MỤC LỤCA.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG1I. Khái quát về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong luật hôn nhân và gia đình năm 201411.Các khái niệm cơ bản12. Ý nghĩa của việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ2II. Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong Luật hôn nhân và gia đình 201431.Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua chế định kết hôn32.Sự thể hiện cúa nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua chế định li hôn8II. Một số vấn đề thực tiễn11C.KẾT LUẬN14DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO15Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ được thể hiện như thế nào trong các chế định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 1A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Khái quát về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014 1
1 Các khái niệm cơ bản 1
2 Ý nghĩa của việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ 2
II Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 3
1 Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua chế định kết hôn 3
2 Sự thể hiện cúa nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua chế định li hôn 8
II Một số vấn đề thực tiễn 11
C KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2A MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách con người, góp phần định hướng, giáo dục và bảo tồn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Một xã hội muốn tồn tại và phát triển tốt đẹp, bền vững thì gia đình phải vững chắc Nhận thức được vai trò quan trọng của gia đình, Nhà nước ta luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này Luật Hôn nhân và gia đình ra đời cũng nhằm mục đích đảm bảo sự hạnh phúc của gia đình, chính vì vậy Luật đã đặt ra những nguyên tắc để tất cả mọi người tuân theo Trong đó, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất của chế định hôn nhân và gia đình Để tìm hiểu và nghiên cứu kĩ hơn
về nguyên tắc này em xin chọn đề tài số 2: “Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện
tiến bộ được thể hiện như thế nào trong các chế định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình năm 2014” làm bài tập học kỳ của mình
B NỘI DUNG
I Khái quát về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong luật hôn nhân
và gia đình năm 2014
1 Các khái niệm cơ bản
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân được hiểu là quan
hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (Khoản 1 Điều 3 LHNVGĐ 2014), đây cũng là khái niệm mà luật HNVGĐ 2000 quy định tại khoản 6 Điều 8
Trang 3Theo LHNVGĐ 2014 quy định tại Khoản 5 Điều 3 thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”
Theo LHNVGĐ 2014 quy định tại Khoản 14 Điều 3 thì “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.”
Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là nguyên lí, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là nguyên tắc đầu tiên trong số 5 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Khoản 1 ĐIều 2 LHNVGĐ 2014)
2 Ý nghĩa của việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ rất cần thiết và có những ý nghĩa quan trọng như sau:
Thứ nhất, việc nhà nước ghi nhận nguyên tắc này trước hết phù hợp với
nguyện vọng của người dân, pháp luật đã thực sự trở thành công cụ quản lý của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn
Thứ hai, việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ của nhà
nước đã làm cho nguyên tắc này trở thành một trong những điều kiện tiên quyết
để đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý Đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để Tòa án xử lý những trường hợp vi phạm xảy ra trên thực tế
Trang 4Xét cho cùng, ta thấy việc ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ của nhà nước là nhằm đảm bảo được mục đích cuối cùng của hôn nhân là xây dựng một gia đình hạnh phúc, một tế bào khỏe mạnh của xã hội
II Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong Luật hôn nhân và gia đình 2014
1 Sự thể hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua
chế định kết hôn
1.1 Khái niệm kết hôn
Kết hôn dưới góc độ xã hội được hiểu là sự thừa nhận của người thân, của cộng đồng đối với nam, nữ thông qua việc chứng kiến hai bên tiến hành một nghi lễ cưới hỏi theo truyền thống, tôn giáo của họ Tuy nhiên, thực chất nghi lễ này chỉ nhằm mục đích thông báo việc hai bên nam, nữ đã trở thành vợ chồng của nhau
Để một cuộc hôn nhân tồn tại theo đúng nghĩa, ta cần xét cuộc hôn nhân
đó dưới góc độ pháp lý Theo đó, hôn nhân được hiểu là sự thừa nhận của nhà nước đối với việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng Việc nam, nữ xác lập quan
hệ vợ chồng phải tuân theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng
ký kết hôn
1.2 Các biểu hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong chế
định kết hôn
Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình quy định nam, nữ kết hôn phải
