Thực tế cũng đã cho thấy sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc đổi mới GD một cách toàn diện cả về nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học… Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, Ban
Trang 1UBND TỈNH QUẢNG NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM KHOA LÝ – HÓA – SINH
ĐOÀN HOÀNG PHƯỢNG
THIẾT KẾ, CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THPT THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG
TẠO CỦA HỌC SINH.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tam Kỳ, tháng 04 năm 2015
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàndiện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc”[6] Thực tế cũng đã cho thấy sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước
ta trong việc đổi mới GD một cách toàn diện cả về nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học… Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trungương khoá XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mớimạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cáchnghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,
kỹ năng, phát triển năng lực.”[5]
Vật lý chính là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triểncủa khoa học VL gắn bó chặt chẽ và tác động trực tiếp đến sự tiến bộ của khoahọc kỹ thuật Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức VL có giá trị lớn trong đờisống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc CNH - HĐH đất nước Do đóviệc nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn này ở trường THPT là rất quantrọng
Bên cạnh đó, VL lại là môn khoa học thực nghiệm, trong đó có sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sựthống nhất giữa lý luận và thực tiễn Vì vậy, việc rèn kỹ năng, kỹ xảo thực hành
TN sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc phát hiện những đặc tính, quy luật của tự nhiên cũngnhư kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lý thuyết Chính vì lẽ đó mà việc sửdụng TNVL là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học, góp phần phát huytính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủquan và khách quan, vấn đề sử dụng TNVL trong dạy và học còn nhiều hạn chế
Trang 4cần thiết Do bài học nhiều kiến thức, thiếu thời gian nên GV ngại TN; số lượngthiết bị không đủ nên HS chỉ được quan sát trong khi sĩ số HS quá đông làm khảnăng quan sát bị hạn chế Cũng có thể do thiết bị TN được cung cấp nhiều nhưngkhông đồng bộ, các thiết kém chất lượng dễ bị hư hỏng trong vận chuyển, bảoquản mà không có các thiết bị dự trữ để thay thế nên khi tiến hành TN thườngcho kết quả không chính xác Để khắc phục thực trạng đó nhiều GV đã tự thiết kế
và chế tạo một số thiết bị TNVL nhằm phục vụ tiết dạy, khiến giờ học trở nênsinh động, quan trọng hơn đó là giúp HS có thể kiểm nghiệm lại và khắc sâunhững kiến thức đã học Đó có thể là những TN rất đơn giản từ những vật liệugần gũi trong cuộc sống hằng ngày và được vận dụng rất nhiều thực tế nhưngcũng không kém phần thuyết phục Không những vậy, GV có thể đưa ra yêu cầu
về thí nghiệm tự tạo như một bài tập về nhà cho các nhóm hay cá nhân từng HS,bắt buộc hoàn thành và sẽ giới thiệu thành phẩm vào một tiết học sau đó, điềunày là một tín hiệu rất tốt đối với việc phát triển tư duy, tính tích cực và sáng tạo,đặc biệt hơn là rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp của HS…
Chính những ưu điểm của việc sử dụng TN nói chung và thí nghiệm tự tạotrong dạy học VL nói riêng mà trong quá trình học tập và rèn luyện ở mái trườngĐại học Quảng Nam, những sinh viên sư phạm chuyên ngành VL như tôi đã tìmtòi, nghiên cứu, thiết kế và chế tạo những dụng cụ TN đơn giản, rẻ tiền để sửdụng trong quá trình dạy học VL ở trường THPT nhằm rèn luyện và trao dồi kiếnthức, kỹ năng sử dụng TN trong dạy học VL của bản thân
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Thiết kế, chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS" làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu của đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận và vai trò của việc sử dụng TN trong dạy học VL
Đề xuất được phương án thiết kế và chế tạo một số TNTT trong dạy học
VL ở THPT
Thiết kế giáo án một số bài học cụ thể có sử dụng các TNTT được vàotrong giảng dạy để đánh giá hiệu quả của các sản phẩm tự tạo
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TN nói chung và TNTT nóiriêng trong dạy học VL
Quy trình thiết kế và chế tạo một số TN đơn giản trong chương trình VLphổ thông
Quá trình dạy học có sử dụng TNTT tại trường THPT Trần Cao Vân, TPTam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Luật GD, các chỉ thị của Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo về đổi mới giáo dục phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TNTT vào việcdạy học VL ở trường THPT
- Nghiên cứu nội dung, chương trình VL phổ thông
4.2 Phương pháp thí nghiệm
- Tiến hành nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sử dụng TN
4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành triển khai giảng dạy có sử dụng TNTT tại trường THPT đểkiểm định đánh giá kết quả
- Điều tra, quan sát
4.4 Phương pháp thống kê toán học
Dựa vào số liệu thu thập được sử dụng phương pháp thống kê thông dụng
để phân tích, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm cả về mặt định tính và địnhlượng
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề chế tạo và sử dụng TNTT trong dạy học VL phổthông đã có rất nhiều đề tài, bài báo và công trình nghiên cứu như đề tài “Thiết
kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lý ởtrường THPT” của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng đăng trên tạp chí thông báo khoa
Trang 6dụng thí nghiệm theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trongdạy học Vật lý ở trường trung học cơ sở”, của tác giả Huỳnh Trọng Dương - luậnvăn tiến sĩ giáo dục học, ĐH Huế năm 2007; đề tài “Đề xuất phương án và xâydựng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ dạy học Vật lý”, của tác giả Nguyễn Văn Quang -luận văn thạc sĩ giáo dục học ĐH Huế năm 2010 Tuy nhiên chưa có đề tài “Thiết
kế, chế tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng pháthuy tính tích cực và sáng tạo của HS"
6 Đóng góp của đề tài
Nếu việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo một số TNTT sử dụng trong quátrình dạy học VL ở trường THPT đạt hiệu quả sẽ cung cấp thêm được một số đồdùng dạy học bộ môn Vật lý góp phần tăng cường hứng thú, khả năng sáng tạo,tạo dựng niềm tin vào khoa học từ đó sẽ nâng cao chất lượng dạy và học bộ mônkhoa học này
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
1.1 Phát huy tính tích cực của HS trong học tập
1.1.1 Khái niệm tính tích cực và tích cực trong học tập
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê – chủ biên), tích cực chính là có ýnghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ động, có nhữnghoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển; hăng hái, nhiệt tình đốivới nhiệm vụ, với công việc
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, TTC là một phẩmchất vốn có của con người trong đời sống xã hội TTC biểu hiện ở sự nỗ lực củamỗi cá nhân (bằng thái độ, tình cảm, ý chí ), biến nhu cầu thành hiện thực Nólàm cho quá trình học tập, lao động, tìm tòi, sáng tạo có định hướng, từ đó conngười dễ làm chủ và điều khiển các hoạt động của mình nhằm thu được kết quảcao trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn Có thể xem TTC như là điềukiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trẻ trong quá trình GD
1.1.1.2 Tích cực trong học tập
TCC của con người biểu hiện trong tất cả các hoạt động xã hội Đặc biệtđối với lứa tuổi đi học thì sự biểu hiện này chủ yếu ở hoạt động học tập TTCtrong học tập chính là TTC trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố
Trang 8cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao cácchức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức.
Còn theo I.F.Kharlamop: TTC trong học tập có nghĩa là hoàn thành mộtcách chủ động, tự giác, có nghị lực, có mục đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hàohứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩxảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn của HS là trạng thái hoạt động của
HS đặc trưng bởi khát vọng học tập – huy động trí tuệ và nghị lực trong quá trìnhnắm kiến thức
Vậy ta có thể hiểu TTC trong học tập là sự tự giác, ý thức trong việc họcđược thể hiện qua khát vọng hăng say học tập và khả năng độc lập trong tư duy,trong hoạt động Kết quả học tập của HS phụ thuộc nhiều vào TTC của hoạt độngnhận thức Vì vậy để phát huy tính tích cực của HS, GV cần phải có PPDH họcphù hợp, giúp các em tìm thấy sự say mê, hứng thú trong học tập
1.1.2 Biểu hiện của tính tích cực trong học tập
TTC trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng cho khát vọnghọc tập, trí tuệ và nghị lực cao trên hành trình chiếm lĩnh tri thức TTC của HS có
cả mặt tự giác và tự phát Mặt tự giác của TTC thể hiện trạng thái tâm lí có mụcđích, đối tượng rõ ràng, do đó các hoạt động nảy sinh đều nhằm chiếm lĩnh đốitượng đó Còn đối với những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh bên trong thì đôi khi TTCđược tự phát từ tính tò mò, hiếu kì và sôi nổi ở từng mức độ khác nhau
Không những vậy, TTC còn được thể hiện trong các hoạt động trí tuệ vàkết quả học tập: HS có nhớ tốt những điều đã học không? Có hiểu bài học không?
