Kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ổn định với tốc độ tăng trưởng cao trong 6 tháng đầu năm 2007. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) 6 tháng đầu năm 2007 đạt xấp xỉ 31 tỷ USD, tăng 7,87% so với cùng kỳ năm 2006. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 6 năm gần đây mà đóng góp là sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), 6 tháng đầu năm ngành công nghiệp và xây dựng tăng 9,88%, tiếp theo là ngành dịch vụ tăng 8,41% và nông-lâm-ngư nghiệp chỉ tăng 2,8%
Trang 1Private and confidential
Sự bùng nổ của TTCK Việt Nam trong năm 2006 đem lại điểm đến mới cho nhiều
Nguyễn Văn Khánh khanhnv@bvsc.com.vn
Phạm Vũ Phương Linh linhpvp@bvsc.com.vn
Nguyễn Quang Minh minhnq@bvsc.com.vn
Đỗ Trọng Quang quangdt@bvsc.com.vn
Vũ Thị Thanh Quyên quyenvtt@bvsc.com.vn
Công ty Cổ Phần Chứng Khoán Bảo Việt
Trang 2CP Cổ phiếu/Cồ phần
SH Sở hữu
LH Lưu hành ĐTTC Đầu tư tài chính LNTT Lợi nhuận trước thuế LNST Lợi nhuận sau thuế ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long PVD Tổng công ty cổ phần khoan và kỹ thuật khoan dầu khí SAM Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông
PPC Công ty cổ phần Nhiệt Điện Phả Lại STB Ngân hàng thương mại cổ phần Thương Tín REE Công ty cổ phần cơ điện lạnh
KDC Công ty cổ phần Kinh Đô DHG Công ty cổ phần dược Hậu Giang VNM Công ty cổ phần sữa Việt Nam FPT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT VSH Công ty cổ phần thủy điện Vĩnh Sơn-sông Hinh ITA Công ty Cổ Phần Khu Công Nghiệp Tân Tạo (ITACO) GMD Công ty cổ phần đại lý liện hiệp vận chuyển (Gemadept) SJS Công ty cổ phần ĐTPT đô thị & KCN Sông Đà
MPC Công ty cổ phần thủy sản Minh Phú SABECO Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn CADIVI Công ty TNHH một thành viên Dây và Cáp điện Việt Nam
Trang 3A Nhìn nhận tổng quan về nền kinh
tế và thị trường chứng khoán
1 Nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ổn định với tốc độ tăng trưởng cao trong
6 tháng đầu năm 2007 Tổng thu nhập quốc nội (GDP) 6 tháng đầu năm 2007 đạt xấp xỉ 31 tỷ USD, tăng 7,87% so với cùng kỳ năm 2006 Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 6 năm gần đây mà đóng góp là sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), 6 tháng đầu năm ngành công nghiệp và xây dựng tăng 9,88%, tiếp theo là ngành dịch vụ tăng 8,41% và nông-lâm-ngư nghiệp chỉ tăng 2,8%
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và sự đóng góp của 3 nhóm ngành chính
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam qua các năm 2004, 2005, 2006
Thâm hụt thương mại tăng lên 4,78 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2007 Đây là kết quả của kim ngạch nhập khẩu tăng 30,4% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 19,4% Đáng chú ý là sự giảm sút của khối lượng xuất khẩu dầu thô trong 6 tháng đầu năm xuống còn 7,6 triệu tấn (đạt khoảng 43,4% so với kế hoạch cả năm là 17,5 triệu tấn), chỉ đem lại 3,76 tỷ USD (đạt khoảng 46% so với kế hoạch cả năm là 8 tỷ USD) Nhìn chung, ngoài xuất khẩu cà phê tăng đột biến, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chính đều có mức tăng khá thấp trong 6 tháng đầu năm Thực tế này khiến giá trị xuất khẩu trong 6 tháng qua chỉ đạt 48% kế hoạch của cả năm 2007
Tuy nhiên, sự thâm hụt thương mại này là do sự gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị, sắt thép cho việc xây dựng các công trình, nhà máy và nguyên vật liệu cho sản xuất trong 6 tháng đầu năm, điều này đem lại tín hiệu khả quan cho sự
