Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giảng dạy môn Toán là làm thế nào để giúp học sinh hứng thú trong giờ học, dễ hiểu bài và tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất, các nội dung kiến thức c
Trang 1PHÒNG GD&ĐT LỆ THỦY
TRƯỜNG THCS NGƯ THỦY TRUNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngư Thủy Trung, ngày tháng năm
BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂN – NỘI DUNG 2
NĂM HỌC 2013 - 2014
Họ và tên: NGUYỄN THỊ HUỆ
Ngày sinh: 23/09/1988
Trình độ chuyên môn: ĐH Toán
Thuộc tổ chuyên môn: Tự nhiên
Nhiệm vụ đảm nhiệm: Dạy toán 9, toán 6, tin 9, tin6, dạy ôn 9, BDHSG 6,
BDGTQM 9
Thực hiện Công văn số 3670/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 30/5/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên năm học 2013- 2014; Công văn số 698/SGDĐT-GDCN-TX ngày 16/4/2013 của Giám đốc
Sở GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế BDTX giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Công văn số 1459/SGDĐT-GDCN-TX ngày 22/7/2013 của Giám đốc Sở về việc hướng dẫn công tác BDTX năm học 2013- 2014 cho giáo viên các cấp học mầm non, phổ thông và GDTX; Công văn số 242/SGDĐT-GDCN-TX ngày 19/2/2014 của Sở GD-ĐT Quảng Bình về việc hướng dẫn bổ sung công tác BDTX năm học 2013- 2014; Công văn số 192/GDĐT-THCS ngày 25/2/2014 của Phòng GD-ĐT Lệ Thủy về việc hướng dẫn thực hiện công tác BDTX năm học 2013- 2014;
Qua quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân tôi và vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học tập bồi dưỡng thường xuyên vào quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học Bản thân tôi đã tiếp thu được những nội dung BDTX nội dung 2 như sau:
NỘI DUNG 1: PHÁT HUY HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY VÀ
HỌC THEO ĐẶC TRƯNG BỘ MÔN TOÁN
Với các môn học trong các nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng; Toán là môn học tiên phong, nòng cốt trong việc hình thành và phát triển tư duy cho học sinh Nếu học tốt môn Toán sẽ tạo tiền đề học tốt cho các môn học khác Môn Toán ở trường THCS là môn khoa học xã hội có tính hệ thống lôgíc, kế thừa và phát triển những kết quả giáo dục của bậc Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cở sở, đồng thời bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh kĩ năng suy luận lôgíc, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giảng dạy môn Toán là làm thế nào để giúp học sinh hứng thú trong giờ học, dễ hiểu bài và tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất, các nội dung kiến thức của từng tiết, từng bài, từng chương Từ đó biết vận dụng kiến
Trang 2thức vào cuộc sống, vào khoa học và kĩ thuật Đáp ứng được mục tiêu của giáo dục là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo… trở thành người công dân có ích cho đất nước
Ứng dụng CNTT đang chiếm vai trò quan trọng và cần thiết trong mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội; việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy và giáo dục học sinh đang là phương tiện hỗ trợ cần thiết và hiệu quả giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học Thực tế quá trình giảng dạy môn Toán ở trường THCS Ngư Thủy Trung trong những năm qua và năm học này đang đứng trước khó khăn đó là, vẫn còn một bộ phận học sinh chưa tự giác tích cực trong việc tự học, tự rèn luyện; trên lớp chưa chú ý nghe giảng, lời tham gia vào các hoạt động học tập, chưa hứng thú trong học tập Do đó, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở việc dạy học theo phương pháp cổ điển hoặc chỉ dùng hệ thống bảng phụ đơn thuần thì chưa tạo ra hứng thú cao cho học sinh
