuôn khổ tôn trọng sự tự do củangười khác, bởi vì “trong khi muốn tự do, chúng ta phát hiện ra rằng tự do củachúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào tự do của những người khác, và tự do củanhững người khác phụ thuộc vào tự do của chúng ta” Phụ thuộc hay thông cảmlẫn nhau giữa người và người là điều làm các nhà hiện sinh trăn trở, bởi theo họthân phận làm người là phải vậy, cho nên “ta tự do là khi ta công nhận ta phảiphục tùng một số yêu sách Thỏa mãn những yêu sách ấy hay không là tùy ởquyền ta định đoạt Nghĩa là chúng ta không thể phủ nhận rằng: chúng ta phảiquyết định và mỗi khi quyết định là quyết định về chính mình Nói tóm lại,chúng ta là những con người có trách nhiệm”

Con người là một sinh vật tồn tại trong những giới hạn nhất định, muốn vượtqua những giới hạn đó thì cần phải dấn thân “Thân phận con người bị giamhãm trong những hoàn cảnh cố định như chết, đau khổ, chiến đấu, lệ thuộcnhững cảnh ngộ bất ngờ, luẩn quẩn trong những xiềng xích của tội lỗi, tức lànhững hoàn cảnh bất khả vượt và bất khả di dịch”

Như đã nói, bản chất con người nằm trong hành động của nó, nên “con ngườikhông là gì khác ngoài dự phóng của mình, nó chỉ tồn tại trong giới hạn có hiệnthực hóa bản thân, vì vậy con người không là gì khác ngoài toàn bộ các hành vicủa mình, không có gì khác ngoài đời sống của nó” “Một người tự dấn thân vàocuộc sống, vẽ nên gương mặt của mình, và không có gì ngoài gương mặt ấy cả

Trang 7

một con người không có gì khác ngoài một loạt những công việc mà họ đảmnhiệm Con người là tổng số, tổ chức toàn bộ các quan hệ cấu thành những côngviệc ấy”

Quan hệ giữa con người và người khác (Tha nhân) là nguyên nhân của tha hóa

và tâm lý lo âu bản tính, con người là một thực thể tự do, nhưng do tội tổ tôngtruyền kiếp, con người luôn bị trói buộc vào hoàn cảnh sống, bị lệ thuộc vào xãhội và những người lân cận gọi là “người khác” hay tha nhân (Autre, Another).Tha nhân có từ thời khởi thuỷ loài người, khi Adam không thể sống một mình,Chúa đành phải tạo nên “người khác” là Eva Từ đó Adam đành phải sống cùngEva và mãi mãi vẫn thế, vì con người không thể sống cô độc Tha nhân là niềmvui đồng thời là nỗi buồn của mỗi cá thể, là người tranh chấp, dẫm chân lên địa

vị của ta “Để có sự hiểu biết đúng thật về mình, tôi cần phải thông qua ngườikhác Người khác là cần thiết cho sự hiện hữu của tôi về chính mình Trongnhững điều kiện ấy, tự cõi lòng, khi tôi phát hiện ra chính mình thì đồng thời tôiphát hiện ra người khác, như là một hữu thể tự do được đặt đối diện tôi, suynghĩ về tôi và chỉ muốn ủng hộ hoặc chống đối tôi”

Hậu quả khi tiếp xúc với tha nhân là làm cho mỗi người trở nên xa lạ với chínhmình hay bị “tha hóa” (Degeneration), tức sống khác với bản tính thật của mình.Tha hóa có nguồn gốc từ sự tôn thờ một mẫu người lý tưởng, một vị thánh nào

đó làm cho người ta tự cuộn tròn mình lại mà không dám hành động Tha hóađồng thời là tự đánh mất nhân cách, tự biến mình thành một cái máy (con rối)

vô hồn hành động theo tư tưởng chỉ đạo của người khác, của tập đoàn khác màkhông thể nào dứt ra được

Do tha hóa là làm khác mình nên tạo nên trong mỗi con người sự lo

âu (Angoisse, Worry) Lo âu thể hiện trách nhiệm của con người trước thânphận của mình và đồng loại “Vì mang thân phận làm người là đương nhiênchúng ta sống trong dục vọng, trong lo âu và bó buộc chúng ta phải cảm nghiệmnhững gì thuộc thế sự, bằng nước mắt cũng như bằng nụ cười” Lo âu sớmmuộn sẽ dẫn con người đến tuyệt vọng (Desespoir) và tiếp sau đó là những hànhđộng liều lĩnh Và lẽ dĩ nhiên chỉ có cái chết (The death) mới chấm dứt được lo

