1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ Sở hữu trí tuệ

17 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 51,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. So sánh cơ chế bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh 2. Công ty Tân Tân sở hữu độc quyền công nghệ gia truyền trong việc sản xuất đậu phộng da cá. Năm 2002, Công ty thuê anh T vào làm quản đốc phân xưởng sản xuất. Qua thời gian làm việc, T đã cố tình tìm hiểu và thu nhập được thông tin về công nghệ trên. Năm 2007, T xin nghỉ việc và được nhận vào làm việc tại công ty Oishi. Anh T đã cung cấp thông tin về công nghệ trên cho công ty Oishi và Công ty Oishi đã áp dụng để sản xuất đậu phộng da cá cạnh tranh với sản phẩm của Tân Tân. Theo anh (chị) Công ty Tân Tân có thể kiện anh T hay Công ty Oishi không? Tại sao?

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiện nay, với sự phát triển và mở rộng của nền kinh tế Việt Nam và hội nhập với nền kinh tế thế giới các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng ý thức rõ hơn về vai trò của các tài sản trí tuệ đối với quá trình hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại có nhiều cách đánh giá khác nhau về vai trò của mỗi loại đối tượng sở hữu trí tuệ Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã nhận thức khá đầy đủ và biết bảo vệ các đối tượng như nhãn hiệu, sáng chế, k iểu dáng công nghiệp khi tiến hành đăng ký bảo

hộ cho các đối tượng này trước khi thực hiện việc kinh doanh các sản phẩm mới hoặc đưa ra thị trường các giải pháp, sản phẩm sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp Nhưng trên thực tế, có những đối tượng sở hữu công nghiệp chưa được chú trọng bảo

vệ chu đáo, một trong số những đối tượng này là Bí mật kinh doanh

Mặt khác, giữa bí mật kinh doanh và sáng chế tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng lại có cơ chế bảo hộ tương đối khác nhau Vậy một doanh nghiệp nên lựa chọn hình thức bảo hộ nào khi có những sáng tạo đem lại lợi ích cho doanh nghiệp Để đi tìm đáp án cho câu hỏi này, em xin lựa chọn đề bài 4 để nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ

NỘI DUNG

I Câu hỏi lý thuyết

1 So sánh cơ chế bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh.

*Khái niệm;

- Sáng chế: Theo pháp luật SHTT Việt Nam, Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên Bao gồm sáng chế là sản phẩm dưới dạng một kết cấu như máy móc, thiết bị, linh kiện, dụng cụ, v.v., sáng chế là sản phẩm dưới dạng một chất như vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm v.v., sáng chế là quy trình như quy trình công nghệ, phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý, sản xuất, chế tạo, v.v Những vấn đề sáng chế cần giải quyết chính là những lợi ích mà sáng chế mang lại cho con người

- Bí mật kinh doanh:

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì: “bất kỳ thông tin bí mật kinh doanh nào mà cung cấp cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh đều có thể được coi là một bí mật thương mại… các đối tượng của bí mật thương mại thường được xác định trong các điều khoản mở rộng và gồm có: phương pháp bán hàng, phương pháp phân phối, thông tin tiêu dùng, chiến lược quảng cáo, danh sách nhà cung cấp và khác hàng

và quá trình sản xuất…”

Trang 2

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, định nghĩa bí mật kinh doanh được quy định tại Khoản 23 Điều 4 Luật SHTT Theo đó, “bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng được sử dụng trong kinh doanh” Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, đối tượng được bảo hộ với tư cách là bí mật kinh doanh phải là nội dung

Có thể hiểu đơn giản bí mật kinh doanh được hiểu là thông tin liên quan đến sản xuất kinh doanh, được giữ bí mật và qua đó có một giá trị kinh tế nhất định bởi nó tạo cho người nắm giữ thông tin một lợi thế trước những đối thủ cạnh tranh Ví dụ như những công thức pha chế, quy trình sản xuất, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, nguyên nhân thất bại trong một sản phẩm mới,…

