Luận văn thạc sỹ Khoa học cây trồng Chè shan Cây chè Shan có tên khoa học là Camellia sinensis var. Shan, là dòng chè có tuổi đời hàng trăm năm, cây thân gỗ, cao từ 10 15m. Cây chè Shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái được xếp vào một trong sáu dòng chè thủy tổ của thế giới. Xã Suối Giàng có hàng vạn cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ở độ cao gần 1400m so với mặt nước biển, cây chè Shan tuyết Suối Giàng hoàn toàn phát triển tự nhiên, chắt lọc những tinh túy của đất trời và không hề có sự can thiệp của con người do đó sản phẩm chè xanh Suối Giàng có hương vị thơm ngon đặc biệt. Sản phẩm chè Shan tuyết Suối Giàng được Hiệp hội chè Việt Nam tôn vinh thương hiệu quốc gia chè Việt vào năm 2006. Tổng diện tích chè riêng tại xã Suối Giàng năm 2010 đạt gần 400 ha, trong đó diện tích chè có tuổi thọ hàng trăm năm lên đến gần 300 ha, còn lại là diện tích được người dân trồng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, qua điều tra đánh giá thấy rằng năng suất chè shan tuyết Suối Giàng rất thấp, đặc biệt trong những năm gần đây, năng suất chè búp tươi tại xã Suối Giàng có chiều hướng giảm về năng suất, năm 2010 năng suất trung bình 12,18 tạha, năm 2011 là 13,45 tạha, nhưng đến năm 2012 năng suất giảm còn 12,69 tạha 35. Từ kết quả điều tra thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất chè Suối Giàng có xu hướng giảm như việc đốn chè thường được người dân thực hiện vào tháng 4, kỹ thuật đốn chưa đúng kỹ thuật gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và ra búp của cây chè, kỹ thuật hái chè cũng còn nhiều bất cập. Đây là vùng chè sạch của tỉnh chính vì vậy, người dân thường không sử dụng bất cứ loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nào cho cây chè. Mặt khác cây chè Shan tuyết có nhiệm kỳ kinh tế dài, việc thu hái thường xuyên từ năm này sang năm khác nếu không được chăm sóc, đốn, tỉa, bón phân đúng yêu cầu kỹ thuật thì sức sinh trưởng của cây sẽ giảm theo thời gian từ đó ảnh hưởng đến năng suất của cây chè. Từ những cơ sở trên, việc nghiên cứu thời vụ đốn và sử dụng phân hữu cơ để nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng, phát triển bền vững chè Shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè Shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”. 2. Mục tiêu của đề tài Xác định được một số biện pháp chính về thời vụ đốn, loại phân, lượng phân thích hợp cho giống chè shan tuyết trồng phân tán tại xã Suối Giàng huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nhằm tăng năng suất và đảm bảo chất lượng chè shan tại Suối Giàng Văn Chấn. 3. Đối tượng, và nội dung nghiên cứu 3.1. Đối tượng: Chè Shan tuyết 42 năm tuổi 3.2. Nội dung nghiên cứu 3.2.1. Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố hạn chế đến sản xuất chè shan tuyết Suối Giàng 3.2.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tuyết Suối Giàng Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đốn đến năng suất và chất lượng búp tươi chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái; Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, phân xanh tổng hợp) tới năng suất và chất lượng búp tươi chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới năng suất và chất lượng búp tươi chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4.1. Ý nghĩa khoa học Đề tài sẽ bổ sung thêm dữ liệu khoa học về ảnh hưởng của thời vụ đốn, phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè búp tươi shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định được thời vụ đốn, lượng phân và loại phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh phù hợp với cây chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 4.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật đốn và bón phân hữu cơ cho chè shan tuyết tại xã Suối Giàng phù hợp với điều kiện sinh thái, trình độ canh tác và điều kiện kinh tế xã hội tại xã Suối Giàng. PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.2. Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè 1.3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 1.4. Những nghiên cứu về giống chè shan 1.5. Những nghiên cứu về đốn chè 1.6. Những nghiên cứu về dinh dưỡng, phân bón và phân bón hữu cơ 1.7. Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh và bón phân hữu cơ vi sinh cho chè PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu Chè Shan tuyết 42 năm tuổi: Chè shan tuyết được trồng năm 1972, trồng trên đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, chè được trồng theo phương pháp phân tán, mật độ: 1600 câyha. 2.1.2. Vật liệu nghiên cứu 2.1.2.1. Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất ferarit, có dộ dốc 10%. Phân tích một số chỉ tiêu cơ bản về thành phân dinh dưỡng trong đất trước khi tiến hành thí nghiệm II và III. Mẫu đất được lấy theo theo tiểu chuẩn: TCVN 5297:1995
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THÀNH LONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT, ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHÈ SHAN TẠI XÃ SUỐI GIÀNG, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THÀNH LONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT, ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHÈ SHAN TẠI XÃ SUỐI GIÀNG, HUYỆN
VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNGNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sựgiúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệutrình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thành Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đãtận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luậnvăn này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông học, PhòngĐào tạo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn sự động viên,khích lệ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập vàthực hiện luận văn
Tác giả
Nguyễn Thành Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỒNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè 5
1.2.1 Nguồn gốc 5
1.2.2 Phân loại cây chè 6
1.2.3 Sự phân bố của cây chè 7
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 7
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 8
1.4 Những nghiên cứu về giống chè shan 11
1.5 Những nghiên cứu về đốn chè 13
1.5.2 Những nghiên cứu về kỹ thuật đốn chè 16
1.6 Những nghiên cứu về dinh dưỡng, phân bón và phân bón hữu cơ 17
1.6.1 Dinh dưỡng đối với cây chè 17
1.7 Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh và bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 21
1.7.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật 21
Trang 61.7.2 Nghiên cứu về các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải
xelluloza 22
1.7.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón vi sinh vật trên thế giới và Việt Nam 24
1.7.2 Các nghiên cứu về bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1 Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố hạn chế đến sản xuất chè shan tuyết Suối Giàng 33
2.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tuyết Suối Giàng 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 33
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng 34
2.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
2.3.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm 39
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đánh giá thực trạng và những yếu tố hạn chế đến phát triển sản xuất chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 41
3.1.1 Kết quả điều tra về thực trạng sản xuất chè shan tuyết tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 41
3.1.2 Đánh giá những yếu tố hạn chế đến phát triển sản xuất chè Shan tuyết tại xã Suối Giàng 44
Trang 73.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất
lượng chè shan tuyết Suối Giàng - Văn Chấn - Yên Bái 45
3.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế và chất lượng cảm quang chè shan tuyết 45
3.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất và chất lượng chè búp tươi của chè shan tuyết Suối Giàng 55
3.2.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè búp tươi của chè shan tuyết Suối Giàng 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHAO 75
Trang 8DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
ĐC : Đối chứngFAO : Food and Agriculture Organnization of the United Nations
KHCN : Khoa học công nghệHCVS : Hữu cơ vi sinh
QCVN : Quy chuẩn Việt NamVSV : Vi sinh vật
TCVN : Tiêu chuẩn Việt NamTCN : Tiêu chuẩn ngành
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Hàm lượng các chất chính trong các loại phân hữu cơ
bón cho thí nghiệm II 31 Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Shan tuyết Suối Giàng qua các
năm 42 Bảng 3.2 Đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho chè shan
tuyết Suối Giàng ở các hộ điều tra 43 Bảng 3.3 : Đánh giá việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản
