1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

25 bệnh, triệu chứng bệnh mới, thường gặp

62 580 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 25 bệnh, triệu chứng bệnh mới, thường gặp
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 330,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Báo ngay cấp cứu 115, nếu không có điều kiện nhất thiết phải mời y bác sĩ đến để khám, chẩn đoán xác định và có chỉ định càng sớm càng tốt việc dùng thuốc chống đau ngực, chống truỵ ti

Trang 1

25 BỆNH, TRIỆU CHỨNG BỆNH MỚI, THƯỜNG GẶP

I- SỐT: Được gọi là sốt khi nhiệt độ cơ thể cặp ở nách từ 37,5 trở lên Khi sốt

cần xem có các triệu chứng khác kèm theo để xác định được bệnh điều trị kịp thời và cho đúng hướng Nếu trường hợp cho phép điều trị tại nhà, sau điều trị trên 2 ngày không đỡ cần được khám ở cơ sở y tế

Để giúp cho có hướng chẩn đoán bệnh và điều trị, khi sốt cần chú ý các dấu hiệu kèm theo:

1.1- Sốt kèm theo ho ngay cả khi nghỉ ngơi, có khạc ra đờm mầu nâu:

Cần đến bác sĩ khám, vì có thể bị viêm phổi, viêm phế quản

1.1.1- Viêm phổi do nhiễm khuẩn (do vi khuẩn, vi rút, nấm): Là bệnh

thường xuyên gập ở mọi lứa tuổi, ở người cao tuổi do có sức đề kháng yếu nên

dễ nhiễm bệnh hơn so với tuổi thanh niên Nguyên nhân hầu hết do vi khuẩn và

vi rút, thỉnh thoảng mới gặp do nấm Bệnh viêm phổi có thể gặp ở các mùa trong năm

- Triệu chứng của viêm phổi cấp: Bệnh thường xuất hiện đột ngột với đau

ở ngực có vùng đau rõ rệt, đau liên quan đến nhịp thở, người bệnh khi thở có cảm giác muốn giữ vào vùng đau, kèm theo sốt cao, gai rét và rét run, ho ra đờm vàng, xanh hoặc có máu Viêm phổi do virut ban đầu thường biểu hiện sốt cao, đau mỏi toàn thân, ho khan giống như cảm cúm Viêm phổi do virut thường sau một mhiễm khuẩn nặng, dùng nhiều thuốc kháng sinh

- Điều trị: Dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn (theo chỉ dẫn của thầy thuốc tuỳ theo mức độ của bệnh dùng loại kháng sinh cho phù hợp như nhóm Beta lactam (Amoxicillin, Bristopen, Clamoxyl ), Macrolides (Erythromycin, Azythromycin, Rovamycine, Zymycin ), Cephalosporin (Zinacef, Axepim, Cephalexin, Tridacef, Zinnat ), Quinolones (Cifran, Ciplox, Opecipro, Peflacine…), kháng nấm (Mycosyst, sporal, Nystatine…)v.v Thuốc chống viêm phù nề đường hô hấp (Danzen 5mg/v, Alfa chymotrypsin v.v ) Thuốc long đờm và làm đờm loãng ra, không gây bít phế nang (Viên bổ phế, An hoà khí, nhóm thuốc Mucosan 200mg, Mucothiol 200mg ) Thuốc hạ nhiệt (các loại Paracethamol) và các Vitamin

1.1.2 Viêm phế quản: viêm phế quản cấp và viêm phế quản mãn.

- Viêm phế quản cấp: Là một bệnh thường gập, bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra có thể do vi khuẩn, virut đường hô hấp, nhiễm lạnh và ở những

Trang 2

người hút thuốc lá và có bệnh phổi mãn (hen, xuyễn ) cũng dễ bị những đợt viêm phế quản cấp.

+ Triệu chứng của viêm phế quản cấp: Khò khè, ban đầu thường ho khan làm người bệnh cảm giác khó chịu, sau đó ho kéo dài và có đờm có thể xanh hoặc vàng, đau sau xương ức, tức ngực khi ho Bệnh nhân có thể sốt nhẹ hoặc sốt cao

Viêm phế quản cấp có thể lành tính và thể ác tính Thể lành tính do viêm các phế quản lớn (phế quản gốc, phế quản thuỳ và phân thuỳ) Thể ác tính do viêm phế quản nhỏ, tắc nghẽn khi thở ra và dễ gây suy thở

+ Điều trị: Nếu viêm phế quản cấp điều trị các thuốc kháng sinh, chống phù nề đường hô hấp, long đờm (như trong điều trị bệnh viêm phổi), kèm theo dùng các loại chống dị ứng (như Clopheniramin 4mg/v, Péritol 5mg/v, Thelaren 5mg/v ), nếu có điều kiện thì làm khí dung hàng ngày

- Viêm phế quản mãn: Bệnh thường kéo dài 2 - 3 tháng và lặp đi lặp lại nhiều lần trong năm, hay gập ở những người có bệnh hen, ở những người cao tuổi, những người nghiện thuốc lá, thuốc lào nếu bệnh bệnh kéo dài và thường xuyên tái phát, không được theo dõi và điều trị tốt có thể gây hẹp hoặc tắc nghẽn phế quản, khí phế thũng

+ Triệu chứng: Bệnh nhân thường ho khan, ho kéo dài, khó thở khi ho, đôi khi có ho ra máu nếu có giãn phế quản

+ Điều trị: Trước mắt nên ngừng hút thuốc lá, dùng các thuốc giảm ho, long đờm, chống phù nề đường hô hấp và chống tắc nghẽn phế quản Nếu có viêm nhiễm cần dùng thuốc kháng sinh Đến cơ sở y tế khám để được điều trị theo nguyên nhân

1.2 Sốt kèm theo đau đầu, mỏi chân tay, ngạt tắc mũi, sổ mũi, đau họng nhất là xung quanh có nhiều người cũng có các triệu chứng như trên:

Trang 3

- Nếu có sốt kéo dài vài ngày, ho ra đờm đặc, đau rát họng và ho nhiều có thể dùng thuốc kháng sinh.

