1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu tham khảo về Quyền chọn

25 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và thị trường chứng khoán Pacific PSE thực hiện tương tự vào năm 1976.Khoản đầu thập niên 80 khối lượng giao dịch tăng lên nhanh đến mức mà sốlượng cổ phiếu theo hợp đồng quyền chọn bán

Trang 1

I TỔNG QUAN HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN

1 Lịch sử hình thành thị trường quyền chọn.

Giao dịch đầu tiên của thị trường quyền chọn bán và quyền chọn mua bắtđầu ở châu Âu và châu Mỹ từ đầu thế kỷ 18 Những năm đầu thị trường hoạtđộng thất bại vì nạn tham nhũng Một trong những người có liên quan là nhà

mô giới có quyền chọn về một loại cổ phiếu nhất định đã ăn hối lộ để giớithiệu cho khách hàng của họ

Vào đầu những năm 1900, hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanhquyền chọn (option) ra đời Nhà đầu tư muốn mua quyền chọn sẽ liên hệ vớimột công ty thành viên, công ty này sẽ tìm người bán quyền chọn từ kháchhàng của công ty hoặc của các công ty thành viên khác Nếu không có ngườibán, công ty đó sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp Thị trườnghoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập trung OTC (over-the-counter), các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch

Tháng 4 năm 1973 Chicago Board of Trade lập thị trường mới, ChicagoBoard Options Exchange, đặc biệt dành cho trao đổi option về cổ phiếu Từ

đó thị trường quyền chọn trở nên phổ biến đối với các nhà đầu tư Thị trườngchứng khoán Mỹ ( The American Stock Exchange _AMEX) và thị trườngchứng khoán Philadelphia (PHX) bắt đầu thực hiện giao dịch vào năm 1975

Và thị trường chứng khoán Pacific (PSE) thực hiện tương tự vào năm 1976.Khoản đầu thập niên 80 khối lượng giao dịch tăng lên nhanh đến mức mà sốlượng cổ phiếu theo hợp đồng quyền chọn bán hàng ngày vượt quá khốilượng giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York

Trong thập niên 80 thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứngkhoán và hợp đồng future đã phát triển ở Mỹ Thị trường chứng khoánPhilaphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên Thị trường ChicagoBoard Options Exchange trao đổi quyền chọn chỉ số chứng khoán của SP

100 và SP 500 Thị trương chứng khoán Mỹ giao dịch option về chỉ sốchứng khoán của một số thị trương chính và thị trường chứng khoánNewYork giao dịch chỉ số NYSE Hầu hết các thị trương đều giao dịchoption đối với các hợp đồng future Chicago Board of Trade giao dịch quyềnchọn đối với những hợp đồng future về bắp…

2 Mức độ phát triển hiện nay.

a Các nước trên thế giới.

Trang 2

Khi xã hội ngày càng phát triển, giao dịch quyền chọn ngày càng trởnên phổ biến hơn, lan rộng sang Anh, Brazil, Đức, Pháp, Nhật Bản,Singapore, Hồng Kông và Australia Việc toàn cầu hoá thị trường thế giới đãtạo ra nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 trong ngày Thị trường

Mỹ đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ra những sản phẩm giao dịchquốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một sàn giao dịch điện tử

Những hệ thống đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển)

và Project A (được CBOT) phát triển Ở Đức, Deutsche TerminborseExchange đã bỏ kiểu giao dịch đấu giá mở, thay vào đó vận hành sàn giaodịch điện tử Trên hệ thống GLOBEX, các nhà đầu tư cá thể có thể giao dịchdựa trên chỉ số SP500, SP500 mini và NASDAQ 100 và các hợp đồng con.Các nhà đầu tư cá thể cũng có thể mua bán ngoại hối trên GLOBEX

Trên hệ thống Project A (hiện tại là hệ thống Eurex (Tháng 8/2000,CBOT xây dựng Eurex, tất cả các giao dịch trên Project A đều được thựchiện tại Eurex)), các nhà đầu tư cá thể có thể mua bán trái phiếu T-bonds vàtín phiếu, quyền chọn, và tất cả các sản phẩm ngũ cốc trên CBOT Giao dịchđiện tử được thiết kế để hỗ trợ việc đấu giá mở ngoài giờ giao dịch chínhthức

b Việt Nam.

Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những công cụ pháisinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểmvốn có của nó trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng tháităng liên tục Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàngđầu tiên được phép thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất Các giao dịchquyền chọn lãi suất được phép thực hiện đối với những khoản cho vay và đivay trung hạn (dưới 5 năm) bằng USD hoặc bằng EURO và chỉ được thựchiện đối với các DN hoạt động tại VN, các NHTM hoạt động ở VN đượcNHNN cho phép và các NH ở nước ngoài Sau BIDV là hàng loạt cácNHTM khác, bao gồm cả NHTM cổ phần cũng được cho phép thực hiệnnghiệp vụ này

Bên cạnh quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ cũng được nhiềungân hàng cung cấp, điển hình là BIDV, Eximbank, ACB, Techcombank,Agribank, Citibank, Vietcombank, ICB, và ngân hàng Hồng Kông bank chinhánh thành phố HCM Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các

DN và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông quamột tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện Đặc biệt,quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩutrong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp

Trang 3

dụng cho nhà xuất khẩu Sau khi NHNN cho phép ACB, Sacombank vàAgribank thực hiện quyền chọn mua bán vàng, ngày 10/12/2004 ACB làngân hàng đầu tiên công bố triển khai dịch vụ này Dịch vụ này được tung ratrong bối cảnh trong nước và quốc tế giá vàng liên tục tăng, tuy nhiên cũngcần có thời gian để đo lường mức độ đón nhận của thị trường đối với công

cụ Tới nay, đã có rất nhiều ngân hàng được phép của Ngân hàng nhà nướccho phép thực hiện các nghiệp vụ Option Đặc biệt, Ngân hàng nhà nướccũng đã cho phép thực hiện các Options tiền Đồng tại BIDV, ngân hàngthương mại cổ phần Á Châu, ngân hàng cổ phần thương mại quốc tế Vớinghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VND sẽ có

cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới Vị thế của VND và ViệtNam cũng qua đó mà tăng lên Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểmnên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện Nhìn chung, hoạtđộng này đang đem lại một cơ cấu sản phẩm hiện đại cho các ngân hàngtrong điều kiện hội nhập Hơn nữa, nhu cầu của khách hàng đối với các giaodịch Options đang có xu hướng tăng, do vậy ngân hàng nhà nước đã tiếnhành gia hạn thí điểm hợp đồng các nghiệp vụ này

Quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuấtkhẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọnbán áp dụng cho nhà xuất khẩu Sau khi NHNN cho phép ACB, Sacombank

và Agribank thực hiện quyền chọn mua bán vàng, ngày 10/12/2004 ACB làngân hàng đầu tiên công bố triển khai dịch vụ này Dịch vụ này được tung ratrong bối cảnh trong nước và quốc tế giá vàng liên tục tăng, tuy nhiên cũngcần có thời gian để đo lường mức độ đón nhận của thị trường đối với công

- Tên hàng hoá cơ sở

- Khối lượng giao dịch

- Ngày đáo hạn

Trang 4

- Quyền chọn chỉ số: Một chỉ số chứng khoán là một chỉ tiêu đo lường tổnggiá trị của một nhóm các cổ phiếu được chỉ định Nó là một chỉ tiêu tươngđối, thể hiện giá trị tương đối so với giá trị trước đó

Đối với quyền chọn chỉ số, chúng ta hiểu các mức yết giá là giá trị thị trườngcủa cổ phiếu so với một mức giá trị cơ sở, được thiết lập từ nhiều năm trước,khi chỉ số được khởi tạo

S&P 500, NASDAQ 100, chỉ số Bình quân Công nghiệp Dow Jones

- Quyền chọn tiền tệ: Một đồng tiền có thể được xem là một tài sản, giốngnhư cổ phiếu hoặc trái phiếu Giống như giá cổ phiếu và trái phiếu, giá tiền

tệ, tức là tỷ giá, rất biến động trên thị trường

Một hợp đồng quyền chọn tiền tệ qui định cụ thể giá thực hiện, được thểhiện dưới dạng tỷ giá, ngày đáo hạn, định dạng tiền tệ cơ sở, qui mô hợpđồng, nhiều chi tiết khác tương tự như quyền chọn cổ phiếu và chỉ số, và dĩnhiên là có giá quyền chọn

- Quyền chọn thực: là quyền chọn thường được thấy trong các quyết địnhđầu tư của công ty các quyết định này thường được gọi là đâu tư thực

2 Phân loại hợp đồng quyền chọn.

a Căn cứ vào quyền của người sở hữu quyền chọn.

Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịchmột lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trảcho người bán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hayphí quyền chọn (options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng khôngbắt buộc phải mua một lượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã đượcthoả thuận trước vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trongtương lai B nhận được tiền từ A nên B có trách nhiệm phải bán lượng tài sản

cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa thuận vào ngày đáo hạn (nếu là quyềnchọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký

Trang 5

hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi A muốn thựchiện quyền mua của mình

Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), saukhi xem xét với mức giá giao ngay của tài sản cơ sở ở ngày này, nếu thấy cólợi cho mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, A có thể thực hiệnquyền của mình để được mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện, rồi

ra thị trường bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận Nếu thấygiá của tài sản cơ sở dưới giá thực hiện, A có thể không cần phải thực hiệnquyền mua của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịchmột lượng tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trảcho người bán Put options (D) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn bánhay phí Put options và C sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bánlượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện)vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai D nhậnđược tiền từ C, nên có nghĩa vụ phải mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giáthực hiện vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kìngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu

là quyền chọn kiểu Mỹ), khi C muốn thực hiện quyền được bán của mình

Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), saukhi xem xét giá giao ngay của tài sản cơ sở trên thị trường, nếu thấy có lợicho mình, tức mức giá này nhỏ hơn giá thực hiện, C có thể thực hiện quyềncủa mình để được bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện sau khi đãmua được ở ngoài thị trường với giá thấp hơn để thu một khoảng lợi nhuận.Nếu thấy giá giao ngay cao hơn giá thực hiện, C có thể không cần phải thựchiện quyền chọn bán của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn

b.Căn cứ vào cách thời điểm thực hiện quyền chọn.

Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options): Là quyền chọn chỉ chophép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáohạn của hợp đồng Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làmviệc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vàongày đáo hạn

Quyền chọn kiểu Mỹ (American options): Là quyền chọn cho phép ngườinắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nàotrong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết

Trang 6

ngày đáo hạn của hợp đồng Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng haingày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xácnhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng)

c Căn cứ theo thị trường giao dịch.

Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: Là quyền chọnđược tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn,được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thịtrường chứng khoán New York…Do đó, tính minh bạch của thị trường rấtcao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bốchi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giaodịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác Đặc biệt, các hợp đồng quyềnchọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, điều nàycho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịchtrên các thị trường tập trung kiểu này Trên thế giới, thị trường giao dịchquyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trịgiao dịch quyền chọn của thế giới

Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): Làthỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ratheo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một ngườimua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung Hợp đồngthường được giao dịch giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàngvới khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp Do các hợp đồng quyền chọnkhông được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nêntính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu

cá biệt của các khách hàng Dù vậy, các giao dịch quyền chọn phi tập trungkiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới

d Căn cứ theo tài sản cơ sở.

Theo cách phân loại này thì có vô số loại hợp đồng quyền chọn, vì trên lýthuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọndựa trên nó Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau:

Đối với hàng hóa: bao gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép,ngũ cốc, khí đốt…

Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông…

Trang 7

Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoánđổi, chỉ số chứng khoán…

Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tàichính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quantrọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn

Mặc dù các giao dịch quyền chọn phi tập trung chỉ chiếm khoảng 2%tổng giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới Nhưng ở Việt Nam hiện nay,

do thị trường quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa phát triển nên các giao dịchquyền chọn phi tập trung chiếm một tỉ trọng tuyệt đối, đặc biệt là quyềnchọn ngoại tệ

3 Đặc trưng của hợp đồng quyền chọn trên cổ phiếu.

a Giá cổ phiếu và giá thực hiện.

Nếu một quyền chọn mua được thực hiện ở một thời điểm trong tương laithì khoản lợi nhuận thu được sẽ bằng khoảng lớn hơn của giá cổ phiếu so vớigiá thực hiện Do đó nếu giá cổ phiếu tăng thì giá của quyền chọn mua sẽtăng và nếu giá thực hiện tăng thì giá của quyền chọn mua sẽ giảm Với mộtquyền chọn bán, lợi nhuận thu về nếu quyền chọn được thực hiện sẽ bằngkhoảng lớn hơn của giá thực hiện so với giá cổ phiếu Như thế giá quyềnchọn bán sẽ tăng nếu như giá thực hiện tăng và giảm nếu như giá cổ phiếutăng

b Khoảng thời gian từ thời điểm hiện tại cho đến lúc đáo hạn.