xuất chè shan tuyết Suối Giàng 44 Bảng 3.4 Các yếu tố hạn chế đến sản xuất chè shan tuyết Suối
Giàng thời gian từ đốn đến hái và số lứa hái của chè shan tuyết Suối Giàng 46 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến thành phần cơ giới búp
và phẩm cấp nguyên liệu chè búp tươi của chè shan tuyết Suối Giàng 47 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất của chè shan tuyết Suối Giàng 49 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại
của một số sâu hại chính trên chè shan tuyết Suối Giàng 52 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại
của một số bệnh hại chính trên chè shan tuyết Suối Giàng hại 54 Bảng 3.10: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức
trong thí nghiệm thời vụ đốn 55 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian bật mầm
sau đốn, Và thời gian từ đốn đến hái của chè shan tuyết Suối Giàng 56
Trang 10Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các mức bón phân hữu cơ đến sự phát
sinh, gây hại của một số loài sâu hại chính trên chè shan tuyết Suối Giàng 60 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sự phát sinh, gây hại
của một số bệnh hại chính trên chè shan tuyết Suối Giàng 61 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chất lượng búp Chè
tươi shan tuyết Suối Giàng qua một số chỉ tiêu sinh hóa 63 Bảng 3.16: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan tuyết
Suối Giàng thí nghiệm bón phân hữu cơ 64
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến thời gian bật mầm
sau đốn, thời gian hái và số lứa hái của chè shan tuyết Suối
Giàng 66 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và
các yếu tố cấu thành năng suất của chè shan tuyết Suối Giàng 66 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sự phát sinh,
gây hại của một số bệnh hại chính trên chè shan tuyết Suối Giàng 70 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của hữu cơ vi sinh đến chất lượng búp tươi chè
shan tuyết Suối Giàng qua một số chỉ tiêu sinh hóa 71 Bảng 3.22: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan tuyết
Suối Giàng ở các công thác bón phân hữu cơ vi sinh 72
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức
thí nghiệm thời vụ đốn 51Hình 3.2 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan tuyết
Suối Giàng ở thí nghiệm bón phân hữu cơ 59Hình 3.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan tuyết
Suối Giàng ở thí nghiệm bón phân hữu cơ vi sinh 68
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây chè Shan có tên khoa học là Camellia sinensis var Shan, là dòng
chè có tuổi đời hàng trăm năm, cây thân gỗ, cao từ 10 - 15m Cây chè Shanthường mọc phổ biến ở vùng núi cao như Hà Giang, Yên Bái , Mộc Châu, nơi
có độ cao trên 1000m so với mặt nước biển, mây mù bao phủ quanh năm,chịu được độ ẩm cao, giá lạnh và sương muối
Chè Shan là dòng chè cổ thụ mọc hoang dại ở vùng núi phía Bắc nước
ta, búp chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết nên còn gọi là chètuyết Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, ngoài tác dụng giải nhiệt, mátgan, trong chè Shan có chứa nhiều tanin có tác dụng phòng chống các bệnhung thư, tốt cho tim mạch, tăng cường trí nhớ và giúp giải tỏa căng thẳng.Bên cạnh đó chè Shan còn được đánh giá cao bởi vị ngọt, ngậy, hương thơmđặc trưng và đặc biệt, do mọc trên núi cao cây chè Shan cho phẩm chất thuộcloại tốt nhất
Xã Suối Giàng có hàng vạn cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi nằm trên dãynúi Hoàng Liên Sơn ở độ cao gần 1400m so với mặt nước biển, cây chè ShanSuối Giàng hoàn toàn phát triển tự nhiên, chắt lọc những tinh túy của đất trời vàkhông hề có sự can thiệp của con người do đó sản phẩm chè xanh Suối Giàng cóhương vị thơm ngon đặc biệt Tổng diện tích chè tại xã Suối Giàng năm 2010 đạtgần 400 ha, trong đó diện tích chè có tuổi thọ hàng trăm năm lên đến gần 300 ha,còn lại là diện tích được người dân trồng trong những năm gần đây
Tuy nhiên, qua điều tra đánh giá thấy rằng năng suất chè shan Suối Giàng rấtthấp, đặc biệt trong những năm gần đây, năng suất chè búp tươi tại xã Suối Giàng
có chiều hướng giảm, năm 2010 năng suất trung bình 12,18 tạ/ha, năm 2011 là13,45 tạ/ha, nhưng đến năm 2012 năng suất giảm còn 12,69 tạ/ha [35] Từ kết quảđiều tra thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất chè Suối Giàng
có xu hướng giảm như việc đốn chè thường được người dân thực hiện vào tháng 4,
Trang 13kỹ thuật đốn chưa đúng kỹ thuật gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và ra búp củacây chè, kỹ thuật hái chè cũng còn nhiều bất cập Đây là vùng chè sạch của tỉnhchính vì vậy, người dân thường không sử dụng bất cứ loại phân bón và thuốc bảo
vệ thực vật nào cho cây chè Mặt khác cây chè Shan có nhiệm kỳ kinh tế dài, việcthu hái thường xuyên từ năm này sang năm khác nếu không được chăm sóc, đốn,tỉa, bón phân đúng yêu cầu kỹ thuật thì sức sinh trưởng của cây sẽ giảm theo thờigian từ đó ảnh hưởng đến năng suất của cây chè
Từ những cơ sở trên, việc nghiên cứu thời vụ đốn và sử dụng phân hữu cơ đểnâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng, phát triển bền vững chè Shan tại xã SuốiGiàng, huyện Văn Chấn là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết Chính vì vậy,
chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng
năng suất, đảm bảo chất lượng chè Shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”.
2 Mục tiêu của đề tài
3 Đối tượng, nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chè Shan 42 năm tuổi: Chè shan được trồng năm 1972, trồng trên đấtferalit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, chè được trồng theo phương
Trang 14pháp phân tán, mật độ: 1600 cây/ha
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố hạn chế đến sản xuất chè shan Suối Giàng
3.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan Suối Giàng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đốn đến năng suất và chất lượng
búp tươi chè shan tại xã Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ (phân chuồng,
phân xanh, phân xanh tổng hợp) tới năng suất và chất lượng búp tươi chè shantại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh tới năng suất vàchất lượng búp tươi chè shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài sẽ bổ sung thêm dữ liệu khoa học về ảnh hưởng của thời vụ đốn,phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè búp tươishan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định được thời vụđốn, lượng phân và loại phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh phù hợp với câychè shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết yếu tố hạn chế đến phát triển sảnxuất và vấn đề giữa tăng năng suất và đảm bảo chất lượng chè shan ở xã SuốiGiàng, huyện Văn Chấn
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật đốn và bón phânhữu cơ cho chè shan tại xã Suối Giàng phù hợp với điều kiện sinh thái, trình
độ canh tác và điều kiện kinh tế xã hội tại xã Suối Giàng
Trang 15Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quansinh dưỡng) do vậy để có năng suất trong canh tác chè cần áp dụng các biệnpháp kỹ thuật ức chế sinh trưởng sinh thực (ra hoa, quả) và kích thích quátrình sinh trưởng tạo búp mới Trong canh tác chè, những biện pháp kỹ thuật
cơ bản nhất thường được nghiên cứu và áp dụng là các biện pháp đốn tỉa vàcác biện pháp bón phân
Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinhtrưởng phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chấtlượng chè Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn.Trong điều kiện sinh thái nhất định cần đặt kỹ thuật đốn chè trong mỗi hoạtđộng sinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa trong cây, ở mỗi vùngsinh thái thì kỹ thuật đốn, thời điểm đốn cũng khác nhau Đốn chè phá vỡ cânbằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cân bằng mới sau đốn Nếu
ta không tạo cho cây chè một cân bằng mới sau đốn thì cây chè sẽ cho búpkém Tuy nhiên việc đốn chè thường tiến hành vào giai đoạn cuối năm (tháng12), tháng có nhiệt độ thấp, để cây chè vào chu kỳ ngủ nghỉ sau đó bắt đầumột đợt sinh trưởng mới vào vụ xuân Tuy nhiên tại xã Suối Giàng, người dânđốn chè theo cách truyền thống là đốn vào tháng 4 trong năm vì vậy việcnghiên cứu thời vụ đốn trên cây chè Shan tại xã Suối Giàng cần thiết nhằmtìm ra thời vụ đốn hợp lý nhất cho cây chè shan tại xã Suối Giàng
Phân bón có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất chè Hàng nămlượng vật chất hữu cơ lấy lấy đi từ sản phẩm thu hoạch là búp chè là khá lớnviệc bón phân sẽ trả lại cho đất lượng chất dinh dưỡng đã bị cây trồng lấy đi từđất, tuy nhiên theo phương pháp canh tác cổ truyền người dân ở xã Suối Giàng
Trang 16năm chỉ thu hoạch sản phẩm Bên cạnh đó, để đảm bảo giữ vững được chấtlượng chè shan thì việc sử dụng phân vô cơ trên chè shan là rất hạn chế, nhằmgiữ được chất lượng chè.