1.3 Sốt kèm theo nhức đầu dữ dội, đau đầu khi gập cổ, buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, có thể có trạng thái lơ mơ: Khi đó cần đưa ngay đi cấp cứu

ở bệnh viện có thể nghĩ đến bệnh não - màng não:

- Nguyên nhân: Thường do vi khuẩn và virut gây nên Đặc biệt viêm màng não mủ do vi khuẩn gây ra (Menigococcus - Não mô cầu), bệnh thường diễn biến nặng và phức tạp, lây qua đường hô hấp nên dễ thành dịch Ngoài ra còn có thể gặp viêm màng não do virut, do vi khuẩn lao v.v

- Triệu chứng chủ yếu: Sốt cao, nhức đầu dữ dội, buồn nôn, nôn vọt, cổ cứng, sợ ánh sáng Các triệu chứng xuất hiện rất nhanh và rầm rộ Bệnh nhân thường có ban xuất huyết ở da, có khi đi vào trạng thái lơ mơ khi bị viêm màng não do não mô cầu

- Điều trị: Khi thấy có triệu chứng trên dứt khoát phải đưa đến bệnh viện

để được làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán xác định và điều trị sớm và để phòng trở thành dịch bệnh

+ Khi bị bệnh viêm màng não mủ bệnh nhân phải được cách ly Đối với những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân cần đeo khẩu trang, uống thuốc kháng sinh phòng bệnh Theo hướng dẫn của Trung tâm y tế dự phòng thực hiện tiêm chủng, uống thuốc kháng sinh phòng bệnh khi có chỉ định đối với cộng đồng dân cư trong khu vực

1.4 Sốt kèm theo đau họng đơn thuần: Nghĩ đến viêm họng, viêm

Amidan Bệnh thường do liên cầu khuẩn Streptococcus gây nên

- Triệu chứng: Cảm giác thô ráp phía sau họng gây nuốt đau và khó Sốt, mệt mỏi và có thể có hạch sưng ở vùng dưới hàm

- Điều trị: Dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn (ví dụ như Amoxicilin, Rovamycin, Erythromycin ); chống viêm và phù nề tại họng (như Danzen 5mg/v, Alpha Chymotripsin), các thuốc ngậm tại họng (như Lisopaine ngày 4-6 viên, Mybacin 8-10viên, Oropivalone 4-10 viên, xạ can, súc miệng nước muối); Vitamin và thuốc hạ nhiệt (Paracethamol)

1.5 Sốt kèm theo các triệu chứng đau thắt lưng, tiểu tiện bất thường, nước tiểu đục, hoặc hồng, đái buốt, đái rắt Nghĩ đến viêm bàng quang nếu có

đau tức vùng hạ vị và vùng bàng quang, đái buốt, đái rắt nước tiểu có mầu hồng

và mùi hôi, vẩn đục Nghĩ đến sỏi tiết niệu khi có cơn đau quặn vùng thắt lưng

Trang 4

choáng, đái ra máu, có thể có sốt Viêm thận, viêm bể thận, viêm cầu thận thường có sốt, đái ra máu và có thể có mủ, phù Cần đến bác sĩ hoặc cơ sở y tế

để được chẩn đoán xác định và điều trị sớm

- Điều trị: Đối với viêm bàng quang:

+ Thuốc kháng sinh: tuỳ trường hợp có thể sử dụng thuốc kháng sinh như Bisepton, Amoxicilin, Nitrofurantoin, Noroxin 400mg, nhóm Cephalosporins, nhóm Quinolones, nhóm macrolides v.v

+ Thuốc lợi tiểu: râu ngô, bông mã đề v.v

+ Chống phù nề niêm mạc bàng quang: Danzen 5mg/viên…

- Sốt, đau tức hai bên thắt lưng, nước tiểu đỏ hoặc thẫm màu, phù Nghĩ đến viêm cầu thận, viêm bể thận Nhất thiết phải đến bệnh viện hay cơ sở y tế để được khám và điều trị có hệ thống, tránh dẫn đến viêm thận mãn tính

1.6 Sốt vừa ở vùng có dịch: Nghĩ đến các bệnh truyền nhiễm như sốt rét,

sốt thương hàn, sốt xuất huyết

- Sốt rét: Khởi đầu thường gai rét rồi rét run, sau đó sốt cao, cuối cơn ra

mồ hôi, da sạm, sốt thường có cơn rõ rệt, ngày một hoặc một vài cơn, có khi cách nhật mới có cơn tuỳ thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét, tuỳ thể bệnh, ở vùng sốt rét hoặc mới ra khỏi vùng sốt rét Bệnh lây qua muỗi đốt

- Thương hàn: Khởi đầu có thể sốt cao liên tục và rét run, cũng có thể sốt

từ từ, mạch chậm; đi ngoài có rối loạn tiêu hoá (táo bón hoặc lỏng không liên quan đến ăn uống, buồn nôn); rối loạn thần kinh (nhức đầu, mỏi toàn thân, mất ngủ); có ban hồng ở vùng bụng, lưỡi trắng bự viền đỏ, bụng chướng Bệnh thường xẩy ra vào mùa hè thường có nhiều người cùng sốt và rối loạn tiêu hoá, bệnh dễ thành dịch và lây qua đường tiêu hoá

- Sốt xuất huyết: Sốt cao đột ngột và sốt liên tục, đau cơ, đau khớp, nổi hạch, những ngày sau thấy nền da giãn mạch đỏ, có ban và có chấm ban xuất huyết Bệnh hay vào mùa hè, lây theo đường do muỗi đốt nên dễ thành dịch

Khi đó cần đến cơ sở y tế để được khám bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời Trước mắt khi thấy sốt cao cần uống nước đủ (nước có muối, đường hoặc bột điện giải, viên Hydrit) đề phòng rối loạn nước điện giải, thuốc hạ nhiệt giảm đau nhóm Paracethamol

II- ĐAU NGỰC:

Đau ngực có thể đau mơ hồ, đau nhói như dao đâm, có khi đau rát như bỏng, có thể đau co thắt như xé vùng ngực, có thể có cảm giác nặng ở vùng

Trang 5

ngực v.v Không bao giờ được coi nhẹ cơn đau vùng ngực, nhiều khi chủ quan gây những hậu quả đáng tiếc đến tính mạng người bệnh.

