Các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học đại học Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, hoạt động dạy học tồntại như là một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động củ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PGS TS ĐẬU THỊ HÒA
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
LÍ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC
(Dùng cho học viên khóa nghiệp vụ sư phạm)
Đà Nẵng, năm 2017
Trang 2Ngày nay, lí luận dạy học được hiểu không chỉ là một “nghệ thuật giảngdạy”, lí luận dạy học hiện đại không chỉ quan tâm đến hoạt động dạy của giáo viên,
mà còn quan tâm đến hoạt động học của người học
Trong cuộc tranh luận ngày nay, chúng ta thấy có những quan niệm khácnhau về lí luận dạy học:
- Quan niệm rộng về lí luận dạy học coi lí luận dạy học như là một khoa học
về dạy và học nói chung
- Quan niệm hẹp hơn về lí luận dạy học coi lí luận dạy học như là khoa học
về việc dạy, hoặc hẹp hơn như là lí thuyết các nội dung giáo dục hay thậm chí làchương trình dạy học
Khái niệm lí luận dạy học ở đây được hiểu là khoa học của việc dạy và học Vì cácquá trình dạy và học luôn được nhìn nhận như là các quá trình dạy và học trong các cơ sởgiáo dục (trường phổ thông, trường đại học, công tác giáo dục ngoài nhà trường…), chúng
Trang 3Ngày nay, lí luận dạy học phát triển nhanh, mạnh mẽ và được phân chiathành các lĩnh vực hay môn học khác nhau Có thể kể ra một số lĩnh vực chính sauđây:
- Lí luận dạy học đại cương
- Lí luận dạy học chuyên ngành
- Lí luận dạy học các cấp học
- Lí luận dạy nghề
- Lí luận dạy học đại học…
* Lí luận dạy học đại cương, trước hết có chức năng hình thành cơ sở lí luậnchung cho lí luận dạy học chuyên ngành cũng như các lĩnh vực lí luận dạy học khác
Nó đã xác định các lí thuyết lí luận dạy học chung và các mối quan hệ cơ bản củaquá trình dạy học
Lí luận dạy học đại cương cung cấp cho lí luận dạy học chuyên ngành một hệthống thuật ngữ công cụ cơ bản với sự trợ giúp của công cụ này, các nhiệm vụnghiên cứu riêng lẻ (hình thành khái niệm, nghiên cứu phương tiện, phát triểnchương trình,…) có thể được xử lí thành một tổng thể và thống nhất
Mặt khác, lí luận dạy học địa cương rút ra những đặc điểm của các môn họcriêng rẽ, khái quát hóa các hiện tượng và các tính qui luật của việc dạy và học trongcác chuyên ngành dạy học khác nhau để tìm ra quy luật chung
* Lí luận dạy học chuyên ngành là các bộ môn lí luận dạy học mà đối tượngcủa chúng nằm trong việc nghiên cứu, giảng dạy và phát triển các quá trình dạy học
Trang 4mang đặc thù chuyên ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn Đối tượng chính của lí luậndạy học chuyên ngành là việc phân tích các điều kiện và sự tối ưu hóa của các quátrình dạy và học gắn với chuyên ngành
Lí luận dạy học chuyên ngành là một bộ môn khoa học độc lập, có vai tròcầu nối giữa lí luận dạy học đại cương và khoa học chuyên ngành Klafki(1985,tr.37) đòi hỏi các Lí luận dạy học chuyên ngành được phát triển “như là một
bộ môn khoa học trong lĩnh vực giáp ranh hay đúng hơn trong lĩnh vực quan hệgiữa khoa học giáo dục và các khoa học chuyên ngành” Đồng thời Klafki thừanhận “ các câu trả lời đối với những câu hỏi được đặt ra về lí luận dạy học đạicương chỉ có thể tìm được với việc trợ giúp của các kiến thức mang đặc thù lĩnh vực
và đặc thù chuyên ngành” (Klafki, 1985, tr.209)
Như vậy, mối quan hệ giữa lí luận dạy học đại cương và lí luận dạy họcchuyên ngành là mối quan hệ tác động qua lại
1.1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
a Đối tượngcủa lí luận dạy học
- Lí luận dạy học là một bộ phận cuả khoa học giáo dục Đối tượng nhậnthức của lí luận dạy học theo nghĩa rộng nhất là hiện thực dạy học (quá trình dạyhọc)
- Các lĩnh vực đối tượng cơ bản của lí luận dạy học bao gồm:
+ Cấu trúc, các mối quan hệ và quy luật của quá trình dạy học
+ Hệ thống giá trị và mục tiêu dạy học
Trang 5+ Nội dung dạy học
+ Các phương pháp thực hiện, kiểm tra và đánh giá quá trình dạy học
b Nhiệm vụ của lí luận dạy học
- Nhiệm vụ cơ bản của lí luận dạy học là phát triển và giải thích một cáchkhoa học các mô hình lý thuyết để phân tích, thực hiện cũng như đánh giá việc dạy
và học ở tất cả mọi hình thức và trên mọi cấp độ Trong đó:
+ Nhận biết bản chất, cấu trúc của việc dạy học, các quy luật, các mối quan
hệ của các yếu tố trong quá trình dạy học, thông qua đó hiểu, giải thích và dự báocác hiện tượng của dạy học
+ Lập luận và quyết định mục tiêu dạy học
+ Xác định những cơ sở để lựa chọn và xử lí nội dung dạy học
+ Phát triển các phương pháp, hình thức tổ chức để thực hiện quá trình dạyhọc cũng như các phương pháp kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả dạy học
+ Xây dựng cơ sở cho việc lập kế hoạch dạy học
+ Phát triển các định hướng cho việc đổi mới, đảm bảo chất lượng dạy học
- Đối tượng nhận thức và nhiệm vụ của lí luận dạy học được cụ thể hóathông qua các câu hỏi khoa học Ví dụ: quá trình dạy học được diễn ra theo cấu trúcnhư thế nào? ở bình diện cụ thể hơn lí luận dạy học cần trả lời các câu hỏi sau:
+ Ai dạy? (giáo viên)
+ Ai học? (học sinh, sinh viên)
+ Học với ai? (hình thức xã hội)
+ Dạy và học khi nào? (thời gian)
+ Dạy và học ở đâu? (địa điểm)
+ Dạy và học nhằm đạt được điều gì? (mục tiêu dạy học)
+ Dạy và học cái gì? (nội dung dạy học)
+ Dạy và học như thế nào? (phương pháp dạy học)
+ Dạy và học bằng phương tiện nào? (phương tiện dạy học)
+ Kiểm tra đánh giá như thế nào? (đánh giá)
c Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Là một bộ phận của khoa học giáo dục, lí luận dạy học có các phương phápnghiên cứu lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phương pháp chú giải văn bản,phương pháp biện chứng, phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết, mô hình hóa…
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, quan sát,thwucj nghiệm sư phạm…
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp toán học như xử lí dữ liệu bằngphương pháp thống kê, sử dụng các công cụ phần mềm tin học trong xử lí dữ liệu…
1.2 LÍ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC
1.2.1 Khái niệm, đối tượng và nhiệm vụ
a Khái niệm lí luận dạy học đại học
Từ những khái niệm chung của lí luận dạy học, ta thấy: Lí luận dạy học đạihọc là một lĩnh vực của lí luận dạy học, nó cũng là khoa học về dạy và học ở đạihọc, là sự phản ánh khoa học các quá trình dạy và học có tổ chức chặt chẽ theo quyluật dạy học ở đại học
b Đối tượng của lí luận dạy học đại học
Đối tượng của lí luận dạy học đại học cũng là quá trình dạy học ở trường đạihọc và những quy luật của nó Quá trình dạy học đại học có bản chất độc đáo vàkhác biệt với lí luận dạy học ở phổ thông
c Nhiệm vụ của lí luận dạy học đại học
- Xây dựng hệ thống lí luận phản ánh được những mối liên hệ và quan hệcủa giảng dạy, đào tạo về khoa học và nghề nghiệp
- Xác định các luận điểm cơ bản làm cơ sở cho việc xác định nội dung,nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở đại học
- Tích cực hóa hoạt động nhận thức trong dạy học; phát triển tư duy sángtạo; rèn luyện cách suy nghĩ, cách làm việc có khoa học; phát triển năng lực hoạtđộng trí tuệ và hình thành phẩm chất cá nhân sáng tạo: tự giác, tích cực, độc lập,sáng tạo của SV
- Xây dựng các giải pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Trang 7- Nghiên cứu áp dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại vào quátrình day học đại học.