Từ những cơ sở trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu về thời vụ đốn vànghiên cứu về bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã SuốiGiàng, trên cơ sở đó đưa ra thời vụ đốn thích hợp nhất và quy trình bón phân hữu
cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã Suối Giàng giúp bà con nhân dân tăngnăng suất chè mà vẫn đảm bảo được chất lượng vốn có của chè Shan Suối Giàng
và tăng hiệu quả kinh tế trong canh tác chè
1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất chè
Chè là cây trồng có giá trị lịch sử lâu đời (trên 4000 năm) Ngày nay chè
là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến trên thế giới với những sản phẩm chếbiến đa dạng và phong phú Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấyuống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp,viêm gan mãn tính, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu Nước chèđược dùng điều trị có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyếtnão và suy yếu mao mạch do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ [15].Theo FAO (2012) [38] thì tình hình sản xuất chè, tiêu thụ chè trên thếgiới tính đến năm 2012 như sau: Diện tích chè toàn thế giới là 3.275991 ha,Trong đó Trung Quốc vẫn là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diệntích đạt 1.513.000 ha, chiếm 46,1% diện tích chè toàn thế giới Thấp nhất làNhật Bản với 45.900 ha, chiếm 1.4% diện tích chè toàn thế giới Diện tích chècủa Việt Nam chỉ chiếm 3.53% diện tích chè của thế giới
* Về năng suất: Năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt
14,707 tạ/ha Các nước đạt năng suất cao như Kenya 19,38 ta/ha, Nhật Bản:18,715 tạ/ha, Ấn Độ: 16,529 ta/ha [38]
Trang 17*Về sản lượng: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt
4.818118 tấn Đứng đầu về sản lượng là Trung Quốc đạt 1.714.902 tấn, chiếm35,59% so với tổng sản lượng toàn thế giới Sản lượng thấp nhất là Myanmar đạt32.000 tấn, chiếm 0,66% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới Sản lượng chècủa Việt Nam chiếm tỷ lệ là 4,59% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới [38]
1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ chè
* Về tiêu thụ: Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới là
6,609 tỉ USD, 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ,chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới Năm nước có kimngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2011 là Nga (625,18 triệu đô la),Anh (462 triệu đô la), Mỹ (440 triệu đô la), Nhật Bản (207 triệu đô la) [38]
1.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
Với hai phần ba diện tích đất đồi núi, Việt Nam có điều kiện tự nhiênthuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên ở Việt Nam sản xuấtchè chỉ thực sự bắt đầu sau những năm 1925
Cây chè Việt Nam được một số nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu.Djemukhaze cho rằng miền bắc Việt Nam là một trong những nơi xác định lànguồn gốc của cây chè Cây chè Việt Nam được chính thức nghiên cứu khảosát vào năm 1885 do người Pháp tiến hành, sau đó vào các năm 1890 - 1891người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở ViệtNam năm 1890 ở Tĩnh Cương - Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứuchè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931) [8]
Cây chè được trồng chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía bắc và TâyNguyên Người trồng chè chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nông dânnghèo từ miền xuôi lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới Việc phát triểncây chè cùng với việc xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến đã giải quyết việclàm cho hơn 20 vạn lao động, ổn định đời sống cho gần 10 vạn hộ gia đình,góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo ra
Trang 18một số trung tâm công nghiệp - dịch vụ gắn liền với nông nghiệp Góp phần cảithiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào miền núi và Tây Nguyên [8].Trong thời gian qua do có chính sách chủ trương phát triển chè đúng đắncủa Nhà nước, các chính sách phát triển chè riêng của từng tỉnh, đặc biệt có
sự hỗ trợ trực tiếp từ vốn, các hoạt động khuyến nông như tham quan, tậphuấn kỹ thuật của dự án phát triển đã thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượngchè nội tiêu và xuất khẩu, tình hình sản xuất chè của Việt Nam như sau: Tínhhết năm 2012 diện tích chè đạt 115.964 Năng suất đạt 18,704 tạ khô/ha, sảnlượng chè đạt 216.900 tấn 2000 [38]
1.2.2.2 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Yên Bái
Thực hiện quy hoạch và định hướng của tỉnh, với những biện pháp chỉđạo cụ thể, ngành chè Yên Bái đã phát triển toàn diện cả ba lĩnh vực: Trồng,chăm sóc, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Sản xuất chè đã thu được kết quả nhấtđịnh, đời sống người làm chè từng bước ổn định và phát triển Đến nay, diệntích chè được phân thành 2 vùng nguyên liệu cho chế biến chè đen và cho chếbiến chè xanh Năm 2012 tổng diện tích chè toàn tỉnh là: 11.158 ha, diện tíchcho thu hoạch là: 10.723 Năng suất chè của Yên Bái không ngừng tăng lên dongười dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè Năm 2000 năngsuất chè chỉ đạt 50,8 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi là 40.000 tấn
* Về cơ cấu giống chè: Cơ cấu giống: Chè Shan 2.850 ha chiếm 22,5%tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè lai LDP 1.555 ha chiếm 12,3% tổng diệntích chè toàn tỉnh; Chè nhập nội 1.630 ha chiếm 12,8 % tổng diện tích chè củatỉnh; Chè trung du 6.000 ha chiếm 47,5% tổng diện tích chè của tỉnh Từ năm
2006 - 2010 đã tổ chức giâm ươm 53 triệu bầu giống chè các loại, trồng mới,trồng thay thế chè cũ đạt 2.326,3 ha
1.2.2.3 Tình hình sản xuất chè của xã Suối Giàng huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Diện tích chè Shan Suối Giàng năm 2010 đạt 394 ha, năng suất trungbình 12,18 tạ/ha, tổng sản lượng năm 2010 đạt: 480 tấn chè búp tươi Năm
Trang 192011, diện tích không tăng lên, vẫn giữ nguyên 394 ha, năng suất tăng so vớinăm 2010, đạt 13,45 tạ/ha, sản lượng đạt 530 tấn búp tươi [35]
Năm 2012, diện tích chè shan là: 394,0 ha, trong đó diện tích chè kinhdoanh là 394,0 ha, năng suất giảm so với năm 2011, chỉ đạt 12,69 tạ/ha Đếnnăm 2013, toàn xã Suối Giàng đã trồng mới được 12,72 ha, nâng tổng số diệntích chè toàn xã lên 406,72 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh vẫn là 394
ha, năng suất có cao hơn so với năm 2012, đạt 12, 75 tạ/ha, tổng sản lượng đạt502,2 tấn, năm 2014 tổng diện tích chè toàn xã là 409,8 ha, năng suất bìnhquân đạt 1,31 tấn/ha [35]
Diện tích chè Shan tại xã Suối Giàng hiện nay chủ yếu tập trung tại cácthôn như: Pang Cáng, Bản Mới, Giàng B, Giàng A, Cang Kỷ nơi có độ caotrung bình từ 800 đến 1.100 m so với mặt nước biển, cá biệt có nơi có độ caotrên 1.100 m Các thôn Tập Lăng 1, Tập Lăng 2, Suối Lóp diện tích chè ít,chất lượng theo đánh giá không ngon bằng các thôn tập trung nhiều chè Cácthôn có diện tích chè ít có độ cao dưới 800 m so với mực nước biển, nhiệt độcao hơn và ít sương mù hơn các thôn có diện tích nhiều chè tại xã Đây sẽ là
cơ sở khoa học thực tế cho việc mở rộng diện tích chè Shan trong tương lai vàcũng là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng chè shan Suối Giàng [35]
1.2.2.4 Đánh giá tình hình chung về sản xuất chè ở Việt Nam
* Những thành tựu:
Chè Việt nam phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng,góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đã hình thành những vùng sản xuất tâptrung, duy trì được những vùng chè đặc sản Chất lượng chè nguyên liệu khôngngừng được nâng cao, tỷ lệ giống mới chất lượng cao trong cơ cấu giống chèViệt Nam ngày càng tăng
Công nghiệp chế biến đã có những chuyển biến khá mạnh Các công tyliên doanh và hợp tác với nước ngoài đã thu hút được hàng triệu USD vốn đầu
tư, trang bị được những thiết bị kỹ thuật công nghệ mới và hiện đại, đã có
Trang 20được những giống chè mới chất lượng cao góp phần mở rộng thị trường, thúcđẩy ngành chè Việt Nam phát triển cải thiện đời sống người lao động như liêndoanh chè Phú Bền tại Phú Thọ (với Bỉ), Mộc Châu - Sơn La, Sông Cầu -Thái Nguyên, Hà Tây, Lâm Đồng, Yên Bái… với Đài Loan và Nhật Bản, vớiIraq tại Thanh Sơn - Phú Thọ.