Sự giống nhau giữa cơ chế bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh +Trước hết, đều là những cơ chế bảo hộ đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam Mà cụ thể hơn còn là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, người đã đầu tư tài sản, trí tuệ để tạo

ra, đồng thời chống lại hành vi bất hợp pháp của các chủ thể khác xâm phạm quyền lợi của chủ sở hữu Do đó, chịu sự điều chỉnh chung và có các đặc điểm chung của các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp

+ Đều có quyền ngăn cấm các đối tượng khác sử dụng nhằm đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu – người đã bỏ công sức, chi phí để nghiên cứu, sáng tạo ra chúng

+ Tuy nhiên, sự độc quyền đối với bí mật kinh doanh cũng như sáng chế không phải là sự độc quyền tuyệt đối, không có nghĩa là duy nhất chủ sở hữu mới có thể sử dụng Những người khác không phải là chủ sở hữu có thể sử dụng BMKD trên cơ sở thiết lập các mối quan hệ tin cậy trên cơ sở hợp đồng với chủ sở hữu Đối với sáng chế thì có thể sử dụng trên cơ sở được sự cho phép, đồng ý của chủ sở hữu

+ Về điều kiện bảo hộ: Hai cơ chế bảo hộ này có điều kiện bảo hộ khác nhau khá nhiều tuy nhiên giống nhau ở chỗ đều phải có tính sáng tạo Đối với sáng chế, tính sáng tạo được quy định rõ ở điều kiện thứ hai tại Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ (Điều 58) và quy định cụ thể tại Điều 61 Luật SHTT Còn đối với bí mật kinh doanh, không quy định rõ ràng là cần có tính sáng tạo Tuy nhiên có quy định

“Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được” Đây có thể coi là điều kiện về tính sáng tạo của bí mật kinh doanh Tri thức, thông tin chỉ được bảo hộ là

bí mật kinh doanh nếu nó là thành quả của một quá trình đầu tư tài chính và trí tuệ của chủ sở hữu

+ Ý nghĩa bảo hộ: Việc bảo hộ hai đối tượng này đều sẽ khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo Việc cho phép độc quyền sẽ tạo ra cho chủ sở hữu, chủ thể đã đầu tư sáng tạo ra ý tưởng những lợi ích vật chất nhất định, đủ để bù đắp và trả công

Trang 3

xứng đáng cho việc đầu tư và sáng tạo của họ, từ đó khuyến khích họ tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Sự khác nhau giữa sáng chế và bí mật kinh doanh + Thứ nhất, về căn cứ xác lập quyền: Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bàng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Còn đối với bí mật kinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ

sở có được một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh Như vậy,

có thể thấy, khác biệt rõ nhất của hai cơ chế này là ở việc đăng ký bảo hộ

+ Thứ hai, về cách thức bảo hộ: Trong khi sáng chế sau khi đã đăng ký bảo hộ thì

sẽ được nghiêm cấm các hành vi sử dụng trái phép của các chủ thể khác một cách công khai Do đó, các chủ sở hữu sáng chế chỉ cần phát hiện và kiện các chủ thể vi phạm Còn đối với bí mật kinh doanh, mong muốn của các chủ thể khi sử dụng hình thức bảo

hộ này rõ ràng là không muốn người khác biết được các BMKD đó Cho nên họ phải

áp dụng rất nhiều những biện pháp bảo mật khác nhau để bảo mật BMKD Đôi khi các chi phí cho việc thực hiện các biện pháp này còn đắt đỏ hơn cả chi phí bảo hộ sáng chế Các biện pháp mà các doanh nghiệp có thể áp dụng như là: Giáo dục nhân viên: thường xuyên nhắc nhở, kiểm tra vi phạm…; Hạn chế tiếp cận: chỉ nên bộc lộ bí mật kinh doanh đối với những người cần phải biết thông tin đó; và hạn chế sự tiếp cận của từng nhân viên vào cơ sở dữ liệu thông tin cần bảo mật…; Cách ly và bảo bộ về mặt vật lý: có thể thực hiện các biện pháp như nộp lưu có khóa riêng biệt; kiểm soát truy cập; xé nhỏ thông tin; kiểm tra giám sát thường xuyên; Cách ly và bảo hộ dữ liệu điện tử: như kiểm soát truy cập; mã hóa, xây dựng tường lửa; giám sát kiểm tra dữ liệu đi