2.3 Hiệu quả hoạt động 6
tháng đầu năm của các công
Trang 4tăng trưởng tốt của nền kinh tế trong 6 tháng cuối năm Thêm vào đó, xuất khẩu, cả về mặt sản lượng và giá trị thường có khuynh hướng tăng cao hơn vào
6 tháng cuối năm so với 6 tháng đầu năm
Biểu đồ 2: Cán cân thương mại 6 tháng đầu năm 2007
-10.00 -5.00 0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00
Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại
Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái, FDI của Việt Nam tăng 74% từ 2,26 tỷ USD của 6 tháng đầu năm 2006 lên 3,93
tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2007 Dự kiến, trong thời gian tới, vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên cả về số đăng ký mới cũng như số thực hiện
Sức mua và tiêu thụ nội địa tiếp tục đà đi lên với tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2007 tiếp tục tăng 5,6% so với tháng 12 năm
2006 và 7,8% so với cùng kỳ năm trước
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam qua các năm 2004, 2005, 2006
Trang 5Biểu đồ 3: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP, giá tiêu dùng bình quân và doanh thu bán lẻ
Tăng trưởng GDP Tổng doanh thu bán lẻ Giá tiêu dùng trung bình
Chính phủ vẫn đang tiếp tục nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng thực của GDP Nguồn cung ngoại tệ tăng cao do đầu tư gián tiếp cùng với sự gia tăng của dòng vốn đầu tư FDI trong 6 tháng đầu năm buộc ngân hàng Nhà Nước phải hạn chế sự tăng giá của đồng Việt Nam bằng cách mua vào đồng USD Trong 5 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà Nước đã mua vào khoảng 7 tỷ USD, tương đương khoảng 112 ngàn tỷ đồng được đưa vào thị trường tiền tệ làm cung nội tệ tăng mạnh
2 Thị trường chứng khoán
2.1 Diễn biến thị trường niêm yết
Thị trường niêm yết – Tăng và giảm Năm 2006 vừa qua là năm phát triển
mạnh nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong sáu năm lịch sử thành lập Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm vừa qua tăng trưởng về mọi mặt từ số lượng các công ty niêm yết, số lượng các công ty chứng khoán mới ra đời, quỹ đầu tư, đến tổng giá trị vốn hóa thị trường, chỉ số index, giá trị và khối lượng giao dịch bình quân hàng ngày của các nhà đầu tư trong nước và đặc biệt
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam qua các năm 2004, 2005, 2006
Trang 6là của nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, với sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, thị trường chứng khoán Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2007 đã và đang
có những dấu hiệu của sự chuyển mình sang một giai đoạn phát triển mang tính
ổn định và bền vững hơn Diễn biến thị trường trong 6 tháng đầu năm 2007 có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn tăng giá liên tục của thị trường từ đầu năm với những dấu hiệu đã được dự báo trước từ cuối năm 2006 cho đến giữa tháng 3/2007 và giai đoạn điều chỉnh sau đó chuẩn bị cho một thị trường phát triển bền vững lâu dài
2.1.1 Giai đoạn bùng nổ từ đầu năm 2007 đến giữa tháng
3 năm 2007
Trong giai đoạn này, chỉ số VN-Index của cả hai sàn Hà Nội, TP.HCM cũng như giá cổ phiếu trên thị trường OTC tăng giá mạnh với đỉnh điểm của HaSTC-Index đạt 459,36 điểm, tăng 90 % so với cuối năm 2006 (29/12/2006), giá trị giao dịch đạt 510,3 tỷ đồng (khoảng 31,9 triệu USD) vào ngày 19/03/2007 Tại sàn TPHCM, vào ngày 12/3, VN-Index (hay HoSTC-index) đạt 1170,67 điểm, tăng 56% so với cuối năm 2006 (29/12/2006) với tổng giá trị giao dịch vào khoảng 1.637 tỷ đồng (khoảng 102,3 triệu USD)