đủ hai yếu tố là: phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ và được nhà nước thừa nhận Trong đó việc thể hiện ý chí mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng chính
là biểu hiện tiêu biểu và đồng thời cũng để đảm bảo nguyên tắc hôn nhân tự
Trang 5nguyện tiến bộ trong chế định kết hôn Do đó, khi kết hôn, người kết hôn phải bày tỏ ý chí tự nguyện kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Sự thể hiện của nguyên tắc tự nguyện tiến bộ còn được thể hiện trong điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
Thứ nhất, khoản b – Điều 8 LHNVGĐ 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Việc tự nguyện kết hôn đó được thể hiện qua
các phương diện sau:
- Về mặt chủ quan: tự nguyện kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn rằng họ thực sự mong muốn trở thành vợ chồng của nhau Ý chí của họ không bị tác động bởi bất cứ một người nào khác khiến họ kết hôn trái với nguyện vọng của mình Hai bên mong muốn trở thành vợ chồng là xuất phát từ tình cảm yêu thương, quý mến lẫn nhau và cùng mong muốn gắn bó với người kia để xây dựng hạnh phúc gia đình
- Về mặt khách quan: tự nguyện kết hôn được thể hiện qua việc người kết hôn bày tỏ ý chí tự nguyện của mình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng kí kết hôn Để đảm bảo là việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, người muốn kết hôn phải cùng có mặt tại cơ quan đăng kí kết hôn nộp tờ khai đăng kí kết hôn Nếu một trong hai bên vắng mặt vì lý do chính đáng thì phải gửi cho ủy ban nhân dân nơi đăng kí kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt, xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú Như vậy, về nguyên tắc khi tổ chức đăng ký kết hôn hai bên nam, nữ phải có mặt tại nơi đăng kí kết hôn Đồng thời pháp luật không cho phép cử người đại diện đăng kí kết hôn Điều này nhằm đảm bảo cho việc đăng kí kết hôn là hoàn toàn tự nguyện
Trang 6Thứ hai, tại khoản c – điều 8 quy định điều kiện kết hôn là: “Không bị mất năng lực hành vi dân sự” Những người bị mất năng lực hành vi dân sự là
người bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Chính vì vậy, họ cũng không thể thể hiện ý chí và tình cảm của mình trong việc kết hôn Vậy nên Luật cấm các đối tượng này không được đăng kí kết hôn nhằm đảm bảo sự tự nguyện
Thứ ba, Khoản d – Điều 8 quy định: “Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 điều
5 của Luật này” Các trường hợp cấm kết hôn do không đảm bảo nguyên tắc tự
nguyện tiến bộ bao gồm: cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn và lừa dối kết hôn
Ta cùng phân tích các trường hợp này như sau:
* Cưỡng ép kết hôn: Khoản 9 – Điều 3 LHNVGĐ 2014 giải thích:
“Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.”
- Đe dọa, uy hiếp tinh thần là việc người thực hiện hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người kết hôn hoặc người thân thích của người đó khiến người này rơi vào trạng thái hoảng loạn, lo
sợ nên phải kết hôn trái với ý muốn của họ
Ví dụ: Anh A yêu chị B và đã theo đuổi chị B rất lâu với mong muốn lấy chị B làm vợ nhưng chị B không thích anh A và đã có quan hệ tình cảm với người khác Thấy vậy, anh A liền lén lút quay lại cảnh chị B đang tắm và đe dọa rằng nếu chị B không đồng ý lấy mình thì anh sẽ đăng tải đoạn video này lên mạng xã hội Chị B vì lo sợ nên đã nghe theo lời anh A và kết hôn với anh A
Trang 7Trong trường hợp này anh A đã đe dọa sẽ công khai những thông tin có ảnh hưởng xấu đến danh dự của chị B khiến chị B lo sợ, tê liệt tinh thần va buộc phải kết hôn trái ý muốn với anh A
- Hành hạ, ngược đãi có thể hiểu là hành hạ, đối xử tàn tệ, gây đau đớn về thể xác lẫn tinh thần cho một người hoặc người thân của họ khiến họ phải chấp nhận kết hôn
Ví dụ: Anh C đã thích và theo đuổi chị D từ rất lâu nhưng không được chịu D đáp trả Anh C liền thuê một nhóm xã hội đen đến chửi bới, đánh đập chị
D và gia đình chị và ép chị phải lấy mình Do không chịu nổi những đau đớn về thể xác và thương bố mẹ, chị D đã chấp nhận lấy anh C
Trong trường hợp trên yếu tố tự nguyện cũng không được đảm bảo do chị
D không thể hiện được ý chí tự nguyện của bản thân mà hoàn toàn bị cưỡng ép
- Yêu sách của cải theo Khoản 11 – Điều 3 được giải thích là: “Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.”
Ví dụ: Gia đình chị X có nợ anh Y một khoản tiền lớn mà anh Y lại thích chị X nên đã nói với bố mẹ chị X rằng nếu gả chị X cho Anh thì anh ta sẽ xóa tòa bộ số nợ cho gia đình chị Vì hám lợi nên gia đình chị X đã đồng ý Chị X mặc dù không hề muốn lấy anh Y nhưng vì sức ép từ bố mẹ nên đành kết hôn với người mình không yêu
Ở đây, bố mẹ chị X đã cướp mất đi quyền tự do quyết định của chị X Chị không có quyền tự lựa chọn người muốn kết hôn cùng đồng thời mất đi sự tự nguyện trong hôn nhân
Trang 8* Cản trở kết hôn
Khoản 10 – Điều 3 LHNVGĐ 2014 giải thích: “Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác
để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.”