và đến… Tất nhiên, không chỉ là những biện pháp phòng ngừa, mà khi phát hiện có chủ thể “đánh cắp” hoặc bộc lộ trái phép bí mật kinh doanh của mình; chủ sở hữu bí mật kinh doanh có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm; hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có biện pháp xử lý như phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện, khoản lợi nhuận có được do thực hiện hành vi pham… hay các biện pháp khác theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và sở hữu trí tuệ

+ Về điều kiện bảo hộ: Có thể thấy điều kiện bảo hộ của hai cơ chế bảo hộ này

có sự khác nhau khá lớn Sáng chế gồm ba điều kiện: tính mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng công nghiệp Còn BMKD thì được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện là: không phải là hiểu biết thông thường hoặc không dễ dàng có được, có giá

Trang 4

trị thương mại, tính bảo mật Như vậy có thể thấy, sáng chế yêu cầu rất khắt khe về tính mới, trong khi BMKD thì không Không những thế, sáng chế còn cần phải có khả năng áp dụng công nghiệp, trong khi bsi mật kinh doanh thì không Điều này là hoàn toàn tất yếu xuất phát từ phạm vi đối tượng của BMKD mà sẽ trình bày ở đoạn sau Mặt khác, khác biệt lớn nữa là bí mật kinh doanh còn đòi hỏi về các biện pháp bảo mật BMKD của chủ sở hữu, trong khi sáng chế do được công bố nên không thể có quy định như vậy

+ Về thời hạn bảo hộ: Bí mật kinh doanh không bị hạn chế về thời gian bảo hộ Không có một thời hạn cụ thể nào cho việc bảo hộ bí mật kinh doanh Sự bảo hộ vẫn tồn tại chừng nào thông tin vẫn được giữ bí mật Trong khi sáng chế chỉ được bảo hộ nhiều nhất trong vòng 20 năm nếu bảo hộ đối với sáng chế được cấp Bằng độc quyền sáng chế là 20 năm kể từ ngày nộp đơn còn thời hạn bảo hộ đối với sáng chế được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích chỉ là 10 năm

+ Chi phí bảo hộ: Sáng chế sẽ mất một khoản chi phí đăng ký Còn BMKD thì không đòi hỏi chi phí đăng ký tuy nhiên có thể phải bỏ chi phí để bảo mật thông tin đó Nhiều khi, việc bảo hộ BMKD còn tốn kém hơn so với chi phí bảo hộ sáng chế

+ Chủ sở hữu: Theo pháp luật sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu sáng chế là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ sáng chế Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh hợp pháp và thực hiện việc bảo mật kinh doanh đó Với trường hợp làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao

có được BMKD trong khi thực hiện công việc thì thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên thỏa thuận Có thể thấy, chủ sở hữu của sáng chế sẽ biết dễ dàng vì chỉ cần nhìn vào văn bằng bảo hộ là sẽ biết được Còn đối với bí mật kinh doanh, đôi khi việc xác định chủ sở hữu sẽ gặp khó khăn hơn bởi cần chứng minh

+ Phạm vi đối tượng: So với sáng chế, BMKD có phạm vi rộng hơn Thực tế chứng minh rằng, không phải bất kỳ sản phẩm nào của trí tuệ cũng có thể được bảo hộ theo pháp luật bảo hộ sáng chế Trước hết, bằng độc quyền sáng chế chỉ cấp cho các sáng chế chỉ có trong những lĩnh vực kĩ thuật cao - trong lĩnh vực công nghệ chứ không cấp cho những thành tựu trong hoạt động thương mại truyền thống, lĩnh vực hoạt động thương mại, cung ứng dịch vụ hoặc lĩnh vực kinh doanh,… Hơn nữa, một số phát minh hay thông tin kỹ thuật trong khi tạo ra một lợi thế thương mại giá trị cho một doanh nhân nào đó thì có thể lại thiếu tính mới hoặc tính sáng tạo theo yêu cầu để

có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế, chừng nào mà thông tin chưa được tiết lộ cho công chúng thì, chủ sở hữu thông tin được cấp bằng độc quyền sáng chế để chống lại bất kể việc người nào tiết lộ thông tin sai trái, bất kể cuối cùng đơn xin cấp bằng