Biểu đồ 4: Chỉ số VN-Index và tổng khối lượng giao dịch hằng ngày trong giai đoạn từ đầu năm 2007 đến giữa tháng 03/2007
Trang 7Số lượng các Công ty niêm yết và đăng ký giao dịch trong giai đoạn này là 107 công ty, 2 chứng chỉ quỹ tại sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh (HoSTC) và
86 công ty tại sàn giao dịch Hà Nội (HaSTC) Tổng mức vốn hóa thị trường của
cổ phiếu niêm yết trong giai đoạn đầu đạt trên 300 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 20 tỷ USD), trong đó đỉnh điểm vào phiên giao dịch ngày 27/02/2007 tổng mức vốn hóa cả 2 thị trường là 398 nghìn tỷ đồng (24,88 tỷ USD) chiếm
khoảng 31% GDP (2006) và vượt qua mốc 30% mà Chính phủ đã định hướng
cho giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán đến năm 2010 So với cuối
năm 2006 tổng mức vốn hóa thị trường tăng hơn 36% Điều đáng lưu ý ở đây
là sự tăng trưởng này chủ yếu do sự tăng giá của các loại cổ phiếu chứ không phải tăng khối lượng cổ phiếu do có thêm công ty niêm yết trên sàn như vào thời điểm cuối năm 2006
Tổng giá trị mua trung bình của nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này tại sàn HoSTC cũng tăng cao và đạt khoảng 15,44 ngàn tỷ đồng (965 triệu USD) chiếm khoảng 30% tổng giá trị giao dịch của sàn HoSTC Mức giao dịch bình quân 1 ngày là 359 tỷ đồng (22,4 triệu USD) Mức cao nhất là trong phiên giao dịch ngày 01/02/2007, với giá trị giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài là khoảng 836,4 tỷ đồng (52,3 triệu USD) Trong giai đoạn này, nhà đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp niêm yết có quy mô vốn lớn, có thương hiệu và có kết quả kinh doanh tốt như: VNM (12,7 triệu cổ phiếu), PPC (11,5 triệu cổ phiếu), VSH (9,6 triệu cổ phiếu), PVD (5,8 triệu cổ phiếu), FPT (5,3 triệu cổ phiếu), CII (4,7 triệu cổ phiếu), GMD (4,7 triệu cổ phiếu), ITA (3,3 triệu cổ phiếu), TDH (3,2 triệu cổ phiếu), BMP (3,1 triệu cổ phiếu) (Số lượng mua đến ngày 12/03/2007)
Như vậy, trong giai đoạn này có một số yếu tố khách quan thuận lợi, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển Trong đó, đáng kể là số lượng cổ phiếu còn được phép mua của các cổ phiếu blue-chips trên thị trường dành cho nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mua vào Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia nhập WTO cũng như các hành lang pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán tạo tiền
đề tốt cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào thị trường
Không kém phần quan trọng là việc giai đoạn Quý I/2007 là thời điểm các Công
Trang 8ty niêm yết công bố kết quả tài chính của năm 2006 (Lợi nhuận của các công ty trên sàn TP.HCM tăng trưởng trung bình khoảng 49% so với năm 2005, không bao gồm VSH và PPC vì 2 công ty này thay đổi phương thức hoạch toán kế toán nên lợi nhuận năm 2006 tăng đột biến so với năm 2005) Hầu hết, các công
ty đặc biệt là các Công ty blue-chips có tốc độ tăng trưởng tốt về doanh thu lẫn lợi nhuận