Có thể trình bày lại nội dung bài học theo cách riêng không? Có vận dụng đượccác kiến thức đã học vào thực tiễn không? Tốc độ học tập có nhanh không?
Có nhiều trường hợp TTC trong học tập biểu hiện ở những hoạt động cơbắp nhưng quan trọng hơn hết là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hìnhthức biểu hiện này thường đi liền với nhau
Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểuhiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạcnhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi
Trang 9tìm ra lời giải cho một bài tập Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng
cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên
Bên cạnh đó kết quả học tập cũng là một dấu hiệu quan trọng và có tínhchất khái quát của TTC nhận thức Chỉ có TTC nhận thức một cách thườngxuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả nhận thức tốt
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực
TTC trong học tập của HS tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nólại là kết quả của nhiều nguyên nhân Có những nguyên nhân chỉ tự phát trongquá trình học tập, nhưng cũng có những nguyên nhân đã được hình thành lâu dàitrong nhân cách Nhìn chung TTC phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:
- Bản thân HS:
+ Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo )
+ Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sựtrải nghiệm cuộc sống )
+ Tình trạng sức khỏe
+ Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí )+ Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức)+ Môi trường tự nhiên, xã hội
1.1.4 Những biện pháp huy tính tích cực của HS trong học tập
Muốn cho HS cố gắng, đem hết sức mình để học tập, cần tạo ra ở họ hứngthú và động cơ học tập Những yếu tố này có thể xuất phát từ những nguyên nhânbên ngoài của quá trình học tập như: nhu cầu xã hội đòi hỏi phải hoạt động cóhiệu quả trong lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội, quyền lợi của xã hội dành
Trang 10hơn nếu học giỏi, sự ngưỡng mộ của mọi người, vinh dự cho gia đình Cónhững nguyên nhân bên trong xuất hiện trong quá trình học tập, tác động thườngxuyên đến HS đó là mâu thẫu nhận thức, là khó khăn, trở ngại của HS cần có một
sự cố gắng vươn lên, tự hoàn thiện bản thân mình Những yếu tố đó kích thíchtình tò mò vốn có ở lứa tuổi HS, muốn đáp ứng nhu cầu hoạt động của lứa tuổi,đem lại niềm vinh dự, tự hào nếu giải quyết thành công những trở ngại Hoạtđộng càng có kết quả thì động cơ càng được củng cố
Thông qua nghiên cứu, các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhậnthức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh và tổng hợp, có thể tóm tắt như sau:
- Nội dung dạy học phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS Cái mớiphải liên hệ, phát triển từ cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiếnthức phải có tính thực tiễn, gần gũi, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhậnthức của HS
- GV nên sử dụng các PPDH đa dạng: nêu vấn đề, TN, tổ chức thảo luận
và phối hợp chúng với nhau Trong quá trình dạy học để kích thích được sự hứngthú của HS, phát huy TTC của HS, GV cần phải lựa chọn, tìm tòi những PPDHphù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất
- Chế biến mỗi bài học, mỗi sự kiện thành một tình huống để HS tham giagiải quyết, không biến bài học lý thuyết thành một chuỗi câu thuyết giảng, trừutượng Đặc biệt cần phải chú ý đến việc tạo tình huống có vần đề để khởi động tưduy, tạo hứng thú học tập cho HS
- GV cần sử dụng các phương tiện dạy học: mô hình, sơ đồ, thí nghiệm,multimedia… Việc sử dụng các thiết bị DH, phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ gópphần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, tạo trực quan sinh động cho HS,kích thích hứng thú của HS, phát huy TTC của HS trong học tập
- GV sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, dạy họctheo nhóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm TN, thực hành trong phòng thínghiệm… tránh sự nhàm chán cho người học
- GV cần tổ chức cho HS luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễntrong các tình huống mới hoặc trong thực tế cuộc sống Không những vậy mà GVcũng cần phải thường xuyên tổ chức cho HS luyện tập dưới nhiều hình thức khác
Trang 11nhau, góp phần củng cố kiến thức cho HS, tăng cường vận dụng các kiến thức đãhọc vào các tình huống nhận thức mới.
- GV thường xuyên biểu dương những HS có thành tích học tập tốt, độngviên khen thưởng kịp thời những HS có thành tích học tập tốt, khuyến khích sựtham gia các hoạt động học tập của HS và kỉ luật đúng lúc, đúng mức đối vớitừng HS vi phạm
- GV tăng cường kiểm tra, đánh giá và từng bước đổi mới phương phápkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- GV có thể kích thích TTC của HS thông qua thái độ, cách ứng xử giữa
- Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thầy giáo, các nhà quản
lí, phụ huynh HS để động viên, khích lệ các em HS
1.2 Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập
1.2.1 Khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo
1.2.1.1 Khái niệm sáng tạo
Khái niệm ST đã được định nghĩa ở những cấp độ, mức độ và góc độ khácnhau bởi các nhà chuyên môn của nhân loại
Theo Phan Dũng: “sáng tạo nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn.”[1]
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “sáng tạo là nghĩ ra và làm ranhững giá trị vật chất hoặc tinh thần.”
Trang 12Mặc dù, có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất, nguồn gốc của ST nhưng
vì nó rất cần cho cuộc sống nên các nhà tâm lí học đã tìm cách đo lường, đánhgiá khả năng ST của mỗi cá nhân Người ta đưa ra một tình huống với một sốđiều kiện, xuất phát từ yêu cầu đó đề xuất càng nhiều phương pháp càng tốt,trong thời gian càng ngắn càng hay Việc đánh giá được căn cứ vào số lượng, tínhmới mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất Những nghiên cứu theohướng như vậy cùng với thực nghiệm khác đã cho biết:
- ST là một tiềm năng vốn có trong mỗi con người, khi gặp một trườnghợp nào đó thì sẽ bộc lộ
- Mỗi người thường có thói quen ST trong một vài lĩnh vực nào đó và cóthể luyện tập để có thể phát huy khả năng của mình
Như vậy, ST trước hết là kết quả của sự lao động bền bỉ, có cảm hứng.Không có lao động, không có quá trình nhận thức để tích lũy các dữ kiện thìkhông thể có ST và nó cần cho bất cứ lĩnh vực nào trong hoạt động xã hội loàingười và cho mọi người Bởi vì trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặprất nhiều tính huống nảy sinh cần phải giải quyết, nhưng giải quyết như thế nào
để nhanh nhất và đạt kết quả tốt nhất mới là quan trọng Từ thực tế cuộc sốngchúng ta cũng đã nhìn thấy rõ rằng: ST đem lại cho mỗi người cũng như cộngđồng lợi ích khá to lớn Cũng chính vì vậy mà tài liệu khoa học quốc tế cho biết:
“Tương lai của cả thế giới phần lớn tùy thuộc vào chất lượng của tư tưởng và cả
ý tưởng sáng tạo do nhân loại khám phá và đề nghị trong tất cả với mọi lĩnh vựccuộc sống”
1.2.1.2 Năng lực sáng tạo
NLST là khả năng tạo ra cái mới đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của cuộcsống mà bằng những kinh nghiệm, những cái đã biết không thể giải quyết được.Nói cách khác, NLST thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra
NLST thường biểu hiện qua những đặc trưng sau:
- Tự nhận thấy vấn đề nảy sinh trong những điều kiện quen biết, “đúngcách”
Trang 13- Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu như các bộ phận, các yếu tố
và các mối quan hệ giữa chúng
- Biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống Khảnăng huy động các kiến thức cần thiết đưa ra giả thuyết hay các dự đoán khácnhau khi phải lí giải một hiện tượng
- Xác nhận bằng lý thuyết và thực hành các giả thuyết hoặc phủ nhận nó;đồng thời biết đề xuất các phương án kiểm tra giả thuyết
- Có cách nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xétđối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau
- Kỹ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biết thànhmột phương thức mới
- Tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khácnhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau
- Biết kiểm tra, đánh giá hiệu quả cách giải quyết vấn đề của bản thân vàcủa người khác
- Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóngcho phù hợp với điều kiện thực tiễn
- Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của bản thân, khôngnản chí trước một vấn đề khó
1.2.2 Biểu hiện của năng lực sáng tạo trong học tập
Trong quá trình học tập của HS, ST là cấp độ cao nhất trong bốn cấp độnhận thức: biết, hiểu, vận dụng và sáng tạo Tuy nhiên ngay từ buổi đầu đến lớpmỗi HS đã có thể có những biểu hiện NLST của mình Những biểu hiện đó cụ thểnhư:
- Biết trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện vấn đề mấuchốt, tìm ra ẩn ý trong những câu hỏi, bài tập
- Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, giải quyết đúng với những bài tậpmới
- Biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phán đoán, đưa ra
Trang 14- Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phương án giải quyết.