Trang 5

sáng chế có được chấp nhận hay không Mặt khác sự tồn tại của pháp luật bảo hộ sáng chế cũng không thể triệt tiêu sự tồn tại của hình thức bảo hộ khác của pháp luật nhằm khuyến khích sự sáng tạo

+ Các hành vi xâm phạm: Đối với sáng chế, các hành vi xâm phạm chỉ dừng lại ở các hành vi sử dụng sáng chế Còn đối với BMKD, xuất phát từ đặc điểm không được bộc lộ công khai, nên các hành vi xâm phạm được quy định ở Điều 127 Luật SHTT với nhiều hành vi hơn như tiếp cận, thu thập thông tin; vi phạm hợp đồng bảo mật;… + Các trường hợp không được ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi được quy định tương đối khác nhau Nếu như BMKD mà bị người khác bộc lộ, sử dụng khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết do người khác thu được một cách bất hợp pháp hay bộc lộ sử dụng BMKD được tạo ra một cách độc lập hoặc phân tích ngược từ sản phẩm bày bán hợp pháp Còn SC thì không, dù anh có độc lập nghĩ ra hay không biết đã có sáng chế đó thì sau khi đã có người đăng ký anh cũng sẽ bị ngăn cấm sử dụng Chỉ có trường hợp sử dụng sáng chế do người có quyền sử dụng trước theo quy định Điều 134 thì mới được tiếp tục sử dụng, tuy nhiên người đó cũng bị ràng buộc bởi những hạn chế nhất định nhằm đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu sáng chế Như vậy có thể thấy, đối với SC thì dù người khác có khả năng sử dụng sáng chế đó thì cũng không được phép sử dụng Còn đối với BMKD thì một khi bị người khác độc lập tạo

ra hay biết một cách hợp pháp như trên thì vẫn được bộc lộ, sử dụng, lợi ích của công

ty sở hữu bí mật kinh doanh đó coi như mất trắng nếu người kia công bố Đây chính là điểm mấu chốt khiến các doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn giữa hai hình thức bảo hộ + Giới hạn quyền sở hữu công nghiệp của sáng chế rộng hơn so với BMKD Bí mật kinh doanh chỉ bị hạn chế ở mặt hàng là dược phẩm, nông hóa phẩm theo quy định tại Điều 128 Chỉ dừng lại ở việc cung cấp các thông tin, tuy nhiên được đảm bảo sản xuất được các cơ quan nhà nước bảo mật Thậm chí trong mục giới hạn cũng không có điều khoản nào quy định về BMKD Trong khi đó, sáng chế thì có rất nhiều giới hạn, chẳng hạn chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, quyền của người sử dụng trước,…

2 Ưu điểm và hạn chế của mỗi cơ chế bảo hộ

2.1 Sáng chế

* Ưu điểm

Trước hết, hiệu quả của bảo hộ sáng chế là được cấp bằng độc quyền không thể bị người khác khai thác trong phạm vi quốc gia cấp bằng bảo hộ ngoài chủ sở hữu, trừ khi chủ sở hữu đồng ý việc khai thác đó Văn bằng bảo hộ là cơ sở pháp lý chứng minh

sự độc quyền của doanh nghiệp trong việc được sử dụng và khai thác trong thời gian bảo hộ Thông qua những độc quyền này, doanh nghiệp có thể ngăn chặn được người