- Tìm kiếm các con đường nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học đại học
ở đại học
1.2.2 Các phạm trù cơ bản của lí luận dạy học đại học
- Quá trình dạy học: là quá trình tương tác và thống nhất giữa hoạt động
(dạy và học) của giảng viên và sinh viên, qua đó nhiệm vụ dạy học được thực hiện
- Nội dung dạy học: hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quan
đến ngành, nghề nhất định mà SV phải nắm vững trong suốt quá trình học tập phùhợp với mục tiêu đào tạo
- Nguyên tắc dạy học: những luận điểm cơ bản, những yêu cầu lí luận
mà khi tuân theo chúng sẽ bảo đảm thực hiện quá trình dạy học có chất lượng vàhiệu quả
- Phương pháp dạy học: tổng hợp các cách thức hoạt động tương tác được
điều chỉnh của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học,
- Hình thức tổ chức dạy học : là hình thức hoạt động dạy học được tổ chức
theo một trật tự và chế độ nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Chương 2
Trang 8QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC -2.1 DẠY HỌC ĐẠI HỌC LÀ MỘT HỆ THỐNG
Theo quan điểm của lí luận dạy học hiện nay, quá trình dạy học nói chung,quá trình dạy học ở đại học nói riêng tồn tại với tư cách là một hệ thống Vì vậy, khinghiên cứu quá trình dạy học đại học, chúng ta cần xem xét ở một số khía cạnh sauđây:
- Cần xác định các thành tố cơ bản của quá trình dạy học đại học
- Xác định vị trí, vai trò, chức năng của từng thành tố cấu trúc của quá trìnhdạy học đại học
- Xác định mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố cấu trúc của quá trìnhdạy học đại học
- Xác định mối quan hệ qua lại giữa hệ thống các thành tố cấu trúc của quátrình dạy học đại học với môi trường xã hội - chính trị, môi trường khoa học - kĩthuật
2.1.1 Các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học đại học
Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, hoạt động dạy học tồntại như là một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người, hoạt độngdạy và học của thầy và trò nhằm đạt tới những mục đích nhất định trên cơ sở thựchiện các nhiện vụ nhất định Muốn vậy, bất kì một hoạt động nào cũng cần phải xácđịnh được nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động và chúng được thực hiệnbởi các chủ thể nhất định Cuối cùng, sau một chu trình vận động, phát triển, cáchoạt động bao giờ cũng đạt được kết quả mà con người hằng mong muốn Tương
tự như vậy quá trình dạy học ở đại học là một quá trình xã hội, một quá trình sưphạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống Quá trình đó bao gồm những nhân tốcấu trúc cơ bản như: Mục đích và nhiện vụ dạy học ở đại học, hoạt động của giảngviên và sinh viên, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, kết quảdạy học Quá trình đó diễn ra trong môi trường xã hội - chính trị, môi trường khoahọc - kĩ thuật nhất định
Trang 9a Mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học
Mục đích nhiệm vụ dạy học ở đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầucủa xã hội đối với quá trình dạy học ở đại học Nó gắn liền với mục đích giáo dụcnói chung và mục đích giáo dục - đào tạo nói riêng của các trường đại học, đặc biệt
là mục tiêu đào tạo cụ thể của từng trường đại học, do đó nó là cái đích mà quá trìnhdạy học ở đại học phải đạt tới
Trên cơ sở mục đích dạy học người ta xây dựng các nhiệm vụ dạy học cụ thểcủa từng trường đại học Nhiệm vụ dạy học ở đại học quy định những yêu cầu vềbồi dưỡng hệ thống tri thức, kĩ năng kĩ xảo gắn liền với nghề nghiệp tương lai củasinh viên, phát triển ở họ năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duynghề nghiệp Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học, lí tưởng, ước mơ,hoài bão nghề nghiệp, những phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ khoahọc kĩ thuật, người cán bộ quản lí kinh tế, cán bộ nghiệp vụ, hành chính
Như vậy có thể nói rằng, mục đích và nhiệm vụ dạy học ở đại học giữ vị tríhàng đầu trong quá trình dạy học ở đại học với chức năng cực kì quan trọng là địnhhướng cho sự vận động và phát triển của các nhân tố nói riêng, cho sự vận động vàphát triển của quá trình dạy học ở đại học nói chung Vì thế khi xác định mục đích,nhiệm vụ dạy học ở các trường đại học, phải tính đến mục tiêu đào tạo người cán bộkhoa học kĩ thuật trong tương lai về tri thức khoa học cơ sở, tri thức khoa học cơbản, tri thức nghề nghiệp, về phẩm chất trí tuệ, phẩm chất đạo đức
b Nội dung dạy học ở đại học
Nội dung dạy học ở các trường đại học quy định hệ thống những tri thức cơbản, cơ sở, chuyên ngành; quy định hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng gắnliền với nghề nghiệp tương lai của sinh viên Trong quá trình giáo dục và đào tạo ởcác trường đại học, nội dung dạy học tạo nên nội dung cơ bản cho hoạt động giảngdạy của thầy giáo và hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nó tạo nên nộidung hoạt động cơ bản của quá trình đào tạo ở các trường đại học Trong mối tươngquan chung giữa các nhân tố của quá trình dạy học ở đại học, nội dung dạy học bịchi phối bởi mục đích, nhiệm vụ dạy học đồng thời nó phục vụ trực tiếp cho việcthực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ giáo dục đào tạo của trường đại học Mặt khác,
Trang 10nội dung dạy học ở đại học quy định việc lựa chọn và vận dụng phối hợp cácphương pháp, phương tiện dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quảdạy học ở các trường đại học.
c Các phương pháp, phương tiện dạy học ở đại học
Các phương pháp dạy học ở đại học là hệ thống các con đường, cách thứcdạy học của thầy và trò Cùng với các phương tiện dạy học, chúng có chức năng xácđịnh những phương thức hoạt động dạy và học theo nội dung nhất định nhằm thựchiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học đã đề ra trong quá trình dạy học ở đại học
d Thầy giáo với hoạt động dạy, sinh viên với hoạt động học
Trong quá trình dạy học ở đại học, người thầy giáo (và tập thể cán bộ giảngdạy) là chủ thể của hoạt động giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học
ở đại học Thầy giáo và hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạohoạt động học của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ và có chấtlượng cao những yêu cầu đã được quy định phù hợp với mục đích dạy học ở đạihọc Bên cạnh đó, người sinh viên (và tập thể sinh viên) một mặt là đối tượng củahoạt động dạy, mặt khác lại là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chất nghiêncứu Nói cách khác, trong quá trình dạy học ở đại học, người sinh viên vừa là kháchthể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo nhằmchiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có liên quan đến nghề nghiệp tương lai củamình Vì vậy sinh viên và hoạt động học phải thực hiện chức năng nhận thức nhữngvấn đề do nội dung dạy học ở đại học đã quy định Trong hệ thống dạy học ở đạihọc, các nhân tố thầy giáo với hoạt động dạy, sinh viên với hoạt động học là cácnhân tố trung tâm đặc trưng cơ bản nhất của quá trình dạy học Bởi lẽ các nhân tốnày đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá trình dạy học ở đại học, nếu như không
có thầy và trò, không có dạy và học thì sẽ không tồn tại bản thân quá trình dạy học
ở đại học Mặt khác, các nhân tố mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung, phươngpháp, phương tiện dạy học ở đại học chỉ có thể phát huy được tác dụng tích cực nếunhư chúng thông qua sự vận động và phát triển của các nhân tố thầy với hoạt độngdạy, trò với hoạt động học
đ Kết quả dạy học
Trang 11Kết quả của quá trình dạy học ở đại học phản ánh kết quả vận động và pháttriển tổng hợp của các nhân tố, đặc biệt là nhân tố người sinh viên với hoạt độnghọc tạp Nó là xuất phát điểm của mối liên hệ ngược trong và ngoài của quá trìnhdạy học ở đại học.
Các nhân tố của quá trình dạy học ở đại học không tồn tại biệt lập với nhau ,chúng có quan hệ, tác động qua lại một cách biện chứng, phản ánh tính qui luật củaquá trình dạy học ở đại học
e Mối quan hệ giữa các nhân tố
Phân tích các mối liên hệ theo sơ đồ
Môi trường Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, Khoa học - Kĩ thuật
Hình 1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình dạy học
2.1.2 Môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình dạy học ở đại học
Quá trình dạy học ở đại học với tư cách là một hệ thống tồn tại và phát triểntrong môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ Ngày nay,cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đã và đang có những bướcchuyển biến vĩ đại, đó là thời đại của “Cuộc cách mạng đại công nghệ” thời đại của
“chủ nghĩa nhân văn”, thời đại của giáo dục và đào tạo Trước những biến đổi lớnlao về đời sống xã hội và sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, nhà
Trang 12trường đại học cần có tư duy mới về chiến lược và phương thức đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học, kĩ thuật Các cấp quản lí lãnh đạo cần ý thức được rằng: ”Đội ngũ cán
bộ khoa học, đặc biệt cán bộ có trình độ cao là vốn quý của dân tộc, cần được chútrọng phát huy năng lực nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước” (Nghịquyết của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới)
Với ý nghĩa đó, môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - côngnghệ ở mỗi giai đoạn phát triển của chúng đều đòi hỏi các trường đại học phải đàotạo những đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có phẩm chất
và năng lực ngày càng hoàn thiện, đáp ứng với những yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt
và lâu dài do đời sống xã hội đòi hỏi trong điều kiện cách mạng khoa học và côngnghệ đang phát triển ở mức độ cao
Vì vậy, các nhân tố của quá trình dạy học ở đại học cần được hoàn thiệnkhông ngừng Ở đây có điều đáng chú ý là môi trường kinh tế - xã hội và môitrường khoa học - công nghệ, một mặt đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện quátrình dạy học ở đại học, song mặt khác, chúng lại tạo điều kiện góp phần nâng caochất lượng và hiệu quả quá trình dạy học ở đại học Trên cơ sở đó, quá trình dạy học
ở đại học không ngừng phát huy tác dụng tích cực đối với các môi trường thông quacác hoạt động “kết hợp giảng dạy, học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề,với thực nghiệm và nghiên cứu khoa học”
2.2 CÁC NHIỆM VỤ DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
Các nhiệm vụ dạy học của các trường đại học được xác định dựa trên một số
cơ sở chủ yếu sau đây: Mục đích và mục tiêu đào tạo của các trường đại học, sự tiến
bộ của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc điểm của quá trình dạy học ở đạihọc, đặc điểm của sinh viên đại học Và thực tiễn đất nước, điều kiện chính trị, xãhội Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nêu lên 3 nhiệm vụ chủ yếu của quá trình dạyhọc ở đại học
2.2.1 Dạy học nghề nghiệp ở trình độ cao
Trang bị cho sinh viên hệ thống những tri thức khoa học hiện đại và hệ thốngnhững kĩ năng kĩ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học nhất định, bước đầu
Trang 13trang bị cho sinh viên phương pháp luận khoa học, các phương pháp nghiên cứu vàcác phương pháp tự học có liên quan tới nghề nghiệp tương lai của họ.