âu Nhưng cái chết lẽ dĩ nhiên sẽ chấm dứt sự hiện hữu của con người Bởi vậy,khi còn sống con người cần phải dấn thân, tức phải sống hết mình, không mặccảm với quá khứ, không toan tính chuyện tương lai, chỉ sống cho hiện tại

“Chúng ta càng có quyền hy vọng vào tương lai nếu ta càng dấn thân vào hiệntại, nghĩa là nếu ta biết tìm chân lý và những tiêu chuẩn giá trị trong thân phậncon người” Từ logic trên chủ nghĩa hiện sinh kết luận: Con người sống trong

Trang 8

trần gian như những kẻ bị bỏ rơi, những kẻ lưu đày Hiện diện trong cuộc đời

mà con người không biết mình sẽ đi đâu, về đâu Việc con người sinh ra ở đờigiống như bị ném vào hoàn cảnh “bất đắc dĩ”, đành phải sống và hành động.Bởi vậy, chủ nghĩa hiện sinh nêu cao khẩu hiệu: ''Con người hãy tự cứu lấychính mình'' Vì không ai có thể cứu vớt được con người ngoài bản thân nó

II Sự hình thành chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, một cách tự phát, chủ nghĩa hiện sinh đã manh nha trong Cung oánngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều khi ông miêu tả thân phận của những thiếu

nữ được tuyển vào cung Vua phủ chúa chờ ngày ân ái Thông qua đó, tác giảnói lên thân phận “bèo dạt mây trôi” của kiếp làm người nói chung: “Thảo nàokhi mới chôn nhau / Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra/ Khóc vì nỗi thiết tha sựthế/ Ai bày trò bãi bể nương dâu/ Trắng răng đến thuở bạc đầu Trăm năm còn

có gì đâu - Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì” Tiếp theo Cung oán ngâmkhúc, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là một thi phẩm phản ánh đời sống

“hồng nhan bạc phận” của nàng Kiều với những tiếng kêu xé lòng đứtruột: “Trăm năm trong cõi người ta/ Những điều trông thấy mà đau đớnlòng Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Mườilăm năm sống lưu lạc của nàng Kiều là một bản cáo trạng lên án chế độ phongkiến đương thời, một chế độ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, coi thườngthân phận của người phụ nữ, xem họ thân phận họ như những hạt mưa rơi

Từ phương Tây, chủ nghĩa hiện sinh theo gót chân quân xâm lược Pháp đếnViệt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, hiện diện trên thi đàn như thơ say của

Vũ Hồng Chương, thơ mới, phản ánh tình yêu hiện đại của các thi sĩ tiền chiến,đặc biệt là thơ Xuân Diệu Ở miền Nam, dưới thời tạm chiếm, chủ nghĩa hiệnsinh đã trở thành mốt sống của thanh niên đô thị Tư tưởng hiện sinh phản ánhtrong hàng loạt các tác phẩm văn học, điển hình là các tác phẩm của DuyênAnh, Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, v.v đã nói lên tinh thần lo âu,tuyệt vọng, nổi loạn, phản kháng của tầng lớp thanh niên “sống giữa hai lànđạn”.Trên một khía cạnh nào đó có thể nói chủ nghĩa hiện sinh ở miền nam ViệtNam trước giải phóng đã góp tiếng nói phản kháng sự xâm lược của Mỹ nhưphong trào “dậy mà đi” phản ánh sự dấn thân của tuổi trẻ trong công cuộc giảiphóng đất nước

Sau công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng, với phươngchâm “cởi trói cho văn học nghệ thuật”, chủ nghĩa hiện sinh có cơ hội thể hiệnnguyên hình trên diễn đàn văn học với các gương mặt tiêu biểu như: Nguyễn

Trang 9

Quang Lập (Một nửa đời đen - trắng, Đời cát), Nguyễn Minh Châu (Phiên chợGiát), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ, Mê lộ, Man nương), Dương Thu Hương (Bênkia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh),Nguyễn Huy Thiệp (Phẩm tiết, Vàng lửa, Tướng về hưu, Thương nhớ đồngơi ), Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng), Dương Hướng (Bến không chồng), NguyễnThị Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận), Đỗ Hoàng Diệu (Bóng đè, Vu quy ), v.v Các tác phẩm văn học này đã góp thêm tiếng nói đa dạng cho việc đổi mới củavăn học nước nhà, phản ánh một góc buồn tủi, cô đơn của cuộc sống, phơi bàythế giới nội tâm giằng xé của con người trong một thời đại đầy lo âu, mâu thuẫn

và biến động từng ngày của khoa học công nghệ Thực ra chủ nghĩa hiện sinhtrong văn học là sự nối tiếp của chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng với tinhthần tự nhiên, “vô tư”, thẳng thắn và cay nhiệt hơn, nếu không nói là đôi khi có