Yếu tố này có tác động rõ ràng hơn đến quyền chọn kiểu Mỹ (cả mua vàbán), nếu như thời gian còn lại cho đến lúc đáo hạn càng dài thì giá củaquyền chọn sẽ càng cao Xét với hai quyền chọn giống nhau về cá yếu tốkhác ngoại trừ thời gian cho đến ngày đáo hạn Người sở hữu quyền chọn cóthời gian dài hơn rõ ràng có nhiều thời gian để lựa chọn thực hiện quyền hơnngười sở hữu quyền chọn ngắn hơn

Với quyền chọn kiểu Châu Âu, thời gian đến ngày đáo hạn không thực sự

có ảnh hưởng đến giá quyền chọn do cả 2 quyền nói trên đều chỉ có thể thựchiện ở thời cùng một thời điểm là ngày đáo hạn Thậm chí trong nhiều

Trang 8

trường hợp quyền chọn ngắn hơn có thể có giá cao hơn, chẳng hạn như haiquyền chọn mua có chung mọi đặc tính, một quyền sẽ đáo hạn trong 1 thángnữa, quyền còn lại đáo hạn trong 2 tháng Nếu cổ phiếu có trả cổ tức và thờiđiểm thanh toán là 6 tuần nữa, thì do tác động của việc trả cổ tức, quyềnchọn đáo hạn trong 1 tháng hơn sẽ có giá cao hơn.

c Độ bất ổn của giá cổ phiếu.

Định nghĩa chính xác về độ bất ổn sẽ được giới thiệu trong phần mô hìnhBlack-Scholes, ở đây có thể hiểu đơn giản nhất độ bất ổn là một thước đomức độ không chắc chắn của bản thân nhà đầu tư vào biến động trong tươnglai của giá cổ phiếu Độ bất ổn càng cao thì khả năng giá cổ phiếu có thể lênrất cao hoặc xuống rất thấp cũng tăng cao Người sở hữu cổ phiếu có thể coihai xu hướng này “triệt tiêu” lẫn nhau và không quá lo lắng Tuy nhiênngười sở hữu quyền mua hay quyền bán thì không như vậy Người sở hữuquyền mua sẽ có lợi nếu như giá cổ phiếu tăng lên nhưng họ chỉ phải chịurủi ro có giới hạn nếu giá giảm, mức lỗ cao nhất họ phải chịu chính bằng giácủa quyền mua Với người sở hữu quyền bán, họ sẽ có lợi nếu như giá của

cổ phiếu giảm mạnh và họ chỉ phải chịu rủi ro có giới hạn nếu giá tăng, lỗcao nhất phải chịu cũng chính là giá của quyền mua Vì lý do này, giá củaquyền chọn mua và quyền chọn bán sẽ tăng cao nếu như độ bất ổn của cổphiếu tăng

d Lãi suất phi rủi ro.

Tác động của lãi suất phi rủi ro đến giá của quyền chọn cổ phiếu khôngthực sự rõ ràng như những trường hợp trước Khi lãi suất phi rủi ro trongnền kinh tế tăng tỉ lệ tăng trưởng kỳ vọng với giá cổ phiếu cũng sẽ có xuhướng tăng Đồng thời giá trị hiện tại của các dòng tiền mà nhà đầu tư kỳvọng sẽ nhận được trong tương lai sẽ giảm Hai tác động này đều có xuhướng làm giảm giá của quyền chọn bán Do đó giá quyền chọn bán có xuthế giảm khi lãi suất phi rủi ro trên thị trường tăng Với quyền chọn mua, tácđộng đầu tiên có xu thế làm tăng giá quyền nhưng tác động thứ hai lại có xuthế làm giảm giá quyền Tuy nhiên tác động thứ nhất luôn lấn át tác động thứ

2 do đó khi lãi suất phi rủi ro tăng thì giá quyền chọn bán cũng tăng

Cần nhấn mạnh lại những tác động kể trên chỉ được nghiên cứu trongtình huống các yếu tố khác không đổi, điều này là không có thực đặc biệt khimột nhân tố quan trọng trong nền kinh tế là lãi suất phi rủi ro thay đổi Thực

tế cho thấy giá cổ phiếu có xu thế biến động ngược chiều với biến động của

Trang 9

lãi lãi suất phi rủi ro Tác động cộng gộp của lãi suất và giá có thể mang đếnnhững kết quả rất khác.

e Cổ tức kỳ vọng sẽ thanh toán trong khoảng thời gian quyền có hiệu lực.

