Đã có rất nhiều quan điểm đã lợi dụng xu thế của thời đạinhằm “hạ bệ” “Truyện Kiều” hoặc tôn vinh một cách thái quá, làm cho tácphẩm văn chương kiệt tác trở thành một thứ trò chơi “rẻ ti
Trang 1để thỏa lòng đam mê tác phẩm vang danh của thiên tài Tố Như.
Nhưng từ xưa đến nay, mọi sự xảy ra đều có nguyên nhân của nó
từ nhiều phía Đã có rất nhiều quan điểm đã lợi dụng xu thế của thời đạinhằm “hạ bệ” “Truyện Kiều” hoặc tôn vinh một cách thái quá, làm cho tácphẩm văn chương kiệt tác trở thành một thứ trò chơi “rẻ tiền” trong quầnchúng… hoặc ca ngợi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân màbài xích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, Đại thi hào dân tộc của chúng ta vàngược lại… nhằm phủ định sạch trơn mọi giá trị mà tuyệt tác của Nguyễn
Du mang lại, phủ nhận sự sáng tạo tài ba và tấm lòng của Cụ trong tác phẩm.chính vì lẽ đó, đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu một cách tích cựccác giá trị của danh phẩm, đánh giá các luồng dư luận và khẳng định lại mộtlần nữa một cách khoa học về cách hiểu “Truyện Kiều” trong con mắt củangười đời, làm cho tác phẩm mãi mãi sống trong lòng yêu thương, giữ một
vị trí quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu lại cácgiá trị của “Truyện Kiều”, tìm hiểu các luồng dư luận, tư tưởng của mọingười, mọi thời đại về tác phẩm lừng danh này Qua đó, trang bị cho bảnthân những kiến thức cần và đủ về “Truyện Kiều”, có kế hoạch về tư tưởngsau này cho việc đánh giá và nghiên cứu tác phẩm Đồng thời, tìm hiểunguyên nhân của các luồng dư luận trong xã hội về tác phẩm, đề xuất một số
ý kiến của bản thân nhằm định hướng và góp phần định vị vị trí của “TruyệnKiều” trong xã hội và trong con mắt của người đời mọi thế hệ về tác phẩm
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là các luồng dư luận và tư tưởng của người đời về tác phẩm
“Truyện Kiều” của Thi hào dân tộc Nguyễn Du
Trong thời đại của Nguyễn Du, tác phẩm này cũng được các nho sĩđương thời lưu tâm bàn luận với nhiều xu hướng và ý kiến trái ngược nhau.Trong thời kì đầu thế kỉ XIX, thế kỉ XX, các cuộc tranh luận về truyện kiềuvẫn chưa tới hồi kết Thật là một tác phẩm “hot” trong giới văn học nghệthuật, được định hình với hai xu hướng khen chê rõ rệt với các quan điểm và
lí lẽ hùng hồn, không ai kém ai
Trang 3Ngày hôm nay, vấn đề “Truyện Kiều” và Nguyễn Du cũng là mộttrong những nội dung được quan tâm hàng đầu tại các cuộc hội thảo qua cáctham luận của những bậc thầy đầu ngành Như các tham luận gần đây nhấtcủa P.G.S- T.S Phạm Tú Châu, G.S- T.S Ahn Kyong Hwan, T.S Từ ThịLoan, G.S Vũ Hạnh, G.S- T.S Trần Ngọc, G.S- T.S Phạm Đan Quế…
Vì lòng đam mê nghiên cứu và muốn được góp phần nhỏ bé củamình cho nền học thuật nước nhà về thiên tác phẩm nổi tiếng này, đề tài nàycũng theo gót của các bậc tiền bối đi trước và những luận điểm có sẵn đểđưa ra quan điểm của cá nhân, góp thêm vào cho kho tàng lí luận, phê bìnhcủa dân tộc ngày càng thêm phong phú và sống động
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
• Tìm hiểu lại một lần nữa một cách chính xác và khoa học vềtác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”
• Tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu tác phẩm lừng danh này
• Tìm hiểu các luồng dư luận, tư tưởng, các đánh giá về
“Truyện Kiều” từ khi ra đời cho đến nay một cách khái quát
• Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các vấn đề trên, ý nghĩa củavấn đề trước và sau khi vấn đề ra đời
• Đánh giá các nhận định trên một cách khoa học và hợp lítheo tiến trình phát triển và vị trí thời đại
• Dẫn chứng cụ thể và chi tiết các dẫn chứng liên quan đếncác nội dung nhận định, đánh giá về “Truyện Kiều”, các cảmhứng của người đời về tác phẩm
• Đề xuất một số ý kiến của bản thân và đưa ra một số kếtluận nhằm đánh giá vá định hướng tư tưởng về tác phẩm
Trang 46 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
• Mục đích
Để tìm hiểu một số vấn đề lí luận , một số vấn đề có liên quan đến đề táinhư các đánh giá của các bậc tiền bối đi trước, các tư tưởng nhận định của giớinghiên cứu và độc giả về tác phẩm này…
• Qúa trình tiến hành
Tìm và sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề tài như:
• Các bài tham luận của các tác giả có liên quan đến “Truyện Kiều”
• Các nhận xét đánh giá của các thế hệ nghiên cứu
• Các loại sách, báo,tạp chí, và từ điển tra cứu
• Truy cập mạng internet
• Đọc, phân tích và phân loại để sắp xếp thành hệ thống theo yêu cầu của
đề tài
• Tóm tắt và khái quát tài liệu để làm cơ sở lí luận khoa học Ghi chép lại
để làm tư liệu viết đề tài
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
Sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, tôi đã thu được các kết quả sau
1.1 Tiểu sử
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là HồngSơn lạp hộ, sinh năm Ất Dậu dưới triều Lê Cảnh Hưng (1765); người
xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh
Là dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công NguyễnNghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt; mẹ là người vợ thứ ba,nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh Bắc; anh là Toản Quận CôngNguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều
Sinh ra trong một gia đình quan lại, có truyền thống văn học, năngkhiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển
Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ Năm 1783, Nguyễn Duthi hương đậu Tam Trường Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thilên nữa
Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân Thanh.Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quancho nhà Tây Sơn
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, vờiNguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡngtuân mệnh Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du
Trang 6Đức Hầu Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh
Sứ đi Trung Quốc Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ BộHữu Tham Tri
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấytrở ngại Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khivui, thường u uất bất đắc chí Theo Đại Nam Liệt Truyện: ``Nguyễn Du
là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗilần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì ''
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lầnnày chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời
Đại Nam Liệt Truyện viết: ``Đến khi ốm nặng, ông không chịuuống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã lạnh cả rồi Ông nói
"được" rồi mất; không trối lại điều gì.''