ác ý muốn “hạ bệ những thần tượng”, đưa thần tượng (Idol) và những lý tưởngchính trị - xã hội trở về cuộc sống đời thường, đúng như nghĩa câu cách ngôn

mà Karl Marx yêu thích “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”

III.CÁC TRƯỜNG PHÁI HIỆN SINH

Kier kegaard

- Có tính chất xây dựng

- Tin tưởng vào Thiên Chúa giáo

- Đại diện: Jaspers ( Triết học về hiện

sinh) và Marcel ( Tân phái So crate)

Niet zsche

- Đã phá truyền thống và cả tôn giáo

- Chứa đựng nhiều phủ định tính đếnmức đôi khi được gọi là hư vô chủnghĩa

- Đại diện: J Sartre ( hiện sinh chủnghĩa) M Heidegger ( triết học hiệnhữu)

Những ý tưởng hiện sinh không phải bắt đầu từ các triết gia như Sartre hayHeidegger mà lại khởi nguồn từ hai ông tổ đối nghịch nhau về thế giới quan:Nietzsche vô thần và Soren Kierkegaard hữu thần Trong Zarathustra đã nóinhư thế, Nietzsche tuyên bố “Chúa đã chết Chúa chết vì lòng thương xót conngười" Bản thân những nhà hiện sinh như Sartre, Camus và Beauvoir cũng đều

là những nhà vô thần, phủ nhận sự tồn tại của Chúa Nhưng lý do tại sao họ lạiphủ nhận sự tồn tại của Chúa? Chúng ta sẽ bàn trong một bài viết khác Còn ởđây, với lời tuyên bố hùng hồn của Nietzsche, liệu Chúa đã thực sự Chết haylà may mắn thay, chúng ta vẫn còn một người ngược dòng quan niệm củaNietzsche: Søren Kierkegaard (1813- 1855) - ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh đãbiến Kito giáo thành một trong những nguyên tắc tư tưởng cốt lõi của mình

Trang 10

B TÁC GIA TIÊU BIỂU

I TÁC GIẢ JEAN PAUL SARTRE

Jean Paul Sartre tên thực là Jean-Paul Charles Aymard Sartre (21/6/1905 –15/4/1980) Là con của ông Jean-Baptiste Sartre, một vị sĩ quan Hải Quân và bàAnne là người gốc Đức miền Alsace.Cha ông qua đời khi ông mới mười lămtháng tuổi, mẹ đưa về ở với ông bà ngoại ở ngoại ô Paris, chín năm sau thì mẹông tái giá Học hết bậc trung học, ông vào trường cao đẳng Sư phạm Paris, tốtnghiệp bằng triết học hạng tối ưu năm 1929 Ông được bổ nhiệm đi dạy triếthọc tại trường trung học các tỉnh rồi về Paris Ông đi du lịch nhiều nước châu

Âu và vùng Cận Đông

Từ năm 1933 đến năm 1934, ông thôi nghề dạy học và chuyên viết văn vànghiên cứu triết học Ông sang Đức và học thêm triết với các triết gia Đức lãothành như Husserl và Heidegeer Tác phẩm nổi tiếng đầu tiên là tiểu thuyết

Buồn nôn (1938) và tuyển tập truyện ngắn Bức tường (1939)được đánh giá là

những cuốn sách tiêu biểu cho dòng văn học phi lý, giúp Sartre trở thành mộttrong những nhà văn hóa lớn nhất của nước Pháp thời kì này

Thế chiến thứ II bùng nổ năm 1939 Sartre nhập ngũ với chức danh binhnhì và bị phát xít Đức bắt làm tù binh Trong tù ông soạn kịch để các bạn tùtrình diễn cho nhau xem Năm 1941, sau khi được thả ông tham gia phong tràokháng chiến và viết cho tờ báo bí mật Trong những năm Pháp bị chiếm đóng,

ông đã cho trình diễn hai vở kịch đặc sắc: Những con ruồi với nội dung phê phán chế độ phát xít hà khắc và vở Không lối thoát viết về số phận cô đơn của

con người

Sau chiến tranh, ông viết văn và làm báo Ông cưới vợ, cô Ximono de

Boovoa, sau này cũng là một nhà văn hiện sinh Ông sáng lập tạp chí Thời hiện

đạinăm 1945 và từ đó cùng với nhà văn khác như Albert Camus, Meclo

Poongty gây dựng phong trào hiện sinh ở Pháp

Từ năm 1945 đến năm 1949, ông đã viết nhiều tác phẩm lớn như: Những

con đường tự do, tiểu thuyết gồm có ba phần: tuổi lí tính, triển hạn, cái chết

trong tâm hồn ; những vở kịch: Chết không mai táng, Những bàn tay bẩn, Ác

quỷ hay thiên thần,…

Ngày đăng: 28/06/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w