- Biết học thầy, học bạn, biết kết hợp với các phương tiện thông tin khoahọc kĩ thuật hiện đại trong khi tự học, vận dụng được và cải tiến những điều đãđược học
- Có năng lực liên tưởng - tưởng tượng
Những biểu hiện trên có điểm chung là không thể lĩnh hội sáng tạo nhờthu nhận thông tin truyền miệng hay xem biểu diễn phương thức hành động Đốivới quy trình ST không thể lập được thuật toán, không thể xây dựng hệ thốnghành động để HS xem và để sáng tạo HS bắt buộc phải hoạt động Tuy nhiên,những biểu hiện này có được thể hiện hay không, nhiều hay ít còn tùy thuộc vàocác kiểm tra- đánh giá của GV
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo
Theo tác giả Đức Uy, động lực ST là khuynh hướng con người muốn thểhiện chính mình muốn trở thành tiềm năng của mình
+ Những điều kiện nội tâm cho sự sáng tạo là:
- Sự cởi mở đón nhận kinh nghiệm (có nghĩa là sự uyển chuyển và dễdàng qua lại giữa những quan điểm, niềm tin, nhận định, giả thuyết)
- Khả năng lượng giá từ bên trong (giá trị của sản phẩm sáng tạo khôngchỉ vì sự khen ngợi của những người bên ngoài mà bởi chính người sáng tạo)
- Khả năng đùa giỡn với những yếu tố và những quan điểm (tung némnhững yếu tố vào những vị trí xem như không thể có được, hình thành những giảthiết hoang dại)
+ Những điều kiện về mặt tâm lí nuôi dưỡng sự sáng tạo là:
- Có kiến thức vững chắc
- Hứng thú nảy sinh sáng tạo, sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú
- Chấp nhận cá nhân như một giá trị vô điều kiện
- Tạo ra bầu không khí vắng mặt sự đánh giá từ bên ngoài
- Sự cảm thông và hiểu biết triệt để cá nhân sáng tạo, tạo sự tự do tâm lícho cá nhân sáng tạo
Trang 15- Có tính “nghi ngờ khoa học”: cách làm này hay phương án này có tối ưuchưa ? Có cách giải quyết nào khác hay không ?
- Khả năng tư duy độc lập, tự xác định phương hướng hoạt động của mìnhtrong tình huống mới, tự phát hiện, tự tìm ra con đường giải quyết vấn đề
Vai trò của trực giác và tưởng tượng trong sáng tạo là rất quan trọng TheoLui do Broile: “Nhờ có bước nhảy vọt phi lí, ta có thể bẻ gãy cái vòng cứng nhắc
mà trong đó lối suy luận diễn dịch vẫn giam hãm chúng ta, phép quy nạp dựa trêntưởng tượng và trực giác cho phép ta thực hiện những chinh phục vĩ đại của tưduy, nó là cơ sở của những thành tựu thực sự của khoa học”
1.2.4 Các biện pháp hình thành và phát triển NLST của HS trong học tập
Sáng tạo không phải là sản phẩm đồng đều, đại trà của hoạt động DH.Mức độ ST quy định bởi nhiều phẩm chất, đặc điểm tâm sinh lí của cá nhân Một
số biện pháp chính trong DHVL nhằm phát triển tư duy sáng tạo của HS:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thứcmới
- Cho HS luyện tập sáng tạo trong những giai đoạn của tiến trình xây dựngkiến thức Vật lý
- Tạo điều kiện thuận lợi để HS hoạt động nhiều hơn
- Làm cho HS hứng thú, yêu thích môn học
1.3 Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo
Muốn phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS thì người GV phải có PPDHphù hợp Không thể dạy theo cách thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”,
GV làm trung tâm mà phải lấy HS làm trung tâm Chúng ta cần chú ý đến đặcđiểm tâm sinh lí lứa tuổi, trình độ tư duy của của người học Trong dạy họckhông nên ép buộc, gò bó lối suy nghĩ chung cho mọi HS
Trong quá trình dạy học, người học được cuốn hút tham gia vào các hoạtđộng học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá, tìm tòikiến thức không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của GV Người học đượchoạt động, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề,
Trang 16của mỗi cá nhân Để làm được như vậy, người GV cần thực hiện một số biệnpháp như sau:
- Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho HS hứng thú và nhu cầu học tập, giúp HS
thấy đó như là một trong các nhu cầu cần thiết của bản thân
- Biện pháp 2: Hướng dẫn và tập luyện cho HS khả năng vận dụng các
kiến thức, kỹ năng vào giải quyết tình huống, đặc biệt là những tình huống mới
- Biện pháp 3: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích nội dung, cách
giải để từ đó tìm ra các cách giải quyết khác nhau và biết nhận xét, đánh giá đểchỉ ra được cách giải quyết hay nhất
- Biện pháp 4: Hướng dẫn và tập cho HS cách nhìn nhận tình huống học
tập dưới các khía cạnh khác nhau để từ đó lựa chọn cách giải quyết thích hợp
- Biện pháp 5: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích, phát hiện, đề
xuất tình huống mới từ tình huống đã cho
- Biện pháp 6: Hướng dẫn HS phân tích các yếu tố của tình huống để chỉ
ra cách giải quyết độc đáo, sáng tạo đối với tình huống đề ra
Như vậy, giữa tích cực và sáng tạo trong học tập có quan hệ chặt chẽ vớinhau Tích cực học tập được biểu hiện ở sự hăng hái, chủ động, tự giác tham giacác hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trênnhững cái đã biết Tích cực gắn liền với chủ động, với hứng thú và phương thức
tự phát triển để làm biến đổi nhận thức Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độclập và đó chính là mầm mống của sáng tạo và ngược lại
1.4 Thí nghiệm Vật lý
1.4.1 Khái niệm TNVL
“Thí nghiệm Vật lý là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con ngườivào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điềukiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động, ta có thể thu được tri thức mới.”[3]
1.4.2 Đặc điểm của TNVL
- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và thiết lập có chủ định saocho thông qua TN có thể trả lời được các yêu cầu đặt ra, đồng thời cũng có thểkiểm tra được các giả thuyết hoặc hệ quả được suy ra từ lý thuyết Bên cạnh đó,
Trang 17các điều kiện của TN có thể kiểm soát, biến đổi được để có thể nghiên cứu sựphụ thuộc giữa các đại lượng.