Đau ngực do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy khi đau ngực phải được theo dõi tỷ mỉ các dấu hiệu:

2.1 Đau ngực ở vùng xương ức, vùng trước tim: Đau có tính chất co

thắt, đau nhói, có cảm giác nghẹn thở, có khi ngừng vận động và ngừng thở Cũng có khi chỉ có cảm giác đè nặng ở vùng ngực trái Đau có thể lan xuống cánh tay trái, ngón cái, đau lan 2 cánh tay, lên vai và cổ, hàm dưới, vã mồ hôi Nghĩ đến: Các bệnh tim mạch

2.1.1 Nếu cơn đau xẩy ra đột ngột như dao đâm hoặc như xé lồng ngực; đau khắp lồng ngực, cũng có thể đau nhẹ kèm theo khó thở ngột thở Cơn đau

kéo dài trên 15-20' phút, có khi kéo dài vài giờ, vã mồ hôi, khó thở, mạch nhanh, buồn nôn Ngậm Nitroglycerin mà không thấy triệu chúng đau giảm Nghĩ đến Nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim là một hoại tử vùng cơ tim do thiếu máu cục bộ Nhồi máu cơ tim cấp là tai biến kịch phát của bệnh tim thiếu máu cục bộ đòi hỏi sự cấp cứu - hồi sức nội khoa Nhồi máu cơ tim xẩy ra do nghẽn tắc một động mạch vành hoặc một nhánh Nguyên nhân thường do mảng xơ vữa làm hẹp lòng động mạch, cục máu đông do ngưng kết tiểu cầu kết chặt làm ngừng hoàn toàn tuần hoàn trong vùng đó, co thắt nặng động mạch vành kéo dài Nhồi máu cơ tim cấp cũng có thể xẩy ra do tăng cầu ở cơ tim vì gắng sức thể lực quá mức, stress tâm lí, cơn nhịp nhanh, cơn tăng huyết áp, các tình trạng tăng chuyển hoá Tại vùng bị nhồi máu cơ tim sẽ giải phóng ra nhiều chất, trong đó có các chất làm cho gây cơn đau ngực dữ dội, các men đặc hiệu của tế bào cơ tim cả khu vực mất hoạt động điện và mất khả năng tham gia co bóp tống máu

Khám lâm sàng: Nhịp tim nhanh, cũng có thể chậm 40-50 lần/1 phút, nhịp tim không đều, tiếng tim mờ, có thể có tiếng ngựa phi

Huyết áp thấp, giờ đầu có thể không đo được huyết áp, gây truỵ tim mạch (vã mồ hôi, da lạnh, xanh xám, buồn nôn, muốn ngất xỉu), rất nguy hiểm, đe doạ

tử vong Những giờ đầu không sốt

Nếu có điều kiện cần kiểm tra:

+ Điện tim: Sóng T (T vành: âm, cân, nhọn) phản ánh thiếu máu cục bộ

cơ tim Đoạn ST chênh lên, lồi lên phản ánh tổn thương cơ tim Sóng Q sâu phản ánh hoại tử Vậy hoại tử là dấu chứng quyết định chẩn đoán

Trang 6

+ Xét nghiệm: Men CPK hoặc CK (Creatin-photphokinaza) với men đồng

vị MBCK đặc hiệu cho cơ tim Men SGOT (Transaminaza cơ tim) đều tăng cao Men LDH (Lacticdehydrogennaza) với men đồng vị LDH1 đặc hiệu cho cơ tim thường xuất hiện chậm vào ngày thứ 4

Nhồi máu cơ tim trong giờ đầu, ngày đầu diễn biến rất phức tạp Nhiều biến chứng đe doạ đến tính mạng bệnh nhân như suy tim cấp, đứt cơ cột giữa các van tim gây hở van tim, thủng vách liên thất, vỡ tim, rối loạn nhịp tim, rung thất dễ dẫn đến tử vong v.v

Gặp trường hợp trên:

- Ngay tức khắc tại nhà: Khi có cơn đau ngực trái cho ngậm viên Nitroglycérin dưới lưỡi, nằm yên tại giường Sau 20 phút vẫn không cắt được cơn đau, các triệu chứng trên càng nặng nề thêm, nằm tại giường không được vận động dù nhỏ cũng làm tim tăng hoạt động, tăng co bóp tim, dễ làm vỡ tim

và xuất hiện các biến chứng

- Báo ngay cấp cứu 115, nếu không có điều kiện nhất thiết phải mời y bác sĩ đến để khám, chẩn đoán xác định và có chỉ định càng sớm càng tốt việc dùng thuốc chống đau ngực, chống truỵ tim mạch, thở ôxy, chống rối loạn nhịp tim, thuốc làm tiêu huyết khối và quyết định việc điều trị tại chỗ hay đưa đến bệnh viện bằng phương tiện đảm bảo an toàn nhất

2.1.2 Nếu có cơn đau ngực vùng ức, trước tim, cơn đau mất đi khi ngừng vận động, đau lại khi gắng sức v.v Nghĩ đến thiếu máu cơ tim, cơn đau

thắt ngực do thiểu năng vành

- Cơn đau thắt ngực là một hội chứng lâm sàng biểu hiện bằng những cơn đau hoặc cảm giác thắt chặt ở sau xương ức hay vùng trước tim, đôi khi xuyên ra sau lưng và thường lan lên cổ, vai trái, cánh tay Cơn đau thắt ngực xẩy

ra do mảng vữa xơ làm hẹp lòng động mạch, hạn chế lưu lượng máu đến nuôi dưỡng một khu vực của cơ tim, làm mất cân bằng khả năng cung cấp máu của động mạch vành và nhu cầu về máu lẫn ôxy của cơ tim Khi đó tim phải đập nhiều hơn, nhanh hơn để cung cấp thêm máu cho các cơ bắp Để đáp ứng được nhu cầu đó, các động mạch vành tim phải giãn ra để tăng chứa máu và ôxy vào thêm cho các tế bào cơ tim Trong khi đó mạch vành bị xơ vữa, khả năng giãn mạch vành bị hạn chế, nên khi gắng sức sẽ mất cân bằng, máu và ôxy đến không

đủ, làm cho cả một khu vực của cơ tim bị thiếu máu, tế bào kém nuôi dưỡng nên

bị tổn thương

Trang 7

- Dấu hiệu lâm sàng: Đau vùng ức hoặc ngực trái, đau co thắt ngực hoặc đau nhói, khi đau ngừng vận động tháy đỡ đau Cũng có khi chỉ thấy cảm giác

đè nặng ở ngực, có khi đau lan lên bả vai tới cánh tay theo mặt trong cẳng tay tới ngón tay út, tới cổ, hàm dưới, tới thượng vị, có cảm giác lo lắng Cơn đau ngắn

từ 30 giây hoặc kéo dài tới vài chục phút, nằm nghỉ đỡ đau

- Nếu có điều kiện làm điện tâm đồ trong cơn đau có thể thấy hình ảnh

ST chênh xuống phản ảnh thiếu máu cơ tim cục bộ, ngoài cơn đau điện tim thường trở về bình thường