Quá trình dạy học ở đại học trước hết cần trang bị cho sinh viên hệ thốngnhững tri thức khoa học hiện đại và hệ thống những kĩ năng kĩ xảo về một ngànhkhoa học nhất định Chúng ta biết rằng, tri thức là kết quả của sự phản ánh thế giớikhách quan thông qua hoạt động của chủ thể nhận thức, là những kinh nghiệm loàingười tích lũy được trong quá trình đấu tranh với tự nhiên, xã hội và hoạt động tưduy Những kinh nghiệm đó được các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa một cách có phêphán, phát triển và không ngừng hoàn thiện trên cơ sở khái quát hóa, hệ thống hóathành hệ thống tri thức của nhân loại
+ Những tri thức thực hành bao gồm những tri thức về cách thức hành động,
đó là cơ sở lí luận của việc hình thành hệ thống những kĩ năng kĩ xảo tương ứng
+ Những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung, phươngpháp học tập, phương pháp nghiên cứu nói riêng Đó là điều kiện để phát triển nănglực hoạt động trí tuệ, đặc biệt năng lực tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chấtlượng, hiệu quả quá trình dạy học ở đại học
+ Những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo Đó là cơ sở của những hoạt độngsáng tạo của con người như: phát hiện những tình huống mới trong các điều kiệnquen thuộc; tự lực chuyển các tri thức và kĩ năng sang tình huống mới; tìm tòi, pháthiện những yếu tố mới nảy sinh, những cấu trúc mới của đối tượng đang nghiêncứu Trên cơ sở đó, tìm ra nhiều phương án giải một bài toán, một tình huống phứctạp và biết xây dựng, lựa chọn cho mình phương thức giải độc đáo nhất, hiệu quảnhất
Trang 14+ Những tri thức đánh giá, đó là những hiểu biết có liên quan tới khả năngnhận xét, phân tích, phê phán, đánh giá những quan điểm, những lí thuyết, họcthuyết
Những tri thức này giúp cho sinh viên có cách nhìn bao qúat hơn, có nhậnthức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn trên cơ sở nhận xét, đánh giá, phê phán theo chủquan Điều đó giúp sinh viên có thể mở rộng tầm nhìn, khả năng đi sâu vào một vấn
đề và bồi dưỡng óc phê phán, năng lực phân tích, đánh giá
- Những tri thức hiện đại: Là những tri thức phản ánh những thành tựu mớinhất về các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn hóa Đó là những tri thức phản ánhđược xu thế phát triển của thời đại và phù hợp với chân lí khách quan
Những tri thức hiện đại bao gồm những quan điểm, những lí thuyết, nhữngphương pháp có tác dụng làm cho thế giới quan của sinh viên được hoàn thiện hơn,năng lực nhận thức phát triển hơn, hoạt động của cá nhân phong phú và có hiệu quảhơn Cũng cần lưu ý rằng, không phải tất cả những cái mới đều dược coi là tri thứchiện đại mà, tri thức hiện đại phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, phùhợp với chân lí khách quan
- Tri thức khoa học cơ bản, tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa họcchuyên ngành là những tri thức chủ yếu cần trang bị cho học sinh, sinh viên
+ Tri thức khoa học cơ bản là những tri thức tạo nên nền tảng lâu bền để từ
đó người học có thể học tốt những tri thức cơ sở và chuyên ngành của mình Ví dụnhững tri thức về Toán học, Triết học
+ Tri thức cơ sở của chuyên ngành bao gồm những tri thức đại cương vềchuyên ngành, nó được hình thành trên nền tảng của những tri thức cơ bản đồngthời là chỗ dựa cho tri thức chuyên ngành
+ Tri thức chuyên ngành là những tri thức giúp cho người học có thể nắmvững những tri thức trực tiếp có liên quan đến nghề nghiệp tương lai Nó bao gồmnhững tri thức về chuyên môn rộng và phần nào về chuyên môn hẹp
+ Ngoài ba loại tri thức chủ yếu trên, học sinh còn được trang bị những trithức công cụ Đó là những tri thức giúp cho học sinh có các công cụ phục vụ cho
Trang 15việc nắm ba loại tri thức trên như: ngoại ngữ, lôgic học, phương pháp luận vàphương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở trang bị hệ thống những tri thức cơ bản, cơ sở, chuyên ngànhcần rèn luyện cho sinh viên hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, đáp ứng yêucầu đào tạo đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, năngđộng và sáng tạo
Chúng ta biết rằng kĩ năng là khả năng tự giác hoàn thành một hoạt độngnhất định, dựa trên sự hiểu biết và vận dụng những tri thức tương ứng Kĩ xảo lànăng lực thực hiện một cách tự động hóa một thao tác hay một công việc nhất định,
nó thể hiện sự thành thạo trong hành động của con người
Trong quy trình đào tạo, các trường đại học cần trang bị cho sinh viên những
kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức khoa học vào nghề nghiệp của mình cũng như vàođời sống thực tế, những kĩ năng, kĩ xảo liên quan tới phương pháp học tập, nghiêncứu khoa học Điều đáng chú ý là tùy theo yêu cầu đào tạo của ngành học mà xácđịnh hệ thống các kĩ năng, kĩ xảo cơ bản và chuyên biệt phù hợp với mục tiêu đàotạo của mình Ví dụ, đối với sinh viên sư phạm cần phải rèn luyện những kĩ năng, kĩxảo cơ bản về thiết kế kế hoạch dạy học - giáo dục, tổ chức hoạt động dạy học -giáo dục, giao tiếp, tìm hiểu đối tượng sinh viên Đồng thời cần rèn luyện hệ thốngnhững kĩ năng, kĩ xảo chuyên biệt có liên quan đến nghề nghiệp tương lai nhưnhững kĩ năng, kĩ xảo giảng dạy, giáo dục, hoạt động văn hóa - xã hội, tự học,nghiên cứu khoa học giáo dục
2.2.2 Dạy phương pháp nhận thức để tìm ra tri thức
Một trong những vấn đề cơ bản đối với các trường đại học hiện nay là phảibồi dưỡng cho sinh viên phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa họccũng như phương pháp tự học
Phương pháp luận khoa học là học thuyết triết học về phương pháp nhậnthức và cải tạo thế giới khách quan Có thể hiểu một cách khái quát về những thànhphần cơ bản của phương pháp luận bao gồm: Hệ thống các luận điểm cơ bản (hệthống các nguyên tắc cơ bản) và hệ thống các phương pháp cụ thể về một lĩnh vựcnhất định Trong đó các luận điểm (các nguyên tắc) mạng tính quy luật chỉ đạo hệ
Trang 16thống các phương pháp và ngược lại, hệ thống các phương pháp là các cách thức,các con đường, phương tiện hoạt động nhằm đạt tới mục đích nghiên cứu nhất địnhdưới sự chỉ đạo của các luận điểm cơ bản (các nguyên tắc)
Phương pháp tự học của sinh viên trong các trường đại học là cách thức hoạtđộng tích cực, chủ động, tự lực và sáng tạo nhằm thực hiện có chất lượng và hiệuquả mục đích nhiệm vụ học tập, nghiên cứu nhất định Đó là các cách thức xâydựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện
kế hoạch thông qua việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phươngtiện dạy học nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học
Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên
Thực tiễn cuộc sống hiện nay đang có nhiều biến động lớn về mọi mặt, đờisống xã hội, khoa học và công nghệ Đăc biệt khoa học và công nghệ đang pháttriển với tốc độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.Thực tế đó đòi hỏi các trường đại học phải đặc biệt quan tâm tới nhiệm vụ phát triểnnăng lực hoạt động trí tuệ cho sinh viên, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập sáng tạocủa người cán bộ khoa học kĩ thuật tương lai
Những công trình nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học đã khẳng địnhrằng sự phát triển trí tuệ nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy vốn tri thức và sựvận dụng các thao tác trí tuệ thành thạo và vững chắc Đó là quá trình chuyển biến
về chất lượng trong hoạt động trí tuệ nói chung, trong hoạt động nhận thức củangười sinh viên nói riêng
Trong quá trình dạy học ở đại học, với vai trò tổ chức điều khiển của giáoviên, sinh viên không ngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự mình rèn luyện cácthao tác trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ cần thiết như:
+ Tính định hướng của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ sinh viên ý thứcnhanh chóng và chính xác đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt được
và những con đường tối ưu để đạt tới mục đích đó
+ Bề rộng của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ sinh viên có thể tiến hành hoạtđộng học tập, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp và gián tiếp tớingành nghề tương lai của mình
Trang 17+ Chiều sâu của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ sinh viên có khả năng nắmvững sâu sắc bản chất các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.
+ Tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ sinh viên có thể tiếnhành hoạt động trí tuệ không những nhanh chóng mà còn di chuyển nhạy bén nhữngtri thức và cách thức hành động trí tuệ có tính khái quát từ tình huống này sang tìnhhuống khác một cách sáng tạo Nhờ đó, sinh viên có thể thích ứng nhanh chóng vớicác tình huống nhận thức khác nhau, đảm bảo việc chiếm lĩnh tri thức nhanh hơn và
+ Tính nhất quán của hoạt động trí tuệ phản ánh tính lôgic của hoạt độngnhận thức của sinh viên, đảm bảo sự thống nhất tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuốikhông mâu thuẫn
+ Tính phê phán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ sinh viên biết phân tích,đánh giá các quan điểm, phương pháp, lí thuyết của người khác và đồng thời nêu rađược ý kiến chủ quan của mình và bảo vệ được ý kiến đó
+ Tính khái quát của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ, khi giải quyếtmỗi loai nhận thức nhất định, ở sinh viên có mô hình giải quyết khái quát tươngứng Từ mô hình giải quyết khái quát này học có thể vận dụng để giải quyết cácnhiệm vụ cụ thể cùng loại
Như vậy, trong quá trình dạy học ở đại học, các phẩm chất và năng lực hoạtđộng trí tuệ của sinh viên được phát triển không ngừng Ngược lại sự phát triển trítuệ trong chừng mực nào đó cũng ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng và hiệu quảdạy học Thật vậy, trình độ phát triển trí tuệ hiện tại của sinh viên là kết quả củahoạt động dạy học trước đây, song mặt khác, trình độ đó lại tạo nên cơ sở mới, tiền
Trang 18đề mới cho giai đoạn dạy học tiếp theo được thực hiện với yêu cầu cao hơn Bởi lẽquá trình dạy học ở đại học là một quá trình liên tục bao gồm nhiều công đoạn nốitiếp nhau, càng về sau, người sinh viên càng phải thực hiện những yêu cầu cao vớinhững nhiệm vụ khó khăn và phức tạp nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định,đáp ứng được mục tiêu đào tạo của trường đại học Điều đó có nghĩa là, muốn hoànthành các nhiệm vụ nhận thác trong một giai đoạn nào đó của quá trình đào tạo, sinhviên phảo dựa vào vốn tri thức đã có và làm cho nó phong phú hoàn thiện hơn
Điều kiện cần thiết để dạy học thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển trí tuệ củasinh viên là hoạt động dạy học ở đại học phải đi trước, đón trước và thúc đẩy sựphát triển trí tuệ của người sinh viên, dạy học phải vừa sức sinh viên Điều đó cónghĩa là, nhiệm vụ, yêu cầu dạy học ở đại học phải tương ứng với giới hạn cao nhấtcủa “vùng phát triển trí tuệ gần nhất” của sinh viên mà họ có thể vươn tới với sự nỗlực cao nhất cả về sức lực và trí tuệ Có như vậy, trong hoạt động nhận thức củasinh viên mới xuất hiện hàng loạt mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn cơ bản là mâuthuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập nghề nghiệp được nâng cao và trình độ có hạn
về năng lực và phẩm chất trí tuệ - càng trở nên gay gắt Kết quả giải quyết có hiệuquả những mâu thuẫn đó là động lực thúc đẩy quá trình dạy học ở đại học khôngngừng vận động, phát triển theo hướng đi lên
2.2.3 Dạy thái độ
Trên cơ sở trang bị hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lựchoạt động trí tuệ cho sinh viên, quá trình dạy học ở đại học nhằm hình thành và pháttriển thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạng và những phẩm chất đạo đức của
người cán bộ khoa học - kĩ thuât, những cán bộ “có tri thức và có tay nghề, có năng
lực thực hành, năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng với những thay đổi vềnghề nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa, có bản lính tự tạo việc làm, có ý thức thực
hiện nghĩa vụ công dân ”
Vì vậy một trong những nguyên tắc cực kì quan trọng của quá trình dạy học
ở đại học là phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa nội dung giáo dục tưtưởng, chính trị với nội dung tri thức khoa học trên cơ sở nền tảng những tri thức và
kĩ năng nghề nghiệp tương lai của người cán bộ kho học Mặt khác, việc nắm vững
Trang 19tri thức, kĩ năng là cơ sở và điều kiện để phát triển năng lực hoạt động trí tuệ củasinh viên trong quá trình dạy học ở đại học Trong mối tương quan giữa dạy học,giáo dục và phát triển, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và các phẩm chấtnhân cách của người cán bộ khoa học, kĩ thuật trong tương lai vừa là mục đích, vừa
là kết quả, đồng thời cũng là cơ sở tư tưởng của việc chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng,phát triển trí tuệ của sinh viên Nó phản ánh rõ nét mục tiêu đào tạo của các trườngđại học đáp ứng yêu cầu của xã hội, cách mạng khoa học, công nghệ và yêu cầu củacuộc sống
Trong thực tiễn, việc giáo dục thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạngkhông thể tách rời việc giáo dục các phẩm chất đạo đức của con người lao động Cóthể giáo dục cho học sinh những phẩm chất đạo đức qua nội dung, phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học Trong đó, nội dung dạy học có ý nghĩa giáo dục rất lớn
vì bản thân nó đã chứa đựng những quan điểm, những tư tưởng, những chuẩn mựcđạo đức
2.3 BẢN CHẤT CỦA DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
Cơ sở xác định bản chất của quá trình dạy học ở đại học: Nghiên cứu mốiquan hệ giữa hoạt động dạy học nói chung với hoạt động nhận thức thế giới kháchquan của loài người và mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy vớihoạt động học của trò trong các trường đại học, người ta có thể khẳng định đượcbản chất của quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chấtnghiên cứu của sinh viên
* Quá trình nhận thức của sinh viên nói chung, quá trình học tập nói riêng
ở các trường đại học là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, trong quá trình học tập ở trường đại học, mỗi sinh viênphải tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kĩ năng, phải nắm vững những cơ sở củanghề nghiệp tương lai ở trình độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng vớinhững yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội và cách mạng khoa học,công nghệ đặt ra Muốn vậy khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, sinh viênkhông thể chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhậnthức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát
Trang 20triển ở mức độ cao Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, sinhviên không chỉ nắm những chân lí có sẵn một cách máy móc mà họ có khả năngtiếp nhận những chân lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghikhoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu hoặc mở rộng
Mặt khác, trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu thực sựtham gia hoạt động tìm kiếm chân lí mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoahọc được tiến hành ở các mức độ từ thấp tới cao tùy theo yêu cầu của chương trìnhcác bộ môn Ví dụ bài tập nghiên cứu sau mỗi học phần, niên luận, khóa luận, luậnvăn, đồ án tốt nghiệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bướctập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phươngpháp nghiên cứu, tự tu dưỡng, rèn luyện những phẩm chất, tác phong của nhànghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn
xã hội, thực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghề nghiệp đề ra
* Quá trình nhận thức của sinh viên về cơ bản có những điểm giống nhận thức của loài người, của nhà khoa học và của học sinh trường phổ thông.
Sự giống nhau này thể hiện ở chỗ:
- Đều diễn ra theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn
- Đều huy động hoạt động tư duy của con người ở mức độ cao nhất
- Đều làm cho vốn hiểu biết của con người ngày càng hoàn thiện và phongphú
* Tuy vậy, quá trình nhận thức của sinh viên lại có những nét độc đáo so với quá trình nhận thức của các nhà khoa học Cụ thể là:
- Học sinh phổ thông trong quá trình học tập, không có nhiệm vụ tìm ra cáimới cho nhân loại, mà trước hết phải hoàn thành nhiệm vụ nắm cho được những trithức mà loài người đã tích lũy và khái quát hóa trong các khoa học Nói cách khác,các em nhận thức được cái mới đối với bản thân mình rút ra từ kho tàng hiểu biếtchung của nhân loại
Ở đây, có điều đáng chú ý là, trong thời gian học ở nhà trường phổ thông,học sinh không thể nắm vững được toàn bộ kho tàng hiểu biết đó mà chỉ phải nắm
Trang 21những tri thức phổ thông cơ bản cần thiết cho mọi người ở mỗi giai đoạn phát triểncủa xã hội dưới ảnh hưởng của cách mạng khoa học - công nghệ Những tri thứcnày được rút ra từ các khoa học và cần được gia công về mặt sư phạm, và trong quátrình dạy học, học sinh phổ thông tự giác, tích cực, độc lập nhận thức dưới tác dụngchủ đạo của thầy Ở đây, thầy lại tiếp tục gia công về mặt sư phạm đối với nội dungdạy học, vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học một cáchkhoa học và nghệ thuật để thúc đẩy một cách tối ưu hoạt động nhận thức của họcsinh, tránh cho chúng những vấp váp, sai lầm.
Trên cơ sở đó, chỉ trong thời gian học tập ngắn ngủi ở nhà trường phổ thông
so với toàn bộ thời gian đã tồn tại của loài người, học sinh nắm vững dược một cáchthuận lợi những cơ sở khoa học được phản ánh trong các môn học không phải trảiqua con đường nhận thức quanh co, gập gềnh
- Đối với sinh viên: trong quá trình dạy học, họ phải hoàn thành nhiệm vụchủ yếu là tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết vànhững kĩ năng cơ bản về nghề nghiệp tương lai Nói cách khác, họ phải phấn đấunắm được cơ sở của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp đại họcvới tư cách là người cán bộ khoa học, kĩ thuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ cótrình độ cao
Do đó, những tri thức mà họ lĩnh hội không phải là những tri thức phổ thông
cơ bản mà là hệ thống tri thức cơ bản, cơ sở của chuyên ngành và chuyên ngành và
hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng về một ngành khoa học, kĩ thuật, văn hóanhất định
Song ở đây có điều đáng chú ý là, bên cạnh nhiệm vụ nhận thức những cáimới đối với bản thân như vậy, sinh viên còn bắt đầu thực sự tham gia tìm kiếm cáimới đối với nhân loại một cách vừa sức Vì thế, hoạt động nghiên cứu khoa học đãđến lúc đi vào quá trình học tập ở đại học và tồn tại như là một bộ phận hữu cơ củaquá trình đó Cho nên có thể nói rằng, đã qua thời kì mà chỉ có một số nhỏ sinh viên
có tài năng tham gia nghiên cứu khoa học
Để có thể hoàn thành tốt hai nhiệm vụ hữu cơ nói trên, sinh viên cần pháthuy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập của mình dưới tác dụng chủ đạo của thầy
Trang 22Tác dụng chủ đạo này nhìn bề ngoài tưởng chừng tương tự như tác dụng chủ đạocủa thầy giáo ở trường phổ thông Song thực tế chúng khác nhau về chất; nếu như ởtrường phổ thông tác dụng chủ đạo của thầy là ở chỗ tổ chức, điều khiển học sinhnắm chân lí phổ thông, cơ bản đã được phát hiện và bước đầu dần dần tiếp xúc vớihoạt động nghiên cứu ở trình độ thấp với hình thức đơn giản thì ở trường đại học,tác dụng chủ đạo của thầy giúp cho sinh viên hoàn thành được hoạt động nhận thức
có tính chất nghiên cứu, trong đó bao hàm cả hoạt động thực sự nghiên cứu khoahọc tìm ra chân lí mới đối với nhân loại
Trên cơ sở đó, con đường nhận thức của sinh viên về cơ bản là thuận lợi, tuy
có những lúc quanh co khúc khuỷu do hoạt động tìm kiếm chân lí mới gây ra Vìthế, chỉ trong một thời gian ngắn, họ nắm được cơ sở của nghề nghiệp tương lai,hình thành được cơ sở ban đầu vững chắc của nhân cách người cán bộ khoa học, kĩthuật, người cán bộ quản lí, nghiệp vụ ở trình độ đại học
- Các nhà khoa học thì phải đảm đương nhiệm vụ khó khăn gian khổ nhưng
vô cùng vinh quang là độc lập đi vào những bí ẩn của thế giới khách quan, phát hiện
và chứng minh những cái chưa hề biết trong tự nhiên, xã hội, tư duy Từ đó nắmđược những bản chất và các quy luật của chúng, nghĩa là tìm ra được những chân límới làm sâu sắc thêm và phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại Sự tìmkiếm và chứng minh những chân lí mới là công việc không phải dễ dàng Như vậy,con đường nhận thức của các nhà khoa học không phải là con đường thênh thangbằng phẳng, trái lại đầy chông gai, khúc khuỷu
Trong quá trình học tập của học sinh phổ thông và sinh viên đều có các khâu,củng cố, kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Thật vậy, trong quá trình họctập dưới tác dụng chủ đạo của thầy, học sinh hay sinh viên cũng phải tự giác, tíchcực, độc lập nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Song một yêu cầu được đặt ra là họ phảihòa những cái đó vào vốn kinh nghiệm của bản thân mình và lưu giữ được bềnvững; khi cần có thể tái hiện và vận dụng được Do đó, khâu củng cố là khâu hữu cơcủa quá trình dạy học Mặt khác những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà học sinh nắmđược cần được kiểm tra và đánh giá một cách có kế hoạch và có hệ thống nhằmthực hiện những yêu cầu về mặt dạy học và giáo dục Do đó, trong quá trình nhận
Trang 23thức của học sinh, phải có khâu kiểm tra và đánh giá, đảm bảo cho quá trình nàyhợp thành một chu trình kín.