- Đặc điểm quan trọng nhất là tính có thể quan sát được các biến đổi củađại lượng nào đó, do sự biến đổi của đại lượng khác Điều này đạt được nhờ cácgiác quan của con người và sự hỗ trợ của phương tiện quan sát, đo đạc
- Có thể lặp lại được TN Điều này có nghĩa là: với các thiết bị TN, cácđiều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quátrình VL phải diễn ra trong TN giống như các TN trước đó
1.4.3 Vai trò của TNVL trong dạy học Vật lý
1.4.3.1 Vai trò của TN theo quan điểm lý luận nhận thức
- TN là phương tiện thu nhận tri thức, thông qua TN con người có thể thunhận được những tri thức khoa học cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bảnthân để có thể tác động và cải tạo thực tiễn
- TN là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của những tri thức đã thu nhận
- TN là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn
- TN là một bộ phận của các phương pháp nhận thức TN luôn đóng một vaitrò rất quan trọng trong các phương pháp nhận thức khoa học
1.4.3.2 Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm lý luận dạy học
Trong DH Vật lý, TN đóng vai trò cực kì quan trọng, dưới quan điểm lýluận DH vai trò đó được thể hiện như sau:
- TN là phương tiện kích thích hứng thú học tập, tổ chức quá trình học tậptích cực và sáng tạo của HS
- TN là phương tiện góp phần quan trọng vào việc GD kĩ thuật tổng hợpcho HS
- TN là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động và bồi dưỡng cácphẩm chất đạo đức của HS
- TN góp phần làm đơn giản hóa các hiện tượng và các quá trình
- TN làm bộc lộ quan niệm sai lệch của HS, kiểm chứng kiến thức đã đượchọc đồng thời có thể tiếp thu nhiều kiến thức mới
1.5 Phân loại thí nghiệm
Trang 181.5.1 Thí nghiệm biểu diễn
- Khái niệm: TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp, trong các giờhọc nghiên cứu kiến thức mới và các giờ ôn tập, củng cố kiến thức, kỹ năng của
HS [3]
- Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại
+ Thí nghiệm mở đầu: TN nhằm tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thúhọc tập cho HS TN mở đầu đòi hỏi phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc kiểmchứng kiến thức mới, nên được sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới Thínghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
TN khảo sát: TN nhằm thu thập số liệu thực nghiệm, trên cơ sở đó kháiquát hóa, quy nạp nhằm rút ra kiến thức mới
TN minh họa: TN kiểm chứng lại kiến thức đã được xây dựng bằng conđường lý thuyết dựa trên những phép suy luận logic chặt chẽ
+ Thí nghiệm cũng cố: những TN dùng để củng cố bài học Cũng như TN
mở đầu, TN củng cố cũng phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay
- Yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm biểu diễn:
+ TN phải xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH và cho kết quả hợp lí,phù hợp với mục đích dạy học, không gượng ép
+ TN biểu diễn phải ngắn gọn
+ TN phải đủ sức thuyết phục
Trang 19+ TN phải được bố trí hợp lí sao cho cả lớp đều quan sát được, tập trungtối đa sự chú ý của HS.
+ TN phải đảm bảo tính an toàn
1.5.2 Thí nghiệm học sinh
- Khái niệm: TN HS là TN do HS tiến hành trên lớp, trong phòng TN hay ởnhà, nhằm khảo sát hoặc kiểm chứng một hiện tượng, một định luật, với cácmức độ tự lực khác nhau.[3]
- Phân loại TN HS: bao gồm TN trực diện, TN thực hành VL, TN VL ở nhà+ TN trực diện: những TN được HS tiến hành trên lớp, chủ yếu nghiên cứukiến thức mới nhưng cũng có khi được sử dụng để củng cố TN này giúp cho HShoàn thiện kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng và thói quen khi sử dụng cácdụng cụ
+ TN thực hành VL: TN này chủ yếu do HS thực hiện trên lớp hoặc trongphòng TN sau khi học xong một phần kiến thức nào đó của chương trình VL,nhằm củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng thí nghiệm Mức độ tự lựccủa học sinh ở đây cao hơn so với thí nghiệm trực diện
+ TN và quan sát VL ở nhà: là một loại bài thực hành mà GV giao cho HShoặc từng nhóm HS thực hiện ở nhà với những dụng cụ thông thường, dễ tìmthấy trong cuộc sống; nhằm tìm hiểu một hiện tượng, xác định một đại lượng,kiểm chứng một định luật hay quy tắc VL nào đó Có tác dụng rèn luyện kỹ năng,
kỹ xảo, phát huy tinh thần tự học, tự lực cho HS
1.6 Thí nghiệm tự tạo
1.6.1 Khái niệm thí nghiệm tự tạo
- Khái niệm: TNTT là thí nghiệm được GV và HS làm ra theo mẫu trongSGK, hoặc là TN được cải tiến từ các thiết bị máy móc, hoặc là TNTT theo ýtưởng, sáng kiến mới bằng những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằngngày [4]
1.6.2 Ưu và nhược điểm của thí nghiệm tự tạo
1.6.2.1 Ưu điểm
- Dụng cụ cần cho TN là những dụng cụ đơn giản, dễ tìm kiếm trong đờisống hằng ngày
Trang 20- Hình thức TN gọn nhẹ, đơn giản, dễ lắp ráp, dễ sử dụng, nên có thể dùngmọi lúc, mọi nơi.
- TN dễ thành công, cho kết quả rõ ràng, thuyết phục mà lại ít tốn kémthời gian
- TN đa phần là đơn giản không đòi hỏi người sử dụng phải có những kĩnăng thực hành đặc biệt
- Không đòi hỏi khắt khe về cơ sở vật chất như: phòng bộ môn, mạngđiện, thiết bị
- Hiện tượng và kết quả TN có sức lôi cuốn, hấp dẫn HS cao
- Dụng cụ TN thường có tuổi thọ không cao
- Đa số những TNTT đơn giản đều mang tính chất định tính, ít có thínghiệm định lượng
- Tính thẫm mỹ của TN thường không cao
1.6.3 Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học
1.6.3.1 Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học đối với GV
Với những ưu điểm nổi bật mà TNTT đem lại thì có thể xem những sảnphẩm TN chế tạo được chính là những đồ dùng dạy học hỗ trợ một cách hữu hiệubên cạnh những thiết bị TN hiện đại, khắc phục những khó khăn về cơ sở vậtchất, hạn chế việc dạy chay, học chay
GV có thể cá thể hoá quá trình học tập của HS bằng cách giao cho các loạiđối tượng HS khác nhau các nhiệm vụ chế tạo dụng cụ TN và tiến hành TN vớimức độ khó dễ khác nhau, nông sâu khác nhau và với mức độ hướng dẫn khácnhau, góp phần giúp các em phát triển tinh thần tự học, tự sáng tạo, phát triển tưduy của mình
Trang 21Không những vậy, GV còn có thể đa dạng hóa việc tổ chức giờ học Vật lýbằng nhiều phương pháp khác nhau, chủ động tìm và lựa chọn các phương phápthích hợp.