Quá trình canh tác thiếu phân bón hữu cơ đặc biệt là phân bón qua lá vàbón quá nhiều phân hóa học dẫn đến tình trạng đất đai bị nghèo kiệt dinhdưỡng và chai cứng, độ pH trong đất tăng cao
1.3 Những nghiên cứu về giống chè shan
Chè Shan (Camellia Sinensis var Shan) có thân gỗ, trong điều kiện tựnhiên có thể cao 6 - 10m, lá to dài (15 -18cm) lá màu xanh nhạt, đầu lá dài,răng cưa nhỏ, dày và đều, có 10 đôi gân chính, búp to, tôm chè có nhiều lông
tơ trắng mịn trông như tuyết, nên chè shan còn được gọi là chè tuyết Chèshan có thể cho năng suất khá, thích hợp cho chất lượng tốt cho chế biến chè
Trang 21đen Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung quốc lá to, chè Trung quốc là nhỏ,Chè shan có thể thích ứng trong điều kiện thời tiết nóng ấm, ẩm, địa bình cao [16].Năm 1918 người Pháp đã tiến hành điều tra chè ở một số tỉnh thuộc miềnBắc Việt Nam và đã mô tả: Những cây chè cổ thụ phân bố chủ yếu ở vùngcao phía Bắc Việt Nam, thân cây cao lớn, đường kính có cây tới 2-3 người
ôm Lá dài và rộng, mép lá có răng cưa sắc nhọn, búp non có nhiều lông tuyếtmàu trắng Phân bố rải rác dọc theo các con suối chảy ra 2 tuyến sông Lô vàsông Đà Vùng có nhiều chè cổ thụ là Hà Giang và các tỉnh lân cận như: YênBái, Lào Cai, Lai Châu Trong nhiều khu rừng tự nhiên có cây chè Shan hỗngiao với các loại cây rừng khác Trong quá trình du canh du cư của đồng bàocác dân tộc thiểu số tại Bắc Việt Nam phá bỏ rừng trồng cây lương thực, lúanương, ngô, sắn Một số nơi có tập quán giữ lại cây chè Shan, tiếp tục khaithác Cao hơn nữa còn biết trồng bổ xung (bằng hạt) tạo nên những nương chèShan hỗn giao theo dạng chè rừng mật độ trồng không đồng đều, thường biếnđộng từ 1500 - 4000 cây/ha, xác xuất tập trung nhiều ở mật độ 2500-3000cây/ha Đó chính là thứ chè shan núi cao có sức sinh trưởng khoẻ, năng suấtkhá, hương thơm vị ngon có thể chế biến sản phẩm chè chất lượng cao Đặcđiểm canh tác chè Shan núi cao nhìn chung còn khá đơn giản, hầu hết các câychè được khống chế ở độ cao 2,5 - 3,5m, tán rộng tuỳ theo sức sinh trưởng vàtuổi của cây (2 - 3 m) [17]
Đối với cây chè Shan, từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về điều tra, khảo sát, thu thập giống Song phải kể đến chương trình điều tra,tuyển chọn cây chè Shan núi cao trong phạm vi cả nước của Viện Khoa học
kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, bắt đầu từ năm 1995 Cácnghiên cứu đã liên quan đến điều tra và tuyển chọn cây chè Shan đầu dòng ởcác tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang và Lạng Sơn Nhữngcây đầu dòng ưu tú của các tỉnh đã lựa chọn được hiện nay vẫn tiếp tục đượctheo dõi và bảo tồn [25]
Trang 22Trong các năm 1994 - 1996, nhóm tác giả Đỗ Văn Ngọc và cộng sự(Viện nghiên cứu chè) đã phối hợp với Sở khoa học Hà Giang tiến hành điềutra và tuyển chọn cây chè shan tại các huyện Vị Xuyên, Hoàng Sù Phì vàĐồng Văn Tiếp đó, từ 2001 - 2005, đề tài “Nghiên cứu chọn tạo và nhângiống chè chất lượng cao” có nội dung: “Điều tra tuyển chọn cây chè shan núicao” Kết quả các đợt điều tra đã tuyển chọn được 13 cây chè shan đầu dòngcho tỉnh Hà Giang Các cây đầu dòng tiếp tục được nghiên cứu, nhân giốngbằng giâm cành và trồng bảo quản tại xã Cao Bồ - Vị Xuyên và xã Phó Bảng
- Đồng Văn của tỉnh Hà Giang Đề tài kết luận đặc điểm cây chè shan HàGiang sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt Do sống trong điềukiện sinh thái đặc biệt, gắn với tập quán canh tác của người Dao, ngườiH’mông với kiểu trồng trọt phân tán, quảng canh và để hỗn giao với hệ sinhthái tự nhiên, không bón phân hoặc sử dụng thuốc hoá học, chỉ thu hái tựnhiên, năng suất bình quân thấp từ 1,0 - 2,5 tấn/ha, nhưng có thể sản xuất sảnphẩm chè có ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới [19]
Các nghiên cứu về bón phân cho chè shan tập trung đã chỉ ra rằng Khibón bổ sung phân hữu cơ, vi sinh cho chè Shan tập trung năng suất chè tănglên đáng kể [18] Bón bổ sung thêm N làm mật độ búp và năng suất búp chètăng tương ứng so với đối chứng là 5,5%, 7,5% và 10,5 %, đồng thời làmgiảm chất chát trong chè (tannin, đạm) cải thiện chất lượng chè đen Tại Phú
Hộ - Phú Thọ, tỷ lệ N:P2O5:K2O tốt nhất cho giống chè shan (Tuổi 4) ShanChất Tiền là 3:2:1 để sản xuất chè đen [16]
1.4 Những nghiên cứu về đốn chè
1.4.1 Cở sở khoa học của kỹ thuật đốn chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn vàchu kỳ phát triển nhỏ
Chu kỳ phát triển nhỏ là chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè Hàng nămvào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô hạn…
Trang 23cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ thấphơn 100C Cây chè sinh trưởng trở lại khi nhiệt độ và ẩm độ tăng dần.
Chu kỳ phát triển lớn hay còn gọi là chu kỳ phát dục cá thể của cây, baogồm cả đời sống cây chè, được tính từ khi ra hoa chè được thụ phấn, hìnhthành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi giàcỗi và chết Chu kỳ này thường kéo dài 30- 50 năm, có khi tới hàng trăm năm.Các tác giả đã chia chu kỳ phát triển của cây chè ra làm 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt) được tính từ khi hoađược thụ phấn, hình thành hạt và quả chín
- Giai đoạn 2: Giai đoạn cây con tính từ khi hạt nảy mầm mọc thành câycho đến khi cây ra hoa kết quả lần đầu tiên
- Giai đoạn 3: Giai đoạn cây non được tính từ khi cây ra hoa đầu tiên chotới khi cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2 - 3 đến năm thứ 4 sau trồng)
- Giai đoạn 4: Giai đoạn chè lớn (giai đoạn kinh doanh sản xuất) thời kỳnày kéo dài 20- 30 năm có khi tới 50- 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống,đất đai và điều kiện canh tác
- Giai đoạn 5: Giai đoạn chè già, giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kỳkinh doanh sản xuất, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng.Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn người ta xây dựng các biệnpháp kỹ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng pháttriển tốt, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, phát huy hết tiềmnăng của giống Do đó việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của cácgiống chè trong vùng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng
- Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chèM.A.Alidatde (1964) cho rằng: Khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứnhất, thứ hai đã có những mầm nách; khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè cómầm nách thứ ba, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứtư…, ông cho rằng khi mầm chè qua đông hai lá đầu tiên bao bọc mầm chè là
lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách của lá thứ tư và lá thứ năm của đợt
Trang 24sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ hai (theoDjemukhatde- 1976) [8].
- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn vàkhông đốn Djemukhatde (1976) đã chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống khôngđốn thì các mầm chè phân hóa trong vụ thu, vụ đông sẽ hình thành búp trong vụxuân Trong khi đó ở nương chè có đốn thì sự phân hóa mầm chè chủ yếu đượctiến hành trong vụ xuân
- Nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất, K.E.Bakhơtatde (1948)cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích và năngsuất là tương quan chặt: r = 0,965 0,004 Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979),búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên cácđợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian [12]
- Cũng theo Nguyễn Ngọc Kính, [12] trong một năm nếu để chè sinhtrưởng tự nhiên thì cây chè có từ 3 - 5 đợt sinh trưởng, gọi là đợt sinh trưởng
tự nhiên Nếu hái búp liên tục thì một năm có 6 - 7 đợt sinh trưởng, gọi là sinhtrưởng nhân tạo hay còn gọi là sinh trưởng trong điều kiện thu hái búp Thờigian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổicây chè, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác
- Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè và sản lượng các tác giả Nguyễn VănToàn (1994) [26] cho rằng sản lượng cây chè có hai yếu tố quyết định: Số lượngbúp trên cây và khối lượng búp, trong đó số búp trên cây có tương quan thuậnchặt với sản lượng, còn yếu tố khối lượng có tương quan không chặt với sảnlượng, số búp trên cây là yếu tố nhạy cảm còn khối lượng búp là yếu tố ổn định
và vì thế số búp trên cây có ý nghĩa lớn đối với sản lượng
- Ngiên cứu về cấu trúc lá chè, các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn VănToàn (1994) cho rằng: Các giống chè có sản lượng cao thường có góc lá 40- 600,khoảng cách giữa hai lá lớn Các tác giả cũng cho rằng khoảng cách giữa hai lá cótương quan thuận với sản lượng và số lượng búp trên cây (r = 0,624 + 0,034) [27].Nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năngsuất và các yếu tố cấu thành năng suất, tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) cho rằng:
Trang 25Hệ số diện tích lá có quan hệ thuận với mật độ búp từ tháng 5 đến tháng 12.
Hệ số tương quan giữa hệ số diện tích lá và khối lượng rễ là 0,934; tác giả còncho rằng hệ số diện tích lá có tương quan thuận, chặt với năng suất [19]
Theo Nguyễn Văn Toàn (1994) thì đặc điểm của cây chè có sản lượngcao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và có kích thước
lá lớn (tạo ra khối lượng búp lớn) [26]
1.4.2 Những nghiên cứu về kỹ thuật đốn chè
Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởngphát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Dovậy kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu
- Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn Đểxác định dạng hình đốn cần hiểu kỹ hoạt động sinh lý của cây chè Trong điềukiện sinh thái nhất định cần đánh giá kỹ thuật đốn chè trong mỗi hoạt độngsinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa trong cây Tác giả còn chorằng không thể cùng áp dụng một dạng đốn hay cùng một thời vụ đốn cho câychè ở những vùng sinh thái khác nhau [20]
- Nghiên cứu ảnh hưởng của đốn đến cân bằng giữa các bộ phận trên mặt đất
và dưới mặt đất của cây chè các tác giả J.J.B.Deus (1931), Eden (1958) đều chorằng: Đốn chè là phá vỡ cân bằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cânbằng mới sau đốn Nếu ta không tạo cho cây chè một cần bằng mới sau đốn thì câychè sẽ cho búp kém [20]
- Các kết quả nghiên cứu về loại hình đốn cho thấy: Ở Liên Xô cũ, TrungQuốc trong điều kiện lạnh thường đốn dạng mâm xôi; ở các nước sứ nóngnhư Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi thường sử dụng dạng đốn xiên Ở Zaia khiđốn người ta thường để lại một cành vượt giữ cho cây chè không bị chết [21]
1.5 Những nghiên cứu về dinh dưỡng, phân bón và phân bón hữu cơ
1.5.1 Dinh dưỡng đối với cây chè
Trang 261.5.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến ít chua, độ dày tầng đấtcàng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây chècàng kéo dài So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở nhữngnơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốncây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài thì cần phảibón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau: pHKCL
từ 4,5 – 6,0; Đất có độ phì tốt; Đất sâu, tầng đất từ 60 – 100 cm
Mối quan hệ giữa đất đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp, chấtlượng chè do nhiều yếu tố quyết định Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rấtnhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinhdưỡng sẵn có ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệuquả
Phân bón có vai trò quan trọng đối sinh trưởng và năng suất chè Nhiềucông trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều chothấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50 - 60% tổng hiệu quả củacác biện pháp nông học đối với năng suất chè
1.5.1.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàngnăm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Đối tượng thu hoạchchè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch một lượng lớn búp tươi, vì thế lượngdinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì câytrồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp
*Dinh dưỡng đạm đối với chè
Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm vềhiệu lực phân bón đã chứng minh: Đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, cótương quan chặt chẽ với năng suất
Đối với cây lấy lá nói chung và cây chè nói riêng thì dinh dưỡng đạm làyếu tố quan trọng có tương quan chặt chẽ đến năng suất, bón đạm thúc đẩy sự
Trang 27phát triển của cây, giúp cho búp, lá phát triển, lá to xanh, quang hợp tốt dẫnđến năng suất, sản lượng chè tăng Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú
Hộ cho thấy: Bón đạm làm tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần so với đối chứngkhông bón [13]
Về phẩm chất: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằngbón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm phẩm chấtchè, đặc biệt là sản xuất chè đen Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin,cafein giảm, protein tăng, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [13]
Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng,song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thì bón 200 kg N là hiệu quả nhất [13]
* Dinh dưỡng kali đối với cây chè
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộphận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làmtăng khả năng hoạt động của các men, tăng sự tích lũy gluxit, các axitamin vàkhả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp chè, làmtăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè
Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè, theoAD.Makharobitze (1948) cho thấy: Phẩm chất trong các công thức được xếptheo thứ tự P, K, N Quy trình bón phân cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chèViệt Nam năm 1988 quy định: Năng suất đạt 60 - 100 tạ/ha, bón 80 - 100 kg
K2O/ha, năng suất > 100 tạ/ha bón 100 - 120 K2O/ha [13]
* Dinh dưỡng lân đối với cây chè
Theo Enden (1958), trong búp non của chè có 1,5% P205 Lân tham giavào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quantrọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự pháttriển của cây, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét và chốnghạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm và có vết nâu hai bên gân chính, búpnhỏ, năng suất thấp [13]
Trang 28Kết quả thí nghiệm 10 năm bón N,P,K cho chè của trại thí nghiệm chèPhú Hộ cho thấy: Trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không