1.2 Niên biểu về Nguyễn Du
- Nguyễn Du, húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ Sinh năm Ất Dậu 1765 tại phường Bích Câu, thành Thăng Long Quê quán: Làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Họ Nguyễn làng Tiên Điền vốn có gốc từ họ Nguyễn làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, nay thuộc tỉnh Hà Tây Có ý kiến cho rằng, họ Nguyễn làng Canh Hoạch đây lại có gốc từ họ Nguyễn làng Nhị Khê, cũng thuộc Hà Tây, là họ của Nguyễn Trãi
-Năm 1480 Họ Nguyễn Canh Hoạch đã có cụ tổ Nguyễn Doãn Địch đậu Thám hoa khoa Canh Tí
- Năm 1532 Có Nguyễn Thuyến đậu Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn (nhà
Trang 7Mạc)
- Năm 1550: Năm Thuận Bình thứ 2 Nguyễn Thuyến cùng hai con là Nguyễn Quyện và Nguyễn Dật đầu hàng nhà Lê Nhưng sau khi Nguyễn Thuyến mất thì Quyện và Dật lại trở về với nhà Mạc
- Năm 1592: Năm Quang Hưng thứ 15 Quân Mạc Mậu Hợp thua,
Nguyễn Quyện bị bắt, được Trịnh Tùng trọng đãi Sau Khi Mạc Mậu Hợp bị giết, con cái Nguyễn Quyện, Nguyễn Dật buộc phải theo nhà Lê, nhưng rồi lại mưu phản Việc khôi phục nhà Mạc thất bại, cả nhà bị giết, chỉ còn một người con của Nguyễn Dật là Nguyễn Nhiệm tước Nam dương hầu trốn được vào ẩn ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh HàTĩnh thuộc châu Hoan Nguyễn Nhiệm giấu tên tuổi, gốc tích, chỉ gọi là ông Nam Dương làm nghề bốc thuốc và trở thành danh y Như vậy ông Nam Dương tức Nguyễn Nhiệm là ông tổ của họ Nguyễn làng Tiên Điền
Họ Nguyễn làng Tiên Điền về sau trở thành một dòng họ lớn, có nhiều người đỗ đại khoa, làm quan to và hay thơ phú Đời thứ 4: Có Nguyễn Thể là quan võ đánh giặc có công, được phong Quả cảm tướng quân Đờithứ 5: Có Nguyễn Quỳnh thi hương đậu Tam trường, giỏi về thuật phong thủy Đời thứ 6: Con cả là Nguyễn Huệ (1705-1733) đỗ đồng Tiến sĩ Mất lúc 28 tuổi Con thứ là Nguyễn Nghiễm là thân phụ Nguyễn Du Contrai út là Nguyễn Trọng là chú ruột Nguyễn Du
- Năm Mậu Tí 1708: Nguyễn Nghiễm sinh ngày 14 tháng 8, tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngư Cư Sĩ
- Năm 1731: Nguyễn Nghiễm đỗ Nhị giáp Tiến sĩ khoa Tân Tị Nguyễn Nghiễm lấy vợ là hai chị em họ Đặng làng Uy Viễn, lấy từ thuở hàn vi
- Năm 1734: Bà Đặng Thị Dương sinh Nguyễn Khản
- Năm 1745: Bà ĐặngThị Thuyết sinh Nguyễn Điều rồi mất Gần mười năm sau, ông cưới thêm bà Trần Thị Tấn là thân mẫu Nguyễn Du Bà
Trang 8Trần Thị Tấn là con gái một viên quan nhỏ người làng Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc nay là làng Hoa Thiều, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Họ Trần làng Hoa Thiều đời thứ sáu có Trần Phi Chiêu đậu Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu (1589) Về sau, Phi Chiêu theo họ Mạc lên Cao Bằng làm đến chức Thượng thư Bà Trần Thị Tấn sinh ngày 3 tháng 7 năm Canh Thân 1740, kém chồng 32 tuổi Khi lấy chồng bà mới khỏang
16 tuổi Bà sinh được 5 con, 4 trai và 1 gái là:
+ Nguyễn Trụ: 1757 - 1775
+ Nguyễn Nễ còn gọi là Đề: 1761 - 1805 + Nguyễn thị Diên: 1763 - ? Lấy Vũ Trinh + Nguyễn Du: 1765 - 1820
+ Nguyễn Ức: 1767 - 1823
- Sau bà Trần Thị Tấn, Nguyễn Nghiễm còn cưới thêm 5 bà thiếp nữa, tuổi cỡ mười tám đôi mươi là các bà: Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn Thị Xuân, Phạm Thị Diễm, Hồ Thị Ngạn, Hoàng Thị Thược, tất cả ông có 8
vợ, 21 con gồm 12 trai và 9 gái Các con trai của Nguyễn Nghiễm là: 1- Nguyễn Khản: (1734 - 1786) con bà Dương, 26 tuổi đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Toản quận công
2- Nguyễn Điều: (1745-1786) con bà Thuyết, làm Trấn thủ Sơn Tây 3- Nguyễn Trụ (1757- 1775) con bà Tấn, thông minh từ bé, 15 tuổi đỗ Cửnhân
4- Nguyễn Quýnh (1759 - 1791) con bà Xuyên, tên tục là Luyện làm Trấn tả đội
5- Nguyễn Nễ (1761- 1805): Còn gọi là Đề Con bà Tấn, làm quan đến chức Đông các Đại học sỹ, tước Nghi thành hầu
6 -Nguyễn Trừ (?): con bà Xuân, làm Tri Phủ Vĩnh Tường
7- Nguyễn Du (1765 - 1820): con bà Tấn, làm quan đến chức Hữu tham
Trang 9tri bộ Lễ, tước Du đức hầu
8- Nguyễn Nhung: (?) con bà Ngạn, đỗ Tứ trường
9 -Nguyễn Ức (1767 - 1823) con bà Tấn
- Sau Nguyễn Ức còn ba người con trai nữa
- Nguyễn Điều có hai người con trai gọi Nguyễn Du bằng chú, tuổi xấp xỉNguyễn Du là:
+ Nguyễn Thiện: 1763 - 1818
+ Nguyễn Hành: 1778 - 1823
- Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành đều là những người thông minh đỗ đạt, giỏi thơ phú Nguyễn Hành và Nguyễn Du được xếp vào 5 nhà thơ nổi tiếng thời đó: An Nam ngũ tuyệt Họ Nguyễn Tiên Điền không những có nhiều người đỗ đại khoa, làm quan to, mà còn nhiều người hay thơ, giỏi chữ như:
+ Cụ Nguyễn Nghiễm có hai tập Quân trung liên vận và Xuân đình tạp ngâm Cụ còn có bài phú nôm: Khổng Tử mộng Chu Công rất được truyền tụng
+ Nguyễn Khản cũng có nhiều bài thơ chép trong: Nguyễn gia phong vận tập
+ Nguyễn Nễ có hai tập: Quế hiên giáp ất tập và Hoa trình tiền hậu tập
+ Nguyễn Thiện có: Đông phố thi tập và là người nhuận sắc truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự
+ Nguyễn Hành có: Quan đông hải tập và Minh quyên tập + Hai người con gái của Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ quốc âm
- Đinh Sửu 1757: Nguyễn Nghiễm được thăng Tả thị lang bộ Hình
- Canh Thìn 1760: Nguyễn Khản đỗ Tiến sĩ được bổ làm Đốc đồng xứ
Trang 10Sơn Tây
- 1761: Nguyễn Nghiễm được thăng Đô ngự sử
- Ất Dậu 1765: Bà Trần Thị Tấn sinh hạ Nguyễn Du ở phường Bích Câu, thành Thăng Long Nguyễn Du là con trai thứ bảy nên gọi là cậu chiêu Bảy Về năm sinh của Nguyễn Du, có ý kiến cho rằng: Vì ông sinh vào cuối năm Ất Dậu nên vào đầu năm 1766
- 1767: Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa Nguyễn Khản giữchức Tri binh phiên ở phủ chúa, được thăng Đông các Đại học sĩ kiêm Tếtửu Quốc tử giám Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử thái bảo, hàm Tòng nhất phẩm, tước Xuân quận công Ông được cử sát hạch quan lại, chọn được Lê Quý Đôn là một trong ba người giỏi nhất
- Mậu Tuất 1768: Nguyễn Khản được bổ làm Tri hộ phiên ở phủ chúa Trịnh Chúa Trịnh tự đặt riêng trong phủ của mình các chức Tham tụng, Bồi tụng để sánh với Tả, Hữu Thừa tướng của triều đình nhà Lê Đặt các quan tri sáu phiên để sánh với Thượng thư sáu bộ Tri hộ phiên phủ Liêu ngang với Thượng thư bộ Hộ bên triều đình Chúa Trịnh lộng quyền, lại
là người dâm đãng, quan lại dưới quyền phóng túng, đạo đức suy đồi, kỷ cương rối loạn Nhà Lê chỉ còn là một triều đình bù nhìn tuân theo mọi
sự điều hành của phủ Chúa Nước ta trong giai đoạn này lâm vào tình trạng suy đồi, rối ren Các phe cánh, bè đảng xung đột, sát phạt nhau liên miên Trên cả nước thì chế độ phong kiến chia làm hai phe: Phe Đàng Ngoài của vua Lê chúa Trịnh và phe Đàng Trong của chúa Nguyễn gây nên cuộc chiến tranh tương tàn đã hai trăm năm chưa phân thắng bại Trong phe phong kiến Đàng Ngoài lại có mâu thuẫn ngấm ngầm giữa triều đình nhà Lê và phủ chúa Trịnh, hễ có dịp là lại bùng ra Trong phủ chúa Trịnh lại có phe trưởng và phe thứ Trịnh Sâm vì tình riêng mà phế con trưởng là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán, con của Đặng Thị
Trang 11Huệ làm thế tử, gây nên bè phái tranh chấp Nạn kiêu binh lộng hành Dân số nước ta lúc này chỉ khoảng 4 triệu người, với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, người dân phải chịu nhiều tầng sưu thuế, đời sống cùng cực Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi
- Tân Mão 1771: Khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi binh ở ấp Tây Sơn nay thuộc làng Kiên
mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Cuộc khởi nghĩa này nhanh chóng phát triển thành một phong trào rộng lớn, trở thành lực lượng chính trị quyết định vận mệnh quốc gia sau đó Nguyễn Nghiễm xin trí sĩ (về hưu) được phong Đại tư đồ Vua cho tàu mành, quân lính đưa về đến làng, quan dân toàn hạt đến mừng nhiều vô kể (theo Hoàng Xuân Hãn) Nguyễn Du 6 tuổi cùng mẹ theo cha về làng Tiên Điền Đây
là lần đầu tiên Nguyễn Du về làng Sau này ông có làm thơ nhớ lại việc này (Bài Giang Đình hữu cảm)
- 1772: Tháng giêng, Nguyễn Nghiễm được vời trở lại phủ Chúa giữ chức Tham tụng, tương đương Tể tướng
- 1773: Nguyễn Khản được bổ chức Thập thị bồi tụng, tước Kiều nhạc hầu cùng với cha ở trong chính phủ, được chúa ban tấm biển đại tự: Nhị thân phụ tử
- 1774: Mùa xuân, Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả tướng cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong
- Tháng 10, trong lúc đang hành quân ở Quảng Nam thì bị nhiễm bệnh, Nguyễn Nghiễm xin về quê để chữa trị Nguyễn Khản cáo quan xin về quê chăm sóc cha
- Ất Mùi 1775: Nguyễn Du 10 tuổi Tháng 11, Nguyễn Nghiễm qua đời ởquê nhà, thọ 67 tuổi Ông được truy phong tước Huân dụ đô hiến đại vương thượng đẳng phúc thần Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn
Trang 12Du, đỗ Cử nhân lúc 15 tuổi, qua đời (18 tuổi)
- 1776: Nguyễn Khản được phong Hữu tham tri bộ Lại Trong lúc đi thu mua lúa nhà giàu ở Nghệ An năm 1775 để giúp việc quân, Khản để bọn tay chân nhũng nhiễu dân, bị dân kiện, phải tạm xin nghỉ để yên dân
- Mậu Tuất 1778: Nguyễn Du 13 tuổi Bà Trần Thị Tấn, thân mẫu
Nguyễn Du, qua đời (38 tuổi) Nguyễn Khản trở lại làm việc được thăng
Tả thị lang bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây Nguyễn Điều được thăng Trấn thủ Hưng Hóa
- 1780: Nguyễn Du 15 tuổi Vụ án Canh Tý Trịnh Sâm phế con trưởng làTông tức Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán con vợ bé Nguyễn Thị Huệ làm thế tử Nguyễn Khản đang làm Hiệp trấn xứ Sơn Tây liên kết cùng một số triều thần định cất quân về giúp Trịnh Khải Việc bị bại lộ, nhiều người bị giết Riêng Nguyễn Khản vốn thân với Trịnh Sâm được miễn tội chết, được đem về giam lỏng ở nhà Châu quận công Bà Đặng Thị Dương, thân mẫu Nguyễn Khản qua đời Cả gia đình với gần ba chụcngười lúc này chỉ có một mình Nguyễn Điều đang tại chức ở Hưng Hóa Nguyễn Quýnh 21 tuổi mới thi hương đỗ Tam trường, các em còn bé Cảnh nhà lúc này gặp nhiều khó khăn, phải nhờ vào sự giúp đỡ của bạn
bè Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đem về nuôi ở Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập
- 1782: Trịnh Sâm mất, Trịnh Cán lên ngôi chúa Kiêu binh nổi lên phế
bỏ Trịnh Cán, giáng Thị Huệ làm thứ dân, Thị Huệ uống thuốc độc tự tử Trịnh Khải lên ngôi chúa Nguyễn Khản được Trịnh Khải gọi về làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản quận công Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Quýnh làm Quản Trấn tả đội
- 1783: Nguyễn Du 18 tuổi Nguyễn Khản được thăng Thiếu bảo, cuối năm thăng Tham tụng tương đương Thừa tướng Nguyễn Nễ cùng em là
Trang 13Nguyễn Nhung và cháu là Nguyễn Thiện thi đậu Tứ trường (Cử
nhân).Nguyễn Nễ học giỏi được làm quan ở phủ chúa, giữ chức coi việc học của các con chúa Nguyễn Du đậu Tam trường (Tú tài) Vì chỉ đỗ Tú tài không được bổ làm quan, phải tập ấm chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu của người cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên Nguyễn Du lấy vợ là
em gái Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 ?) con gái Đoàn Nguyễn Thục (1718 1775) người làng An Hải, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Thái Bình Đoàn Nguyễn Thục đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Thân 1752, cùng làm quan với Nguyễn Nghiễm trong nhiều năm, đến chức Ngự sử, tước Huỳnh châu bá Nguyễn Trừ, Nguyễn Nhung cũng ra làm quan, chỉ còn bốn em trai còn nhỏ Từ đây, gia đình lớn của Nguyễn Nghiễm có sự phân tán và người anh cả Nguyễn Khản cũng bớt được gánh nặng
1784: Kiêu binh là lính Thanh, Nghệ có công, được ưu đãi trở nên kiêu căng Khi Kiêu binh nổi lên, Nguyễn Khản và một số đại thần lập uy chém bảy tên, họ kéo đến phường Bích Câu phá nhà Khản Khản phải trốn lên Sơn Tây với Nguyễn Điều Khản tìm cách liên lạc với Trịnh Khải ước hẹn các trấn cùng nhau kéo quân về dẹp Kiêu binh Kiêu binh biết được nên đề phòng cẩn mật Việc không thành, Khản phải lánh về Tiên Điền hai năm Nguyễn Huệ đánh tan 2 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm-Xoài Mút Hạn hán nặng, mất mùa lớn, nhiều người chết đói
- Bính Ngọ 1786: Nguyễn Du 21 tuổi Tháng 6, Tây Sơn lấy thành ThuậnHóa rồi kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, kết thúc 216 năm Trịnh Nguyễnphân tranh (1570-1786)
- Tháng 7, Lê Hiến Tông mất, Lê Chiêu Thống lên ngôi Nguyễn Huệ cưới công chúa Ngọc Hân Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái
Bình.Nguyễn Nễ lánh về quê ngoại ở làng Hoa Thiều
Trang 14- Tháng 7: Nguyễn Điều mất lúc 41 tuổi Nguyễn Ức đang tập ấm chức Hoàng tín đại phu trung thành môn vệ úy cũng lánh về quê vợ ở làng PhùĐổng, huyện Tiên Du, kinh Bắc Nguyễn Khản đang lánh Kiêu binh ở quê nhà, bằng đường thủy ra Kinh đô để giúp chúa phò vua nhưng không
có kết quả, cảm bệnh rồi mất vào tháng 9 (mới 52 tuổi) Khi Nguyễn Huệrút đi, triều đình không có người quả quyết, Lê Chiêu Thống (cùng tuổi với Nguyễn Du, 21tuổi) bạc nhược bị ép phải phong cho Trịnh Bồng làm
An đô vương, khôi phục quyền bính cho chúa Trịnh Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An mang quân ra đánh Trịnh Bồng Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp xong Trịnh Bồng thì lại chuyên quyền y như chúa Trịnh
- 1787: Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra Thăng Long diệt Nguyễn Hữu Chỉnh Vua Lê Chiêu Thống hoảng sợ bỏ chạy sang Kinh Bắc Vũ Văn Nhậm cai quản Kinh thành Nghi Vũ Văn Nhậm có nhị tâm,Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ hai diệt Vũ Văn Nhậm Vua Chiêu Thống vẫn bỏ trốn nên Nguyễn Huệ đặt Lê Duy Cẩn làm Giám quốc, cử Ngô Văn Sở ở lại rồi rút quân về Nam
- 1788: Vua Chiêu Thống trốn ở Kinh Bắc cử người đi cầu viện nhà Thanh Nhà Thanh nhân cơ hội mang 29 vạn quân chia làm ba đạo sang xâm lược nước ta Lê Chiêu Thống theo quân Thanh trở về Kinh đô Thăng Long Biết thế giặc mạnh, Ngô Văn Sở tạm lui binh về trấn ở núi Tam Điệp chờ đại binh của Nguyễn Huệ
- Tháng 11, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở thành Phú Xuân, lấy hiệu
là Quang Trung rồi lập tức kéo quân ra Bắc Hà lần thứ ba để diệt quân Thanh cứu nước Quang Trung Hoàng đế vừa hành quân cấp tốc vừa chiêu nạp thêm binh sĩ Ngày 20 tháng chạp đã hội quân cùng Ngô Văn
Sở ở núi Tam Điệp Quang Trung cho quân ăn tết , hẹn ngày mồng 7 tháng giêng sẽ ăn tết lại ở Thăng Long
Trang 15- 1789: Quân Quang Trung tiến đánh Thăng Long với thế mạnh như chẻ tre Chỉ trong nửa tháng đã đánh tan đội quân xâm lược 29 vạn tên Đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long chết tại trận Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử ở gò Đống Đa Tôn Sĩ Nghị và tàn quân chạy thục mạng về nước Ngày mồng 5 tết, Thăng Long được hoàn toàn giải phóng,sớm hai ngày so với dự kiến Lê Chiêu Thống cùng gia quyến theo Tôn