1.6.3.2 Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học đối với HS
Việc chế tạo và sử dụng các TNTT, giúp HS nắm vững kiến thức, việc tiếnhành TN, giải thích và tiên đoán kết quả TN giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng
và hệ thống hoá các kiến thức VL mà HS đã lĩnh hội được
Do đặc điểm của TNTT liên quan đến hiện tượng, quá trình VL rất gần gũivới HS nên sau một quá trình học tập với TNTT, các em sẽ quan tâm hơn đến cáchiện tượng VL xung quanh Giúp HS thay đổi phương pháp suy nghĩ, phươngpháp học tập, HS bắt đầu rèn luyện thói quen thảo luận khoa học, bàn bạc, chấpnhận hay phản đối ý kiến…
Đặc biệt, do những ưu điểm nổi trội của TNTT nên GV có thể tổ chức cho
HS tự tiến hành TN qua đó các em được quan sát trực tiếp các hiện tượng và cácquá trình VL được đề cập trong bài, giúp các em tự nhận thấy sự vô lí về nhữngquan niệm sai lệch của mình một cách thuyết phục
Giúp HS giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày,tăng cường mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành, rèn luyện cho HS tính tíchcực, ham học hỏi, thích ứng với hoàn cảnh, tính sáng tạo…
Đồng thời GV có thể tạo ra tình huống có vấn đề trong lớp học, tạo điềukiện cho HS tiến hành TN từ đó HS sẽ có cơ hội, tình huống phải suy nghĩ nhữngvấn đề cần giải quyết, kích thích hứng thú cho HS
1.6.4 Những yêu cầu khi chế tạo và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học
Thí nghiệm được tiến hành với những dụng cụ đơn giản, dễ tìm kiếm nênngoài những yêu cầu chung , khi khai thác và sử dụng cần chú ý các yêu cầu sau:
- Tính thẫm mỹ: Do đa số các dụng cụ TNTT là những đơn giản, dễ tìmkiếm nên yếu tố thẫm mỹ phải đặc biệt được coi trọng; cần phải lựa chọn nhữngdụng cụ TN phù hợp để kích thích sự chú ý của HS; gia công chu đáo, cẩn thận
để là tăng tính thẩm mỹ của nó
Trang 22- Tính sư phạm: Khích thước lớn, để hở tạo điều kiện thuận lợi cho HSquan sát được những chi tiết cơ bản Các TN không được phản GD, chẳng hạnkhông nên làm những dụng cụ TN có liên quan đến súng đạn, cung nỏ…
- Tính khoa học: Các TN phải được bố trí hợp lý, khoa học, các dụng cụ
TN không được che lấp lẫn nhau TN phải ngắn gọn, kết quả phải rõ ràng, chínhxác và thuyết phục
- Tính khả thi: Các TN được sử dụng phải là những TN dễ thao tác, dễ tiếnhành và cho kết quả thuyết phục
1.7 Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học ở trường THPT
1.7.1 Thực trạng sử dụng TN nói chung và TNTT nói riêng trong dạy học Vật lý
Mặc dù có tác dụng to lớn trong quá trình nhận thức của người học nhưngviệc sử dụng các thiết bị TN trong dạy học môn VL ở trường phổ thông trongnhiều năm qua chưa chiếm được vị trí xứng đáng trong dạy học VL, vẫn tồn tạinhiều bất cập, những bất cập đó được thể hiện như sau:
- GV vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, rất ít khi tiến hành TNkhi dạy học, việc sử dụng TN còn rất nhiều lúng túng, thụ động, chưa thực hiệnnghiêm túc chủ trương "học đi đôi với hành"
- Đa số các trường phổ thông đều được trang bị các thiết bị TN cơ bảnnhưng chỉ được GV sử dụng trong các tiết dạy có GV dự giờ hoặc sử dụng tronggiờ thi dạy giỏi các cấp, GV ít sử dụng TN trong các giờ học bình thường
- Phần lớn GV ngại thiết kế, chế tạo TN vì công việc này đòi hỏi nhiều thờigian, công sức, trong khi không có chế độ nào cho GV thực hiện công việc này
- Các tiết dạy thực hành vẫn chưa thực sự được GV chú trọng, các giờ dạythực hành đáng lẽ ra phải được thực hiện theo đúng chương trình thì lại được tổchức thực hành qua loa hoặc chuyển thành giờ ôn tập, ôn thi…
- Các GV chưa thực sự được trang bị về việc sử dụng TN trong dạy học, sựhiểu biết, khả năng sử dụng và sửa chữa TN của GV còn nhiều bất cập
- Các trường phổ thông hiện nay, các cán bộ quản lí chưa thực sự quan tâmđến việc khai thác sử dụng thiết bị TN của GV, các cuộc thi tự làm đồ dùng họctập cho GV ít được chú trọng Phần lớn các GV phổ thông đều không để tâm đếnviệc thiết kế, chế tạo TN để phục vụ trong quá trình dạy học của mình
Trang 23- Bên cạnh đó, do việc đánh giá thi cử hiện nay chưa coi trọng đúng mức
TN VL, hay nói cách khác nội dung TN chưa được đưa nhiều vào trong các kiểmtra, đánh giá kết quả HS Điều đó ảnh hưởng khá nhiều đến thái độ của người dạy
và người học đối với TN VL
1.7.2 Nguyên nhân các thực trạng
Qua việc tìm hiểu và phân tích thực trạng nói trên, ta thấy việc sử dụng TNnói chung và TNTT nói riêng trong dạy học VL ở các trường THPT hiện nay cònrất nhiều hạn chế, xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
- GV ngại tiến hành TN trong giờ học vì sợ tốn nhiều thời gian, gây ảnhhưởng đến các hoạt động dạy học khác; sợ TN không thành công sẽ gây phản tácdụng đối với HS
- Nội dung bài dạy còn khá nặng, không có nhiều thời gian để GV có thể sửdụng TN nói chung và TN tự tạo nói riêng trong quá trình dạy học
- Khả năng sử dụng thiết bị TN của GV nhìn chung còn hạn chế, GV lạichưa được bồi dưỡng, thiếu chuyên môn nghiệp vụ nên không có khả năng sửachữa, tái tạo
- Sự thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trườngcũng ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng TN trong dạy học Thiết bị TN đượccung cấp nhiều nhưng không đồng bộ, các thiết bị TN chất lượng kém, bị hưhỏng, độ chính xác không cao Số lượng phòng thí nghiệm, phòng thực hành ởcác trường cũng bị hạn chế gây khó khăn cho các tiết dạy thực hành của GV
- Ở các trường THPT không có nhiều các cuộc thi chế tạo dụng cụ TN tựtạo sử dụng trong dạy học vì việc đầu tư kinh phí ở các trường THPT cho việcthiết kế, chế tạo dụng cụ TN tự tạo rất hạn chế, các GV lại ngại thiết kế, chế tạo
TN vì công việc này chiếm khá nhiều thời gian, trong khi không có chính sách,chế độ nào cho những GV thiết kế, chế tạo TNTT sử dụng trong dạy học ở cáctrường THPT
- Thực tế hiện nay vẫn chỉ dạy và học thật kỹ các vấn đề liên quan đến thiĐại học chứ không nhằm rèn luyện các năng lực, kỹ năng cho HS
- Các cán bộ quản lí chưa thực sự quan tâm đến việc khai thác sử dụng TNcủa GV, không có nhiều các buổi hội thảo, toạ đàm, trao đổi những kinh nghiệm,
Trang 241.8 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng TN nói chung và TNTT nói riêng trong dạy học ở phổ thông
1.8.1 Đối với giáo viên
- Làm cho HS thấy hứng thú với TN thông qua các TN biểu diễn trong giờhọc trên lớp có sự tham gia của HS
- Cho HS làm quen, tiếp xúc với các dụng cụ TN nhiều lần để không bị bỡngỡ khi làm TN thực hành, đồng thời trang bị cho HS các thao tác sử dụng cácdụng cụ TN
- Phân chia công việc cho nhóm và cho mỗi HS, bố trí số lượng nhóm vàthời gian thực hành tương thích
- Khuyến khích HS học tốt TNTH bằng cách cho điểm cộng, điểm thưởngvào bài kiểm tra và trừ điểm nếu học không nghiêm túc
- Tăng cường sử dụng TNTT để tạo ra tình huống có vấn đề
- Tăng cường sử dụng TNTT nhằm tích cực hóa hoạt động tìm kiếm kiếnthức của HS
- Hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng TN ở nhà
1.8.2 Đối với Nhà trường
- Cần đầu tư thêm kinh phí, thời gian cho việc khai thác và sử dụng thiết bị
TN trong dạy học VL, khuyến khích hội thảo các tổ bộ môn về việc bảo quản, sửdụng và sữa chữa các thiết bị TN