Tuy nhiên, ở đây có điều đáng chú ý là, các khâu củng cố, kiểm tra và đánhgiá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của sinh viên mang tính sâu sắc, riêng biệt về mặt nộidung, hình thức và cách thức tiến hành Còn đối với quá trình nhận thức của các nhàkhoa học thì khâu củng cố, kiểm tra và đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo theo yêucầu của dạy học và giáo dục không có cơ sở tồn tại Đó là vì nhiệm vụ cơ bản củacác nhà khoa học là tìm kiếm chân lí mới cho loài người trên cơ sở hoạt độngnghiên cứu khoa học
Trong quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và sinh viên, người ta rấtquan tâm đến hiệu quả giáo dục của dạy học Như vậy có nghĩa là trong quá trìnhhọc tập, họ phải thông qua việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lựchoạt động trí tuệ, mà rèn luyện con người
Song, nếu như học sinh phổ thông dần dần hình thành được cơ sở thế giớiquan khoa học, cơ sở nhân sinh quan khoa học và những phẩm chất đạo đức củangười công dân nói chung thì sinh viên dần dần hình thành được thế giới quan khoahọc, nhân sinh quan cách mạng và những phẩm chất đạo đức của người cán bộ khoahọc, kỹ thuật, người cán bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ đại học tương lai
Trong khi đó, đối với quá trình nhận thức của các nhà khoa học, người takhông đề ra những yêu cầu về mặt giáo dục bên cạnh những yêu cầu về mặt phátminh khoa học, mặc dầu hiệu quả giáo dục là có tính tất yếu đối với các nhà khoahọc trong quá trình nghiên cứu khoa học
* Từ những điều trình bày ở trên, chúng ta thấy rõ quá trình nhận thức của sinh viên là có tính chất nghiên cứu, nó cao hơn quá trình nhận thức của học sinh
phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học Nó có những
điểm giống nhau và những điểm độc đáo so với các quá trình nhận thức này
Tuy nhiên chúng ta cần tránh 2 khuynh hướng sau đây:
Một là, không nên cường điệu hóa sự giống nhau giữa quá trình nhận thứccủa sinh viên với quá trình nhận thức của học sinh phổ thông cũng như của các nhàkhoa học Đó là vì sự cường điệu hóa này sẽ dẫn đến hậu quả là coi sinh viên đại
Trang 24học như là học sinh phổ thông và sẽ làm thui chột hay hạn chế sự phát triển nănglực nhận thức của họ, hoặc là coi sinh viên như các nhà khoa học và buộc họ phảitiến hành quá trình nhận thức bằng con đường vòng vèo, khúc khuỷu không cầnthiết, gây nên tình trạng lãng phí về thời gian, về sức lực và trí tuệ.
Hai là mặt khác không nên cường điệu hóa tính độc đáo của quá trình nhậnthức của sinh viên so với quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và của các nhàkhoa học Vì sự cường điệu hóa này sẽ dẫn đến tình trạng hoặc không kế thừa đượcnhững kinh nghiệm dạy tốt, học tốt ở trường phổ thông, hoặc không làm cho hoạtđộng nhận thức của sinh viên tiếp cận với hoạt động nhận thức của nhà khoa học
2.4 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
Nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình dạy học đại học là sợi chỉ đỏxuyên suốt toàn bộ lịch sử phát triển giáo dục đại học, của trường đại học ở bất kìgiai đoạn phát triển nào, nó cũng luôn luôn là vấn đề thời sự, bức thiết
Ngày nay do yêu cầu của thời đại, nền giáo dục đại học phải đáp ứng được
ba yêu cầu cơ bản: bình đẳng, chất lượng tốt và hiệu quả cao Nhà trường đại họchiện đại phải là nhà trường của cuộc cách mạng xã hội và cách mạng khoa học côngnghệ; là nhà trường "đại học dự đoán và tác động"; là trung tâm đào tạo chất lượngcao; là trung tâm học tập chỉ dựa vào chất lượng và hiệu quả
2.4.1 Tiêu chuẩn quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả ở đại học
Một quá trình dạy học đại học sẽ có chất lượng và hiệu quả khi thoả mãnnhững tiêu chuẩn sau:
- Chất lượng dạy học: Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ dạy học: Dạy học nghềnghiệp; Dạy học phương pháp; Dạy thái độ
- Hiệu quả dạy học: bao gồm 2 yếu tố: Đáp ứng đúng và kịp thời yêu cầu của
xã hội, của mục tiêu đào tạo; Chi phí, sử dụng tối ưu sức lực, thời gian, tiền của củagiảng viên, sinh viên, của nhân dân, nhà nước
2.4.2 Phương hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở đại học
- Các phương hướng cơ bản của lí luận dạy học đại học thế giới nêu:
+ Nâng cao hiệu suất dạy học
+ Cá thể hoá dạy học
Trang 25+ Công nghệ hoá dạy học
Vậy dạy học ở đại học cần phân hoá, cá thể hoá cho phù hợp với từng đốitượng, thiết kế công nghệ dạy học hợp lí để năng cao hiệu suất dạy học
- Các phương hướng cơ bản của lí luận dạy học ở đại học Việt Nam
+ Phát huy cao độ tính độc lập, sáng tạo của sinh viên, chuyển trong tâm hoạtđộng từ giảng viên sang sinh viên
+ Tăng cường rèn luyện nghề nghiệp cho sinh viên
+ Chuyển dần phương pháp học tập sang phương pháp nghiên cứu, gắn các
đề tài nghiên cứu của sinh viên với thực tiễn xã hội
+ Điều khiển kín quá trình dạy học đại học, khách quan hoá quá trình kiểmtra và đánh giá
+ Xây dựng và sử dụng tối ưu CSVC và các phương tiện kĩ thuật dạy học
2.4.3 Quy trình công nghệ thiết kế quá trình dạy học đại học có chất lượng, hiệu quả
Căn cứ vào thành tựu đã đạt được của khoa học giáo dục và các khoa học cóliên quan; căn cứ vào công nghệ dạy học hiện đại; căn cứ vào kinh nghiệm củagiảng viên đại học và sinh viên có thể đề xuất một quy trình thiết kế quá trình dạyhọc đại học và tự học đảm bảo chất lượng và hiệu quả bao gồm 7 công đoạn
- Xác định mục tiêu dạy học
- Xác định trình độ ban đầu của sinh viên
- Xác định nội dung dạy học
- Xác định điều kiện và phương tiện kĩ thuật dạy học
Trang 263.1 MỤC TIÊU DẠY HỌC
3.1.1 Mục tiêu dạy học
a Khái niệm
- Theo quan điểm công nghệ, mục tiêu là đầu ra, là sản phẩm dự kiến, là đích
cụ thể của một quá trình, một công đoạn sản xuất Việc xác định mục tiêu có đúng,
có cụ thể thì mới có căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu quả của mỗi công đoạn,quá trình Vì vậy đòi hỏi giảng viên phải xác định mục tiêu càng cụ thể càng tốt
- Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, mục tiêu là cái đề racho người học thực hiện Giảng viên phải hình dung được là sau một bài, mộtchương, một phần của chương trình, sinh viên của mình phải nắm được những kiếnthức, kĩ năng gì? Ở mức độ nào đối với đa số sinh viên, đối với sinh viên giỏi vàsinh viên yếu kém
- Cần phân biệt mục tiêu và mục đích
+ Mục đích: là mục tiêu khái quát, dài hạn: mục đích của bậc học, cấp học;mục đích của chương trình môn học
+ Mục tiêu (objective): mục tiêu ngắn hạn, cụ thể Ví dụ mục tiêu củachương, bài học
Mục đích và mục tiêu có điểm chung là cái đề ra nhằm đạt được sau khi thựchiện quá trình dạy học Mức độ phân biệt giữa mục đích và mục tiêu, khái quát và
cụ thể chỉ có tính quy ước Mục đích quy định mục tiêu Muốn đạt được mục đíchphải cụ thể hóa thành các mục tiêu ở nhiều cấp độ khác nhau Thực hiện thành côngcác cấp độ mục tiêu đó cho phép ta đạt được mục đích
b Các dạng mục tiêu và mức độ
- Nhóm mục tiêu nhận thức: đề cập đến việc lĩnh hội và vận dụng tri thức;bao gồm các mức độ :
+ Biết: Nhận biết, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, khái miệm
+ Hiểu: Có thể giải thích, chứng minh những tri thức đã lĩnh hội
+ Áp dụng: áp dụng tri thức vào các tình huống quen thuộc, tình huống mới
Trang 27+ Phân tích: Phân chia cái toàn thể thành các bộ phận, làm rõ các quan hệ+ Tổng hợp: Sắp xếp cái bộ phận thành tổng thể, tạo nên một tổng thể mới.+ Đánh giá: nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của mỗi tri thức.
- Nhóm mục tiêu về tâm vận động đề cập đến mức độ thành thạo của các kĩnăng thực hiện hành động
+ Bắt chước: Quan sát và lặp lại theo mẫu các hành động
+ Thao tác: thực hiện hành động theo chỉ dẫn
+ Hành động chuẩn xác: Thực hiện hành động đúng đắn, chính xác
+ Hành động phối hợp: Thực hiện một loạt hành động phối hợp
+ Hành động tự nhiên: Thực hiện một loạt hành động một cách thành thạo,
dễ dàng, tự động không cần cố gắng nhiều về thể lực, tinh thần và trí lực
- Nhóm mục tiêu cảm xúc đề cập đến cảm giác, thái độ, giá trị bao gồm:+ Tiếp nhận: Tiếp thu một kích thích, tham gia một cách thụ động
+ Đáp ứng: Trả lời kích thích, tham gia hoạt động một cách vui vẻ, thích thú+ Đánh giá: Thấy rõ giá trị của công việc, kiên định thái độ, tự nguyện camkết tham gia
+ Tổ chức: Sắp xếp, phối hợp những hoạt động dài ngày, qua đó tích hợpnhững giá trị mới vào hệ thống gá trị của bản thân
+ Biểu thị tính cách riêng: bằng việc định hình các giá trị đã tiếp thu
3.1.2 Ý nghĩa của việc xác định đúng đắn mục tiêu dạy học
Xác định mục tiêu dạy học có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học
- Mục tiêu dạy học là cơ sở để lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện,hình thức tổ chức dạy học, chỉ đạo hoạt động của thầy và trò
- Mục tiêu dạy học định hướng cho hoạt động của giảng viên và sinh viêntrong suốt quá trình dạy học
- Mục tiêu dạy học là căn cứ để đánh giá kết quả dạy học
Tuy nhiên các giảng viên lại có sự đánh giá khác nhau về tầm quan trọng của
nó và có những khó khăn khác nhau khi xác định mục tiêu Giảng viên có kinhnghiệm thường coi trọng việc xác định mục tiêu dạy học, còn giảng viên trẻ thườngrất lúng túng trong việc phát biểu mục tiêu bài học; hoặc xác định không trúng;
Trang 28hoặc thực hiện việc xác định mục tiêu bài học một cách chiếu lệ, hình thức thậm chísoạn xong giáo án cũng không kiểm tra xem mục tiêu đề ra đã được thể hiện nhưthế nào, lên lớp xong cũng không có thói quen đánh giá xem mục tiêu đã được thựchiện như thế nào.