Sĩ Nghị chạy sang Trung Quốc và chết ở Bắc Kinh năm 1793 Triều Lê kết thúc sau 360 năm tồn tại (1428-1788) Quang Trung ra tờ hiểu dụ quan lại triều Lê ra giúp Tây Sơn Nguyễn Nễ và Đoàn Nguyễn Tuấn ra theo Tây Sơn Nguyễn Nễ được bổ chức lo việc Từ hàn, rồi thăng Hàn lâm viện thị thư Đoàn Nguyễn Tuấn giữ chức Thị lang bộ Lại Nguyễn
Du không theo kịp xa giá, về Thái Bình cử hợp hào mục mưu đồ khôi phục nhà Lê nhưng bị thất bại, bị giam hai tháng, sau đó về ẩn ở nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn
- 1790: Đoàn Nguyễn Tuấn đi sứ nhà Thanh, Nguyễn Nễ làm phó sứ tuế cống Sứ đoàn đông tới 150 người do vua Quang Trung giả (Phạm Văn Trị đóng) dẫn đầu sang chầu vua Càn Long
- Tân Hợi 1791: Nguyễn Nễ đi sứ về được thăng Đông các đại học sĩ, tước Nghi thành hầu
- Tháng 10, Nguyễn Quýnh chống Tây Sơn, định khôi phục nhà Lê nhưng không thành, bị bắt giết Quân Tây Sơn phá sạch dinh cơ họ
Nguyễn ở Tiên Điền
- 1792: Nguyễn Du 27 tuổi Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà lúc mới
40 tuổi Quang Toản lên ngôi lấy hiệu là Cảnh Thịnh
- 1793: Nguyễn Du vào Phú Xuân thăm Nguyễn Nễ đang làm Thái sứ viện Cơ mật, ông có ghé thăm quê Tiên Điền
- 1794: Nguyễn Nễ được thăng Tả phụng nghi bộ Binh, vào Quy Nhơn
Trang 16giữ chức Hiệp tán nhung vụ
- 1795: Nguyễn Du 30 tuổi Nguyễn Nễ đi sứ sang Trung quốc dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long Bà vợ Nguyễn Du, em Đoàn Nguyễn Tuấn, ốm rồi mất Bà sinh bốn lần nhưng chỉ nuôi được một là Nguyễn
Tứ, tên chữ Hạo Như
- Bính Thìn 1796: Nguyễn Du 31 tuổi Nguyễn Nễ đi sứ về được thăng
Tả đồng nghị trung thư sảnh Suốt mười năm, Nguyễn Du phải sống cảnh
ăn nhờ ở đậu ở nhà người anh vợ Nay vợ mất, ông thấy mình bơ vơ nơi quê người nên bế con trở về quê nhà Nhà cửa cũng được Nguyễn Nễ bỏ tiền ra sửa sang Như vậy, Nguyễn Du đã sống ở Thái Bình đúng mười năm (1786-1796), thời gian mà ông gọi là: Thập tải phong trần (mười năm gió bụi) Mùa Đông, Nguyễn Du toan vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng việc bị lộ Ông bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt giam mười tuần (ba tháng) Sau nhờ Nguyễn Nễ xin mới được tha Nguyễn Du sống ở quê sáu năm (1796-1802) Ông lấy thêm hai người vợ Bà vợ họ
Võ sinh được một con trai là Nguyễn Ngũ và một bà thiếp sinh được 16 người con gồm 10 trai 6 gái Thời gian ở quê, ông gặp rất nhiều khó khăn
về kinh tế Mặc dù vậy, ông vẫn đi săn bắn, hát Phường vải, hoặc đi thămcác chùa, đàm đạo với các vị sư Ông tự xưng hai biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ (Phường săn núi Hồng) và Nam Hải Điếu Đồ (Nhà chài bể Nam)
- Nhâm Tuất 1802: Nguyễn Du 37 tuổi Tây Sơn thất bại Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long
- Tháng 6 Nguyễn Du kết thúc quãng đời ở ẩn dưới chân núi Hồng, ra làm quan với triều Nguyễn Ông được bổ tri huyện Khoái Châu, sau ba tháng, thăng tri phủ Thường Tín Nguyễn Nễ theo xe Gia Long ra Bắc, bị người dèm pha, vua sai ở lại Bắc Thành (tức Thăng Long) làm việc dưới
Trang 17- 1807: Nguyễn Du làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương
- 1808: Mùa thu, Nguyễn Du xin về quê nghỉ được tám tháng
- Kỷ Tỵ 1809: Nguyễn Du 44 tuổi Tháng 4, Nguyễn Du lại được triệu ra làm Cai bạ dinh Quảng Bình, hàm Tứ phẩm Ông giữ chức này trong 4 năm (1809-1813)
- 1811: Đặng Trần Thường, Nguyễn Gia Cát, Vũ Quý Đình làm 560 đạo sắc giả bán lấy tiền Quan lại nhà Nguyễn ngày càng tham nhũng, nạn bè phái giữa cựu thần Đàng Trong và các quan từ Bắc Hà mới vào vẫn chưa dẹp bỏ được Nguyễn Ức được bổ làm Thiêm sự bộ Công, đến năm 1822 được bổ làm Giám đốc coi việc ở Nội tào phủ Phàm các miếu, điện xây
ở Kinh thành đều do ông sáng chế (thiết kế)
- 1812: Nguyễn Du xin về xây mộ Nguyễn Nễ hai tháng
- Quý Dậu 1813: Nguyễn Du 48 tuổi Tháng 2 Nguyễn Du được thăng Cần chánh điện học sĩ, làm chánh sứ đi tuế cống nhà Thanh Thời gian đi
sứ như sau:
Ngày 6 - 4 Quý Dậu: Đi qua ải Nam Quan
Ngày 4 - 10 Quý Dậu: Đến Bắc Kinh
Ngày 24 - 10 Quý Dậu: Rời Bắc Kinh
Ngày 29 - 3 Giáp Tuất: Về qua ải Nam Quan
Trang 18- 1816: Hai vị công thần của vua Gia Long là tướng Nguyễn Văn Thành
và tướng Lê Văn Duyệt hiềm khích nhau từ lâu Lê Văn Duyệt tâu vua vềviệc Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành làm thơ có ý phản nghịch Vua sai bắt Thuyên và ít lâu sau bắt luôn cả Thành bỏ
ngục.Nguyễn Văn Thành bị ép phải uống thuốc độc tự tử Nguyễn Văn Thuyên bị xử lăng trì (cách hành hình dã man bằng xe cán hoặc voi dày)
Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du và là thầy dạy của Thuyên, chỉ nói một câu mong nhẹ tội cho Thuyên cũng bị liên lụy, bị tuyên tội a tòng, xử trảm giam hậu (tức xử chém nhưng giam lại, chưa chém ngay) Đến năm 1819 được giảm tội chết, giam ở Quảng Nam Năm 1828 vua Minh Mạng vào Quảng Nam mới tha cho về và mất trong năm đó
- Canh Thìn 1820: Nguyễn Du 55 tuổi Gia Long mất Minh Mạng lên ngôi Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong Trong khi đang chuẩn bị thì bệnh dịch hoành hành Đây là trận dịch lớn và rộng từ Thái Lan lan đến Việt Nam Nguyễn Du bị nhiễm bệnh rồi mất vào ngày 10 - 8 tức ngày 16 - 9 - 1820, thọ 55 tuổi, tính theotuổi ta là 56 An táng tại làng An Ninh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
- 1824: Tháng 8, Nguyễn Ngũ cải táng, mang hài cốt ông về chôn ở quê nhà
- Ất Tỵ 1965: Hội đồng hòa bình thế giới ghi tên Nguyễn Du vào danh
Trang 19sách danh nhân văn hóa Thế giới Nhà nước ta chính thức tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông
1.3 Con người
Cuộc đời Nguyễn Du là một chuỗi dài những bất hạnh nối tiếpnhau, đeo bám lấy ông và theo ông suốt cả cuộc đời: Nguyễn Du sớm mồcôi cả cha lẫn mẹ, cha ông mất năm ông lên 10 tuồi, mẹ mất năm ông lên
13 tuổi, mẹ ông chết rất trẻ, lấy chồng năm 16 tuổi, kém chồng 32 tuổi,thế mà chỉ 3 năm sau khi chồng mất, bà cũng theo chồng qui tiên Bà vợ
cả của Nguyễn Du là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, quê ở Thái Bình,cũng mất sớm, cho đến người con trai cả của ông là Nguyễn Tứ cũngchẳng sống lâu (Theo Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Du người tình vàNguyễn Du tình người) Bản thân Nguyễn Du cũng đau ốm triền miên:
"Ba tháng xuân, bệnh liên miên, nghèo không thuốc"(Khởi hứng lan manI) cho nên, có phải vì thế mà các tác phẩm của ông đều nặng lòng xót xa
và cay đắng cho kiếp người, cho thân phận con người, nhật là người phụnữ
Hơn vậy, nguyễn Du luôn luôn mang trong mình một tâm sự cayđắng thầm kín và có thể nói là cay đắng nhất Tấm lòng của ông luônngong ngóng về nhà Lê như ngong ngóng một miền đất hứa sẽ phục sinhtrong nay mai, nó như một hòn than đỏ được vùi dưới lớp tro tàn Thờigian dù có qua đi, núi sông có thể thay đổi nhưng có lẽ tấm lòng cô trungcủa ông vẫn không hề phai nhạt Cuộc đời gói gọn trong nghịch cảnh,người đời và thế gian vốn đã chẳng từ tâm mà cho phép ông làm một kẻngoan dân Bị triệu ra làm quan, ông không còn giữ được lòng trong sạch
Trang 20như Bá Di- Thúc Tề Ông không thể thoái thác sự chiếu cố hơn cả thánhlệnh của vua Gia Long Và cuối cùng, văn chương là phương tiện để ôngchuyển tải tâm tư tình cảm và thể hiện con người mình.