- Đôn đốc các cán bộ làm công tác quản lí ở các trường thực hiện đầy đủcác chức năng của mình
- Thường xuyên tổ chức các cuộc thi tự làm đồ dùng dạy học, các hội thảonghiên cứu khoa học để tạo điều kiện cho tất cả các GV tham gia
- Tăng cường các đợt tập huấn về kỹ năng tiến hành, sử dụng và tổ chứcdạy học với TN trong dạy học VL, giới thiệu các thiết bị TN mới do GV
- Mỗi trường nên có GV chuyên trách phòng TN trong giờ thực hành để hỗtrợ GV khi cần thiết
Tổng kết chương I
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận cũng như thực tiễn của vấn đề sửdụng TN nói chung và TNTT trong dạy học VL nói riêng, đề tài bước đầu đã làmsáng tỏ một số nội dung sau đây:
Trang 25- Một số khái niệm: thí nghiệm, thí nghiệm tự tạo, tính tích cực, năng lựcsáng tạo
- Nêu được ưu và nhược điểm, yêu cầu và vai trò của TNTT trong việcphát triển tính tích cực và sáng tạo của HS
- Trình bày thực trạng của việc sử dụng TN nói chung và TNTT nói riêngtrong dạy học VL, phân tích các nguyên nhân của thực trạng Trên cơ sở đó cũng
đã đề xuất được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng TNTTtrong dạy học
Để vận dụng vào trong thực tiễn thành công cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡngcủa GV cũng như HS trong việc lựa chọn nội dung phù hợp, các mức độ phùhợp, từng đối tượng HS vạch ra kế hoạch dạy học hợp lí, đảm bảo mọi HS có khảnăng thu nhận kiến thức tốt nhất nhằm giúp cho HS nắm vững kiến thức, rènluyện kỹ năng, phát triển năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách, kỹ năng, kỹxảo cho HS Vì vậy, vấn đề nghiên cứu thiết kế, chế tạo TN và sử dụng TN trongdạy học VL là thật sự cần thiết để nâng cao chất lượng trong dạy học VL, gópphần thay đổi phương pháp giảng dạy đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giaiđoạn hiện nay
Trang 26CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ, CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ PHỔ THÔNG
2.1 Cấu trúc chương trình vật lý phổ thông
2.1.1 Chương trình vật lý 10
* Ban cơ bản: có 2 phần
- Phần một: Cơ học Trong phần này có 4 chương:
+ Chương 1: Động học chất điểm (8 bài)
+ Chương 2: Động lực học chất điểm (8 bài)
+ Chương 3: Cân bằng và chuyển động của vật rắn (6 bài)
+ Chương 4: Các định luật bảo toàn (4 bài)
- Phần hai: Nhiệt học Trong phần này có 3 chương
+ Chương 5: Chất khí (4 bài)
+ Chương 6: Cơ sở của nhiệt động lực học (2 bài)
+ Chương 7: Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể (7 bài)
* Ban nâng cao: có 2 phần:
- Phần một: Cơ học Trong phần này có 4 chương:
+ Chương 1: Động học chất điểm (12 bài)
+ Chương 2: Động lực học chất điểm (13 bài)
+ Chương 3: Tĩnh học vật rắn (5 bài)
+ Chương 4: Các định luật bảo toàn (10 bài)
+ Chương 5: Cơ học chất lưu (3 bài)
- Phần hai: Nhiệt học Trong phần này có 3 chương
+ Chương 6: Chất khí (6 bài)
+ Chương 7: Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể (8 bài)
+ Chương 8: Cơ sở của nhiệt động lực học (3 bài)
2.1.2 Chương trình vật lý 11
* Ban cơ bản: có 2 phần
- Phần một: Điện học- Điện từ học Trong phần này có 5 chương:
+ Chương 1: Điện tích Điện trường (6 bài)
+ Chương 2: Dòng điện không đổi (6 bài)
+ Chương 3: Dòng điện trong các môi trường (6 bài)
+ Chương 4: Từ trường (4 bài)
+ Chương 5: Cảm ứng điện từ (3 bài)
- Phần hai: Quang hình học Trong phần này có 3 chương
+ Chương 6: Khúc xạ ánh sáng (2 bài)
+ Chương 7: Mắt Các dụng cụ quang (8 bài)
* Ban nâng cao: có 2 phần:
- Phần một: Điện học- Điện từ học Trong phần này có 5 chương:
+ Chương 1: Điện tích Điện trường (9 bài)
+ Chương 2: Dòng điện không đổi (7 bài)
+ Chương 3: Dòng điện trong các môi trường (9 bài)
+ Chương 4: Từ trường (12 bài)
Trang 27+ Chương 5: Cảm ứng điện từ (6 bài)
- Phần hai: Quang hình học Trong phần này có 3 chương
+ Chương 6: Khúc xạ ánh sáng (3 bài)
+ Chương 7: Mắt Các dụng cụ quang (10 bài)
2.1.3 Chương trình vật lý 12
* Ban cơ bản: có 8 chương
+ Chương 1: Dao động cơ (6 bài)
+ Chương 2: Sóng cơ và sóng âm (5 bài)
+ Chương 3: Dao động xoay chiều (8 bài)
+ Chương 4: Dao động và sóng điện từ (4 bài)
+ Chương 5: Sóng ánh sáng (6 bài)
+ Chương 6: Lượng tử ánh sáng (5 bài)
+ Chương 7: Hạt nhân nguyên tử (5 bài)
+ Chương 8: Từ vi mô đến vĩ mô (2 bài)
* Ban nâng cao: có 10 chương
+ Chương 1: Động lực học vật rắn (5 bài)
+ Chương 2: Dao động cơ (8 bài)
+ Chương 3: Sóng cơ (7 bài)
+ Chương 4: Dao động và sóng điện từ (5 bài)
+ Chương 5: Dao động xoay chiều (9 bài)
+ Chương 6: Sóng ánh sáng (8 bài)
+ Chương 7: Lượng tử ánh sáng (7 bài)
+ Chương 8: Sơ lược về thuyết tương đối hẹp (2 bài)
+ Chương 9: Hạt nhân nguyên tử (6 bài)
+ Chương 10: Từ vi mô đến vĩ mô (4 bài)
2.2 Quy trình chung khi tiến hành chế tạo thí nghiệm
Để chế tạo thành công một bộ TN hay một TN và sử dụng được trong quátrình dạy học ở trường THPT ta có thể tiến hành theo các bước sau:
- Xác định mục đích khoa học và mục đích dạy học của TN cần chế tạo
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, tham khảo các tài liệu có liên quan đến TN
- Thiết kế phương án, sơ đồ và mô hình của TN
- Tìm kiếm vật liệu, thiết bị phục vụ cho việc chế tạo TN
- Lắp ráp vật liệu dụng cụ theo sơ đồ đã thiết kế
- Thử nghiệm, kiểm tra quá trình hoạt động của TN, điều chỉnh cho phùhợp
- Xây dựng tiến trình dạy học có sử dụng TN tự tạo
- Sử dụng TN tự tạo vào dạy học
- Rút ra nhận xét về hiệu quả của TN sau khi dạy học, điều chỉnh những saisót để TN hoàn chỉnh hơn
Trang 282.3 Thiết kế và chế tạo thí nghiệm
2.3.1 Thí nghiệm về ứng dụng sự nở vì nhiệt của vật rắn
2.3.1.1 Mục đích thí nghiệm
TN chính là minh họa rõ ràng nhất về ứng dụng sự nở vì nhiệt của vật rắntrong đời sống hằng ngày, làm tăng hứng thú học tập và niềm tin vào khoa họccho HS
2.3.1.2 Cơ sở lý thuyết
Vật rắn khi nở ra hay co lại đều tạo nên một lực khá lớn tác dụng lên cácvật khác tiếp xúc với nó Vì vậy trong kĩ thuật chế tạo và lắp đặt máy móc hoặcxây dựng công trình người ta phải đặc biệt chú ý đến yếu tố này Bên cạnh nhữngtác hại cần phải đề phòng thì sự nở vì nhiệt của vật rắn cũng có nhiều ứng dụngkhá rộng rãi trong khoa học kĩ thuật Đáng kể đến nhất và thông dụng nhất đóchính là việc lợi dụng sự nở vì nhiệt của vật rắn để chế tạo phiến kim loại képhay còn gọi là băng kép dùng làm rơle điều nhiệt trong bàn là, bếp điện
Về cấu tạo, băng kép gồm hai thanh kim loại có hệ số giãn nở khác nhau(hệ số giãn nở hơn kém 20 lần) được ghép chặt vào nhau thành một phiến bằngphương pháp cán nóng hoặc hàn
Nguyên lý chung của rơle nhiệt là dựa trên cơ sở tác dụng nhiệt làm giãn
nở băng kép:
+ Khi bị đốt nóng: Băng kép cong về phía kim loại giãn nở vì nhiệt ít hơn.+ Khi bị làm lạnh: Băng kép cong về phía kim loại giãn nở vì nhiệt nhiềuhơn
Do hai băng kim loại nở dài không giống nhau, mà băng kép bị uốn conglàm hở mạch điện đi qua băng kép Và khi băng kép nguội thì nó lại cho mạchđiện hoạt động trở lại
2.3.1.3 Dụng cụ và cách chế tạo thí nghiệm
a, Vật liệu:
- chân đế (25x17) cm có 2 thanh thẳng đứng chiều cao 15cm
- 1 rơle nhiệt (lấy từ thiết bị điện tử đã hỏng)
- 1 dây sạc điện thoại cũ
Trang 29- Bước 1: Cắm điện, bật công tắc để đóng mạch Khi đó đèn sáng lên.