Sự tăng trưởng nóng trên thị trường niêm yết đã dần tác động đến thị trường OTC và các đợt IPO làm cho giá cổ phiếu của các công ty cùng ngành với các công ty trên sàn tăng theo (giá đấu thành công bình quân của các đợt IPO giai đoạn này khá cao, ở mức 15-16 lần so với giá trị khởi điểm) Thêm vào đó, việc nhiều nhà đầu tư cá nhân thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ từ thị trường chứng khoán trong năm 2006 cũng tạo tiếng vang lớn thu hút thêm một lượng lớn những nhà đầu tư mới tham gia thị trường làm khối lượng tài khoản tăng lên từ khoảng 106.000 tài khoản vào cuối năm 2006 lên tới trên 200.000 vào đầu năm 2007
2.1.2 Giai đoạn điều chỉnh bắt đầu từ giữa tháng 3/2007
Sau khi chứng kiến thị trường chứng khoán tăng trưởng một cách chóng mặt trong giai đoạn đầu năm, các nhà đầu tư sớm nhận ra rằng thị trường nhanh chóng rơi vào tình trạng quá nóng và giá cả các cổ phiếu niêm yết trở nên quá đắt đỏ Các yếu tố này cùng với những khuyến cáo của Chính phủ và các tin hành lang về việc Chính phủ sẽ đưa ra các biện pháp kiềm chế sự tăng nóng của thị trường chứng khoán như biện pháp kiểm soát nguồn vốn (capital control) hoặc thuế đánh vào lợi nhuận đầu tư (capital gain taxations) đã nhanh chóng đưa Việt Nam vào một giai đoạn điều chỉnh từ giữa tháng 3/2007
Trong giai đoạn này, chỉ số chứng khoán của cả hai sàn Hà Nội, TP.HCM và giá cả trên thị trường OTC đều giảm mạnh vào cuối tháng 3 và tháng 4 sau đó dao động xung quanh mức 1.000 điểm với VN-Index và 300 điểm với HaSTC-Index
Trang 9Biểu đồ 5: Chỉ số VN-Index và tổng khối lượng giao dịch
Số lượng các Công ty niêm yết và đăng ký giao dịch trong giai đoạn này là 107 công ty, 2 chứng chỉ quỹ tại sàn HoSTC và 87 công ty tại sàn HaSTC Tổng giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu niêm yết thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn cuối tháng 6/2007 vào khoảng 207,4 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 12,96 tỷ USD) giảm 23.3% so với ngày 12/03/2007
Tổng giá trị mua trung bình của nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này tại sàn HoSTC giảm đáng kể và đạt khoảng 12,8 ngàn tỷ đồng (801 triệu USD) chiếm khoảng 17 % tổng giá trị giao dịch của sàn HoSTC Và giá trị giao dịch (mua) bình quân một ngày vào khoảng 170,8 tỷ đồng (10,7 triệu USD) giảm 52% so với giai đoạn 1
Các đợt IPO cũng diễn ra trong tình trạng khá ảm đạm, thậm chí có những cổ phiếu giá trúng nhỉnh hơn giá khởi điểm không đáng kể, việc nhà đầu tư cá nhân bỏ cọc diễn ra khá phổ biến
Trang 10Những nguyên nhân chính dẫn đến tình hình thị trường giai đoạn này
Những thông tin về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết chưa
có gì nổi bật Hầu hết các thông tin khả quan đều đã được thông báo trong Quý
I, vì vậy, không có động lực để đẩy thị trường đi lên trong giai đoạn này Thêm vào đó, chỉ số P/E toàn thị trường dao động trong khoảng từ 40-43 lần giai đoạn tháng 3/2007 cũng làm giảm tính hấp dẫn đối với không ít nhà đầu tư Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, trong quá khứ, hầu hết ở những thị trường mới nổi – như thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay – thì tình trạng tăng trưởng đột biến, dẫn đến chỉ số P/E được đẩy lên cao trong một khoảng thời gian ngắn đã
là một nét đặc trưng không thể thiếu Chính vì thế, việc so sánh P/E trong giai đoạn này với các thị trường khác trong khu vực – vốn đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau – sẽ là một hành động không mấy ý nghĩa