Với những tác phẩm của mình, ta có thể thấy tồn tại trong conngười Nguyễn Du là những mâu thuẫn tương đối phổ biến Phải chăng,Nguyễn Du luôn luôn bị giằng xé bởi những xung đột nội tâm mình, mộtbên là tư tưởng chính thống của nhà thơ, một bên là hiện thực lịch sửchói chang, sừng sừng, uy nghi Nguyễn muốn cưỡng lại hiện thực, muốnphò trợ những thiên kiến chính trị của giai cấp mình, nhưng hiện thựccuộc đời với những sắc thái phức tạp, muôn màu muôn vẻ của nó, rấtmạnh mẽ, quá hấp dẫn đã làm cho bậc quân tử phải nao lung, bànghoàng, ngơ ngác, phân vân suy nghĩ và dần dần, theo quy luật tự nhiên,ông đã phải để cho tình cảm chấp nhận ít nhiều lẽ phải của cuộc sống Đó
là trong thời kì chạy loạn về quê vợ, Nguyễn Du đã tính chuyện phù Lêchống Tây Sơn Vốn là đứa con của “gia phong vọng tộc” từng nhiều đờinặng ơn biển trời với Lê Trịnh, hàng động như vậy với Tây Sơn cũng dễhiểu Nhưng một điều khá lạ lùng là mặc dù chống Tây Sơn nhưng ôngvẫn không hề lộ ra một thái độ hằn học nào đối với triều đại đó NhưHoài Thanh đã từng tham luận, sau này, khi chính Tây Sơn đã bị lật đổ,chính Nguyễn Du đã thở ra một tiếng thở dài rất đỗi bùi ngùi: “Tây Sơn
cơ nghiệp tận tiêu vong_ Ca vũ không di nhất nhân tại” (Cơ nghiệp TâySơn tiêu vong đâu hết_ Mà còn sót lại một người trong làng ca múa)(Long Thành cẩn giả ca) Mặc dù thế, nhưng trước chiến thắng lẫy lừngcủa Quang Trung chống quân Thanh xâm lược Nguyễn Du cũng không
hề biểu lộ một sự quan tâm nào Ông rất “kín tiếng” đối với sự kiện này
Bế tắc cùng quẫn, trong lúc đó, Nguyễn Du cũng như bao nhiêu người
Trang 21khác, ông tìm vào đời sống ẩn dật, tránh xa nhân thế… nhưng, khốn nỗi,
ở ần nhưng ông vẫn không sao thanh thản, ông vẫn cứ buồn sầu thầmlặng, không thôi vương vấn: “ Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?_ Tiểu songkhai xứ liễu âm âm” (Đêm tối đen, tìm đâu thấy cảnh xuân tươi sáng?_Chỗ cửa sổ nhỏ mở chỉ thấy bóng liễu âm u) (Xuân dạ) Từ đó, trong ôngluôn trách mình, ông cho rằng ông đã quá tỉnh trong cuộc trần ai cũngsay, đó là tỉnh mà như say, không làm được gì cho thời cuộc: “Hà dĩthanh tinh khan thế sự?_ Phù bình nhiễu cánh kham ai” (Sao cứ lấy conmắt tỉnh để mà xem việc đời?_ Khiến cho nhân thế như những cánh bèotrôi dạt rất đáng thương) Thật ra, chính cái ý thức “lấy con mắt tỉnh đểxem việc đời” này mới đúng là mặt tích cực của con người Nguyễn Du.Ông không phải là con người của hành động mà là con người của tưtưởng Con người ấy thẩm thấu mọi đắng cay trong cuộc đời với một thái
độ bình lặng, chụi đựng, chấp nhận Và bên trong đó là cả một cuộc đấutranh dữ dội, so với người khác, nỗi cực nhục mà con người ấy chụi cònphải bội ước lên rất nhiều lần, sự dồn nén đã trở thành nỗi đau vò xé tâmcan mà không được xuất ra bằng hành động
Nguyễn Du không có cái khí phách của Cao Bá Quát: “quyết xoaybạch ốc lại lâu đài” Con người chỉ biết chấp nhận, rồi từ đó, biền đaukhổ thành triết lí nhưng rồi chỉ luẩn quẩn ở trong cái triết lí mà khôngthấy được căn nguyên nỗi khổ của mình Ông phải nhẫn nhục diễn vai
“hàng thần lơ láo” dưới trướng của Gia Long Nhưng cái đáng quý là ởchỗ; con người Nguyễn Du là con người biết khao khát chân lí và sốngtheo những chính cảm đúng, con người biết “tỉnh táo để nhìn đời” nhưngcàng nhìn, càng thấy chung quanh mình tràn đầy thống khổ, lai càng trởnên bế tắc Suốt đời nhà thơ vùng vẫy trong cái mớ bòng bong hỗn tạp đó
Trang 22mà không sao tìm được hướng ra Thật là “Bâng khuâng đứng giữa đôidòng nước_ Chọn một dòng hay để nước trôi”.
Chính vì thế, vì gắn bó với thực tại, gắn bó với con người, thờicuộc và nhìn sâu vào lịch sử tuy bế tắc nhưng Nguyễn Du đã để lại chohậu thế một tấm lòng biết xót thương cho kiếp người, cho những conngười có tài và có tình trong thiên hạ Đặc biệt là thân phận của ngườiphụ nữ Trong tấm lòng ưu ái đó, Nguyễn Du cũng xót thương cho chínhmình là kẻ có chung một mối “phong vận kỳ oan” với các bậc giai nhântài tử Nguyễn Du đã vạch ra được những đặc trưng đê hèn, bản chất xấu
xa của xã hội thời ông: chà đạp lên con người, lên mọi nhân phẩm, sự thahóa của mọi tính cách, sự tan vỡ của mọi giá trị cao đẹp
Nguyễn Du có ba vợ, có mười hai con trai và sáu con gái Ngườicon đầu của ông là Tứ, có theo nhà thơ sang Trung Quốc trong chuyến đi
sứ, về nước vài năm thì mất Người thứ hai là Ngũ, thời Minh Mệnh giữchức tuần huyện Người thứ ba là con bà thiếp, tên là Thuyến, trong giaphả họ tộc nói ông “giỏi văn học” nhưng chưa hề thấy có tác phẩm để lại,còn những người khác không được nói đến trong sử sách và tài liệu ghilại hiện có
Nguyễn Du mất ở Kinh, lúc đầu chôn ở xã An Ninh, huyện QuảngĐiền, tỉnh Thừa Thiên, bốn năm sau mới dời về táng ở Tiên Điền Lúcnhà thơ qua đời, quan lại ở kinh nhiều người làm câu đối phúng viếng,khóc thương ông, hết lời ca ngợi tài hoa rất mực của ông, có những câu
da diết như:
“Nhất viện cầm tôn nhân ký thứ,
Trang 23Đại gia văn tự thế tranh truyền”.
(Rượu đàn đầy viện người đi vắng,Văn tự hơn đời tiếng dội vang)
ưu ái
1.4 Văn nghiệp
Trang 24Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, là “tập đại thành” của vănhọc phong kiến, là người kế thừa một cách sáng tạo truyền thống tốt đẹp củavăn học dân tộc và nâng cao truyền thống ấy lên một đỉnh cao chói lọi.