Cổ tức làm cho giá cổ phiếu giảm xuống trong ngày giao dịch khônghưởng quyền Đây là thông tin “xấu” với giá của quyền chọn mua và làthông tin “tốt” với giá của quyền chọn bán Như thế giá của quyền chọn mua

có tương quan ngược chiều và giá quyền chọn mua có tương quan cùngchiều với những dự báo về quy mô trả cổ tức

III CƠ CHẾ GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN

1 Sàn giao dịch quyền chọn.

Sàn giao dịch quyền chọn là những nơi quyền chọn được niêm yết vàgiao dịch Việc giao dịch quyền chọn cổ phiếu( và các quyền chọn chứngkhoán khác) trên sàn giao dịch cũng tương tự như giao dịch cổ phiếu Mỗiquyền chọn được ấn định tại một địa điểm cố định trên sàn và mọi giao dịchcủa quyền chọn này diễn ra tại đó

Các quyền chọn giao dịch tại sàn còn gọi là quyền chọn niêm yiết, domột cơ quan của sàn giao dịch là “Công ty thanh toán bù trừ hợp đồng quyềnchọn” phát hành.Mọi giao dịch về quyền chọn được thực hiện thông qua hệthống máy tính và được thể hiện trong tài khoản của các nhà mô giới tại sàn

và không có bất kỳ chứng thư nào được phát hành trong giao dịch này

2 Các nhân viên trên sàn giao dịch.

Có hai hệ thống giao dịch hiện nay đó là hệ thống giao dịch dựa vào cácchuyên gia và hệ thống dựa vào những nhà tạo lập thị trường và nhân viênlưu trữ lệnh Tuỳ vào việc ứng dụng hệ thống giao dịch nào mà mỗi sàn cónhững thành viên cụ thể Nhiệm vụ của các nhân viên như sau:

a Nhà tạo lập thị trường.(Maket maker):

Nhà tạo lập thị trường là một trong số thành viên của sàn giao dịch họmua bán bất cứ quyền chọn cổ phiếu nào theo yêu cầu của các viên chức sởgiao dịch hoặc theo yêu cầu nào đó đang có lệnh mua bán của khách hàng.Khi được yêu cầu nhà tạo lập thị trường thường đưa ra cả giá hỏi mua và giá

Trang 10

chào bán Giá hỏi mua là giá mà tại đó nhà tạo lập thị trường sẵn sàng mua,

và giá chào bán là giá mà tại đó nhà tạo lập thị trường sẵn sàng bán Vào lúcgiá hỏi mua và giá chào bán được niêm yiết, nhà tạo lập thị trường khôngbiết rằng người kinh doanh đã yêu cầu niêm yiết đang muốn mua hay muốnbán Giá chào bán luôn cao hơn giá hỏi mua Chênh lệch giữa giá mua và giábán chênh lệch không được quy định cụ thể nhưng luôn có một giới hạn trên

Ví dụ: mức chênh lệch không được cao hơn 0.25$ đối với các quyềnchọn so với giá thấp hơn 0.5$; không đươc cao hơn 0.5$ đối với các quyềnchọn có giá từ 0.5$ đến 10$

Với đặc điểm mua bán nêu trên nhà tạo lập thị trường tự tao ra lợi nhuậncho mình từ chênh lệch giá mua và giá bán Đồng thời họ cũng làm tăng khảnăng linh hoạt cho thị trường vì sự có mặt của họ trên sàn giao dịch đảm bảolệnh mua và lệnh bán có thê luôn được thực hiện một vài mức giá nhanchóng

b Nhân viên lưu trữ lệnh

Nhân viên lưu trữ lệnh có nhiệm vụ lưu giữ các lệnh giớ hạn và duy trìcác lệnh thị trường một cách trật tự, họ không kinh doanh cho tài khoản củahọ

Quy trình lưu trữ lệnh được thực hiện như sau: khi người mô giới trênsàn nhận được lệnh giới hạn, anh ta sẽ chuyển lệnh tới nhân viên lưu trữlệnh Nhân viên này đưa lệnh vào máy tính cùng với những lệnh giới hạnkhác để đảm bảo rằng ngay khi đạt đến giới hạn, lệnh sẽ được thực hiện.Những thông tin về tất cả các lệnh giới hạn chưa được thực hiện được công

bố cho tất cả các nhà kinh doanh Trên hệ thống giao dịch dự vào các chuyêngia thì không có các nhân viên lưu trữ lệnh vì như trên đã nói các chuyên giachính là những người lưu trữ lệnh

c Chuyên gia (speacialist):