- Điều trị: Tốt nhất được chỉ dẫn của thầy thuốc, tạm thời xử trí bước đầu:

+ Khi có cơn đau phải ngừng ngay hoạt động, nghỉ tại chỗ và ngậm 1 viên Nitroglycérin dưới lưỡi Có thể dùng 4-5 lần trong một ngày nếu lại xuất hiện cơn đau và chịu được thuốc (không được dùng Nitroglycérin khi huyết áp tối đa xuống dưới 100 mmHg)

+ Dùng các thuốc dán hoặc thuốc mỡ (loại dạng thuốc của Nitroglycérin)

để dán hoặc bôi vào vùng ngực trái, hoặc dùng thuốc uống có tác dụng kéo dài như Lemitral

+ Ngoài cơn đau: Dùng các thuốc thuộc nhóm Nitroglycérin nhưng loại thuốc kéo dài (Peritrat, Nitropenton v.v ), Vastarel, các thuốc chẹn Beta, ức chế Canxi

+ Đến bệnh viện khám để được làm các xét nghiệm chẩn đoán, có hướng điều trị và dự phòng lâu dài Nếu có chỉ định cần được điều trị cơ bản như nong động mạch vành hoặc làm cầu nối chủ - vành (Paj-Pass)

2.1.3 Phòng bệnh ở bệnh nhân hay có cơn đau vùng ngực trái, nhồi máu cơ tim:

- Phải thực hiện tốt hướng dẫn của thầy thuốc sau cơn đau thắt ngực cũng như sau điều trị nhồi máu cơ tim: Dùng thuốc lâu dài và luyện tập phục hồi chức năng

- Tránh các điều kiện thuận lợi cho cơn đau xuất hiện, kiểm soát các yếu

tố làm bệnh nặng, làm khởi phát bệnh, làm tăng ngưỡng gây đau(hút thuốc, cơn tăng huyết áp, nhanh, béo phì v.v ) Không làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh xúc động mạnh (Streess), không để nhiễm lạnh

- Định kỳ đến kiểm tra tại cơ sở y tế

Trang 8

2.2 Đau ngực đơn thuần kèm theo thở nhanh, sốt nếu phải nằm lâu sau phẫu thuật: Nghĩ đến có thể bị viêm phổi, ứ tắc huyết phổi do nằm lâu:

nên đến bệnh viện để khám và chụp phổi

2.3 Đau ngực đột ngột tăng lên khivà khi gập người lại: Nghĩ đến một

số trường hợp sau: Thoát vị cơ hoành, co thắt thực quản Khi đó cần đến bệnh viện để được chẩn đoán, vì mỗi bệnh có thái độ điều trị khác nhau

- Thoát vị cơ hoành: Cần được theo dõi và cần phẫu thuật

- Đau do co thắt thực quản: Dùng thuốc giảm co thắt như Spasmaverin 40mg hoặc No-spa 40 mg, ngày 2-4 viên và thuốc giảm đau: Nhóm Paracethamol 500 mg (Efférangan Codein, Panadon 500 v.v ) Sau đó đến ngay bệnh viện để được khám và điều trị

2.4 Đau ngực cảm giác ở vùng thượng vị, xiên lên ngực kèm theo khó tiêu, đau xiên ra sau lưng, liên quan đến ăn uống: Nghĩ đến đau thuộc hệ tiêu

hoá: viêm, loét dạ dầy hành tá tràng (xem phần về đau dạ dầy - đại tràng)

2.5 Đau ngực một bên, sờ vào cảm giác đau rát: Có hai khả năng:

- Đau ngực một vùng, đau theo nhịp thở nghĩ đến: đau dây chằng và đau sụn sườn do va đập hoặc do thần kinh, do viêm: dùng thuốc giảm đau (Paracéthamol 500 mg, ngày4viên, nếu đau nhiều có thể dùng thêm Alaxan, Mobic 7, 5mg/viên v.v )

+ Chống viêm phù nề tại chỗ bằng các thuốc chống viêm, dầu xoa, dán băng dính thuốc

Cần đến bệnh viện khám, chụp XQ để loại trừ tổn thương thực thể và điều trị

- Đau một bên, kèm theo trên da dọc xương sườn có những nốt phỏng rất rát, sau đó những mụn vỡ ra và lan nhanh theo một bên thân thể theo đường dây thần kinh, nghĩ đến viêm dây thần kinh do virut (zona), bệnh thường diễn biến ít nhất 2 tuần: Cần đến khám bệnh để được chẩn đoán và điều trị Nếu không có điều kiện khám bệnh, tạm điều trị bằng các thuốc giảm đau, an thần; tại chỗ giữ sạch, không để mụn vỡ lan ra, cần phải chấm khô khi có những mụn vỡ; thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn thông thườngvà thuốc chống phù nề tại chỗ, thuốc giảm đau Nếu có điều kiện uống kháng sinh chống virut như Acyclovir 200mg/1 viên hoặc Zovirax 200mg/1 v ngày 4 viên trong 5 ngày đầu, bôi mỡ Acyclovir trực tiếp vào các nốt mụn hoặc chấm Xanh Methylene

Trang 9

- Có thể dùng thuốc y học dân tộc như: Giã 1 nắm gạo trộn với nước vo đắp vào vết giời leo Đậu xanh một nắm giẫ nhỏ trộn với nước bọt cơm đắp lên

Lá xoan leo một nắm rửa sạch giã nhỏ đắp lên

III- CHÓNG MẶT:

Chóng mặt là một triệu chứng chủ quan của người bệnh Người bệnh cảm thấy mọi vật chung quanh quay hoặc bản thân bị quay như đứng giữa một cơn lốc, đôi khi có cảm giác bồng bềnh như đứng trên thuyền, hoặc bị hẫng hụt, đi lại không vững hoặc khi đi như bị kéo lệch về một phía Có lúc cảm thấy nhà cửa đu đưa, giường chao đảo, mặt đất bập bềnh Một số cơn chóng mặt kèm theo nôn, buồn nôn, vã mồ hôi, tim đập nhanh, hồi hộp sợ hãi Cơn thường xẩy ra đột ngột, có thể diễn biến nhanh hoặc kéo dài Nguyên nhân của chóng mặt rất phức tạp, cần có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa và tiến hành một số xét nghiệm cần thiết Khi thấy có dấu hiệu chóng mặt có thể nghĩ đến:

3.1 Chóng mặt kèm theo yếu chân tay hoặc có cảm giác như kiến bò, nói khó, mờ mắt:

3.1.1 Nếu những dấu hiệu trên không thường xuyên: Nghĩ đến bệnh do

hẹp mạch máu não

Hẹp mạch máu não gây cơn thiếu máu thoảng qua, xẩy ra khi sự cung cấp máu động mạch đến não bị tắc tạm thời do có cục máu đông trong mạch máu, hoặc do co thắt mạch máu, do hẹp động mạch vì xơ vữa gây ra Cục máu đông

có thể xuất phát từ mạch máu của van tim Nếu là do co thắt mạch máu não triệu chứng sẽ không thường xuyên, mỗi cơn chỉ vài phút đến vài giờ Nếu do cục máu đông : bít không hoàn toàn triệu chứng sẽ không thường xuyên, nếu bít tắc hoàn toàn triệu chứng thường xuyên

- Triệu chứng của bệnh hẹp mạch máu não: Cơn thường xẩy ra đột ngột, tuỳ thuộc vào vị trí và thời gian bị tắc nghẽn của dòng máu đến não Cơn có thể kéo dài vài phút đến vài giờ Nếu kéo dài trên 24 giờ phải nghĩ đến đột quỵ (cơn thiếu máu thoảng qua có thể là dấu hiệu báo trước của đột quỵ) Bệnh nhân thấy xuất hiện triệu chứng yếu hoặc tê bại một tay hoặc một chân, nói khó, chóng mặt, nhìn mờ Sau mỗi cơn có thể bình phục trở lại hoàn toàn

Khi thấy những dấu hiệu trên: cần nằm nghỉ tại chỗ, đo huyết áp và theo dõi diễn biến của các triệu chứng, dùng thuốc hạ huyết áp nếu có huyết áp cao, thuốc dãn mạch Nếu có huyết áp thay đổi diễn biến kéo dài hoặc nặng hơn cần được đưa đến cơ sở y tế gần nhất để khám và làm các xét nghiệm chẩn đoán để xác định bệnh và điều trị

Trang 10

3.1.2 Nếu những dấu hiệu trên xẩy ra thường xuyên: Nghĩ đến tắc mạch

máu não hoặc vỡ mạch máu nhỏ: Cần được bác sĩ khám ngay

3.2 Chóng mặt - ngất xỉu: do nhiều nguyên nhân như:

- Do hệ thần kinh phó giao cảm tăng cường hoạt động quá mức làm chậm nhịp tim, giảm huyết áp gây hậu quả giảm lượng tuần hoàn máu lên não Ngất xỉu thường có triệu chứng báo trước như vã mồ hôi, buồn nôn hoặc nôn, chóng mặt, ù tai, sa sầm mặt mày Thường xẩy ra sau cơn Stress, sợ hãi, sốc, hoặc do thở không khí thiếu oxy

- Do hạ huyết áp tư thế: Hay gặp ở người đứng yên quá lâu, đứng dậy đột ngột, uống thuốc hạ huyết áp, dùng các thuốc giãn mạch

Xử trí: Khi thấy các dấu hiệu nói trên nên ngồi kẹp đầu giữa hai gối, hoặc nằm kê chân cao, nằm nghỉ 10-15 phút sẽ đỡ Nếu đang ở ngoài trời nắng, đưa vào ngay chỗ mát và cho nằm nghỉ

3.3 Chóng mặt kèm theo luôn cảm thấy có tiếng ồn trong tai hoặc cảm thấy nghễnh ngãng, nhức đầu: Nghĩ đến hội chứng mê đạo (tai trong)

trong đó bệnh thường gập là hội chứng rối loạn tiền đình (Meniere) Mê đạo là khoang chứa dịch thuộc tai giữa, có nhiệm vụ giữ thăng bằng cho cơ thể, vì vậy khi bị tổn thương sẽ có triệu chứng chóng mặt

- Nguyên nhân: Là bệnh của tai trong, thường chỉ bị một tai Bệnh do sũng dịch trong mê đạo (do rối loạn vận mạch, do rối loạn sản xuất và tiêu hao dịch trong tai, do dị ứng) Hội chứng này có xu hướng tự khỏi do tai trong được lành bệnh hay bị huỷ diệt, tuy chóng mặt có thể hết song người bệnh vẫn còn ù tai kéo dài và nghe kém

- Triệu chứng: Dấu hiệu chủ yếu là cơn chóng mặt xuất hiện đột ngột, có thể nặng đến mức làm bệnh nhân ngã quỵ Chóng mặt kèm theo buồn nôn, nôn,

có thể có rung giật nhãn cầu Bên tai bị bệnh có cảm giác nặng, ù tai, đau trong tai, khi mở mắt ra nhìn lên trần thấy quay cuồng Một cơn kéo dài vài phút đến vài giờ; giữa các cơn vẫn ù tai và nghênh ngãng

Thường người bệnh lo lắng, sợ hãi nhiều hơn là thực thể có tổn thương

- Điều trị : Khi gặp trường hợp này, người bệnh có thể điều trị qua 3 giai đoạn

- Giai đoạn 1: Điều trị triệu chứng chóng mặt từ 2-3 ngày, giảm và loại trừ các biểu hiện khó chịu:

Trang 11

+ Nằm yên, không cử động nhất là đầu Nằm nghiêng về phía không gây chóng mặt, nằm nơi yên tĩnh, ít ánh sáng.

+ Dùng thuốc chống nôn: Một trong các loại thuốc: Tanganil 500mg/1viên, Nautamin 90 mg/1 viên, Primperam 10 mg/1 viên, Sec 8 mg/1 viên, Degalon v.v ngày uống 2 đến 3 lần, mỗi lần 1 viên chia đều trong ngày

+ An thần: Diazepam (Seduxen 5 mg, Valium 5 mg/viên/ngày)

- Giai đoạn 2: Nâng đỡ cơ thể thường từ 10-15 ngày

+ Hoạt động nhẹ nhàng

+ Tiếp tục uống thuốc chống nôn

- Giai đoạn 3: Luyện tập

Mục đích của luyện tập là: làm cho tiền đình (bộ phận trong tai có chức năng cơ bản giữ thăng bằng) chịu đựng các thay đổi tư thế, dần dần hồi phục chức năng bình thường