có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu dophân bón là rất rõ rệt và chắc chắn, bình quân 10 năm 1 kg P2O5 làm tăngđược 3,5 kg chè búp tươi [13]
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 - 32 mg/100g đất thì cây chè sinhtrưởng bình thường, nếu là 10 - 12 mg/100g đất thì thiếu lân Quy trình bón
P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5 năm bón P2O5 1lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân chuồng sau khi đốn, bónsâu khoảng 20 - 30 cm [13]
1.5.2 Phân bón hữu cơ cho chè
Chất hữu cơ trong đất được hình thành do sự phân hủy xác thực vật nhưthân rễ, lá, v.v…cơ thể vi sinh vật (VSV) và động vật đất VSV phân giải chấthữu cơ tạo ra nhóm chất mùn không đặc trưng chiếm 10- 20% tổng số, gồmcác hợp chất các bon Hidrocacbon, axit hữu cơ, rượu este, andehit, nhựa…cung cấp thức ăn cho thực vật; kích thích, ức chế tăng trưởng, cung cấp khánhsinh và Vitamin Nhóm chất mùn điển hình gồm những chất hữu cơ cao phân
tử, phức tạp được tạo ra do quá trình mùn hóa xác thực vật, VSV, động vật.Axit humic, axit funvic, humin, unmin chiếm khoảng 80 - 90% tổng số Chấthữu cơ là một chỉ tiêu quan trọng của độ phì nhiêu đất và liên quan tới thànhphần lý hóa, sinh học đất.[11]
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cungcấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làmcho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất,làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật học trong đất, làm tăng các thànhphần dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất
Tuy vậy việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm, nhất là đốivới vùng miền núi do địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế,người dân không biết kỹ thuật chế biến phân xanh ủ phân hữu cơ tại chỗ Bón
Trang 29phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi cây chè còn nhỏ và khigieo trồng Do đó khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu
cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu làm tăng lượng chất hữu cơ cho đất.Theo kết quả nghiên cứu của Viện chè Phú Hộ cho thấy việc bón phân hữu cơkết hợp với phân vô cơ thì năng suất chè sẽ tăng 30 - 32% so với sử dụngriêng rẽ phân vô cơ [8]
Theo quy trình bón phân hữu cơ cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chèViệt Nam quy định: Đối với chè kinh doanh 3 năm bón một lần với lượng 20– 30 tấn/ha kết hợp với phân lân [14]
Bón phân trả lại cho đất các chất dinh dưỡng mà cây đã lấy đi là rất quantrọng và cần thiết Muốn bón phân hiệu quả thì phải bón phân đúng nguyêntắc như: Bón theo tuổi và năng suất cây; Bón cân đối các yếu tố N, P, K, bón
bổ sung phân trung lượng và vi lượng khi cần thiết; Bón đúng lúc và đúngcách, đúng đối tượng, bón lót đầy đủ, bón thúc kịp thời; tùy theo điều kiện đấtđai, khí hậu mà quy định lượng phân, tỷ lệ bón cho thích hợp
Năm 1960 - 1964 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, phân hữu cơ(phân ủ, cành lá chè già đốn hàng năm) đều có hiệu lực tăng năng suất chèđáng kể và cải thiện lý hóa tính của đất Cành lá chè đốn tốt hơn cây phânxanh trồng xen giữa hàng chè [20] Năm 1966 - 1969 ở Phú Hộ, nghiên cứutác dụng của phân ủ 3 năm bón phân một lần (phân ủ gồm: phân bò, rác thải
và cỏ tế), với lượng bón 20 - 25 tấn/ha Kết quả cho năng suất chè búp tươi là5- 6 tấn/ha, so với không bón chỉ có 1,8 - 2 tấn/ha [20]
Năm 1970- 1971 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, trên nền phânbón 100 kg N + 50 kg K20, bón ép xanh 13 tấn lá chè đốn cuối năm + lámuồng dùi đục, năng suất chè tăng 6- 12% [20] Năm 1988 Viện nghiên cứuchè Phú Hộ bón phân Komix 3.000 kg/ha cho chè trung du năng suất chè tăng13,4- 16,9%; đối với chè PH1 tăng 5,0- 6,0% tỷ lệ búp chè A, B; đồi chè có
bộ lá xanh đậm, lá dày, tán dày, mật độ búp tăng 9,5% [20]
Trang 301.6 Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh và bón phân hữu
cơ vi sinh cho chè
1.6.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật
1.6.1.1 Vai trò vi sinh vật đất trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
Vi sinh vật sống trong đất và nước tham gia tích cực vào quá trình phângiải các xác hữu cơ biến chúng thành CO2 và các hợp chất vô cơ khác cungcấp dinh dưỡng cho cây trồng
Vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S vàtạo ra các vòng tuần hoàn trong tự nhiên
Tăng cường sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất góp phần hìnhthành chất mùn trong đất để tăng độ phì trong đất
Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc phân giải các phế phẩm côngnghiệp, phế thải đô thị, phế thải công nghiệp cho nên có vai trò quan trọngtrong việc bảo vệ môi trường [5], [6]
- Vi khuẩn hiếu khí (aerobic bacteria): có nhiều ở những nơi đất cao
ráo, thoáng khí
- Vi khuẩn kỵ khí hay yếm khí (anaerobic bacteria): thường xuất hiện
nhiều trong đất ngập nước
- Vi khuẩn phân hủy xelluloza: thường gặp là Clostridium,
Trang 31- Vi khuẩn hóa ammon: (ammonifer): phân hủy N hữu cơ thành
ammonium (CH4) như: Pseudomonas, Bacillus, Clostridium, Serratia, Micrococcus, Achromobacter
- Vi khuẩn hóa nitrate: giữ vai trò chuyển biến NH4+ thành NO3- bàng cáchcung cấp oxi cho NH4 Quá trình này xảy ra qua hai giai đoạn do 2 tiểu nhóm:
+ Vi khuẩn oxid hóa ammon ( ammonia oxidizer): chuyển biến NH4
thành NO2 (nitrite) gồm có các chi Nitrosomonas, Nitrosococcus, Nitrosospira, Nitrosocystic và Nitrospgloea.
+ Vi khuẩn oxi hóa ntrite (nitrite oxidizer): oxi hóa NO2 (nitrite) thành
NO3 (nitrate), gồm có 2 khí Nitrobacter và Nitrocystis
- Vi khuẩn khử N (denitrifier): giữ vai trò khử oxy của NO3 để chuyểnthành N2
- Vi khuẩn cố định N (nitrogen fxer): cố định N của khí quyển có thể là
vi khuẩn cộng sinh như: Rhizobium hoặc không cộng sinh như: Nitrobacter,Clostridium, Azospirillum
1.6.2 Nghiên cứu về các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza
1.6.2.1 Sự phân giải xelluloza
* Xelluloza trong tự nhiên
Xelluloza là thành phần chủ yếu của màng tế bào thực vật Ở cây bôngXelluloza chiếm tới 90% trọng lượng khô, ở các cây gỗ nói chung Xellulozachiếm 40 - 50% [31] Hằng ngày, hàng giờ một lượng lớn Xelluloza được tíchlũy lại trong đất do các sản phẩm tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết
đi, cành lá rụng xuống Một phần không nhỏ do con người thải ra dưới dạngrác, giấy vụn, phôi bào, mùn cưa Nếu không có quá trình phân giải của visinh vật thì lượng chất hữu cơ khổng lồ này sẽ tràn ngập trái đất
Trang 32Xelluloza có cấu tạo dạng sợi, có cấu trúc phân tử là 1 polimer mạchthẳng mỗi đơn vị là một disaccarrit gọi là xellobioza Xellobioza có cấu trúc
từ 2 phân từ D-glucoza Cấu trúc bậc 2 và bậc 3 rất phức tạp thành cấu trúcdạng lớp gắn với nhau bằng lực liên kết hydto Lực liên kết hydro trùng hợpnhiều lần nên rất bền vững, bởi vậy xelluloza là hợp chất khó phân giải [24]
* Cơ chế của quá trình phân giải Xelluoza nhờ vi sinh vật
Xelluloza là một cơ chất không hòa tan khó phân giải bởi vậy vi sinhvật phân hủy xelluloza phải có một hệ enzym xellulaza bao gồm 4 enzymkhác nhau Enzym thứ nhất có tác dụng cắt đứt liên kết hydro biến dạngxelluloza tự nhiên có cấu hình không gian thành dạng xelluloza vô định hình,enzym này gọi là xenlobiohydrolaza
Enzym thứ hai là Endoglucanaza có khả năng cắt đứt các liên kết β-1,4bên trong phân tử tạo thành chuỗi dài Enzym thứ 3 là Exo-gluconaza tiếnhành phân giải các chuỗi trên thành disaccarit gọi là xellobioza [9]
1.6.2.2 Một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza
Một số nhóm vi khuẩn có khả năng phân giải Xelluloza: Pseudomonas; Bacillus; Cellulomonas; Vibrio; Cellvibro; Rumicocus falvefeciens.