- Bước 2: Dùng bật lửa đốt nóng rơle nhiệt quan sát hiện tượng xảy ra sau khi
đốt nóng khoảng vài giây
Hình 2.1: Mô hình TN sự nở vì nhiệt hoàn chỉnh.
Hình 2.2: Mạch điện khi được đóng công tắc.
Trang 30- Bước 3: Ngừng đốt nóng rơle khoảng 5-7 giây, quan sát hiện tượng.
- Khi nhiệt độ giảm đến mức quy định thanh kim loại lại trở lại vị trí banđầu làm mạch đóng trở lại
2.3.1.5 Khả năng sử dụng
TN này có thể được sử dụng trong quá trình giảng dạy để nghiên cứu về
sự nở vì nhiệt của vật rắn trong bài 36 của VL 10 cơ bản hoặc bài 52 đối vớichương trình VL 10 nâng cao Có 2 cách để lồng ghép TN này trong tiết dạy:
Cách 1: Dùng TN này như một cách đặt vấn đề nhằm tạo hứng thú học
tập cho HS khi bắt đầu một bài học mới, vì nó được tiến hành với thao tác kháđơn giản, cho kết quả nhanh, chính xác, rõ ràng Ví dụ tiến trình dạy học có sửdụng TN để đặt vấn đề như sau:
- Đầu tiên, GV giới thiệu mô hình TN và có thể yêu cầu HS dự đoán kếtquả TN
- Sau đó, GV tiến hành TN cho HS quan sát
- Khi HS đã quan sát được một cách rõ ràng về kết quả thì GV có thể đặtvấn đề: Tại sao khi cô đốt nóng rơle khoảng vài giây thì bóng đèn lại tắt và khi côngừng đốt nóng một thời gian thì bóng đèn sáng trở lại? Bài học hôm nay sẽ giúpcác em trả lời được câu hỏi này
Cách 2: GV cũng có thể sử dụng TN này để minh họa cho HS thấy được
ứng dụng sự nở vì nhiệt trong kỹ thuật VD tiến trình dạy học như sau:
Trang 31- Trước tiên, GV nêu một số tác hại sự nở vì nhiệt mà con người phải tínhtoán khắc phục để vật rắn khỏi bị cong hoặc nứt gãy khi nhiệt độ thay đổi, ví dụnhư: giữa các thanh ray đường sắt phải có khe hở; hai đầu cầu sắt phải đặt trêncác gối đỡ xê dịch được trên các con lăn thế nhưng sự nở vì nhiệt không phảichỉ có hại GV sẽ cho ví dụ bằng cách thực hiện TN rồi yêu cầu HS liên hiện thực
tế cuộc sống
Cả hai cách trên đều có những hiệu quả tích cực nhất định, tuy nhiên đểhiệu quả sử dụng TN là cao nhất thì GV nên linh hoạt giảng dạy theo cách thứnhất và khi đến phần ứng dụng thì khéo léo hướng dẫn để HS tự giải đáp đượcthắc mắc ở đầu bài Làm như thế sẽ có tác dụng rất lớn trong việc khắc sâu kiếnthức của HS
2.3.2 Thí nghiệm về sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
2.3.2.1 Mục đích thí nghiệm
TN này giúp HS thấy được điện trở của kim loại phụ thuộc vào nhiệt độ,
cụ thể là khi nhiệt độ tăng thì điện trở của kim loại tăng và khi nhiệt độ giảm thìđiện trở của kim loại giảm
2.3.2.2 Cơ sở lý thuyết
Vật chất do các nguyên tử tạo thành Mỗi nguyên tử là một hệ thống phứctạp bao gồm: hạt nhân mang điện dương ở giữa gồm proton và nơtron là khốilượng chủ yếu của nguyên tử, và các điện tử (electron) mang điện tích âm quayxung quanh hạt nhân với tốc độ rất lớn theo quỹ đạo hình elip Số electron (e)của mỗi nguyên tử bằng số proton ở hạt nhân đó Các e này sắp xếp từ trong rangoài phụ thuộc vào mỗi chất Các e ở lớp ngoài cùng có ảnh hưởng lớn đến tínhchất của mỗi chất, nếu có 1- 2 e thì dễ nhường e để nguyên tử thành ion dươnghay e tự do Đó chính là sự khác nhau chủ yếu giữa kim loại và chất phi kim loại.Các e tự do này là nguyên nhân tạo nên tính chất dẫn điện và dẫn nhiệt cũng nhưtính dẽo dai của kim loại
Hầu hết các kim loại ở điều kiện thường đều tồn tại dưới dạng tinh thể (trừHg) Trong tinh thể kim loại, các nguyên tử bị mất e hóa trị trở thành các ion
Trang 32kim loại Chuyển động nhiệt của các ion trong mạng tinh thể (dao động của ionquanh vị trí cân bằng) có thể phá hủy trật tự này Sự mất trật tự của mạng tinh thểcản trở chuyển động e tự do, là nguyên nhân gây ra điện trở của kim loại Nhiệt
độ của kim loại càng cao, thì các ion kim loại càng dao động mạnh Do đó, độmất trật tự của mạng tinh thể kim loại càng tăng, càng làm tăng sự cản trở chuyểnđộng của các e tự do Vì vậy, khi nhiệt độ tăng thì điện trở suất của kim loại tăng
Trang 332.3.2.3 Dụng cụ và cách chế tạo thí nghiệm
- Ta có thể sử dụng lại mô hình TN sự nở vì nhiệt của vật rắn nhưng thay
vì sử dụng rơle ta sẽ dùng dây vonfram Ta sẽ tháo rơle ra khỏi mạch điện và thayvào chỗ đó 1 đoạn dây vonfram như trong (hình 2.4)
2.3.2.4 Tiến trình TN và kết quả TN
a, Tiến trình TN:
- Bước 1: Cắm điện và đóng công tắc thấy đèn sáng
Hình 2.4: Mô hình TN sự phụ thuộc của
điện trở vào nhiệt độ.
Hình 2.5: Đèn sáng khi bật công tắc
Trang 34- Bước 2: Dùng bật lửa đốt nóng dây vonfram Yêu cầu HS quan sát hiện tượng
xảy ra như thế nào? So sánh độ sáng của bóng đèn lúc này so với trước khi đốt
- Bước 3: Ngừng đốt nóng và quan sát độ sáng của bóng đèn
b, Kết quả TN:
Khi dây vonfram bị đốt nóng thì quan sát thấy bóng đèn sáng mờ hơn sovới khi chưa bị đốt nóng Khi thôi đốt dây vonfram thì thấy độ sáng của bóngbóng đèn như trước
c, Giải thích:
Do khi đốt nóng dây vonfram làm nhiệt độ nó tăng lên, các nút mang tinhthể dao động mạnh làm mất trật tự cấu trúc mạng tinh thể, gây sự cản trở chuyểnđộng của electron càng lớn nên điện trở của dây vonfram tăng, dẫn đến điện trởcủa mạch tăng lên nên cường độ dòng điện trong mạch giảm Do đó bóng đènsáng mờ hơn Khi thôi đốt thì điện trở dây vonfram trở lại bình thường nên độsáng của đèn như trước
Hình 2.6: Dùng bật lửa đốt nóng dây vonfram
Hình 2.7: Đèn sáng mạnh trở lại sau khi ngừng
đốt nóng.