Cách làm: Ngồi trên mép giường, nhắm mắt thư giãn, nghiêng đầu về một phía cho đến khi đầu nằm song song theo giường Giữ tư thế 30 giây, trả đầu từ

từ lại tư thế cũ, nhằm mắt, giữ trong 30 giây, sau lại làm về phía đối diện Lần đầu chỉ làm 3 lần động tác trên sau đó tăng dần lên trong mỗi buổi tập Những ngày sau tăng dần, ngày làm 2 lần (sáng, tối) kéo dài trong 4 - 5 tuần

- Sau khi đỡ chóng mặt nên đến bệnh viện để được bác sĩ khám, chẩn đoán xác định bằng khám tai, mũi, họng, chụp X quang xem có bị tổn thương ở đâu để có thể điều trị một cách cơ bản

- Khi xuất hiện chóng mặt đột ngột, trước mắt:

* Nằm nghỉ ngay, nhắm mắt lại, hạn chế cử động đầu cũng như toàn thân

* Dùng các thuốc chống nôn một trong các loại thuốc sau: Tanganil 500 mg/1 viên, Primperam 10 mg/1 viên, Nautamin 90 mg/1 viên, Dégalon, Sec 8 mg/1 viên, ngày uống 2 đến 3 lần mỗi lần 1 viên, chia đều trong ngày

* UốngVitamin nhóm B

- Viêm mê đạo còn do vi khuẩn hoặc virut gây ra, gặp khi mắc bệnh cúm, sởi, quai bị, khi viêm tai giữa được điều trị không tốt, nhất là khi bị viêm tai xương chũm có Cholesteatom

+ Điều trị:

- Nếu do virut thường tự khỏi, dùng một trong các thuốc chống nôn sau

Trang 12

v.v ), có thể dùng thêm các thuốc kháng histamin (Péritol 5 mg, Clopheniramin

- Điều trị: Để có chẩn đoán chính xác cần được đến bệnh viện làm các xét nghiệm Trước mắt tạm thời điều trị:

+ Nghỉ ngơi ngay khi chóng mặt

+ Dùng thuốc giảm đau Paracethamol, Alaxan, Viên số 2 v.v và các thuốc giãn cơ: Coltramyl 4 mg, ngày 2 viên, Myonal 50 mg, ngày 2 viên Tập thể dục và vật lý trị liệu Các thuốc giảm đau thường ảnh hưởng đến dạ dầy nên cần thận trọng khi sử dụng thuốc

3.5 Chóng mặt nhức đầu thường xuyên vào buổi sáng, buồn nôn và nôn kèm theo triệu chứng thần kinh khhu trú hoặc có liệt: Nghĩ đến u não,

xuất huyết dưới màng cứng, cơn cao huyết áp v.v Cần đến bệnh viện khám bệnh càng sớm càng tốt

U não là sự tăng khối lượng bất thường trong não Tất cả các khối u ở não

dù lành tính hay ác tính đều nguy hiểm, vì khối u phát triển dần sẽ làm tăng áp suất trong não và chèn ép các vùng não kế cận

U não có thể nguyên phát, có nguồn gốc từ các mô trong hộp sọ hoặc u di căn (thứ phát của một bệnh ung thư ở cơ quan khác)

U nguyên phát thường không rõ nguyên nhân, khoảng 60% là u tế bào thần kinh đệm (không ác tính), xuất phát từ nhu mô não Các u nguyên phát thường là u màng não, u thần kinh thính giác, u tuyến yên v.v thường lành tính

Trang 13

U thứ phát hay là u di căn, thường ác tính và gặp u ở nhiều cơ quan

3.6 Chóng mặt, đau đầu, lú lẫn, choáng váng, có thể bại hoặc liệt nhẹ một bên trên những người cao huyết áp, có tiền sử bị sang chấn vùng đầu

(ngã, bị vật rơi vào đầu v.v )v.v : Nghĩ đến tụ máu não hoặc xuất huyết dưới

màng cứng, xuất huyết ngoài màng cứng

Đó là hiện tượng chảy máu não ở khoảng giữa màng cứng (lớp màng cứng ngoài của vỏ não) và màng nhện (lớp màng não giữa) Máu thoát ra tạo thành một khối máu tụ lại trong sọ

Nguyên nhân là do máu chảy chậm hàng tuần, hàng tháng, đến khi tạo thành cục máu tụ lớn, đủ để gây tăng áp lực sọ não và chèn ép mô não

Xử trí: Đến ngay bác sĩ để khám bệnh và chẩn đoán Tuỳ theo tổn thương

có thể: Tiếp tục theo dõi tại bệnh viện Nếu cần có thể phải mổ như: Khoan sọ dẫn lưu máu tụ, khâu mạch máu bị rách

IV- BAN SẨN NGỨA:

4.1 Ban sẩn ngứa ở người có tuổi: Sẩn ngứa ở người có tuổi rất đa

dạng Ngứa có khi chỉ đơn thuần không có những tổn thương và triệu chứng khác kèm theo, có khi lại do một bệnh của toàn thân

Da của người có tuổi thường khô do tuyến bã, tuyến mồ hôi giảm bài tiết, các sợi tạo keo và sợi chun đã bắt đầu thoái hoá làm cho da mỏng, nhăn nheo, khô ráp Sức đề kháng của da giảm do chức năng thải độc kém, trong khi đó gan, thận nếu bị suy sẽ không lọc được các chất độc Khi đó các chất độc vào máu và ra ngoài da gây ngứa Do đó khi bị sẩn ngứa cần đi khám bệnh để tìm nguyên nhân điều trị cho kết quả

- Triệu chứng lâm sàng: Một số đám da xẫm mầu, nền hơi cộm, có khi có những vết xước do ngứa gãi gây nên Có khi lại là những nốt sần bằng hạt kê, hạt đậu nhỏ tập trung thành mảng, da dày cộm và hằn cổ trâu Ngứa thường kéo dài hàng tháng, hàng năm Ngứa nhiều về đêm làm cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi Ngứa có thể khu trú một vùng, cũng có thể toàn thân nhất là hay gập ở vùng da mỏng

- Điều trị: Để điều trị khỏi phải tìm nguyên nhân, nên đến cơ sở y tế để kiểm tra gan, thận, bệnh đái đường, nhiễm ký sinh trùng v.v ) Trước mắt tạm

xử trí:

+ Tránh chà sát, tránh gãi

Trang 14

+ Chống táo bón: Ăn rau các loại, hoa quả, chuối, khoai v.v và không ăn những chất kích thích (ớt, tiêu, gừng, rượu, bia, cà phê và thuốc lá ).