Về phía giáo viên, ở trường THCS Ngư Thủy Trung đa số giáo viên nhiệt tình
có năng lực, chủ động sáng tạo trong dạy học Cùng với cơ sở vật chất của nhà trường
có hệ thống máy chiếu, phòng vi tính… đáp ứng đủ cho giáo viên sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học
Qua thực tế những giờ dạy có ứng dụng CNTT đã thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng, học sinh hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài nhanh hơn và đạt kết quả cao hơn trong học tập riển năng lực tự
* Vai trò hỗ trợ của CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học môn Toán
1 Hình thành kiến thức Toán cho học sinh
Thay vì việc tiếp thu tri thức qua bài giảng của giáo viên theo hình thức Thầy giảng – Trò nghe – Trò viết, giáo viên sử dụng phần mềm hỗ trợ với các hiệu ứng trình chiếu, tổ chức cho học sinh hình thành kiến thức bằng hoạt động học tập trong môi trường kích hoạt phần mềm, khi đó các kĩ năng như mắt nhìn, tai nghe, miệng thảo luận, tay viết, óc phán đoán được phát huy tăng cường hoạt động, do vậy học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn
Với khả năng minh hoạ sinh động (bằng mô hình trực quan, bằng đồ thị hoá, bằng hình ảnh chuyển động, ) ứng dụng CNTT giúp học sinh nhẹ nhàng, nhanh chóng tiếp thu những tính chất trừu tượng của các đối tượng, các chủ đề khó trong chương trình Toán THCS
Ở khâu truyền thụ kiến thức mới, ứng dụng CNTT (thông qua các phần mềm với đặc tính mô hình hoá, biểu đồ hoá, trực quan hoá hoạt động) giúp cho học sinh
nắm bắt nhanh được kiến thức, hiểu được kiến thức, từ đó biết cách vận dụng kiến thức vào làm bài tập một cách tích cực, sáng tạo
2 Rèn luyện kĩ năng thực hành, củng cố kiến thức đã học
Nhiều chương trình về luyện tập thực hành trên máy tính, nhất là chương trình trắc nghiệm, đưa tới cho học sinh một mức độ luyện tập không hạn chế cả về nội dung lẫn thời gian Tuỳ tốc độ giải quyết của học sinh, học sinh có thể tự ôn tập, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học qua việc giải các bài tập trắc nghiệm, bài tập điền khuyết; đến việc hình thành cách giải các bài tập tự luận khó hơn
Qua việc ứng dụng CNTT với các phần mềm học tập, học sinh được thông báo câu trả lời sai và gợi ý để học sinh sửa sai, từ đó các em tìm được câu trả lời đúng Với
Trang 3tốc độ hỏi - đáp tức thì, nội dung vấn đề hỏi - đáp phong phú đa dạng, tạo nên động lực học tập và nhu cầu nắm vững nhiều kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề
3 Rèn luyện và phát triển tư duy
Qua môi trường ứng dụng CNTT học sinh đươc rèn luyện các kĩ năng:
- Quan sát, mô tả, phân tích, so sánh
- Mò mẫm, dự đoán, khái quát hoá, trừu tượng hoá
- Lập luận suy diễn chứng minh
Trong các phần mềm đại số (nhờ kĩ thuật vẽ đồ thị hay biểu đồ, ), phần mềm hình học (nhờ sử dụng chương trình Geogebra, Cabri, ), với khả năng xử lí nhanh, khả
năng liên kết động các đối tượng đã gợi mở cho học sinh phát hiện nhanh các đối tượng, quá trình tìm hướng chứng minh được rút ngắn lại, do đó học sinh có điều kiện tốt để phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy thuật toán