Ông có ba tập thơ chữ Hán
- Thanh Hiên tiền hậu tập
- Nam trung tạp ngâm
- Bắc hành tạp lục
Cả ba tập này đến nay đã tập hợp được 250 bài
Theo Mai Quốc Liên, Nguyễn Du toàn tập 1996: Hiện thời, có các bản dịch “Thơ chữ hán Nguyễn Du” sau đây:
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du Bùi Kỷ- Phan Võ- Nguyễn Khắc Hanh dịch Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1959 Bản dịch gồm 102 bài
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du Lê Thước- Trương Chính dịch Nhà xuất bảnVăn Học, Hà Nội 1965 Bản dịch gồm 249 bài
- Tố Như thi trích dịch Quách Tấn dịch An Tiêm, Sài gòn 1973 Bản dịch gồm 92 bài
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du Đào Duy Anh dịch Nhà xuất bản Văn Học
1988 249 bài
Thơ quốc âm của ông có:
- Đoạn trường tân thanh tức truyện Kiều
- Văn tế thập loại chúng sinh
- Văn tế Trường Lưu nhị nữ
- Thác lời trai Phường nón
2 Tác phẩm “Truyện Kiều”
Trang 25“Truyện Kiều” của Nguyễn Du lúc đầu có tên là “Đoạn TrườngTân Thanh”, được phóng tác theo một cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc
có nhan đề là “Kim Vân Kiều truyện” của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân,một tác giả sống vào khoảng thế kỉ XVI và đầu thế kỉ XVII Truyện nàychia làm hai mươi hồi Tuy thế, Thi hào Nguyễn Du của chúng ta chỉ môphỏng cốt truyện và kỹ thuật văn chương được xếp đặt trong “TruyệnKiều” thì đó là sự sáng tạo của Cụ hoàn toàn
Theo tác giả Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, Lô Uý Thutrong cuốn “Một số nhận xét về ‘Kim Vân Kiều truyện’ với ‘ĐoạnTrường Tân Thanh’ ” thì: Khi viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã lược
bỏ hai phần ba cốt truyện, ông đã loại bỏ 142 trang trong tổng số 214trang của cuốn “Kim Vân Kiều truyện” Ông chỉ giữ lại 72 trang bao gồm
cả những ý trong bài tựa, trong những lời bàn đầu của mỗi hồi và trong cảhai mươi hồi của “Kim Vân Kiều truyện” Bấy nhiêu đó, Nguyễn Du đãtập hợp và viết ra 1313 câu trong tổng số 3254 câu của “Đoạn TrườngTân Thanh” hay “Truyện Kiều” Số còn lại, là do công lao của trí tuệtuyệt vời của Nguyễn
Nguyễn Du đã dựa theo cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của ThanhTâm Tài Nhân và sáng tạo ra một thi phẩm lớn với một nội dung “đắt”,một hệ thống hình tượng riêng của mình
“Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân còn có tên khác
là “Song Kỳ Mộng”, nó đã chết ngay trên bàn sanh khi nó mới vừa ra đời
và tất cả những gì về nó đều bị lãng quên nhanh chóng, ít ai, thậm chí hầunhư không có ai nhắc đến Từ khía cạnh nghiên cứu, ta có thể nói: viết
“Kim Vân Kiều truyện”, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ vì cảm thương cho
Trang 26thân phận chìm nổi lênh đênh, trăm nghìn khổ ải của một người con gáiphúc hậu, có tài có sắc mà số phận lại hẩm hui bất hạnh Tất cả là do tạohóa định đoạt và tư tưởng ấy thống lĩnh toàn bộ tư tưởng của Tài Nhân:
“Tạo hóa ghét sự hoàn toàn, hơn điều nọ tất phải kém điều kia, sinh đượcmột phận hồng nhan, thì phải chịu mười phần đầy đọa, có được một chúttài tình, lại phải gánh thêm mười phần nghiệp chướng” Câu chuyện TrờiMệnh- Nghiệp dĩ… ở “Kim Vân Kiều truyện” là một điều tất yếu, là mộtchân lí vĩnh cửu cũng như câu chuyện “Tạo hóa ghét sự hoàn toàn…”
Với “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thoạt đầu lướt qua, ta cũng cócái cảm tưởng giông giống như thế Nhưng thật ra vấn đề lại khác hoàntoàn từ cái căn bản đầu tiên Cũng cảm cái số kiếp “bèo trôi sóng vỗ”nhưng lại rất sâu sắc và da diết bởi tất cả vấn đề xuất phát từ cuộc đời tácgiả Thật là: “Tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” Sóng gió phũphàng của cuộc đời dường như chỉ ồ ạt xô cuốn vào người thi sĩ ấy
Cái cảm của Tài Nhân là cái cảm của kẻ ngoài cuộc, đứng bên lề
mà chạnh lòng thương, cái cảm của Tố Như là cái cảm xót xa thương tiếckhôn nguôi của chính người trong cuộc, của chính bản thâm mình
Hơn thế, nói tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là hàng vaymượn Điều đó đúng nhưng không hoàn toàn Cái vay mượn của Nguyễn
là cái vay mượn muôn đời xưa nay, nó thường xuyên xảy ra nơi nhữngcon người làm văn hóa nghệ thuật Nhưng cái quý ở nơi Nguyễn là ta quýcái tinh , cái tài, cái tâm của nhân sĩ Cái “tài” đã cho ra cái “tinh” hòacùng cái “tâm” trường tồn đến ngày hôm nay và mai sau nữa Ta nhậnthấy, trong tiến trình phát triển của lịch sử văn chương thế giới, việc mộttác phẩm lớn, mang tầm cỡ thế giới phần lớn đều bắt nguồn từ việc tái tạo
Trang 27lại những tác phẩm của người đi trước cũng là chuyện hết sức bìnhthường như cơm cháo Ở Trung Quốc, bộ “Tam Quốc Chí” của La QuánTrung đã dựa vào “Tam Quốc Chí” của Trần Thọ, “Tam Quốc Chí Chú”của Bùi Tùng Chi Bộ “Đông Chu Liệt Quốc” của Phùng Mộng Longcũng cải biên từ bộ “Liệt Quốc Chí” gồm 8 quyển của Dư Thiệu Ngưthành “Tân Liệt Quốc Chí” gồm 108 hồi để đến thời Càn Long nhàThanh mới có “Đông Chu Liệt Quốc” như ngày hôm nay Thiên truyện
“Thủy Hử” của Thi Nại Am, Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ cũngnằm rong cái vòng xoay ấy
Thậm chí, ngay cả “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm TàiNhân mà Nguyễn Du đã dựa vào đó mà viết lên thiên thi phẩm “ĐoạnTrường Tân Thanh” nay là “Truyện Kiều” lừng danh khắp thế giới cũngbắt nguồn từ “Sự tích Vương Thúy Kiều” trong “Kỷ Tiểu trừ Từ Hải bảnmạt” của tác giả Mao Khôn và “Vương Thúy Kiều Truyện” trong “Ngu
Sơ Tân Chí” của Dư Hoài…
Ở Anh, “Rômêô và Juliet” của Sêcxpia cũng có nguồn gốc từtruyện bằng văn vần của nhà thơ Anh Atơ- Brúc xuất bản năm 1562,trong khi đó, nó lại dựa vào một truyện ngắn của Luyghiđa Portô (Ý).Ngay cả Aivanho của Oanto Scot (1771- 1832) lại từ bi kịch Rơnơmidơcủa Logan “Ôtelô” của Secxpia lại dựa vào truyện ngắn của GiranđôXintio (Ý) Ở Pháp, “Lơ- Xit” của Coocnay (1606- 1684) cũng được sángtạo từ một tác phẩm của Tây Ban Nha
Ở Việt Nam ta, truyện thơ “Nhị độ mai” cũng dựa theo tiểu thuyết
“Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai” của Trung Quốc, còn “Hoa Tiên” củaNguyễn Huy Tự thì lại dựa theo cả bản “Đệ bát tài tử Hoa Tiên ký” của
Trang 28Trung Quốc Do vậy, “Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du viết dựatheo “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân là chuyện hoàntoàn bình thường theo quan điểm mĩ học truyền thống đang thịnh lúc bấygiờ Chỉ có điều khi viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã theo sát các diễnbiến và tình tiết trong nguyên truyện đồng thời cũng biến nó thành tácphẩm vào loại kỳ diệu không chỉ của riêng Việt Nam mà là của toàn thếgiới.
Về thời gian “Truyện Kiều” ra đời, theo phó giáo sư Lê Thanh Lantrong tham luận “Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” khi nào?” thì phó giáo
sư cho rằng: “Ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết vàokhoảng 1813 đến 1820 vì hiểu chữ “hành thế” trong câu: “Du trường ưthi, vưu thiện quốc âm, Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập ThúyKiều truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện là sáng tác
Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức làđược mọi người biết đến Vả lại, “tận tín thư, bất như vô thư”, không nênquá tin vào sách, và giáo sư Đào Duy Anh viết “sách Liệt truyện, tuy làquốc sử, cũng không đủ cho ta tin” (Đào Duy Anh- “Khảo luận vềTruyện Thuý Kiều”, 1958) Bởi vì ở đó tên các sách Thuý Kiều truyện vàBắc hành thi tập chỉ là tên gọi tục; chính xác thì hai áng văn này phảiđược gọi là “Đoạn Trường Tân Thanh” và “Bắc Hành Tạp Lục” Rất nhiều bằng chứng cho thấy Truyện Kiều được viết trước đó rất lâu
Học giả Hoàng Xuân Hãn có nhắc đến Phạm Quý Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào Kinh Ông Vũ Thế Khôi cho biết bài “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường …” thật ra có tên là Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm có trong tập Lập Trai Tiên sinh di
Trang 29thi tục tập, ký hiệu A 2140
Mới đây, Hà Thị Tuệ Thành, tiếp tục công việc của ông Vũ Thế Khôi, tìm thấy bài này trong Lập trai Phạm Tiên sinh thi tập, kí hiệu A-
400 và qua đó xác định được Phạm Quý Thích viết bài thơ này vào năm
1811 (bài tham luận tại Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế, 31/5 đến 2/6/2006) Truyện Kiều phải được viết trước đó
Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết: Nguyễn Lượng bị chết vào khoảng 1807 Vì có sự phê bình của ông ấy nên biết rằng Truyện Kiều được viết vào đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long (Tạp chí Văn học, số 3-1997) Phó giáo sư Ngô Đức Thọ cho rằng “Đại Nam nhất thống chí” viết Nguyễn Lượng bị chết năm 1807 đúng như Học giả Hoàng Xuân Hãn nói
Liên quan đến Nguyễn Lượng, gần đây Phan Thanh Sơn và Hà Thị Tuệ Thành nhận thấy trong lời bình bằng chữ Hán của ông có bốn chữ
“bách chủng hoan ngu” Chắc chắn ông không dám viết chữ “CHỦNG” vào thời Nguyễn vì vào năm 1803 Gia long đã có lệnh cấm dùng chữ
“CHỦNG”, khi viết phải thay bằng chữ “THỰC” (Tạp chí Văn hóa Nghệ
An số 71, 25/2/2006)
Trương Chính nhận xét rằng trong Truyện Kiều có những câu “nghịchngôn” như:
“Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?”