Trong giai đoạn này, Chính phủ có những cảnh báo về tình hình phát triển quá nóng của thị trường, các tổ chức tài chính lớn cũng đưa ra những nhận định không khả quan về thị trường Chính những điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lý của nhà đầu tư cá nhân trong nước, và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm của thị trường
Một lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa thể giải ngân vì tỷ lệ phần trăm nắm giữ cổ phiếu của hầu hết các công ty blue-chip đã đạt tới giới hạn tối đa là 49%
Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành vào thời điểm cuối tháng 6/2007 về việc “khống chế dư nợ tín dụng cho vay cầm cố chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng” đã ảnh hưởng đáng kể đến việc cho vay tiền mua chứng khoán của các ngân hàng đối với các nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân – một chủ thể chiếm
tỷ trọng không nhỏ trong giao dịch trên thị trường) Hầu hết các ngân hàng quốc doanh không mặn mà với việc cho vay để kinh doanh cổ phiếu Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần thì quan tâm hơn, nhưng dư nợ cho vay lại
Trang 11sản của khối ngân hàng) Do vậy, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều có tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán vượt quá tỷ lệ theo quy định tại chỉ thị
03 Thực trạng này đã ảnh hưởng đến lượng tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán khi việc vay tiền đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết và chưa niêm yết trở nên khó khăn hơn
Có thể thấy rằng, việc phát hành cổ phiếu ồ ạt của các doanh nghiệp, kể cả niêm yết lẫn chưa niêm yết trong giai đoạn này phần nào dẫn đến xu thế đi xuống của thị trường Có đến hơn 90% các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh phát hành thêm cổ phiếu với mục đích đầu tư vào ngành bất động sản (chủ yếu là để xây cao ốc và văn phòng cho thuê) Trên thực
tế, tình hình thiếu minh bạch của thị trường bất động sản cùng với nhu cầu đang tăng khá mạnh đã đẩy giá cho thuê văn phòng ở Việt Nam lên mức gần như cao nhất ở thị trường Đông Nam Á vào khoảng 40-42 USD/m2 đối với văn phòng loại A (chỉ sau Singapore) Tuy nhiên, mức tăng cầu của thị trường bất động sản không thể ở mức cao như hiện nay trong dài hạn Khi nhu cầu trở nên bão hòa, việc các doanh nghiệp bỏ quên lĩnh vực hoạt động chính của mình để đầu tư vào thị trường bất động sản có thể đem lại kết quả không khả quan Bên cạnh đó, hầu hết tất cả những doanh nghiệp lớn hiện nay điều có chiến lược giống nhau
là đa dạng hóa ngành nghề và chủ yếu nhắm vào đầu tư tài chính, thành lập ngân hàng, công ty chứng khoán như: SAM, REE, FPT, SJS, ITA, MPC, GMD
Trong khi tiềm năng phát triển trong các lĩnh vực hoạt động chính của các doanh nghiệp này vẫn còn rất cao Điều này thể hiện một sự luẩn quẩn trong việc hoạch định chiến lược phát triển và sử dụng nguồn vốn của các doanh nghiệp Chính vì vậy, một sự tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính mà công
ty đang có sẵn kinh nghiệm và lợi thế, tránh xao lãng vào những lĩnh vực ngoài tầm hiểu biết, mặc dù đem lại mức lợi nhuận cao trong ngắn hạn là điều đáng để xem xét khi ra quyết định đầu tư
2.2 Các đợt IPO và phát hành thêm giai đoạn 6 tháng đầu năm 2007
Cung về chứng khoán trong giai đoạn này đã tăng lên rõ rệt với hàng loạt các đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng và bán bớt phần vốn Nhà nước của các
Trang 12doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết Hầu hết các công ty đều có kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần.