Theo hệ thống giao dịch dựa vào chuyên gia, nhân viên với chức danh làchuyên gia có nhiệm vụ như nhà tạo lập thị trường và giữ hồ sơ lệnh giớihạn Không giống như các nhân viên lưu trữ lênh, chuyên gia không thôn gtin về lệnh giới hạn sẵn có cho những nhà kinh doanh khác

Cũng giống như các chuyên gia trên sàn giao dịch cổ phiếu, các chuyêngia của sàn giao dịch quyền chọn vừa thực hiện các lệnh do các nhà mô giới

Trang 11

đưa đến vừa kinh doanh kiếm lời cho họ Nhiệm vụ của các chuyên gia làduy trì thị trường hoạt động ổn định và có trật tự.

d. Nhà môi giới trên sàn (floor broker):

Nhà mô giới trên sàn là những nhà môi giới làm việc trên sàn giao dịch,thực hiện giao dịch cho khách hàng của công ty mình Khi nhà đầu cơ đặtlệnh cho công ty chứng khoán các lệnh này sẽ được chuyển đến các nhânviên môi giới trên sàn Nhà môi giới tiến hành các giao dịch với các nhà môigiới khác trên sàn và với các nhà tạo lập thị trường để thực hiện lệnh nhậnđược

Nhà môi giới tự do: trên sàn giao dịch ngoài những nhân viên môi giớilàm việc cho cả công ty chứng khoán còn có những nhà môi giới tự do lànhững người thực hiện các lệnh của bất kỳ công ty chứng khoán nào thuê họ

để hưởng huê hồng

3 Lệnh và các loại lênh giao dịch quyền chọn

a Lệnh giao dịch quyền chọn.

Khi một khách hàng muốn mua hay bán một loại quyền chọn nào đó, anh

ta đến công ty chứng khoán nơi môi giới của anh ta làm việc hoặc gọi điệncho môi giới của anh ta để đặt lệnh Sau khi nhận lệnh môi giới của công tychứng khoán truyền lệnh đến môi giới của công ty tại sàn Tại sàn giao dịchmôi giới của sàn nhận lệnh và đặt lệnh mua bán cho các chuyên gia

Lệnh mua bán tại sàn giao dịch là lệnh điện tử được lưu trong máy tính vàkhông có phiếu lệnh như các giao dịch thông thường Một lệnh mua hay bánquyền chọn chứa đựng các thông tin sau:

- Số tài khoản của khách hàng của nhân viên đại diện có đăng ký

- Sàn giao dịch nơi quyền chọn được giao dịch

- Cách thức nhận lệnh

- Mua hay bán

- Loại quyền chọn( put hay call)

Trang 12

- Số lượng quyền chọn muốn mua hay bán.

- Cổ phiếu cơ sở,tháng đáo hạn, giá thực hiện

- Giao dịch mở hay giao dịch đóng

- Lệnh thị trường hay lệnh giới hạn

- Loại tài khoản( tiền mặt hay ký quỹ)

- Lệnh có được yêu cầu hay không

- Khoảng thời gian giá trị của lệnh: lệnh ngày hay lệnh thời gian khác

- Lệnh được đặt cho các phương án straddle, combination hay spread

- Có phải là tài khoản tự quyết hay không

b Các loại lệnh giao dịch quyền chọn.

Tương tự như mua bán cổ phiếu các nhà đầu tư có thể lựa chọn và đặtlệnh thích hợp với mong muốn trong hệ thống rất nhiều loại lệnh được ápdụng như: lệnh thị trường (market order) lênh giới hạn ( limit order); lệnhdừng (stop order); lệnh dừng giới hạn (stop limit order)

Để hướng dẫn thực hiện các lệnh về thời gian có các lệnh sau: lệnh ngày;lệnh có giá trị đến cùng ( good till cancelled-GTC); lệnh tuỳ ý (not heldorder-NH); lệnh ngay lập tức hoặc không (Immediate ỏ cancel order-IOC);lệnh tất cả hoặc không (All or none order- AON)

c Xác định giá mở cửa và giá đóng cửa.

Ngày đăng: 25/05/2019, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w