3.2 HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
3.2.1 Khái niệm chung về nguyên tắc dạy học đại học
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học đại học về bản chất là quá trình nhậnthức có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới tác dụng chủ đạocủa giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học Quá trình này,với những quy luật đặc thù của mình, luôn luôn vận động, phát triển không ngừng.Muốn tổ chức, điều khiển quá trình dạy học ở đại học nhằm đạt kết quả tối ưu,chúng ta phải luôn luôn tuân theo những luận điểm cơ bản mang tính quy luật củaquá trình đó Những luận điểm cơ bản đó chính là những nguyên tắc dạy học
Vậy: Nguyên tắc dạy học đại học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận dạy học đại học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học.
Khái niệm nguyên tắc dạy học, cần làm sáng tỏ một số khía cạnh như sau:
- Những nguyên tắc dạy học đại học là những luận điểm cơ bản của lý luậndạy học đại học, phản ánh những quy luật, trước hết là quy luật cơ bản của quá trìnhdạy học đại học Để đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học, hoạt động dạy họcđều phải tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo nhất định phù hợp với tính quy luậtcủa quá trình dạy học đại học Nói cách khác, các nguyên tắc dạy học đại học chỉđạo việc lựa chọn và vận dụng phối hợp nội dung, phương pháp và hình thức tổchức dạy học, nghĩa là chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học, đảm bảo cho nó vậnđộng, phát triển đi lên một cách hợp quy luật nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụdạy học, góp phần đào tạo những cán bộ khoa học, kỹ thuật, những cán bộ quản lýkinh tế và nghiệp vụ có trình độ đại học
- Nguyên tắc dạy học đại học là những luận điểm cơ bản chỉ đạo toàn bộ tiếntrình dạy và học đại học, những hoạt động tồn tại và phát triển trong mối quan hệbiện chứng với nhau Vì vậy không thể quan niệm rằng các nguyên tắc dạy học chỉ
Trang 29có tác dụng chỉ đạo hoạt động giảng dạy của giáo viên, hiểu như vậy sẽ cường điệuhóa vai trò người giáo viên và hoạt động dạy, coi như vai trò hoạt động học vàngười sinh viên với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tiến hành hoạt động họctập có tính chất nghiên cứu ở đại học.
3.2.2 Hệ thống các nguyên tắc dạy học đại học
Hiện nay, trong các tài liệu về lý luận dạy học đại học, các tác giả trong vàngoài nước đã đưa ra nhiều hệ thống các nguyên tắc dạy học khác nhau Điều đóchứng tỏ rằng, cũng như lý luận dạy học nói chung, các nguyên tắc dạy học của nócũng đang trên đà được hoàn thiện
Trên cơ sở phân tích mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học, căn cứ vào nhậnthức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin dựa vào các quy luật của quá trình dạy học đạihọc, cũng như nghiên cứu thực tiễn dạy học ở đại học với các đặc điểm tâm - sinh lýcủa sinh viên, trên cơ sở tiếp thu có phân tích, phê phán những quan điểm và kinhnghiệm của các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy ở đại học, chúng ta có thể nêulên hệ thống các nguyên tắc dạy học đại học như sau:
a Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, tính giáo dục và tính nghề nghiệp trong quá trình dạy học ở đại học.
Trường đại học có nhiệm vụ đào tạo thế hệ thanh niên thành những ngườicán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý nghiệp vụ “vừa có phẩm chất chính trị tốt,vừa có năng lực chuyên môn giỏi để từng bước giải quyết những vấn đề khoa học,
kỹ thuật và quản lý do thực tiễn nước ta đề ra” Vì vậy, trong quá trình dạy học ởđại học, trước hết, sinh viên phải nắm vững những trí thức khoa học cơ bản, tri thức
cơ sở của chuyên ngành và hệ thống trí thức chuyên ngành Đó là những tri thứckhoa học chân chính, chính xác phù hợp với những quan điểm, những quy luật củachủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phản ánh những thành tựu hiện đạicủa khoa học, kỹ thuật và văn hóa Phải từng bước trang bị cho sinh viên nhữngphương pháp nghiên cứu, phương pháp tự học, có thói quen suy nghĩ và làm việcmột cách khoa học Trên cơ sở đó, bồi dưỡng thế giới quan khoa học, lý tưởng nghềnghiệp, những phẩm chất đạo đức cần thiết của người cán bộ khoa học, kỹ thuậttương lai Mặt khác, cần đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, và tính giáo dục
Trang 30trên cơ sở tính nghề nghiệp Điều đó phản ánh rõ nét quy luật “dạy học và giáo dụcthống nhất biện chứng với nhau”, song sự thống nhất này lại bị chi phối bởi tínhnghề nghiệp tương lai của sinh viên Như vậy có nghĩa là, quá trình dạy học đại họcphải đảm bảo chuẩn bị cho sinh viên những phẩm chất và năng lực cần thiết củangười cán bộ khoa học, kỹ thuật tương lai phù hợp với mục tiêu đào tạo của trườngđại học trong điều kiện kinh tế - xã hội và cách mạng khoa học và công nghệ đangphát triển,
Như vậy, nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, tính giáodục và tính nghề nghiệp giúp cho sinh viên nắm được bản chất các sự vật, hiệntượng, có thể góp phần tác động đến chúng một cách hợp quy luật theo hướng nghềnghiệp của mình Mặt khác, còn giúp họ hình thành thế giới quan khoa học, niềmtin và hứng thú khoa học, đặc biệt là lý tưởng và tình cảm nghề nghiệp tương lai
Để phát huy tác dụng tích cực của nguyên tắc, cần chú ý một số hương sau:
- Đảm bảo tính hiện đại của nội dung dạy học có liên quan đến nghề nghiệptương lai, nghĩa là phải nắm vững những quan điểm mới, lý thuyết mới, phươngpháp mới phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường đại học cũng như với thực tiễnnghề nghiệp và thực tiễn chung của đất nước Có như vậy, sinh viên sẽ hoàn thiệnhơn thế giới quan khoa học, nâng cao hơn hoạt động nhận thức cũng như các hoạtđộng khác
- Đảm bảo nắm được những trí thức khoa học chân chính, chính xác, nghĩa làphù hợp với thế giới khách quan, với những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời đề phòng và chống lại các quan điểm,học thuyết phản động, phản khoa học
- Đảm bảo tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, giáo dục đạo đức, lýtưởng nghề nghiệp, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc thông qua hoạt độngdạy học trên lớp và các hoạt động ngoại khóa khác
- Đảm bảo tính hệ thống của quá trình dạy học coi quá trình dạy học ở đạihọc như là một hệ thống phức hợp bao gồm nhiều thành tố cấu trúc, cần thực hiệncác thành tố này trong mối tương quan biện chứng với nhau Ví dụ giữa nội dungdạy học và phương pháp, phương tiện dạy học, giữa cách thức làm việc của thầy với
Trang 31cách thức làm việc của sinh viên v.v Bên cạnh đó, cũng cần đảm bảo mối tươngquan biện chứng giữa các yếu tố thành phần trong từng thành tố của quá trình dạyhọc Ví dụ: nội dung trí thức cũ làm cơ sở cho việc lĩnh hội trí thức mới, những tríthức mới phải dựa vào nội dung trí thức cũ, bổ sung làm phong phú chúng Các mônhọc cơ bản, cơ sở và chuyên ngành có liên quan với nhau chặt chẽ, bổ sung và hỗtrợ cho nhau v.v
b Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nghề nghiệp trong quá trình dạy học ở đại học
Như chúng ta đã biết, lý luận là toàn bộ những hiểu biết của loài người đượctổng kết và khai quát hóa trong các lĩnh vực khoa học, chúng được rút ra từ thựctiễn và trở lại chỉ đạo thực tiễn Còn thực tiễn là toàn bộ hoạt động của con ngườinhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển; nó là nguồn gốc của mọi hiểu biết, làtiêu chuẩn của chân lý
Người cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý nghiệp vụ có trình độ đạihọc tương lai phải nắm vững lý luận bề nghề nghiệp tương lai của mình, biết dùng
lý luận đó chỉ đạo cho hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp đó Mặt kháclại phải nắm vững lý luận và tham gia hoạt động thực tiễn cuộc sống nói chung,trong đó góp phần làm phong phú hơn, sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn lý luận và vốnsống thực tiễn về nghề nghiệp nói riêng của mình
Như vậy, nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ýnghĩa và tầm quan trọng đặc biệt: Nó giúp cho sinh viên có điều kiện thuận lợi trongviệc nắm vững lý luận nghề nghiệp và tiến hành hoạt động thực tiễn nghề nghiệpmột cách có cơ sở, tránh được tình trạng hoặc lý thuyết suông, hoặc thực tiễn mùquãng Trên cơ sở đó, chuẩn bị cho sinh viên có thể tham gia hoạt động thực tiễnnghề nghiệp với cương vị những cán bộ khoa học có trình độ đại học, phát huy cao
độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn đó
Khi thực hiện nguyên tắc này:
- Cần giúp cho sinh viên hiểu rõ quá trình ra đời và phát triển của các khoahọc nói chung nhất là các khoa học về nghề nghiệp tương lai của mình nói riêng, từ
Trang 32đó sẽ làm nảy sinh ý thức tham gia tích cực góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của cáckhoa học này.