Và:
“Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”
(Tạp chí Văn học số 6 (12/1963)
Thì những câu này chỉ có thể được sáng tác trước thời Nguyễn
Trang 30Còn ông Nguyễn Khắc Bảo nhận thấy bản Liễu Văn Đường
1871 còn sót các chữ đáng lẽ phải kiêng dưới thời Nguyễn “Câu 853:
“Tuồng chi là giống hôi tanh” Câu 1310: “Thang lan rủ bức trướng hồngtẩm hoa” Câu 2750: “Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày” Trong đó những chữ “Chủng” là tên vua Gia Long hồi nhỏ, và chữ “Lan” là tên mẹ
cả của vua Gia Long tức Huy Gia từ phi” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống,
số 6 (56) 2000)
Đến ngày hôm nay, hầu như ai cũng thừa nhận: “Truyện Kiều” được hoàn thành trước tiên; sau đó Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc “Hoa tiên”, và cuối cùng Nguyễn Huy Hổ theo văn “Hoa tiên”
mà viết “Mai đình mộng ký” Tác phẩm sau cùng hoàn thành vào năm
1809
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh rằng “Hoa tiên”, tác phẩm thứ hai được nhuận sắc trong khoảng mười năm cuối thế kỷ 18 Trong Hoa tiên có bài thơ chữ Hán trong đó có chữ “CHỦNG”, tên của Gia Long (Báo Văn nghệ, số 22) Đây chính là một lý do để ta tin rằng
“Truyện Kiều”, tác phẩm thứ nhất phải được viết trước việc nhuận sắc
“Hoa tiên” vài năm
Trước đây, nhiều người cho rằng nhờ chuyến đi sứ Nguyễn Du mới được tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đểsau đó viết Truyện Kiều Điều này không đúng Có nhiều giả thuyết về thời điểm Kim Vân Kiều truyện vào nước ta: học giả Hoàng Xuân Hãn đoán rằng có thể do Nguyễn Nễ (có tên là Đề và là anh ruột Nguyễn Du) hoặc Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ Nguyễn Du) cùng đi sứ thời Tây Sơn, khoảng 1792-1793 mang về
Phó giáo sư Thạch Giang lại cho rằng, có thể trong chuyến đi sứnăm 1763, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã mang “Hoa tiên” và “Kim
Trang 31Vân Kiều truyện” từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện Nhờ đó Nguyễn Huy Hổ có điều kiện đọc Hoa tiên, Nguyễn Du do lui tớiPhúc Giang thư viện học tập, nấu sử sôi kinh sớm được đọc “Kim Vân Kiều truyện” để sáng tác “Truyện Kiều” Song, điều này thì chắc chắn: ở truyện “Liên Hồ quận quân” trong cuốn “Lan Trì kiến văn lục”, viết vào khoảng 1793-1794 của Vũ Trinh, có câu: “Thúy Kiều gieo mình sông lớn” Trước năm 1794 Vũ Trinh đã biết đến “Kim Vân Kiều truyện” Chắc chắn, Nguyễn Du đã được tiếp cận với “Kim Vân Kiều truyện” không muộn hơn Vũ Trinh (theo Nguyễn Hoàng Sơn, báo Văn nghệ, số 35+36, 2/9/2004)
Và như vậy, từ những chứng cứ trên cho phép ta được hình
dung: “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân đã vào nước ta vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ 18 Nhờ đó Nguyễn Du sớm được đọc và theo đó mà viết “Truyện Kiều” Nguyễn Thiện theo vănKiều mà nhuận sắc “Hoa tiên” vào mười năm cuối thế kỷ 18 Nguyễn Huy Hổ theo văn Kiều và văn “Hoa tiên” mà viết “Mai đình mộng ký”, hoàn thành vào năm 1809 Như thế “Truyện Kiều” xong trước việc nhuậnsắc “Hoa tiên” nên phải được viết vào những năm cuối đời Lê đầu đời Tây Sơn, trùng với kết luận của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn rút ra được từ việc phát hiện chữ húy thời Lê - Trịnh trong một số bản Kiều Nôm
2.2 Tóm lược nội dung
Vào triều Gia Tĩnh đời Minh có một viên ngoại sinh được ba ngườicon là Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan Một hôm, ba chị em đi chơi thanh minh và viếng mồ Đạm Tiên rồi họ gặp Kim Trọng Ngay từ buổi đầu gặp gỡ, Kim và Kiều đã có cảm tình với nhau Sau đó, Kim
Trang 32đến thình lình: Kim phải về Liêu Dương hộ tang chú và chẳng bao lâu thìKiều cũng phải bán mình chuộc cha Lời thề dang dở, Kiều đành “cậy” Vân thay mình chắp duyên cùng chàng Kim.
Trên đường lưu lạc, Kiều đã trót thân với kẻ lừa đảo Mã Giám Sinh và sau đó làm gái ở chốn thanh lâu dưới quyền một tay trùm lợi hại
là Tú Bà Sau nữa Kiều mưu trốn với Sở Khanh là kẻ bạc tình nhưng không thành Kiều gặp Thúc Sinh là một thương gia trẻ tuổi, tính tình hàophóng nhưng rất sợ vợ Cuộc sống lén lút giữa hai người tuy đã vượt qua được cơn thịnh lộ của viên quan phủ nhưng khốn nạn thay lại không qua mặt được tay ả có máu ghen lạ đời như Hoạn Thư vốn là vợ của Thúc Kiều bị bắt cóc, bị hành hạ đủ điều xuôi ngược: đánh đòn, bắt làm đầy tớ,bắt hầu rượu, hầu đàn) và cuối cùng Kiều trốn khỏi nhà họ Hoạn
Lang thang đến chùa của Giác Duyên và nào tưởng đã dứt được trần duyên ai ngờ nghiệp chướng còn quá nặng nên nàng bị lọt vào tay Bạc Hạnh Bạc mê bạc hơn mê nàng nên đem bán nàng tại Châu Thai để lầu xanh lai một lần nữa rước người mệnh bạc Từ Hải là anh hùng đất Việt Đông xuất hiện, cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Từ tuy có chậm nhưng không phải là muộn lắm… Sau khi Từ chết, Kiều bị ép gả cho Thổ Quan
và sông Tiền Đường là nơi chấm dứt cuộc đời bạc mệnh và cũng là chốn
mở màn cho cuộc tái hợp mai này
Giác Duyên vớt được Kiều ở sông Tiền Đường rồi hai người lập
am nhỏ bên bờ sông và tu ở đó Kim Trọng tuy đã lấy Thúy Vân, đã làm quan huyện nhưng vẫn cố tìm Kiều Theo dấu người yêu qua bao gian nan, vất vả, trời sông biển núi…và cuối cùng lại đến Tiền Đường Duyên trời dun dủi, hai bên đã gặp và nhận nhau, cả nhà đoàn tụ Kim Kiều nối
Trang 33lại tình xưa, khúc đàn bạc mệnh đầm ấm dương hòa, ái ân, dù sau mười lăm năm lưu lạc vẫn mặn nồng chan chưa như lúc ban đầu…
Và được cụ thể trong bảng dưới đây:
câuPHẦN THỨ NHẤT: GẶP GỠ VÀ ĐÍNH ƯỚC
PHẦN THỨ HAI: GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC
Trang 3414 Mã Giám Sinh mua Kiều 621- 654
34 Tình tự với Thúc Sinh, Hoạn Thư bắt gặp 1925- 2028
PHẦN THỨ III: ĐOÀN TỤ
Trang 3549 Kim Trọng kết duyên với Thúy Vân 2799- 2858
55 Kết: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài 3241-3254
2.4 Gía trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật
Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoáViệt Nam Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình chonhững mẫu người trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu của SởKhanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và đều đi vào thành ngữ Việt Nam Khả năngkhái quát của nhiều cảnh tình, ngôn ngữ, trong tác phẩm khiến cho quầnchúng tìm đến Truyện Kiều, như tìm một điều dự báo Bói Kiều rất phổbiến trong quần chúng ngày xưa Ca nhạc dân gian có dạng Lẩy Kiều.Sân khấu dân gian có trò Kiều Hội họa có nhiều tranh Kiều Thơ vịnhKiều nhiều không kể xiết Giai thoại xung quanh cũng rất phong phú.Tuồng Kiều, cải lương Kiều, phim Kiều cũng ra đời Nhiều câu, nhiềungữ trong Truyện Kiều đã lẫn vào kho tàng ca dao, tục ngữ Từ xưa đếnnay, Truyện Kiều đã là đầu đề cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận
và những cuộc bút chiến Ngay khi Truyện Kiều được công bố (đầu thế