Trang 6

khác sử dụng sc được bảo hộ vào mục đích thương mại, giúp doanh nghiệp giữ vững

vị thế trên thị trường Quyền khởi kiện chống lại bất kì người nào khai thác sc được cấp bằng độc quyền trong phạm vi quốc gia đó mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu bằng đqsc là quyền quan trọng nhất của chủ sở hữu bằng đqsc, bởi nó cho phép anh ta thu được những lợi ích vất chất đối với những gì anh ta được quyền hưởng như một phần thưởng đối với nỗ lực và lao động trí tuệ của anh ta và bù đắp cho các chi phí nghiên cứu và thí nghiệm để tạo ra sc

Không chỉ vậy, đối với các doanh nghiệp, việc bảo hộ sc giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn trong đầu tư Bởi sau khi đã đầu tư tài chính và thời gian đáng

kể cho việc tạo ra sc, bằng những độc quyền có được, doanh nghiệp hoàn toàn có thể thương mại hóa sc để thu lại lợi nhuận cao hơn trong đầu tư Nếu doanh nghiệp không muốn tự mình khai thác sc, doanh nghiệp có thể chuyển giao quyền sử dụng sc hoặc chuyển nhượng quyền SHCN đối với sc cho chủ thể khác và thu lại lợi nhuận

Mặt khác, việc đăng kí sáng chế sẽ góp phần xây dựng hình ảnh, uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Bởi danh mục sc được bảo hộ của doanh nghiệp chính là minh chứng cho trình độ chuyên môn, sự chuyên môn hóa và năng lực công nghệ của doanh nghiệp đó đối với đối tác kinh doanh, xây dựng lòng tin đối với người tiêu dùng cũng như nhân viên của chính doanh nghiệp Thực tiễn cũng đã minh chứng, dòng vốn thường đổ dồn về những doanh nghiệp biết quan tâm đầu tư và khai thác sản phẩm của mình Theo thống kê của Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu của Hoa Kỳ thì tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia IBM trong nhiều năm luôn nằm trong top dẫn đầu các công ty có số lượng sc đăng ký nhiều nhất, tiếp theo là những tập đoàn lớn khác như Samsung, Canon, Microsoft,…

Đứng trên phương diên doanh nghiệp có thể việc pháp luật SHTT có quy định về những trường hợp giới hạn phần nào đó sẽ gây ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp Tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan, việc sử dụng sáng chế trong những trường hợp này là nhằm đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội giữa lợi ích của chủ thể sáng tạo và đầu tư cho hoạt động sáng tạo với lợi ích của xã hội và giữa lợi ích của các chủ thể sáng tạo và đầu tư cho hoạt động sáng tạo với các chủ thể sáng tạo khác trong xã hội Bởi lẽ, trong thời gian bảo hộ sáng chế,

sự lạm dụng độc quyền sử dụng sc của chủ sở hữu có thể tác động tiêu cực đến lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của những chủ thể có hoạt động sáng tạo khác trong xã hội Nhưng cũng có thể thấy, pháp luật cũng đã cân nhắc rất kĩ lưỡng và chỉ hạn chế ở một phạm vi hợp lý, không ảnh hưởng một cách bất hợp lý đến quyền lợi của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế Chẳng hạn ở khoản i quy định “Sử dụng sc được bảo hộ vì mục đích nghiên cứu khoa học hoặc thí nghiệm” Có nghĩa là khi việc thực

Trang 7

hiện các hành vi sử dụng sc nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu của cá nhân hoặc những hoạt động khác không nhằm mục đích thương mại thì người đó sẽ được sử dụng sáng chế mà không phải thỏa thuận trước với chủ thể quyền và cũng không phải chịu bất cứ một khoản tiền nào cho việc sử dụng sáng chế Có thể thấy việc sáng sử dụng những thông tin sáng chế nhằm dùng cho việc nghiên cứu và các mục đích thực nghiệm hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chủ sở hữu, bởi mục đích của việc nghiên cứu không nhằm khai thác sáng chế theo tính chất khai thác công dụng hay mang tính thương mại, ngược lại, lại có ý nghĩa nhằm làm giàu thêm tri thức công nghệ Sau khi hết thời hạn bảo hộ sáng chế, sc đó trở thành nguồn tri thức chung và được sử dụng tự

do, từ đó làm giàu thêm tri thức khoa học công nghệ

Riêng đối với mẫu hữu ích Có thể thấy tiêu chuẩn bảo hộ đối với mẫu hữu ích trong chừng mực nào đó ít nghiêm ngặt hơn so với sc, đặc biệt đối với tính sáng tạo, lệ phí cũng thấp hơn so với sc, thời hạn bảo hộ cũng ngắn hơn, ngoài ra các quyền theo mẫu hữu ích cũng tương tự như các quyền đối với sc được cấp Bằng độc quyền sc