- Cần thấy rõ những đặc điểm cơ bản của thiên nhiên, xã hội, của đất nước,con người Việt Nam; nhất là thực tiễn nghề nghiệp tương lai trong điều kiện đấtnước đang đổi mới toàn diện, sâu sắc, đang chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, vận động theo cơ chế thị trường, từ đó người sinh viên sẽ không bỡ ngỡkhi bước vào đời, ý thức được nghề nghiệp tương lai và tích cực tham gia hoạt độngthực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn của mình Cụ thể là biết tập vậndụng tri thức vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp trong điều kiện khoa học vàcông nghệ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ; dần dần tham gia hoạt động nghiêncứu khoa học về lĩnh vực thực tiễn đó
- Chính vì thế ở đại học, dưới sự chỉ đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên,sinh viên cần đảm bảo được sự cân đối giữa lí thuyết và thực hành, giữa hoạt độngthực tiễn cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp, thực hiện tốt phương thức giảng dạy,học tập kết hợp với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực nghiệm và nghiêncứu khoa học Do đó, sinh viên tham gia có chất lượng và hiệu quả vào hệ thống cáchoạt động: thực hành, thực tập nghề nghiệp, thực tế thường xuyên, thâm nhập thựctiễn, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học
c Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong quá trình dạy học ở đại học
Quá trình dạy học ở đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chấtnghiên cứu của sinh viên được tổ chức một cách chuyên biệt Quá trình nhận thứcnày cũng diễn ra theo quy luật "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn" Như vậy ở đây diễn ra sự di chuyển từ cái cụ thể đếncái trừu tượng, từ vật chất đến ý thức, từ dấu hiệu và biểu tượng đến khái niệm vàngược lại
Song có một điều rất đáng chú ý là trường đại học, hàng loạt bộ môn bắt đầukhông phải từ cái cụ thể mà từ những tài liệu lí thuyết trừu tượng (những khái niệm,những nguyên tắc,những tư tưởng cơ bản ), bởi lẽ sinh viên là những người đã có
ít nhiều kinh nghiệm sống, đã có khả năng hiểu được ngay nhiều vấn đề lí thuyết
Trang 33trừu tượng Hơn nữa thời gian đào tạo ở đại học chỉ có hạn mà nội dung dạy học lại
có tính chất phức tạp và mức độ khái quát cao Điều đó càng đòi hỏi sinh viên phải
nỗ lực rèn luyện năng lực nhận thức nhanh chóng những vấn đề lí thuyết trừu tượng
và khái quát
Nói như vậy không có nghĩa là quá trình nhận thức của sinh viên đại họckhông phù hợp với quy luật nhận thức, không có nghĩa là phủ định vai trò của cái cụthể Trái lại ở đây sinh viên có thể lĩnh hội được những lí thuyết trừu tượng dựa trênvốn kinh nghiệm, những cái cụ thể đã được nhận thức từ trước kia - cái cụ thể trong
tư duy Đúng như Mác đã khẳng định về bản chất của quá trình nhận thức khoa học:
"Trên con đường thứ nhất: từ biểu tượng đến khái niệm trừu tượng Đó là chặng thứnhất: từ cụ thể đến trừu tượng Trên con đường thứ 2: những định nghĩa trừu tượngdẫn tới sự lặp lại cái cụ thể đang tồn tại Đó là chặng đường thứ 2: từ trừu tượng đến
cụ thể" (góp phần phê phán chính trị kinh tế học NXB Hà Nội 1964 tr342)
Tuy nhiên, ở đại học, tính trực quan vẫn có ý nghĩa nhất định của nó Song
có thể nói rằng, trực quan đó thường mang tính chất gián tiếp, nghĩa là nó kết hợpvới những hình thức trừu tượng, khái quát (sơ đồ, biểu đồ, mô hình ) Còn trongmột số trường hợp nào đó, trực quan lại mang tính chất trực tiếp với sự quan sát các
sự vật, hiện tượng bằng các phương tiện kĩ thuật Các phương tiện này cho phép mởrộng giới hạn các khả năng của các giác quan
Qua những điều đã trình bày ở trên, chúng ta nhận thấy sự thống nhất giữacái cụ thể và cái trừu tượng trong quá trình dạy học ở đại học có những dấu hiệu đặcthù, đảm bảo cho sinh viên có những điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy lí luận,lĩnh hội nhanh và vững chắc những lí thuyết trừu tượng, khái quát về nghề nghiệptương lai và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những lí thuyết đó vào hoạt độngthực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp tương lai của mình
Vì vậy trong quá trình dạy học, phải xây dựng và sử dụng một cách hợp línhững phương tiện trực quan khác nhau, bao gồm cả những phương tiện kĩ thuật vàcác phương tiện dạy học hiện đại mang tính trừu tượng, khái quát, kết hợp với việc
sử dụng hợp lí các phương tiện trực quan; tuyệt đối không lạm dụng tính trực quan
Trang 34và đồng thời cũng không lạm dụng lí thuyết trừu tượng, khái quát trong quá trìnhdạy học ở đại học.
d Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻo của tư duy trong quá trình dạy học ở đại học
Hệ thống những tri thức về nghề nghiệp mà sinh viên lĩnh hội được cần đượccủng cố vững chắc, nghĩa là đảm bảo ghi nhớ chắc và bền - nhớ sâu sắc cả về sốlượng và chất lượng để khi cần có thể tái hiện nhanh, chính xác và vận dụng tốt
Tính vững chắc của tri thức khoa học đảm bảo cho sinh viên có thể tiến từngbước vững chắc trên con đường học tập, nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực chuyênmôn của mình Trong quá trình đó, những tri thức đi trước thực sự là cơ sở chonhững tri thức đi sau và những tri thức tiếp thu sau sẽ bổ sung, hoàn thiện vốn trithức cũ Trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức nghề nghiệp, sinh viên sẽ hình thành
và nắm vững hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Quá trình nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có liên quan mật thiếtvới hoạt động tư duy của sinh viên: Thông qua hoạt động tư duy để lĩnh hội tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo và đồng thời quá trình đó lại làm cho hoạt động tư duy thêm linhhoạt, mềm dẻo Nhờ đó sinh viên có khả năng cơ động, có khả năng thích ứng caotrong quá trình lĩnh hội và vận dụng tri thức trong những tình huống quen thuộc và
cả trong những tình huống mới muôn màu muôn vẻ trong thực tiễn nghề nghiệptương lai
Để đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻocủa tư duy, sinh viên cần:
- Phải biết lựa chọn những tri thức cơ bản cần ghi nhớ lâu dài và vững chắc,những tri thức này là tư tưởng chủ đạo, những luận điểm, những nguyên lí chủ yếucủa khoa học chứ không phải là những chi tiết vụn vặt trong hoạt động khoa học
- Phải luyện tập, vận dụng một cách có hệ thống những tri thực nghề nghiệp
đã nắm được vào các tình huống học tập cũng như những tình huống nghề nghiệpcủa ngưòi cán bộ khoa học kĩ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ cao
- Phải ôn tập tích cực dưới góc độ mới một cách có hệ thống, có kế hoạch,với nhiều hình thức khác nhau, luôn luôn mở rộng, đào sâu tri thức đã lĩnh hội
Trang 35được, làm cho vốn hiểu biết về nghề nghiệp tương lai không ngừng được đổi mới vàhoàn thiện trong điều kiện tiên bộ xã hội và cách mạng khoa học - công nghệ hiệnnay, qua đó nâng cao năng lực hệ thống hoá, khái quát hoá tri thức của sinh viên.
đ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong quá trình dạy học ở đại học
Theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, dạy học vừa sức có nghĩa làtrong quá trình dạy học, những yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải phù hợp với giới hạncao nhất của vùng phát triển trí tuệ hiện có của sinh viên mà họ có thể hoàn thànhđược với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ và thể lực
Trong quá trình dạy học ở đại học, việc quán triệt nguyên tắc đảm bảo tínhvừa sức của sinh viên là cần thiết Nguyên tắc này đòi hỏi khi giảng dạy phải lựanội dung, vận dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao chophù hợp với trình độ phát triển chung của tập thể sinh viên, đồng thời cũng phải phùhợp với trình độ phát triển của từng đối tượng sinh viên, đảm bảo cho mọi sinh viên
có thể phát triển ở mức độ tối đa so với khả năng của mình
Thực tiễn dạy học ở đại học chứng tỏ rằng, hoạt động giảng dạy và học tậpvừa sức với sinh viên sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ năng lực và phẩm chất trítuệ nói riêng, phát triển toàn bộ nhân cách nói chung của sinh viên Sinh viên sẽhứng thú học tập hơn, có động cơ và thái độ học tập đúng đắn hơn, có niềm tin vàonăng lực của bản thân Ngược lại nếu giảng dạy ở mức độ dễ quá hay khó quá đềumang lại hiệu quả kìm hãm sự phát triển trí tuệ và nhân cách của sinh viên
Vấn đề quan trọng là trong quá trình dạy học phải quan tâm đến trình độ pháttriển chung của sinh viên, đồng thời phải quan tâm đến trình độ phát triển riêng củatừng loại đối tượng sinh viên Nói cách khác là quá trình dạy học ở đại học phải tiếnhành sự phân hoá trình độ sinh viên theo xu hướng, tính cách, điều kiện sống, điềukiện sức khỏe, đặc biệt cần tiến tới phân hoá, cá biệt hoá hoạt động học tập của sinhviên Trên cơ sở đó có phương pháp tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của họphù hợp với năng lực nhận thức và điều kiện, phương tiện học tập của họ
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, cần áp dụng một số biện pháp sau:
Trang 36- Khi tiến hành giảng dạy, giáo viên cần nắm vững đặc điểm đối tượng sinhviên, nhất là năng lực nhận thức, năng lực nghiên cứu khoa học, động cơ, hứng thú,
lí tưởng nghề nghiệp của họ
- Trong quá trình dạy học, giáo viên phải dẫn dắt sinh viên từ dễ đến khó, từđơn giản đến phức tạp, từ nắm tri thức đến rèn kĩ năng, từ vận dụng tri thức trongcác tình huống quen thuộc đến vận dụng tri thức trong những tình huống mới
- Khi lên lớp, giáo viên phải thường xuyên theo dõi tình hình lĩnh hội tri thứccủa sinh viên, kịp thời điều chỉnh hoạt động học tập của họ cũng như hoạt độnggiảng dạy của chính mình