4 Hình thành phẩm chất, đạo đức tác phong cho học sinh.
Qua ứng dụng CNTT vào bài giảng, học sinh được hình thành và rèn luyện phong cách làm việc khoa học; gồm các đức tính độc lập học tập, chủ động sáng tạo trong việc tự học, tự rèn luyện, say sa tìm tòi nghiên cứu, có thái độ nghiêm túc và kỉ luật cao Ứng dụng CNTT vào giảng dạy, học sinh biết thao tác trên máy trong quá trình học tập do đó góp phần đào tạo người lao động có tư duy công nghệ, thích nghi với xã hội công nghiệp cao, có tác phong lao động trong thời đại mới
* Tính hiệu quả khi ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Toán ở Trư ờng THCS:
Với sự kết hợp khéo léo và sáng tạo giáo viên có thể ứng dụng CNTT vào tất các các khâu của quá trình dạy học:
Kiểm tra bài cũ
Đặt vấn đề vào bài mới
Củng cố kiến thức và hướng dẫn về nhà
- Trình chiếu nhanh các kiến thức trọng tâm cần khắc sâu, ghi nhớ
- Đa ra những lu ý về kĩ năng cần rèn luyện thêm,
- Hướng dẫn cách giải các làm bài tập ở nhà
Qua thực tế các bài giảng bằng giáo án điện tử cho học sinh, chúng tôi nhận thấy:
- ứng dụng CNTT đã giúp học sinh hứng thú học tập thông qua việc hiển thị
lên màn hình các thông tin dạng văn bản, các đối tượng văn học biến đổi bằng hiệu ứng các kênh hình, kênh chữ,
- ứng dụng CNTT làm nổi bật trọng tâm bài giảng: Với chức năng hỗ trợ trực
quan hoá, minh hoạ, kiểm nghiệm, dưới dạng nhìn thấy được, trong đó có sự tham gia của các mô hình, biểu bảng, nhờ đó học sinh hiểu nhanh hơn và nhớ lâu kiến thức trọng tâm của bài học
- ứng dụng CNTT giúp giáo viên đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá học sinh
thông qua các nhiều bài tập đa dạng: bài tập trắc nghiệm một đáp án đúng, trắc nghiệm đúng/sai, bài tập giải ô chữ, bài tập kéo thả chữ, bài tập điền khuyết,
- ứng dụng CNTT giúp học sinh biết cách thu thập thông tin, xử lí thông tin, từ
đó biết cách giải quyết vấn đề đặt ra bằng con đường ngắn nhất
- ứng dụng CNTT giúp đổi mới cách ra bài tập và hướng dẫn làm bài tập ở nhà
Trang 4- ứng dụng CNTT giúp cho giáo viên có thể tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập theo các nhóm bằng cách hiển thị lên màn hình các yêu cầu hoạt động, các gợi ý, hướng dẫn thực hiện hoạt động một cách đồng thời, tiết kiệm thời gian hơn so với sử dụng dùng bảng phụ học tập
* Những thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng CNTT để giảng dạy môn Toán ở trư
ờng THCS
a Đối với giáo viên
- Thuận lợi:
+ Đa số giáo viên đều đạt trình độ chuẩn đào tạo, có ý thức, có trách nhiệm trong công tác cũng như trong giảng dạy; thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình
độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm
+ Hơn nữa giáo viên trong trường, trong tổ thường xuyên giúp đỡ lẫn nhau, người biết hướng dẫn giúp đỡ người chưa biết Đến nay rất nhiều giáo viên trong tổ đã biết soạn và dạy học bằng giáo án điện tử Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT vào bài giảng thực tế ở trường chúng tôi còn một số khó khăn sau:
- Khó khăn:
+ Để chuẩn bị một giáo án điện tử cho mỗi bài giảng mất rất nhiều thời gian, do đó một số giáo viên còn ngại soạn và sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy
b Đối với học sinh:
Phần lớn học sinh đã tích cực, say mê trong học tập ở độ tuổi các em đang phát triển trí tuệ, do đó các em dễ tiếp cận tiếp thu cái mới, nhất là việc ứng dụng máy vi tính Song còn một số ít học sinh lời học, trong lớp chưa chú ý nghe giảng Để khắc phục những nhược điểm trên, nhằm thu hút các học sinh có hứng thú và chú ý vào bài học Giáo viên chúng tôi đã thực hiện nhiều tiết dạy trên giáo án điện tử, qua những tiết dạy đó đã thực sự có được kết quả một cách rõ rệt Hầu hết các em của lớp tập trung, chú ý vào bài giảng, hoạt động sôi nổi tích cực, nhận thức, tiếp thu bài nhanh hơn
* Một số ví dụ về ứng dụng CNTT và minh hoạ bài giảng
Trong quá trình giảng dạy môn Toán, khi tổ chức các hoạt động học tập giáo viên có thể khéo léo thay đổi hình thức học tập thông qua các dạng bài tập, các cách thể hiện khác nhau nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh và giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học
của tư duy
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là rất cần thiết, là phù hợp với sự phát triển của xã hội, là phương tiện hỗ trợ tối u nhất để thực hiện đổi mới PPDH trong các nhà trường hiện nay ứng dụng CNTT giúp giáo viên truyền tải khối
lượng kiến thức bài giảng lớn trong khoảng thời gian rất ngắn, tiết kiệm được thời gian thao tác trên lớp; do đó giáo viên có nhiều thời gian để khai thác bài giảng, khắc sâu kiến thức Bên cạnh đó ứng dụng CNTT còn giúp học sinh hứng thú, say mê trong học tập, dễ tiếp thu kiến thức và tạo nên giờ học sinh động, sôi nổi hơn Từ đó các em hiểu bài hơn, vận dụng tốt hơn và đạt kết quả học tập tốt hơn
Trang 5Vỡ vậy, yờu cầu đặt ra trong giảng dạy mụn Toán là làm thế nào để giỳp học sinh hứng thỳ NỘI DUNG 2: CÁCH DẠY CÁC TIếT ÔN TậP CHƯƠNGn
đổi mn
I.MỤC ĐÍCH
Nhằm tổ chức, điều khiển học sinh ụn tập, tổng kết, hệ thống húa và khái quát húa tri thức, kĩ năng sau khi học xong một chương, một phần hay toàn bộ chương trỡnh mụn học
II CẤU TRÚC
Loại bài này thường gồm các bước sau (đương nhiờn khụng phải bài ụn tập nào cũng đều phải như thế)
1 Tổ chức lớp
2 Định hướng mục đớch, nhiệm vụ học tập
3 Tổ chức cho học sinh hệ thống húa, khái quát húa trờn cơ sở đó được chuẩn bị trước nhằm xõy dựng nờn những bảng tổng kết, các sơ đồ, biểu đồ,
4 Tổng kết bài học
5 Hướng dẫn cụng việc ở nhà
III MỘT SỐ CHÚ í KHI DẠY TIẾT ễN TẬP CHƯƠNG
-Tiết ụn tập khụng phải là để nhắc lại các kiến thức đó học Mà là để giỳp học sinh tỡm
ra mạch kiến thức cơ bản của một nội dung được học
-Nờn cú các bảng hệ thống thể hiện mối liờn quan hệ thống của kiến thức
- Nờn chọn những bài tập cú nội dung tổng hợp liờn quan đến nhiều kiến thức cần ụn tập, qua đú khắc sõu, hệ thống và nõng cao các kiến thức đó học
- Luụn luụn thay đổi hỡnh thức ụn tập cho phong phỳ, đa dạng và hiệu quả khoảng 15/20 phỳt cho mỗi hỡnh thức Trong bất kỡ hỡnh thức nào, HS cũng phải được chủ động tham gia vào quá trỡnh ụn tập kiến thức
IV CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ễN TẬP
- Cú nhiều cách dạy học ụn tập, một phương án là: Hoạt động húa người học thụng
qua việc bài tập húa những kiến thức cơ bản
- Giờ học được thiết kế theo chựm 4 bài tập tương ứng với 4 loại đối tượng học sinh là: Giỏi - Khá - Trung bỡnh - Yếu, kộm
- Phương pháp chủ yếu là mỗi đối tượng học sinh được giao một bài tập thớch hợp theo mức độ tăng dần Bài tập được chuẩn bị theo bảng sau:
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4
Học sinh Yếu, kộm Bài 1.1 Bài 1.2 Bài 1.3 Bài 1.4
Học sinh Trung bỡnh Bài 2.1 Bài 2.2 Bài 2.3 Bài 2.4
Học sinh Khá Bài 3.1 Bài 3.2 Bài 3.3 Bài 3.4
Học sinh Giỏi Bài 4.1 Bài 4.2 Bài 4.3 Bài 4.4
Ghi chỳ: Mức độ được tăng dần từ mức 1 đến mức 4 (cú thể phõn bậc mịn hơn nữa
càng tốt), trong đú:
• Bài 1.4 tương đương bài 2.1
• Bài 2.4 tương đương bài 3.1
Trang 6• Bài 3.4 tương đương với bài 4.1,
Với sự chuẩn bị như vậy, giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự giác chiếm lĩnh tri thức Giờ học được diễn biến theo tiến trình:
Hoạt động
1
Giáo viên giao nhiệm vụ bằng cách, yêu cầu mỗi đối tượng làm một bài tập thích hợp Tất nhiên là có sự hạn chế thời gian
Hoạt động
2
Giáo viên theo dõi hoạt động của học sinh và giải đáp thắc mắc cũng như đưa ra những hướng dẫn hoặc gợi ý cho mỗi đối tượng, học sinh độc lập làm bài
Hoạt động
3
Kiểm tra kết quả công việc sau khoảng thời gian cho phép
• Nếu học sinh nào làm đúng, nhanh nhất sẽ được khen và được thưởng (thông qua việc mời học sinh đó chữa bài cho cả lớp), giáo viên đừng quên cho điểm
• Còn với những học sinh chưa hoàn thành công việc trong thời gian cho phép thì cần học tập lời giải của bạn và tự điều chỉnh
Giáo viên cần giúp học sinh lấp được lỗ hổng trong kiến thức của họ
Hoạt động
4
Giáo viên chuẩn hóa kiến thức Chú ý thông qua hoạt động này, giáo viên giúp học sinh nắm được tri thức và tri thức phương pháp
Các hoạt động được diễn ra và lặp lại cho đến khi hoạt động nhận thức được thực hiện
Cách dạy học ôn tập như thế có những ưu điểm, nhược điểm chính sau:
1 Ưu điểm
Học sinh được hoạt động độc lập, tự giác hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức phù hợp với trình độ nhận thức của mình
2 Nhược điểm
Chuẩn bị vất vả, điều khiển giờ học phức tạp vì có nhiều học sinh hiểu không giống nhau, nếu điều khiển không khéo giờ học sẽ bị phân tán và phản tác dụng Mặt khác, trong quá trình tự học như vậy, học sinh nào tự giác tích cực sẽ đạt hiệu quả cao hơn, ngược lại một số học sinh kém, hoạt động chậm hơn luôn bị động và rất dễ dẫn đến chán học
Với đối tượng học sinh trung bình (diện đại trà) và học sinh yếu kém thì quá trình
dạy học ôn tập nên theo các giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Giáo viên làm mẫu để học sinh bắt chước theo mẫu Chú ý chỉ rõ cho học sinh chương trình hành động (bước 1, bước 2, )
* Giai đoạn 2: Học sinh tái hiện ngay tại lớp kiến thức vừa được học thông qua bài tập tương tự Lúc này, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành làm bài theo các bước đã được chỉ ra
* Giai đoạn 3: Giáo viên ra cho học sinh bài tập tương tự Học sinh tự lực làm bài không có sự hướng dẫn của giáo viên Thông qua hoạt động này, giáo viên sẽ biết được thực trạng nắm kiến thức của học sinh, từ đó có biện pháp kịp thời
Trang 7* Giai đoạn 4: Củng cố kiến thức thông qua bài tập Có thể là một đề thi hoặc là một bài tập về nhà thông thường