Tương tự như cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn đã vi phạm sự tự nguyện của các bên, khiến họ không thể thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình là được kết hôn với người họ yêu, họ mong muốn trở thành vợ chồng của nhau
Ví dụ: Chị A và anh B yêu nhau đã lâu và có ý định tiến tới hôn nhân Tuy nhiên ba mẹ chị A lại không muốn con gái mình kết hôn với anh B vì chê anh nghèo hèn lại mồ côi ba mẹ Thấy con gái kiên quyết kết hôn, ba mẹ chị A đã dọa rằng nếu chị không nghe lời thì sẽ tự tử để chị được tự do Vì sức ép từ ba
mẹ nên chị A và anh B đã không thể kết hôn với nhau
* Lừa dối kết hôn
Lừa dối kết hôn có thể hiểu là việc một trong hai bên kết hôn cố tình đưa
ra thông tin sai sự thật để người kia lầm tưởng mà kết hôn
Ví dụ: Anh X ở quê đã có vợ và hai đứa con, khi đi công tác xa anh đã phải lòng chị Y và nói dối rằng anh chưa có gia đình để đề nghị kết hôn với chị
Y Chị Y tin và hai người tiến tới hôn nhân
Trong trường hợp này mặc dù hai người đều tự nguyện kết hôn nhưng sự
tự nguyện đó là do lừa dối khiến người kia lầm tưởng về đối tượng kết hôn của mình Như vậy sự tự nguyện trong hôn nhân vẫn không được bảo đảm
Trang 92 Sự thể hiện cúa nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ thông qua chế định li hôn
2.1 Khái niệm ly hôn
Khoản 14 – Điều 3 LHNVGĐ giải thích ly hôn như sau: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Khi quan hệ hôn nhân đã
thực sự tan vỡ, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly hôn là việc cần thiết để giải thoát cho tất cả mọi người, cho cả vợ chồng, các con, cũng như các thành viên khác thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn, bế tắc do cuộc sống chung gây
ra
2.2 Các biểu hiện của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trong chế
định li hôn
Hôn nhân tự nguyện tiến bộ đồng thời cũng phải đảm bảo tự do ly hôn Nếu như không thể bắt buộc một người kết hôn trái với ý muốn của họ thì cũng không thể ép một người phải tiếp tục cuộc sống vợ chồng khi mà cuộc hôn nhân
đó đã không còn hạnh phúc
Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ trước hết thể hiện qua quyền yêu cầu ly hôn Không ai có quyền nhân danh vợ, chồng để yêu cầu ly hôn Khoản 1
– Điều 51 LHNVGĐ quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” Quyền yêu cầu ly hôn cũng là quyền thể hiện ý chí tự
nguyện của bản thân các chủ thể Pháp luật nước ta công nhận quyền tự do ly hôn là quyền chính đáng của vợ, chồng, không ai có thể cấm đoán, cản trở được
Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng và là kết quả của hành vi có ý chí của vợ, chồng
Trang 10Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ còn được thể hiện thông qua căn
cứ ly hôn Trong đó có hai trường hợp là thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên Căn cứ li hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn Nguyên tắc tự nguyện tiến bộ được thể hiện cụ thể, khi mà một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai đều muốn li hôn Họ tự do thể hiện ý chí trong việc không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân hiện tại mà không chịu sự chi phối, ngăn cản hay tác động của ai
- Thuận tình ly hôn:
Điều 55 LHNVGĐ 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”
Trong trường hợp thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai bên vợ chồng là
cơ sở để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn Sự tự nguyện đó thể hiện bằng đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn do vợ và chồng cùng ký Việc chấm dứt ly hôn thuận tình phải do vợ chồng thực sự tự nguyện, mong muốn chấm dứt hôn nhân do hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được Trong trường hợp này việc giải quyết ly hôn khá đơn giản và nhanh chóng
- Ly hôn do yêu cầu của một bên:
Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, yếu tố tự nguyện được thể hiện thông qua yêu cầu của một bên có đơn đề nghị ly hôn
Trang 11Điều 56 LHNVGĐ 2014 quy định: “1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn
mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn
cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”
Thứ nhất, khi xem xét yêu cầu ly hôn, Toà án xét việc vợ, chồng có hành
vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn Hành vi bạo lực gia đình nghĩa là vợ hoặc chồng luôn có hành vi đánh đập, ngược đãi, hành hạ, làm tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người kia hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nhau Tình trạng này đã kéo dài và được bà con, thân thích, cơ quan, họ hàng nhắc nhở, can ngăn nhiều lần nhưng vẫn tiếp diễn
Hành vi vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là vợ chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, quan tâm, giúp đỡ nhau, bỏ mặc người kia đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp diễn Hoặc vợ, chồng không chung thủy với nhau, có quan hệ ngoại tình đã được mọi người khuyên bảo, nhắc nhở nhưng vẫn tiếp tục ngoại tình