Trong thực tế người ta thấy chi Pseudomonas và Bacillus thuộc nhómhiếu khí là có các chi có tần suất phân lập được cao nhất Ngoài ra còn có cácchi kị khí phân lập được trong dạ cỏ của động vật nhai lại như rumicocusfalvefeciens, R.albus
Trang 33* Nhóm xạ khuẩn
Xạ khuẩn là một nhóm vi khuẩn đặc biệt tế bào đặc trưng bởi sự phânnhánh, hệ sợi chia thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh, bào tử bắn,thường có mặt quanh năm trong các loại đất [4]
Một số nhóm xạ khuẩn phân giải xelluloza là: Actinomyces; Streptomyces; Thremoactinomyces; Micromonospora; Proactinomyces;
* Nhóm nấm
Có nhiều loài nấm phân giải xelluloza mạnh nhưng phần lớn chúngthường phân hủy xelluloza khi nhiệt độ cao và ở nhiệt độ 20 -300C, pH trongkhoảng từ 3,5 -6,6 vì vậy chúng thường phân hủy xelluloza ở giai đoạn cuốicủa bể ủ, khi nhiệt độ bể ủ lạnh đi
Một số nhóm nấm có khả năng phân giải xelluloza là: Trichoderma viride; Pennicillium pinophium; T.Reesei; Fusarium solani
Thông thường trong các nhóm vi sinh vật chuyển hóa xelluloza và
Ligno xelluloza là các loài Aspegillus Niger, Trichoderma reesei, Aspegillussp, penicillium sp, Paeceilomyces sp, Trichurus spiralis, Chetomium sp.
1.6.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón vi sinh vật trên thế giới và Việt Nam
Vi sinh vật là một thành phần của hệ thống sinh học đất Cùng với chấthữu cơ, vi sinh vật sống trong đất, nước và vùng rễ cây có vai trò quan trọngtrong các mối quan hệ gữa cây và đất trồng Hầu như mọi quá trình xảy ratrong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật Vi sinhvật là một yếu tố sinh học có ý nghĩa của hệ thống dinh dưỡng cây trồng [29].Theo tiêu chuẩn Việt Nam năm 1996: “Phân VSV là sản phẩm chứa các visinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành,thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà câytrồng có thể sử dụng được hay các chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất
Trang 34(hoặc) chất lượng nông sản Phân VSV phải đảm bảo không gây ảnh hưởng xấuđến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản”.
Theo công nghệ sản suất có thể chia phân vi sinh thành hai loại như sau:Phân vi sinh chất nền mang khử trùng có mật độ vi sinh hữu ích >109
CFU/g (ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn 1/1.000 so với VSV hữuích Phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằngcách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào
cơ chất không thông qua công đoạn khử trùng Phân bón dạng này có mật
độ VSV hữu ích >106 CFU/g (ml) và được sử dụng từ vài trăm đến hàngngàn kg (lít) /ha
Dựa trên cơ sở tính năng tác dụng của các VSV chứa trong phân bón,phân bón vi sinh vật còn được gọi dưới các tên: Phân vi sinh cố định nito,phân vi sinh vật phân giải hợp chất phosphor khó tan, phân VSV kích thích,điều hòa sinh trưởng thực vật và phân VSV chức năng [30]
* Phân vi sinh vật cố định nito.
Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí Đáng chú
ý có loài: Tảo lam (Cyanobacterium), Atozobacter, Rhyzobium, xạ khuẩnActinomyces, Klebsiella…
* Phân vi sinh hòa tan lân
Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hòa tan lân.Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm hòa tan lân,nhóm hòa tan lân bao gồm : Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vikhuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens Nhóm vi sinh vật này dễ dàngnuôi cấy trên môi trường nhân tạo Sử dụng các chế phẩm vi sinh hòa tan lânđem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân [30]
Trang 35* Phân chứa vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây : Gồm một nhóm
nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…nhómnày được các nhà khoa học phân lập ra từ tập đoàn vi sinh vật đất
* Chế phẩm EM
Chế phẩm EM do Giáo sư Teuro Higa, Trường đại học tổng hợp Ryukyus,OkiNaWa sáng chế và được áp dụng vào thực tiễn từ năm 1980 [40] Chế phẩmđược chính thức đưa vào Việt Nam từ tháng 4 năm 1997 Tại Nhật Bản, EM(Effective Microorganisms) được áp dụng thực tiễn vào đầu năm 1980 sau 15năm nghiên cứu Chế phẩm đẩu tiên ở dạng dung dịch bao gồm 80 loài vi khuẩn
từ 10 loại được phân lập từ Okinawa và các vùng khác nhau của Nhật Bản sau đó
EM được sản xuất và sử dụng ở trên 40 nước trên thế giới [39]
Các nghiên cứu áp dụng công nghệ EM đã đạt được kết quả tốt trong cáclĩnh vực xử lý môi trường, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến phân bón vi sinhcho cây trồng Qua các báo cáo khoa học tại các Hội nghị Quốc tế về công nghệ
EM cho thấy công nghệ EM có thể gia tăng cân bằng sinh quyển, tính đa dạngcủa đất nông nghiệp, tăng chất lượng đất khả năng sinh trưởng, chất lượng sảnphẩm nông nghiệp Vì thế các nước trên thế giới đón nhận EM như một giảipháp để đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môitrường Nhiều nhà máy, xưởng sản xuất EM đã được xây dựng ở nhiều nước trênthế giới và đã sản xuất được hàng ngàn tấn EM mỗi năm như: Trung Quốc, TháiLan ( hơn 1000 tấn/năm), Myanma, Nhật Bản, Brazil ( khoảng 1.200 tấn/năm),Srilanca, Indonesia( khoảng 50 -60 tấn/năm) [39], [40], [41]
Theo Ahmad R.T và cộng sự (1993) [38] sử dụng EM cho các cây trồngnhư lúa, lúa mì, bông, ngô và rau ở Pakistan làm tăng năng suất các cây trồng.Năng suất lúa tăng 9,5%, bông tăng 27,7% Đặc biệt bón kết hợp EM-2 vàEM-4 cho ngô làm tăng năng suất lên rõ rệt Bón EM- 4 cho lúa, mía và rau
đã làm tăng hàm lượng chất dễ tiêu ở trong đất Hàm lượng đạm dễ tiêu tăng2,2% khi bón kết hợp NPK + EM-4 ( ZaaachariaP.P, 1993) [40]
* Thu thập, phân lập, tuyển chọn chủng vi sinh vật
Trang 36Các nhóm VSV chính được sử dụng làm phân bón sinh học bao gồm:VSV cố định nitơ, VSV phân giải hợp chất phospho khó tan, VSV tổng hợpkích thích sinh trưởng thực vật, VSV đối kháng VSV gây bệnh vùng rễ câytrồng và VSV chuyển hóa chất hữu cơ.
Các bước phân lập tuyển chọn chủng VSV bao gồm:
Lấy mẫu và xử lý mẫu đất, rễ cây
Phân lập
Làm thuần
Xác định hoạt tính
Đánh giá ảnh hưởng đối với cây trồng
Xác định điều kiện sinh trưởng phát triển và bảo quản
Lập lý lịch khoa học
Lưu giữ, bảo quảnPhạm Văn Toản, Phạm Bích Hiên (2003) đã nghiên cứu tuyển chonmột số chủng Azotobacter đa hoạt tính sinh học sử dụng cho sản xuất phânbón vi sinh vật chức năng Kết quả đã xác định được 9 chủng Azotobactet cókhả năng cố định nito, sinh tổng hợp IAA và ức chế vi khuẩn héo xanh Hầuhết các chủng Azotobacter đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt ởnhiệt độ thích hợp là 25 300C và pH từ 5,5 - 8,0 Đồng thời cũng tuyển chọnđược 3 chủng Azotobacter vừa có hoạt tính sinh học cao, vừa đa hoạt tính có cácđiều kiện sinh trưởng và phát triển thích hợp với điều kiện sản xuất và ứng dụng
Trang 37phân bón vi sinh vật ở nước ta [30] Cũng theo tác giả Phạm Văn Toản (2005)[32] khi nghiên cứu sử dụng phân bón vi sinh vật đa chủng nhằm đánh giá mức độảnh hưởng của bệnh héo xanh do vi khuẩn đối với một số cây trồng cạn ở miềnBắc kết quả cho thấy: phân vi sinh vật cố định nitơ có tác dụng nâng cao năng suấtkhoai tây, lạc, cà chua, đồng thời hạn chế bệnh héo xanh vi khuẩn ở các cây trồngđược thử nghiệm.