* Hạn chế

Thứ nhất, để có được sự bảo hộ độc quyền đối với sáng chế, người nộp đơn đăng

ký phải bộc lộ đối tượng cụ thể Vì vậy kể từ khi đơn đăng ký được nộp tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được công bố công khai trên công báo, bất kỳ chủ thể nào cũng có thể tiếp cận với những thông tin này và có thể nghiên cứu áp dụng đối tượng trên thực tế Vì không phải lúc nào chủ sở hữu cũng phát hiện ra được hết các trường hợp xâm phạm Do đó làm ảnh hưởng đến độc quyền sử dụng, khai thác đối tượng sở hữu công nghiệp đã được pháp luật ghi nhận cho chủ sở hữu Điều này chính là sự khác biệt lớn khiến các doanh nghiệp đau đầu trong việc lựa chọn giữa hai hình thức bảo hộ theo sáng chế hay bí mật kinh doanh

Thứ hai, việc bảo hộ theo cơ chế bảo hộ sáng chế bị giới hạn về mặt thời gian Đối với sc bảo hộ theo hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế thì được bảo hộ trong

20 năm, còn theo Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực là 10 năm Chủ sở hữu

sc chỉ được hưởng độc quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn, sau thời hạn đó, sáng chế không còn thuộc độc quyền của chủ sở hữu Khi ấy tất cả mọi người đều có quyền

sử dụng sáng chế mà không cần bất kỳ yêu cầu gì, kể cả xin phép Thực tế, có rất nhiều trường hợp đợi cho sáng chế hết thời hạn bảo hộ để khai thác công dụng Chẳng hạn như dược phẩm của Ấn Độ, nhờ vậy mà giá thành rẻ hơn rất nhiều

Thứ ba, nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức bảo hộ sáng chế, họ sẽ phải chấp nhận bị khai thác, sử dụng trong những trường hợp ngoại lệ Theo quy định của pháp luật SHTT hiện hành, quyền SHCN đối với sc sẽ bị hạn chế trong các trường hợp giới hạn quyền SHCN Chẳng hạn bị giới hạn bởi quyền sử dụng sc nhân danh Nhà nước

Trang 8

Thứ tư, một trong những điều đáng lo ngại khi lựa chọn hình thức bảo hộ này là

vì pháp luật SHTT hiện tại của ta còn nhiều hạn chế Chẳng hạn như quy định về việc bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế “vì lợi ích công cộng” tại khoản 2 Điều

7 Luật SHTT nhưng pháp luật SHTT Việt Nam lại chưa hề có sự giải thích rõ về khái niệm này, rất dễ gây nhầm lẫn trong việc áp dụng, ảnh hưởng đến lợi ích của chủ sở hữu Hay như quy định về việc áp dụng bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong trường hợp người nắm độc quyền sử dụng sáng chế từ chối ký hợp đồng chuyển giao tự nguyện Theo quy định, khi người có nhu cầu sử dụng sc không đạt thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và điều kiện thương mại hợp lý thì khi có văn bản của bên có nhu cầu sử dụng sc gửi lên Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan này có quyền

áp dụng đối bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế Quy định này chưa thực sự chặt chẽ bởi lẽ về bản chất, người nắm quyền sử dụng sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của mình là điều dễ hiểu nếu học không muốn

Cuối cùng, có thể nhận thấy trong thực tiễn, tuy Nhà nước trao độc quyền sc cho chủ sở hữu nhưng Nhà nước không tự động thực thi độc quyền sáng chế Điều này tùy thuộc vào chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế khởi kiện, thường là theo luật dân sự, đối với bất kỳ sự vi phạm quyền sáng chế của chủ sở hữu Vì vậy người được cấp bằng độc quyền sc phải là “cảnh sát” của chính mình