Bảng 6: Khối lượng cổ phiều phát hành thêm và thưởng của một số doanh nghiệp tiêu biểu
Mã CK Tên công ty Số lượng LH đầu năm Phát hành thêm
(*) Bán bớt phần vốn Nhà nước
Ngoài ra, còn một loạt các đợt IPO lớn như: Vietcombank, Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL, SABECO đã không được thực hiện vào giai đoạn 6 tháng đầu năm như kế hoạch đặt ra Việc chuẩn bị phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp này vào cuối năm 2007 cũng là nguyên nhân làm cho một bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư tổ chức, giảm dần mối quan tâm vào các cổ phiếu blue-chips niêm yết trên sàn mà đang có khuynh hướng chờ đợi đợt phát hành của các doanh nghiệp này để hạn chế rủi ro
Trong 6 tháng đầu năm, mới chỉ hơn 40 doanh nghiệp đã được tổ chức đấu giá
cổ phần hóa nhưng đã cung cấp cho thị trường một lượng lớn hàng hóa, trong
đó điển hình một số trường hợp phát hành cổ phiếu có quy mô lớn như sau:
Bảng 7: Thống kê giá khởi điểm, số lượng trúng, ngày đấu, giá trúng bình quân của các công ty IPO tiêu biểu
Cổ phiếu/ Trái phiếu Giá khởi điểm
(000VND)
Giá trúng
BQ
Ngày đấu giá
Số lượng đấu giá (000cp)
Số lượng lưu hành (000cp)
Công ty kinh doanh khí
Trang 13Cổ phiếu/ Trái phiếu
Giá khởi điểm (000VND)
Giá trúng
BQ
Ngày đấu giá
Số lượng đấu giá (000cp)
Số lượng lưu hành (000cp)
Công ty kinh doanh khí
Công ty Nhiệt điện Ninh
Công ty Phân Đạm và Hóa
Công ty Kinh doanh Khí
Tổng công ty Bảo Hiểm
Công ty Thuỷ điện Thác
Công ty Tư vấn Xây dựng
Nguồn: Ủy ban Chứng Khoán Nhà Nước
► Việc nguồn cung tăng lên nhanh chóng trong khi đó mức cầu lại bị hạn chế
do chủ trương xiết chặt tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đã tạo ra sự điều chỉnh của thị trường Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư được quản lý bởi các ngân hàng đầu tư nước ngoài vẫn hạn chế tham gia thị trường OTC như ML, UBS, JPM, Citibank,v.v… Bởi những nguyên nhân trên, giá đấu thành công bình quân của các đợt IPO bị điều chỉnh tại những mức giá gần với mức giá khởi điểm và đôi lúc, thấp hơn rất nhiều so với giá giao dịch trên thị trường OTC thời điểm ngay trước khi đấu giá Điều này cũng là nguyên nhân kéo theo việc giảm giá của các công ty niêm yết trên thị trường đặc biệt là các cổ phiếu trong ngành Sự xuất hiện của những hàng hóa tốt, với mặt bằng giá không cao đã đem lại sức hấp dẫn mới cho thị trường Sức kháng cự của thị trường thể hiện rõ khi VN-Index giảm xuống gần mức 900 điểm, các lệnh mua lớn lập tức xuất hiện và đẩy thị trường quay đầu
Như vậy, xét trên bình diện chung, tại thời điểm tháng 7/2007, thị trường chứng khoán đang dần chuyển biến với những đặc điểm hấp dẫn riêng Hiện tại, mức sinh lời không thực sự hấp dẫn của tiền gửi ngân hàng trong điều kiện lạm phát tăng cao sẽ góp phần thúc đẩy sự quan tâm nhiều hơn đến thị trường chứng khoán vào 6 tháng cuối năm Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang tăng cường mua vào rất nhiều mã cổ phiếu trên cả 2 sàn giao dịch Thời điểm này đang tạo