Phế phụ phẩm nông nghiệp ở nước ta chủ yếu bao gồm: vỏ trấu, lõingô, bã mía, mùn cưa, vỏ dừa, bã thải nhà máy đường, nhà máy sắn, tổng sảnlượng phế thải sinh khối hàng năm ở nước ta có thể đạt 8-11 triệu tấn, trong
đó riêng công nghiệp mía đường khoảng 2,5-3 triệu tấn bã mía, 0,25-0,3 triệutấn mùn mía Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2 - 0,25 triệu tấn
vỏ cà phê Vùng Tây Bắc có tới 55.000-60.000 tấn mùn cưa từ việc khai thác
và chế biến gỗ Tính riêng vỏ sắn thải ra từ các nhà máy sắn đóng trên địa bàn
3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang mỗi năm lần lượt là: 4.500; 11.000 và2.200 tấn Ngoài ra còn có một số cây tạo nguồn phân xanh tốt như: đậu mèo(năng suất 20 tấn/ha đến lúc ra hoa tạo lớp thảm dày đạt trên 35 tấn/ha),Muồng hoa vàng lá tròn ( năng suất 30 - 40 tấn/ha), Keo giậu, cỏ Lào, các loại
cỏ sinh khối lớn và các phế thải nông nghiệp như rơm rạ, cỏ và các cây hoangdại khác nhau như: tế, guột, cỏ Lào, cúc quỳ là nguồn nguyên liệu sạch
Phân bón VSV mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song do nhiều yếu tốchủ quan và khách quan nên mức độ ứng dụng trong sản xuất hiện nay cònhạn chế Chế phâm vi sinh vật (Phân bón vi sinh) chỉ được triển khai ứngdụng chủ yếu trong các đề tài dự án Do người dân không quen sử dụng cácloại phân hóa học và hiệu lực của phân VSV không thể đánh giá bằng mắtthường nên việc đưa vào áp dụng đại trà cũng gặp nhiều khó khăn
1.6.2 Các nghiên cứu về bón phân hữu cơ vi sinh cho chè
Các thí nghiệm bón bổ sung phân vi sinh cho chè Shan tập trung và chèshan phân tán CT1: Nền + 20 tấn phân hữu cơ CT2: Nền + 2 tấn phân vi sinh
Trang 38CT3: Nền + 3 tấn phân vi sinh CT4: Nền + 4 tấn phân vi sinh CT5: Nền bón N+ P + K = 300kg cho 1ha (Đ/C) Đối tượng nghiên cứu là giống chè Shan ởNậm Búng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Chủng loại phân bón vi sinh làPhân bón Sông Gianh - Thí nghiệm bón bổ sung phân vi sinh cho chè Shanphân tán: Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trítheo phương pháp ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) CT1: Nền + 20 tấn phânhữu cơ CT2: Nền + 2 tấn phân vi sinh CT3: Nền + 3 tấn phân vi sinh CT4: Nền+ 4 tấn phân vi sinh CT5: Nền bón N + P + K = 300kg cho 1ha (Đ/C) đốitượng nghiên cứu là giống chè Shan ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Chủngloại phân bón vi sinh là Phân bón Sông Gianh đã chỉ ra: - Khi bón bổ sungphân hữu cơ, vi sinh cho chè Shan tập trung năng suất chè tăng lên đáng kể, ởCT4 (nền + phân vi sinh 4 tấn/ha) và CT1 (nền + 20 tấn phân hữu cơ) cho năngsuất đạt 17,50 - 17,60 tấn/ha tăng từ 16,66 - 17,33% so với đối chứng; CT3năng suất tăng 15,00% so với đối chứng và công thức CT2 (nền + phân vi sinh
2 tấn/ha) cho năng suất 16,00 tấn/ha, chỉ tăng 6,66% so với đối chứng Chấtlượng chè qua thử Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất 887nếm cảm quan đều đạt điểm thử nếm cao hơn công thức đối chứng [19]
Bón phân hữu cơ vi sinh đã nâng cao năng suất, chất lượng búp chè và nângcao hiệu quả sử dụng phân bón vô cơ Sử dụng phân HCVS sản xuất từ bã sắn có thể
sử dụng thay thế một phần lượng đạm vô cơ cho các giống chè LDP1 và LDP2 [11].Theo Hà Thị Thanh Đoàn (2014) bổ sung các loại phân hữu cơ sinh họcthay thế một phần phân khoáng làm tăng năng suất, chất lượng cũng như cảithiện độ pH, tính chất đất Bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học thay thế mộtphần phân khoáng năng suất từ 2,7 – 16,6% Trong đó bón bổ sung phân hữu
cơ sinh học Sông gianh cho năng suất và sản lượng cao nhất, cao đơn đốichứng 16,6% Sau 3 năm độ xốp đất tăng từ 58,85 (Phân HCVS Quế lâm) đến60,07% (phân HCSH Sông Gianh) [10]
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chè Shan 42 năm tuổi: Chè shan được trồng năm 1972, trồng trên đất feralitvàng đỏ được phát triển trên đá granit, chè được trồng theo phương pháp phân tán,mật độ: 1600 cây/ha, cây chè cao trung bình 1,8 - 2m, năng suất chè 1,25 tấn/ha
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
2.1.2.1 Đất trồng chè nơi thí nghiệm:
- Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất ferarit, có dộ dốc 10% Tiến hành phântích một số chỉ tiêu cơ bản về thành phân dinh dưỡng trong đất trước khi tiến hànhthí nghiệm Mẫu đất được lấy theo theo tiểu chuẩn: TCVN 5297:1995
- Cách lấy mẫu phân tích: Trên mỗi loại đất thí nghiệm của lô thí nghiệm lấy 5điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm lấy 0,5 kg đất, ở tầng canh tác từ 0-30cm, sau
đó đem trộn và dải mỏng, đều trên nền ximăng với diện tích 0,5 m2, sau đó nhặtsạch rễ cây, tạp chất, lấy 5 điểm đường chéo với số lượng 1kg (1000g) Sau khi lấyxong mẫu đất đem về phòng thí nghiệm tại Trung tâm kiểm nghiệm, chứng nhậnchất lượng đất và vật tư nông nghiệp - Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnhVĩnh Phúc (mẫu được lấy trước khi tiến hành thí nghiệm), tiến hành phân tích cácchỉ tiêu về đất Kết quả phân tích mẫu đất làm thí nghiệm II và thí nghiệm III đượctrình này ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về đất làm
thí nghiệm II và III
Tên mẫu đất Chỉ tiêu và phương pháp phân tích
Đất làm thí nghiệm II
Đất làm thí nghiệm III
Trang 40P 2 O 5 tổng số ( P 2 O 5 %); (TCN 373 – 1999) 0,1 0,1
2.1.2.2 Phân hữu cơ:
- Phân hữu cơ gồm: Phân chuồng, phân xanh, phân xanh tổng hợp
+ Phân chuồng: là loại phân trâu bò sẵn có tại địa phương
+ Phân xanh: Là thân, cành lá cây cốt khí 8 tháng tuổi, tiến hành ép xanh
kết hợp phun xử lý chế phẩm Compost Maker (tùy theo từng công thức) vùi kín
+ Phân xanh tổng hợp: Là thân, cành, lá, của các loại thực bì trên nươngchè: Các loại cây hòa thảo, chó đẻ, cỏ lào, cỏ dại tổng hợp, cành lá chè đốn…được băm nhỏ 20 - 30cm, sau đó được ép xanh, phun xử lý Chế phẩm
Compost Maker (tùy theo từng công thức), vùi kín đất;
Phân tích thành phần chất dinh dưỡng chính có trong phân hữu cơ khi tiếnhành thí nghiệm II, thí nghiệm bón phân hữu cơ, theo tiêu chuẩn: 10TCN 301 -
2005, Phương pháp lấy mẫu phân bón và chuẩn bị mẫu Lấy mẫu phân chuồng,phân xanh, phân xanh tổng hợp để phân tích các chỉ tiêu về thành phần dinhdưỡng chính có trong các loại phân trên Mẫu được lấy và đem về phòng thínghiệm Trung tâm Kiểm nghiệm, Chứng nhận Chất lượng đất và Vật tư nôngnghiệp - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc để phân tích.Kết quả phân tích các loại phân hữu cơ sử dụng bón cho thí nghiệm II được trìnhbày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Hàm lượng các chất chính trong các loại phân hữu cơ