Cách dạy học theo các giai đoạn như trên tuy chưa hoàn toàn phát huy được tính tích cực cao độ của mỗi học sinh, song lại phù hợp với hình thức tổ chức dạy học như hiện nay, phù hợp với cách dạy học đồng loạt trong khoảng thời gian 45 phút Học sinh được học dựa theo PPDH truyền thống nhưng có sự điều khiển hoạt động của Giáo viên, được định hướng hành động thông qua các bước cụ thể để đạt kiến thức, bước đầu góp phần hoạt động hóa người học Quá trình đó được lặp đi lặp lại cũng góp phần hình thành PPHT bộ môn cho học sinh Cách dạy học như thế cũng giúp cho học sinh nắm kiến thức một cách không hình thức
NỘI DUNG 3: DẠY HỌC ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH BỊ HỎNG KIẾN THỨC Ở
LỚP DƯỚI
I MỤC TIÊU
Giúp học sinh cũng cố các kiến thức cơ bản từ các lớp dưới, bổ trợ các kiến thức liên quan đến lượng kiến thức mà các em đang học hiện tại
Giúp học sinh có thói quen độc lập trong suy nghĩ, tự giác trong học tập, có trách nhiệm, ý thức tổ chức kỉ luật
Giáo viên có kế hoạch cụ thể, chi tiết, kết hợp phụ đạo ngoài giờ, kèm cặp thêm trong giờ
Giúp học sinh yếu củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức HS bị hỏng kiến thức
II THỰC TRẠNG.
1 Về phía học sinh
Học sinh còn lười trong tư duy, chưa tự giác tìm tòi, liên hệ các kiến thức đã được học từ lớp dưới
Kĩ năng phân tích, giải quyết hiện tượng còn hạn chế, tính sáng tạo chưa cao Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng chưa cao
Một số học sinh còn học vẹt, chưa có động cơ, thái độ học tập đúng đắn
2 Giáo viên
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chăm lo tập trung vào chất lượng, tiến trình bài dạy, đôi khi chưa chú trọng đến đối tượng học sinh còn yếu
Do thời lượng của tiết dạy, yêu cầu thời gian cho từng phần
Trong tiết dạy, để tập trung vào chất lượng tiết dạy, một số giáo viên chỉ chú trọng vào đối tượng học sinh giỏi
Đôi khi giáo viên chưa mạnh dạn tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng, chưa đánh giá đúng thực chất chất lượng lớp mình giảng dạy
3 Về phía phụ huynh
Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần thấp, thái độ học tập của học sinh, chất lượng học tập cho thấy nhận thức và thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa cao
Qua đó cho thấy một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc
Trang 8con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC.
1 Tình hình chung
Trong giảng dạy, giáo viên cần tập trung vào đối tượng học sinh còn yếu, rèn luyện thêm kĩ năng làm bài tập, vận dụng lí thuyết cho đối tượng học sinh này
Đối với tiến trình soạn giảng, cần xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp cho các đối tượng học sinh trong lớp
Có biện pháp động viên kịp thời trước câu trả lời hoặc bài giải đúng của đối tượng học sinh còn yếu
Đối với một tiết lên lớp cụ thể, khi dạy kiến thức liên quan đến nội dung kiến thức mà các em bị hỏng, giáo viên cần chi tiết, phối hợp, sử dụng phương pháp hợp lí, dẫn dắt, gợi mở, có thể kết hợp với đối tượng học sinh khá, giỏi để hướng các em cùng nhắc lại kiến thức cũ liên quan
Nếu là kiến thức liên quan đến bài tập, nên vận dụng các dạng bài tập có yêu cầu nhắc lại lượng kiến thức cũ để một lần nữa các em vận dụng và khắc sâu
2 Đối với bộ môn Toán, một yếu tố quan trọng là giáo viên phải chú trọng rèn luyện kĩ năng viết, cảm thụ văn chương, đặc biệt là các học sinh bị hỏng kiến thức, giáo viên cần linh động thời gian cũng cố bài để rèn luyện thêm kĩ năng này, động viên, khuyến khích các em mạnh dạn trình bày sau khi có sự hướng dẫn của giáo viên
NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH
Nguyễn Thị Huệ
Trang 9PHÒNG GD&ĐT LỆ THỦY
TRƯỜNG THCS NGƯ THỦY TRUNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngư Thủy Trung, ngày 23 tháng 04 năm 2014
BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂN – NỘI DUNG 1 NĂM HỌC 2013 - 2014
Họ và tên: NGUYỄN THỊ HUỆ
Ngày sinh: 23/09/1988
Trình độ chuyên môn: ĐH Toán
Thuộc tổ chuyên môn: Tự nhiên
Nhiệm vụ đảm nhiệm: Dạy toán 9, toán 6, tin 9, tin6, dạy ôn 9, BDHSG 6,
BDGTQM 9
Thực hiện Công văn số 3670/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 30/5/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên năm học 2013- 2014; Công văn số 698/SGDĐT-GDCN-TX ngày 16/4/2013 của Giám đốc
Sở GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế BDTX giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Công văn số 1459/SGDĐT-GDCN-TX ngày 22/7/2013 của Giám đốc Sở về việc hướng dẫn công tác BDTX năm học 2013- 2014 cho giáo viên các cấp học mầm non, phổ thông và GDTX; Công văn số 242/SGDĐT-GDCN-TX ngày 19/2/2014 của Sở GD-ĐT Quảng Bình về việc hướng dẫn bổ sung công tác BDTX năm học 2013- 2014; Công văn số 192/GDĐT-THCS ngày 25/2/2014 của Phòng GD-ĐT Lệ Thủy về việc hướng dẫn thực hiện công tác BDTX năm học 2013- 2014
Qua quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân tôi và vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học tập bồi dưỡng thường xuyên vào quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học Bản thân tôi đã tiếp thu được nội dung 3 (Khối kiến thức tự chọn cho môn Toán) như sau:
1 Đối với modun 17: Tìm kiếm, khai thác, xử lý thông tin phục vụ bài giảng
* Nội dung 1: Những thông tin cơ bản phục vụ bài giảng.
- Khi tìm kiếm khai thác thông tin phục vụ bài giảng giáo viên cần chọn lọc để tìm ra những thông tin chính xác
- Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và hướng dẫn điều chỉnh chương trình
Trang 10- Lựa chọn những thông tin mở rộng thêm cho HS tham khảo phù hợp trình độ học sinh
* Nội dung 2: Các bước cơ bản trong thực hiện phương pháp tìm kiếm thông tin
phục vụ bài giảng.
- Theo tôi các bước cơ bản để tìm kiếm thông tin phục vụ bài giảng là:
1 Xem trước nội dung Sách giáo khoa, Sách giáo viên, chuẩn kiến thức và hướng dẫn điều chỉnh
2 Hình thành ý tưởng cho bài giảng
3 Tham khảo các ý tưởng từ mạng Internet đặc biệt là các bài giảng ở trang Web violet.vn và sách thiết kế bài giảng
4 Hoàn thiện bài giảng
* Nội dung 3: Khai thác, xử lý thông tin phục vụ bài giảng.
- Khi sử dụng thông tin tìm kiếm trên Internet phục vụ bài giảng cần phải xử lí để đàm bảo tính chính xác và phù hợp với đối tượng học sinh mà mình đang dạy
2 Đối với modun 18: Phương pháp dạy học tích cực:
* Nội dung 1: Dạy học tích cực
Giáo viên cần phải nắm được các thông tin sau : Thế nào là phương pháp dạy
học tích cực và những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
- Tôi hiểu rằng dạy học tích cực là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp dạy học này đang được chú ý nhằm đổi mới phương pháp dạy học Đó cũng là xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
- Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực đó là:
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
+ Dạy học chú trọng vào rèn luyện phương pháp tự học cho người học