Trang 352.3.2.5 Khả năng sử dụng
TN này có thể được sử dụng trong quá trình giảng dạy để nghiên cứu sựphụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ trong Bài 13: Dòng điện trong kim loại của
VL 11 cơ bản hoặc bài 17 đối với chương trình VL 11 nâng cao Tương tự như
TN trên, TN này cũng có 2 cách để lồng ghép trong tiết dạy; có thể sử dụng tronggiai đoạn đề xuất vấn đề hoặc củng cố khi dạy phần tính chất điện của kim loại
Cách 1: Dùng TN để tạo nên tình huống học tập cho HS khi bắt đầu bài
mới Có thể xây dựng tiến trình dạy học như sau:
- Đầu tiên, GV giới thiệu mô hình TN và có thể yêu cầu HS dự đoán kếtquả TN
- Tiếp đó, GV tiến hành TN cho HS quan sát
- Sau khi HS đã quan sát được một cách rõ ràng về kết quả thì GV đặt vấnđề: Tại sao khi cô đốt nóng dây mayso thì bóng đèn sáng yếu đi còn khi cô ngừngđốt nóng thì bóng đèn sáng mạnh trở lại? Câu hỏi này các em sẽ trả lời được saukhi học bài học hôm nay
Cách 2: Dùng TN để minh họa cho sự phụ thuộc của điện trở suất của kim
loại theo nhiệt độ Tiến trình dạy học tương tự như cách trên, tuy nhiên GV cóthể linh hoạt hướng dẫn về kiến thức cho HS trước rồi sử dụng TN để kiểmnghiệm lại Nhưng để phát huy được tối đa tính tích cực, hứng thú học tập của
HS thì GV nên đưa ra TN trước, tạo một tình huống có vấn đề thôi thúc HS cómong muốn giải quyết vấn đề đó Sau đó thì hướng dẫn HS giải quyết vấn đề
Nhìn chung, cả hai cách trên tuy hai mà một, nếu GV biết khéo léo kếthợp giữa hai cách thì sẽ đem lại khả năng tích cực khá cao trong HS
2.3.3 Thí nghiệm về sự tổng hợp của ánh sáng trắng
2.3.3.1 Mục đích thí nghiệm
Thực hiện thí nghiệm để chứng minh ánh sáng trắng là tổng hợp của nhiềuánh sáng đơn sắc
2.3.3.2 Cơ sở lý thuyết
Ánh sáng trắng là một trường hợp của ánh sáng phức tạp hay ánh sáng đa
Trang 36tường cho thấy ánh sáng trắng không hề "nguyên chất", mà nó là tổng hợp củamột dải quang phổ 7 màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Thí nghiệmnày thể hiện hiện tượng tán sắc ánh sáng Để thử lại xem có phải thủy tinh đã làmthay đổi ánh sáng trắng chiếu vào nó không, người ta đã tách một chùm có màuxác định thu được trong thí nghiệm trên rồi cho chùm này đi qua lăng kính mộtlần nữa Kết quả thí nghiệm cho thấy màu sắc của chùm tia sáng này không đổi.Ngược lại, chúng ta cũng có thể tạo được một chùm ánh sáng trắng bằng cáchchồng chập các chùm sáng với đủ bảy màu chính đã nêu trên nhờ vào hiện tượnglưu ảnh trên mắt Cụ thể ở đây, khi cảm giác về một màu xác định mà mắt nhậnđược chưa kịp mất, mà mắt ta lại được tiếp nhận cảm giác màu khác Kết quả làcảm giác các màu đó sẽ hòa lẫn vào nhau và gây cho mắt cảm giác về màu tổnghợp.
2.3.3.3 Dụng cụ và cách chế tạo thí nghiệm
- 2 thanh gỗ thẳng cao khoảng 15 cm đứng
- dây dẫn điện
- 10 cây đinh loại nhỏ
Trang 37b, Cách chế tạo:
- Bước 1: Dán tờ giấy trắng trên 4 đĩa CD.
+ Đĩa 1: Chia hình tròn làm đôi, sau đó tô màu đỏ và màu xanh ở mỗi nửa hìnhquạt
+ Đĩa 2: Tương tự như đĩa 1 nhưng sẽ được chia làm 3 hình quạt bằng nhau và tô
3 màu là đỏ, lục và vàng trong mỗi hình quạt
+ Đĩa 3: Tương tự như đĩa 2 cũng được chia làm 3 hình quạt nhưng đĩa này ta sẽ
tô 3 màu đỏ, lục và lam sau đó tô 2 màu đỏ, lam ở 2 nửa hình tròn
+ Đĩa 4: Ta chia làm 7 hình quạt bằng nhau và tô 7 màu thao thứ tự: đỏ, cam,vàng, lục, lam, chàm, tím
+ Cắt tờ giấy xốp làm phần đệm dán sau đĩa để nó có thể gắn được trên trụcmôtơ
Hình 2.9: Sơ đồ thiết kế TN
Đĩa
Khóa
Đế
Giá đỡTrục mô-tơ
Mô-tơ
Pin
Hình 2.10: 4 đĩa màu sau khi tô
xong.
Trang 38- Bước 3: Dùng dây dẫn mắc nguồn, công tắc và môtơ thành một mạch kín và
gắn môtơ cố định vào 2 thanh gỗ theo hình dưới đây
2.3.3.4 Tiến trình TN và kết quả TN
a, Tiến trình TN:
- Bước 1: Gắn đĩa chỉ có 2 màu lên trục môtơ, bật công tắc để môtơ hoạt động,
quan sát và nhận xét sự tổng hợp ánh sáng, sau đó tắt công tắc
- Bước 2: Gắn đĩa có 3 màu đỏ, lục, vàng lên trục môtơ, bật công tắc để môtơ
hoạt động, quan sát và nhận xét sự tổng hợp ánh sáng, sau đó tắc công tắc
Hình 2.11: Sản phẩm sau khi hoàn thiện.
Hình 2.12: a, Đĩa màu trước khi bật công tắc.
b, Màu tổng hợp của 2 màu đỏ và lục.
Trang 39- Bước 3: Gắn đĩa có 3 màu đỏ, lục và lam lên trục môtơ, bật công tắc để môtơ
hoạt động, quan sát và nhận xét sự tổng hợp ánh sáng, sau đó tắt công tắc
- Bước 4: Gắn đĩa có 7 màu lên trục môtơ, bật công tắc để môtơ hoạt động, quan
sát và nhận xét sự tổng hợp ánh sáng, sau đó tắt công tắc
Hình 2.13: a, Đĩa màu trước khi bật công tắc.
b, Màu tổng hợp của 3 màu đỏ, lục và vàng.
Hình 2.14: a, Đĩa màu trước khi bật công tắc.
b, Màu tổng hợp của 3 màu đỏ, lục và lam.
Trang 40b, Kết quả TN:
Qua quan sát ta thấy rằng khi ta gắn đĩa có 2 màu và đĩa 3 màu: đỏ, lục,vàng thì quá trình tổng hợp không thu được màu trắng; chỉ khi ta gắn đĩa có 3màu đỏ, lục, lam và đĩa 7 màu lên trục môtơ và cho nó quay, ta mới thu đượcmàu trắng
d, Giải thích:
Do hiện tượng lưu ảnh trên mắt, nên khi đĩa quay nhanh, cảm giác về mộtmàu xác định, màu vàng chẳng hạn, mà mắt nhận được chưa kịp mất, thì mắt talại nhận tiếp được cảm giác về màu lục, màu lam, màu chàm, màu tím, màu đỏ,màu cam Kết quả là cảm giác về 7 màu đó hòa lẫn với nhau và gây cho mắt cảmgiác về màu tổng hợp là màu trắng
2.3.3.5 Khả năng sử dụng
TN này có thể được sử dụng trong quá trình giảng dạy để minh họa cho
HS thấy sự tổng hợp ánh sáng trắng trong bài : Tán sắc ánh sáng của VL 12 cơbản hoặc bài 36 đối với chương trình VL 12 nâng cao
Để sử dụng được TN này hiệu quả nhất có nhiều cách để chúng ta lồngghép Tương tự như 2 TN trên thì TN này cũng khá tốt nếu GV muốn sử dụng đểđặt vấn đề vào bài Việc hướng dẫn HS tìm hiểu quá trình tổng hợp ánh sáng rồisau đó mới dẫn dắt đến hiện tượng tán sắc ánh sáng, nếu GV không biết điều tiếtthời gian hợp lí mà xoáy quá sâu vào quá trình tổng hợp để HS thấy rõ hiện
a, Hình 2.15: a, Đĩa màu trước khi bật công tắc.
b, Màu tổng hợp của 7 màu.
b,