2.2 Bí mật kinh doanh

* Ưu điểm

Thứ nhất, trái với các đối tượng sở hữu trí tuệ truyền thống khác, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào BMKD được xác lập trên cơ sở có được và sử dụng hợp pháp BMKD đó, kéo theo việc bảo hộ

tự động là các lợi ích như không phải tốn phí duy trì hiệu lực như các đối tượng khác của quyền SHTT, thời gian bảo hộ không hạn chế, không sợ bị bộc lộ do việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Với những lý do này, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có vẻ như đặc biệt hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ hai, về tính bí mật của thông tin Một đặc điểm cơ bản và nổi bật của bí mật kinh doanh đó là tính bí mật của thông tin Đây là một đặc điểm vừa có những ưu điểm, vừa có những hạn chế Trong phần này ta sẽ xem xét đến những lợi ích mà đặc điểm này mang lại cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh Đúng với tên gọi của nó – bí mật kinh doanh Có nghĩa là thông tin đó không được biết đến một cách phổ biến, chưa được công bố công khai ra công chúng, khác với các đối tượng khác của quyền SHTT,

Trang 9

BMKD cũng không sợ bị bộc lộ do việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền,

do đó phạm vi những người biết đến thông tin là rất hạn chế Như vậy, doanh nghiệp nắm giữu bí mật kinh doanh ấy sẽ nắm giữ những lợi ích mà các doanh nghiệp khác không có

Thứ ba, để bảo vệ BMKD của mình, các chủ thể (cá nhân, tổ chức) có thể tự mình lựa chọn áp dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau, phù hợp với tình hình thực tế của công ty đó mà pháp luật không can thiệp (trừ khi cách thức đó là vi phạm pháp luật)

Có thể hộ bằng nội quy lao động, hay các thỏa thuận trong hợp đồng lao động ràng buộc người lao động phải giữ bí mật đối với các thông tin Chẳng hạn, doanh nghiệp

có thể huấn luyện nhân viên của mình để các nhân viên hiểu rõ chính sách, quan điểm của doanh nghiệp về bảo vệ kinh doanh Doanh nghiệp cũng cần phải kiểm tra định kỳ việc chấp hành và xử lý vi phạm bí mật kinh doanh Trước khi nhân viên rời khỏi doanh nghiệp cần phải từng bước hạn chế sự tiếp cận và sử dụng thông tin của doanh nghiệp,…

Cuối cùng có thể thấy, sự bảo hộ tài sản trí tuệ trên thực tế rất phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự hạn chế về vốn dẫn đến sự hạn chế về phát triển công nghệ dẫn đến việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể đủ sức để tạo ra một tài sản trí tuệ được cấp bằng sáng chế cũng như khó có thể có đủ tiền để trả chi phí cho việc nộp đơn cấp bằng sáng chế Cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh tạo ra sự dễ dàng và ít tốn kém trong việc xác lập và kiếm soát quyền vì vậy nó thích hợp cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ bảo vệ tài sản trí tuệ của mình

* Hạn chế

Như đã nêu trong phần ưu điểm, khác với các đối tượng khác của quyền SHTT, BMKD không cần đăng kí, do đó không sợ bị bộc lộ do việc đăng ký Tuy nhiên, chính vì không phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên bản thân BMKD dễ đối mặt với nguy cơ bị bộc lộ công khai, hoặc bị phân tích ngược trong tường hợp BMKD được cấu thành trong một sản phẩm cụ thể

BMKD chỉ có giá trị khi còn được giữ bí mật Nếu những thông tin đã được nhiều người biết đến hay dễ dàng tiếp cận thì không được coi là thông tin bí mật và không được bảo hộ nữa Do đó, nếu bí mật kinh doanh bị bộc lộ, thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó phải chấp nhận mất đi giá trị kinh tế gắn liền với bí mật kinh doanh