+ Tắm rửa: hạn chế dùng nước nóng (chỉ dùng nước ấm) vì nước nóng làm khô da và sà phòng loại có nhiều chất sút Tắm bằng nước các lá cây (hương nhu, dầu sả, bưởi v.v )

+ Khi da nứt khô, ngứa: Dùng thuốc mỡ chống nẻ (Vaselin v.v ) mỡ Acid salicylic 1-2% ngày bôi 1 - 2 lần

Có hai loại viêm da thần kinh: Viêm da thần kinh khu trú, viêm da thần kinh lan toả

- Triệu chứng của viêm da thần kinh: Ngứa là dấu hiệu đặc biệt của viêm

da thần kinh Do gãi làm cho thâm nhiễm, cộm, xám màu, trên mặt tổn thương

có nhiều sẩn dẹt Đám thâm nhiễm thành hình tròn hay bầu dục, ranh giới rõ rệt Vùng trung tâm dày cộm, xẫm màu, nhiều sẩn dẹt bóng Vùng giữa có nhiều sẩn nhỏ đứng sát nhau, da xẫm màu và cộm Vùng ngoài da nhạt hơn, độ cộm ít hơn Thường đối xứng, tiến triển mãn tính Tiến triển của viêm da thần kinh thường dai dẳng, có khi gắn với người bệnh suốt cả cuộc đời

- Điều trị: Vì là bệnh khó điều trị nên đến cơ sở y tế để khám, nếu tìm được nguyên nhân sẽ điều trị hiệu quả tốt nhất

+ Trước tiên cần điều trị toàn diện: tránh lo âu, không thức khuya, thể dục hàng ngày Hạn chế tắm nước nóng và xà phòng, tránh kỳ cọ chà sát

+ Ăn nhiều rau và quả tươi, không dùng các chất dễ bị kích thích như rượu, bia, thuốc lá, cà phê, ớt, hạt tiêu Uống chè nhân trần, khổ qua, thanh lương

Trang 15

+ Dùng thuốc an thần, chống ngứa: Diazepam, Tranxen, Clopheniramin 4mg/v, Péritol 5mg/v ngày 2 lần, Diazepam và các Vitamin: Vitamin E, B, C.

+ Nếu có điều kiện đến bệnh viện điều trị: Dùng tia Laser, tia cực tím, áp nitơ lỏng

+ Thuốc bôi tại chỗ cần rất thận trọng vì nếu không có thể làm cho bệnh nặng hơn

4.3 Sẩn ngứa có mụn nước ở lòng bàn tay, bàn chân, các kẽ ngón tay, chân: Nghĩ đến bệnh Tổ đỉa (Dyshidrose)

Bệnh tổ đỉa thực sự là một bệnh Eczema khu trú Nguyên nhân có thể do đụng chạm, tiếp xúc với một số loại hoá chất, do các bệnh nội khoa (bệnh dạ dày

tá tràng, gan mật, nhiễm khuẩn sâu hay do nấm kẽ v.v )

- Triệu chứng: Thường bệnh tổ đỉa rất ngứa Biểu hiện bằng những mụn nước nhỏ bằng đầu ghim hay bằng hạt đậu xanh nằm sâu ở lớp dưới thượng bì lòng bàn tay, bàn chân Mụn có thể vỡ thành vết trợt, tự khô để lại vẩy da màu vàng đục Sau khi vẩy bong để lại một lớp da mỏng màu hồng, nhìn kỹ tổn thương có thể thấy một số mụn lấm tấm Lúc đầu mụn chứa dịch trong, do ngứa gãi nên để nhiễm trùng thành những mụn mủ Bàn tay và chân bị viêm nhiễm gây sưng tấy, chảy nước và có thể có hạch đau ở lân cận Đau mỏi toàn thân, mệt, sốt và bệnh hay tái phát nhiều đợt

Ngoài ra còn có thể tổ đỉa khô: Lòng bàn tay, chân có điểm hoặc đám bong lớp sừng thành từng đám vằn vèo, chỗ da bong để lại màu đỏ, mỏng như giấy bóng

- Điều trị: Bệnh tổ đỉa thường rất dai dẳng Bệnh có thể chữa được khi tìm được nguyên nhân gây bệnh Còn chữa triệu chứng nếu khỏi chỉ là tạm thời và

Trang 16

4.4 Ban sẩn ngứa, ban đỏ, ranh giới rõ xẩy ra đột ngột sau khi ăn thức ăn lạ, uống thuốc, thời tiết thay đổi, ra gió, dùng các nước sà phòng lạ

v.v : Nghĩ đến ban dị ứng.

Dị ứng do nhiều nguyên nhân gây nên, do đó phải tìm nguyên nhân để điều trị và loại bỏ những nguyên nhân gây ra Bị dị ứng là do phóng thích Histamin, làm thoát dịch từ các mao mạch nhỏ và mô da gây nổi ban và ngứa

- Triệu chứng: Ban sẩn ngứa thường thành mảng nổi gờ lên mặt da, màu trắng hoặc vàng bao quanh là viền đỏ Sẩn có thể có kích thước khác nhau, có thể hợp lại thành các mảng lớn mỡ cao, bờ méo mó Sẩn ngứa mọc bất cứ chỗ nào trên cơ thể Thường mất đi sau vài giờ, có thể kéo dài Nếu bị nặng có thể có phù toàn thân, khó thở kèm theo nhiều khi phải cấp cứu

- Điều trị: Nếu những triệu chứng diễn biến nhanh và nặng cần đến cơ sở

y tế để được cấp cứu Nếu chỉ là ban ngứa ngoài da khi đó sẽ:

+ Tránh xa và ngừng sử dụng những nguyên nhân đã gây ra dị ứng

+ Xoa trên da dung dịch kháng Histamin, bột Tall

+ Uống thuốc chống dị ứng: Clopheniramin 4mg/1v, Péritol 5mg/1v, Clarityne v.v Uống nước râu ngô với đường, nước cam chanh

4.5 Sẩn ngứa khắp người, đặc biệt ở kẽ ngón tay chân, hay ngứa về đêm: Nghĩ đến ghẻ.

Ghẻ là bệnh do ký sinh trùng gây ra Bệnh dễ lây qua tiếp xúc nên ở tập thể dễ thành dịch nhỏ

- Triệu chứng: Thấy những hang do cái ghẻ đào giữa các kẽ ngón tay, cổ tay, cơ quan sinh dục, nách, bàn chân v.v Ngứa về đêm, gãi để lại xây sát