- Cần cá biệt hoá hoạt động dạy học trên cơ sở phân loại sinh viên theo trình
độ nhận thức, hứng thú và năng khiếu nghề nghiệp, tổ chức cho sinh viên tích cựctham gia các hoạt động ngoại khoá nhằm khơi sâu, mở rộng tri thức, bồi dưỡng óctìm tòi nghiên cứu, tác phong và phẩm chất của các nhà nghiên cứu khoa học trongtương lai
e Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên với vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học ở đại học
Quy luật cơ bản "hoạt động dạy và hoạt động học thống nhất biện chứng vớinhau" chi phối mối quan hệ thầy trò trong quá trình dạy học ở đại học Ở đây ngườigiáo viên với hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo - tổ chức, điều khiển, kãnh đạo hoạtđộng nhận thức của sinh viên, còn sinh viên với hoạt động học - hoạt động nhậnthức có tính chất nghiên cứu, nghĩa là một mặt nắm vững những chân lí đã đượcphát hiện có liên quan đến nghề nghiệp tương lai dưới góc độ có tính chất nghiêncứu (khẳng định hay phủ định, phê phán, đánh giá, bổ sung, phát triển, đào sâu vàhoàn thiện ) Mặt khác, dần dần tham gia tìm kiếm chân lí mới dưới hình thứcnghiên cứu khoa học Trong quá trình hoạt động nay, sinh viên vừa là đối tượngdạy, đồng thời là chủ thể nhận thức Do đó, người sinh viên không thể không tự vậnđộng trên cơ sở phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập dưới sự hướng dẫn,điều khiển của giáo viên
Như vậy, có thể nói rằng vai trò chủ đạo của thầy có ý nghĩa cực kì to lớn đốivới sự hình thành, phát triển tính tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên, nghĩa là
Trang 37bảo đảm cho họ hoàn thành được hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu Bêncạnh đó, tính tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên lại tạo điều kiện cho vai trò chủđạo của giáo viên ngày càng phát huy tác dụng ở mức độ cao hơn Kết quả là cảhoạt động dạy và hoạt động học đều vận động, phát triên rđi lên trong mối tươngquan nhất định
Trong quá trình dạy học ở đại học, tính tự giác của sinh viên được thực hiện
ở chỗ: Hiểu rõ và nắm vững các nhiệm vụ học tập của mình, trên cơ sở ý thức đượcnghề nghiệp tương lai, ý thức được vị trí, vai trò tương lai của mình trong xã hội với
tư cách là một cán bộ khoa học, kĩ thuật, nghiệp vụ, cán bộ quản lí có trình độ cao;
có ý thức đi sâu hiểu và vận dụng được những điều đã học vào thực tiễn nghềnghiệp tương lai, không rơi vào chủ nghĩa hình thức, máy móc, có tinh thần tráchnhiệm và ý thức kỉ luật cao trong học tập Tính tự giác là cơ sở, là tiền đề để hìnhthành ở sinh viên tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức của sinh viên được thực hiện ở chỗ, trong học tập họphải huy động ở mức cao các chức năng tâm lí, đặc biệt là chức năng tư duy có liênquan đến nghề nghiệp tương lai của mình Trong quá trình này, đã thể hiện mộtcách rõ nét sự kết hợp, thống nhất giữa các yếu tố tâm lí nhận thức với các yếu tốtình cảm, ý chí Người ta đã chứng minh rằng, sự thống nhất và kết hợp càng linhhoạt bao nhiêu thì ở người học, tính tích cực nhận thức càng cao bấy nhiêu Nhờ đó,sinh viên hoàn thành được nhiều nhiệm vụ nhận thức có tính đa dạng với nghị lực,tinh thần trách nhiệm và hứng thú nghề nghiệp
Tính tích cực nhận thức phát triển đến mức độ cao sẽ làm hình thành tính độclập nhận thức
Tính độc lập nhận thức được đặc trưng ở chỗ, sinh viên có thể tự mình pháthiện vấn đề, tự mình đề ra cách giải quyết vấn đề dưới tác dụng chủ đạo của giáoviên Ở đây thể hiện rõ tính độc đáo của sinh viên trong cách thức lĩnh hội và vậndụng tri thức, chính tính độc đáo này là cơ sở của tính sáng tạo, có ý nghĩa rất quantrọng cho hoạt động nghề nghiệp của họ sau này Như vậy là, tính độc lập nhận thức
có nghĩa rộng hơn và ở mức độ cao hơn Nó bao trùm cả tính tự giác và tích cực,
Trang 38chúng liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ, bổ sung và thúc đẩy nhau trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức của sinh viên ở đại học.
Trong quá trình dạy học ở đại học, việc phát huy tính tự giác, tích cực và độclập nhận thức của sinh viên có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Nó giúp cho sinhviên thực hiện những bước nhảy vọt trong nhận thức, nắm được bản chất các vấn đềhọc tập; góp phần tìm tòi, phát hiện cái mới, hiểu sâu sắc tri thức lí thuyết và biếtvận dụng một các linh hoạt, sáng tạo lí thuyết vào thực tiễn nghề nghiệp, tránh đượcchủ nghĩa hình thức, giáo điều, thực dụng Nói một cách khác, sinh viên sẽ hoànthành các nhiệm vụ học tập nghề nghiệp trên cơ sở phát huy cao độ vai trò chủ thểnhận thức của mình dưới tác dụng chủ đạo của giáo viên Mặt khác, việc phát huytính tự giác, tích cực và độc lập nhận thức của sinh viên góp phần bồi dưỡng nănglực hoạt động độc lập, sáng tạo trong thực tiễn nghề nghiệp muôn màu, muôn vẻ saunày với tư cách là người cán bộ khoa học, kĩ thuật có trình độ đại học Điều đó giúpsinh viên có tiềm năng không ngừng nâng cao trình độ của mình, không ngừng đổimới và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình, đồng thời có khả năng tích cực tham giacác hoạt động xã hội phong phú với tư cách là nhà hoạt động xã hội
Để đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của sinh viênvới vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học ở đại học:
- Trước hết, sinh viên phải ý thức được mục tiêu đào tạo, từ đó xác định đúngđắn động cơ thái độ học tập
- Người sinh viên với vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên cần tiến hànhcác hoạt động độc lập, nhất là hoạt động tìm kiếm tri thức mới, với tư cách là nhữnghoạt động nhằm giải quyết những tình huống có vấn đề trong học tập và nghiên cứukhoa học theo nghề nghiệp tương lai, tất nhiên cần tổ chức những hoạt động naymột cách có hệ thống và có kế hoạch
- Cần tổ chức thống nhất các hoạt động trong trường và các hoạt động ngoàinhà trường của sinh viên, nhất là các hoạt động ở môi trường mà họ sẽ công tác saukhi tốt nghiệp
- Giảng viên cần coi trọng đúng mức và nâng cao hiệu quả của việc kiểm tra,đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như vận dụng kịp thời và đúng mức các hình
Trang 39thức động viên, khen thưởng đối với những sinh viên có thành tích trong học tập vànghiên cứu khoa học.
g Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể trong quá trình dạy học ở đại học
Quá trình dạy học ở đại học, về bản chất là quá trình nhận thức có tính chấtnghiên cứu của sinh viên Muốn hoàn thành tốt quá trình nhận thức đó, một tiền đề
có tính chất quyết định trực tiếp là mỗi sinh viên phải phát huy cao độ vai trò chủthể của mình Song vai trò chủ thể của mỗi cá nhân bao giờ cũng có sự thống nhấtvới vai trò chủ thể của cả tập thể
Chúng ta biết rằng, tập thể sinh viên đại học là tập thể của những cán bộkhoa học, những nhà hoạt động xã hội trong tương lai Nó vừa là môi trường, vừa làđiều kiện, là phương tiện có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và hoàn thiệnnhân cách nói chung, đối với sự phát triển trí tuệ sáng tạo nói riêng của mỗi sinhviên với tư cách là những thành viên hoạt động tích cực của tập thể Ngược lại, sựphát triển của mỗi sinh viên lại tạo nên sự phát triển chung, hài hoà, đồng bộ của cảtập thể phù hợp với mục tiêu đào tạo của các trường đại học Trong quá trình này,cái chung và cái riêng không mâu thuẫn với nhau, ngược lại nó thống nhất, bổ sung,
hỗ trợ nhau trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất theongành nghề, hay nói cách khác là giữa tập thể và cá nhân có mối quan hệ tương tác,bền chặt trong suốt quá trình đào tạo ở đại học
Sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể không những có ý nghĩa quan trọngđối với chất lượng đào tạo hiện tại của các trường đại học mà nó còn có ý nghĩaquan trọng đối với việc chuẩn bị cho sinh viên khi bước vào đời với tư cách làngười cán bộ khoa học, nhà hoạt động xã hội trẻ (về tư tưởng, tình cảm, thái độ,phương pháp công tác, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học ) Vì vậy trườngđại học sẽ không làm tròn nhiệm vụ của mình, nếu như đào tạo những cán bộ khoahọc, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có tầm nhìn thiển cận, tri thức nông cạn, không cónhu cầu và thói quen làm việc, hoạt động khoa học cá nhân hẹp hòi, những điều đóhoàn toàn xa lạ đối với người trí thức tương lai
Trang 40Muốn đảm bảo được sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể trong quá trìnhdạy học ở đại học:
- Trước hết người thầy giáo phải hiểu biết đầy đủ những đặc điểm của cả tậpthể và mỗi cá nhân: trong đó cần thấy rằng các nhu cầu, khả năng, năng khiếu nghềnghiệp - những dấu hiệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động thực tiễn tronglĩnh vực nghề nghiệp tương lai của họ Trên cơ sở đó không ngừng có những biệnpháp tác động đến cả tập thể mà còn có những biện pháp tác động đến từng cá nhânsinh viên
- Dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, tập thể cần đề ra cho mỗi thành viêncủa mình những yêu cầu chung phù hợp với mục tiêu đào tạo nói chung, các nhiệm
vụ dạy học ở đại học nói riêng, từ đó tổ chức hoạt động học tập, nghiên cứu dướihình thức tập thể một cách hợp lí (như trao đổi ý kiến trong nhóm, tổ chức xêmina,sinh hoạt khoa học, câu lạc bộ, nghiên cứu khoa học )
Mặt khác, mỗi thành viên của tập thể không những xác nhận, ủng hộ nhữngyêu cầu chung mà còn phải thực hiện nghiêm túc, bổ sung, làm phong phú và hoànthiện những yêu cầu đó
Nhìn chung, các nguyên tắc dạy học trên đây tạo thành một hệ thống, cầnđược vận dụng phối hợp và đồng bộ nhằm phục vụ cho việc lựa chọn và vận dụng
có hiệu quả nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở đại học