kỷ XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi xã đã cótrao đổi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Đầu thế kỷ XX, cuộctranh luận về Truyện Kiều càng sôi nổi, quan trọng nhất là cuộc phê pháncủa các nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào
cổ xuý Truyện Kiều do Phạm Quỳnh đề xướng (1924)… Qua đó, ta cóthể nhận thấy ở “Truyện Kiều của Nguyễn Du có các nội dung sau:
Trang 362.4.1 Gía trị nội dung tư tưởng
"Truyện Kiều" là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý: Ca ngợi tình yêu tự do: được thể hiện tập trung ở mối tình Kim - Kiều và ước mơ công lý: được thể hiện tập trung ở hình tượng Từ Hải
"Truyện Kiều" là tiếng khóc cho số phận con người:Khóc cho số phận của người phụ nữ tài sắc mà phải chịu đọa đày, lưu lạc, bị chà đạp, vùi dập từ thể xác đến tinh thần, phải rơi vào bi kịch của tình yêu, phải xalìa cốt nhục,
"Truyện Kiều" - bản cáo trạng đanh thép tố cáo các thế lực đen tốicủa xã hội phong kiến: quan lại, bọn độc ác bất nhân, lừa lọc và lên án tácđộng tiêu cực của đồng tiền đã làm tha hóa con người
"Truyện Kiều" là tiếng nói " hiểu đời":Qua thế giới nhân vật, với
sự thấu hiểu sâu sắc nhân sinh, Nguyễn Du thể hiện một tấm lòng rất mực cảm thông, bao dung đối với con người
Tóm lại,“Truyện Kiều” là tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, giàu tính chiến đấu Tác giả khóc thương cho đời cô Kiều gian truân, lận đận, cảm thương nỗi khổ nhục mà cô phải chịu và không ngừnglên án xã hội bất công, vô nhân đạo, tư tưởng thần quyền lạc hậu, ám ảnh
số kiếp con người
Trang 37không ai có thể khôn sánh: với bút pháp trần thuật và cách giới thiệunhân vật độc đáo, bút pháp tả cảnh ngụ tình, trần thuật từ điểm nhìn củanhân vật làm cho sự việc diễn ra một cách tự nhiên, thấm đẫm cảm xúc
và thế giới tình cảm của nhân vật được bộc lộ trực tiếp Ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trong "Truyện Kiều" đạt đếnmực trong sáng, trau chuốt, giàu sức biểu cảm, kết hợp nhuần nhuyễnngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ được cá tính hóa cao
độ, ngôn từ: từ ngữ phong phú, sáng tạo Tóm lại, với “Truyện Kiều”, Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đãxây dựng thành công một thiên thi phẩm mẫu mực về nghệ thuật vănchương truyền thống của dân tộc, Trong thi văn Việt Nam, có thể nói, ít
có tác phẩm nào hoàn hảo và tinh vi về nghệ thuật đến bằng Nguyễn Du.Như giáo sư Hà Như Chi đã từng nhận xét: “ “Truyện Kiều” có cái vẻthanh quý của một áng văn chương chân chính trang nghiêm, lại có cáitính cách lâm ly của một tâm sự não nề, và cái net sắc sảo của một tài hoalỗi lạc Lời thơ thật trong trẻo, nét bút thật tươi tắn, khí văn luôn luônchuyển biến, hoặc tươi vui êm đềm, hoặc u sầu tê tái, hoặc khóc than oánhận, hoặc mạnh mẽ ngang tàng “Truyện Kiều” thật đã đến cái đích nghệthuật và xứng đáng là tinh hoa của một nền thi văn cổ”
2.5 Nguyễn Du và “Truyện Kiều” trong con mắt người đời
“Truyện Kiều” của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du ra đời đến nay
đã trên hai trăm năm nhưng trong nhận thức của hậu thế, tác phẩm tuyệttác này chưa bao giờ cũ Dù là có ý thức hay không có ý thức, thì hậu thếcủa mọi thời đại trong việc nghiên cứu và thưởng thức “Truyện Kiều”mãi mãi đem đến cho thi phẩm này những màu sắc khác nhau, muôn màumuôn vẻ, những tiếng nói khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau, những
Trang 38quan niện khác nhau và khác nhau hoàn toàn về nhân sinh và nghệ thuậtxung quanh một văn phẩm để đời giá trị
Nguyễn Du và “Truyện Kiều” trong con mắt người đời muôn thế
hệ, từng nhận xét, từng quan điểm, bình phẩm đáng giá nói chung đềuliên quan đến tình hình đấu tranh giai cấp trong thực tế của xã hội và nótiêu biểu, nó làm cho vấn đề “Truyện Kiều” và công tác lí luận phê bìnhvăn học trong đời sống xã hội thêm phong phú và hấp dẫn
Vâng, hơn hai trăm năm đã trôi qua, cuộc đời và văn nghiệp củaNguyễn Du đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của giới nghiêncứu, phê bình và đã là đề tài tranh luận trong các dịp lễ tết hay lúc đồngáng khuây khỏa, “Truyện Kiều” đã được vang lên và trở thành đề tài củanhiều câu chuyện trong quần chúng nhân dân Thật vậy, đời sống củanhững tác phẩm văn học kiệt xuất không bao giờ bình lặng Bao quanh
nó dù hàng trăm năm, hàng thập kỉ, thậm chí hàng thế kỉ là những cuộctranh cãi đa chiều “Truyện Kiều” của chúng ta cũng không nằm ngoàicái vòng xoay ấy của tạo hóa, “…con tạo xoay vần”… nhưng nếu nhưtrong thời đại phong kiến đương thời và những năm đầu của thế kỉ haimươi và cho đến hiện nay vẫn còn nhiều những luồng ý kiến khác nhau
về các mặt giá trị của tác phẩm Nhưng cơ bản cho đến ngày hôm nay, dùphong ba có ập đến chân của Nguyễn thế nào đi chăng nữa thì chân lí mãi
là chân lí, cái gì là tinh túy thì vẫn là tinh túy dù tro tàn phong vũ cũngkhông thể thay đổi, và đã là vàng thì qua lửa đỏ vàng lại càng sáng và cógiá trị.Giáo sư Phong Lê trong bài viết “Nghìn năm sau nhờ Nguyễn Du”
đã mạnh mẽ khẳng định: “Dẫu với thể truyện thơ gồm con số hàngtrăm…, “Truyện Kiều” vẫn có thể thoát ra khỏi mặt bằng chung, để trởthành một hiện tượng thơ nổi bật, không bị khuất lấp bởi một đồng phục
cơ bản là giống nhau, ở khuôn hình văn chương và ý thức hệ” Theo giáo
Trang 39sư thì đến nay, vẫn chưa có ai hơn hoặc thay thế được Nguyễn Du vàhiện tượng đó không thể coi là điều bình thường trong sự phát triển củacác nền văn học dân tộc Và giáo sư- nhà giáo nhân dân Nguyễn ĐìnhChú cũng khẳng định trong tham luận “Nguyễn Du trong thời đại Hồ ChíMinh” rằng: “Truyện Kiều vẫn là tác phẩm được quan tâm nhiều nhấttrong đời sống nghiên cứu văn học Việt Nam xưa nay”.
Ngay từ khi ra đời, “Truyện KIều” đã được đặc biệt chú ý Tươngtruyền rằng, sau khi viết xong tác phẩm, Nguyễn Du đã đưa ngay tácphẩm của mình cho Phạm Qúy Thích đọc, Phạm Qúy Thích có sửa chữađôi chỗ, rồi đưa ra bình luận, ngâm vịnh với học trò Bài “Tổng vinhTruyện Kiều” có lẽ là bài đầu tiên, một tác phẩn tiên khởi bình luận về
“Truyện Kiều” Bài vịnh ấy có nội dunh như sau:
Cung đàn bạc mệnh oán thương còn dài Tài tình là lụy muôn đời
Khúc Tân Khanh ấy vì ai đau lòng” ( Nguyễn Can Mộng dịch )
Bài 2
“Tiền Đường chẳng đón giai nhân Yên hoa nửa kiếp hàm oan nợ dài
Há đem mặt ngọc sóng vùi Lòng băng vẫn xứng với người tình chung
Trang 40Mộng sầu biết số long đong Cung đàn dù đứt, hơn trong dạ đầy Chút tài gây lụy xưa nay
Tâm Khanh khúc ấy khóc vay ai nào”
(Hoàng Tầm Phương dịch)Bài 3
“ Hồng nhan vốn chẳng đến Tiền Đường Nửa kiếp yên hoa nợ vẫn mang
Mặt ngọc dễ hầu vùi đáy nước Tiết băng không thẹn đối lòng chàng Đoạn Trường tỉnh giấc nguồn cơn rõ Bạc mệnh đàn xong mối hận vương Một mảnh tài tình muôn thuở lụyTân Khanh đau xót tỏ tình thương” (Lê Thước dịch )
( Lãng Ngâm Tư dịch )
Từ đó cho đến nay, đã có hàng trăm, hàng ngàn tác giả thuộc nhiềuchính kiến khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực của xã hội đã tham