đó sẽ mang lại Mà chủ sở hữu bí mật kinh doanh thì không thể ngăn cấm người khác thu thập hoặc sử dụng trong trường hợp họ độc lập sáng tạo ra kể cả trong trường hợp người khác tìm ra sáng chế từ việc phân tích các sản phẩm được bán hợp pháp trên thị trường Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng, tính chất bí mật của thông tin chỉ mang tính tương đối, tính bí mật không có nghĩa là hoàn toàn bí mật, chỉ chủ sở hữu mới biết Bí

Trang 10

mật kinh doanh cũng có thể được biết đến bởi các nhân viên, người lao động, những người có liên quan đến việc sử dụng thông tin hoặc những người có cam kết bảo mật

Do đó, việc bảo vệ BMKD không hề đơn giản BMKD có thể bị mất do nhiều lý

do, nhưng phổ biến nhất là việc người lao động của doanh nghiệp sau khi chấm dứt hợp đồng lao động ở doanh nghiệp đó thì làm việc cho doanh nghiệp cạnh tranh khác Những BMKD của doanh nghiệp mà người này có thể được biết do thâm niên làm việc hoặc do đảm trách các vai trò trọng yếu nguy cơ bị tiết lộ là rất lớn Tuy doanh nghiệp

có rất nhiều cách thức khác nhau có thể áp dụng để thông qua đó bảo vệ BMKD của mình như sử dụng nội quy doanh nghiệp hay các thỏa thuận trong hợp đồng Nhưng trên thực tế, nguy cơ bị bộc lộ vẫn rất cao bởi lẽ các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với một thực trạng là các đối thủ kinh doanh tìm mọi cách để lôi kéo đối thủ kinh doanh của mình Các chiêu trò của các doanh nghiệp đối thủ này không những công khai như thu hút nhân viên mà còn có thể là những biện pháp ngầm mà doanh nghiệp rất khó kiểm soát Chẳng hạn các doanh nghiệp đối thủ có thể sử dụng các phương thức không chính đáng như là: trộm cắp, hối lộ, cung cấp thông tin sai, vi phạm hoặc xúi giục vi phạm nghĩa vụ bảo mật, do thám thông qua các phương tiện điện tử hoặc các phương tiên khác,… Tất nhiên những phương thức không chính đáng này sẽ bị pháp luật xử lý Nhưng vấn đề ở đây là không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng có thể phát hiện ra sự bộc lộ BMKD hay tìm ra được đối tượng vi phạm Nhất là trong thời đại công nghiệp 4.0, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, việc đánh cắp thông tin không còn là chuyện xa lạ Do đó, việc lựa chọn bảo hộ theo hình thức bí mật kinh doanh trong thời đại ngày nay rất cần phải cân nhắc kĩ lưỡng, đồng thời sẽ cũng sẽ mất một khoản chi phí không nhỏ cho việc bảo mật

Tuy BMKD được bảo hộ mà không cần thủ tục đăng ký, tuy nhiên nếu có tranh chấp xảy ra thì phía chủ sở hữu sẽ phải chứng minh thông tin được xét tới có đủ điều kiện là bí mật kinh doanh hay không Có một số điều kiện để một thông tin được coi là

bí mật kinh doanh Thỏa mãn các điều kiện này có thể sẽ thấy khó và tốn kém hơn so với việc nhìn nhận ban đầu Mặt khác có thể doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiêu rủi ro như là

Trước hết, pháp luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam về BMKD còn nhiều điểm hạn chế Do đó gây khó khăn trong công tác xác định thông tin nào đó có được hưởng sự bảo hộ như là đối tượng của pháp luậ shtt hay không Chẳng hạn, với điều kện thứ nhất: “Không phải là hiểu biết thông thường và rất khó áp dụng” Có thể thấy đây là một điều kiện rất khó áp dụng để xem xét một thông tin có phải là hiểu biết thông thường hay không Thứ nhất, điều kiện này mang tính chất định tính, mang tính khái quát, mơ hồ vì không thể xác định rõ ràng ranh giới giữa đâu là hiểu biết thông thường

Ngày đăng: 05/05/2019, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w