- Điều trị: + Tắm rửa sạch, tránh gãi làm lây lan

+ Nếu trong nhà có người bị ghẻ, phải điều trị cả gia đình và luộc quần áo, chăn màn

+ Bôi Lindan, không bôi lên đầu

4.6 Ban ngứa có các nốt đỏ rải rác hoặc những nốt nhỏ tập trung thành vùng nhỏ: Nghĩ đến do côn trùng đốt.

Một số ít côn trùng (Ruồi, ong, kiến, muỗi v.v ) có khả năng chích nọc độc của chúng có chứa chất gây viêm làm đau tại chỗ, đỏ, sưng trong 48 giờ

Có người bị dị ứng với nọc độc côn trùng, sau lần đốt đầu tiên, hệ thống miễn dịch được mẫn cảm, lần sau bị đốt sẽ gây sốc phản vệ: Nổi ban, ngứa,

Trang 17

choáng váng, sưng họng và mặt Nếu nặng thì rét, buồn nôn, khó thở, truỵ tim mạch và hậu quả gây suy thận v.v

- Điều trị: trước mắt điều trị ngay

+ Rửa vết đỏ bằng xà phòng, đắp gạc lạnh để giảm đau

+ Nếu có triệu chứng sốc phản vệ: Cần đưa cấp cứu ngay, trước khi đưa đi nếu có khó thở tiêm Ephêdrin, tiêm hoặc uống thuốc chống dị ứng

4.7 Ban ngứa, có vòng đỏ, có vẩy: Nghĩ tới nhiễm nấm.

- Triệu chứng: Ban ngứa có vẩy có hình tròn, thường ở bàn chân, da đầu, gáy, thân mình, háng

- Điều trị: + Bôi tại chỗ thuốc diệt nấm (ASA, BSI v.v )

+ Uống thuốc diệt nấm Griseofulvin 500mg/v, Nisoral 200mg/v, Nystatin

500 000-1 000 000 đơn vị/viên

V- PHÁT BAN KÈM THEO SỐT: Da nổi ban, mụn nước, kèm theo sốt (sốt ≥ 38o)

5 1- Ban chấm đỏ, hơi gồ rải rác khắp người chủ yếu ở mặt ngực bụng lưng, ngứa rồi biến thành mụn nước kèm theo sốt hay gập ở trẻ em và người lớn ở vùng cao về vùng: Nghĩ đến thuỷ đậu.

Thuỷ đậu là do virus Varicella zoster (thuộc họ Herpes zoster) gây ra Ban thường xuất hiện trên mặt sau lan ra toàn thân Khi bị mắc bệnh thường để lại miễn dịch lâu dài, không mắc lần hai Lây qua đường hô hấp, lây mạnh vào ngày thứ 2 trước khi phát ban cho đến khi nốt mụn đậu bay hết vì vậy dễ thành dịch

- Triệu chứng bệnh: Ban đầu có thể có sốt hoặc không sốt, các nốt ban nổi

ở sau tai, đầu, nách, thân mình, cánh tay, chân và cả trong miệng Sau 12-48 giờ ban nổi lên tạo thành từng đám vết nhỏ, ngứa và vài giờ sau thành mụn nước có kích thước 2-3 mm Sau đó mụn nước khô và bong vẩy Nếu gãi dễ nhiễm khuẩn

sẽ tạo thành mụn mủ

Đặc điểm của ban thuỷ đậu: Mụn mọc không theo thứ tự, trên cùng một vùng các mụn có thể có tuổi khác nhau (mụn mới mọc: nốt đỏ; mụn nước; mụn mủ; mụn khô vẩy; mụn đã bong vẩy) Sau khi bong vẩy không để lại sẹo

- Điều trị:

+ Cách ly tại nhà

+ Bảo vệ mụn không để vỡ, không gãi để tránh gây nhiễm khuẩn Chấm các mụn nước bằng thuốc Xanh Methylen, Milian

Trang 18

+ Thuốc điều trị triệu chứng: chống ngứa (Clopheniramin 4 mg, Peritol 5

mg, Histalong 5 mg, Siro Phénergan, Theralène 5mg) Nếu sốt cho uống thuốc

hạ nhiệt Khi sốt cao kèm theo viêm họng, nhiễm khuẩn vết mủ có thể dùng kháng sinh để chống bội nhiễm

Hiện nay đã có vacxin để phòng bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng

5.2 Da có nốt chấm hồng kèm theo sưng hạch sau tai, hai bên cổ, sốt:

- Điều trị: Chủ yếu là chữa triệu chứng

+ Nếu hạch viêm xưng đau nhiều: Dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng

+ Hạ sốt, giảm đau: Dùng các thuốc có Paracétamol 500 mg ngày2-3 lần.+ Chống dị ứng: Dùng một trong các thuốc kháng histamin như Clopheniramin 4 mg, Péritol 5mg ngày 2-3 lần v.v

+ Bổ sung nước, điện giải do sốt cao: uống Hydrit, Oresol pha với nước đun sôi để nguội

5.3 Da nổi các chấm hoặc mảng tím kèm theo nôn, nhức đầu, sốt cao,

sợ ánh sáng và cổ gập hơi khó: Nghĩ đến viêm màng não mủ (xem trong

chương sốt) cần đưa ngay đến bệnh viện để được làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định, điều trị sớm để giảm tử vong và hạn chế di chứng, cách ly để không lây ra xung quanh

5.4 Da nổi chấm tím hoặc thành mảng tím một cách tự nhiên như va đập kèm theo sốt, chảy máu cam, chảy máu chân răng và lâu cầm máu, cơ thể gầy yếu, thiếu máu cấp: Nghĩ đến bệnh về máu Cần đến bệnh viện khám

ngay để có chẩn đoán và điều trị kịp thời vì dễ gây tử vong

VI- TÁO BÓN ĐƠN THUẦN HOẶC TÁO BÓN VÀ ĐI LỎNG CÓ NHẦY HOẶC CÓ MÁU XEN KẼ NHAU:

Táo bón và ỉa chẩy rối loạn tiêu hoá do nhiều nguyên nhân gây ra, có khi nguyên nhân từ đại tràng gây nên, cũng có thể nguyên nhân không từ đại tràng

Trang 19

hoặc từ nguyên nhân khách quan gây ra Vì vậy cần tìm nguyên nhân để điều trị theo nguyên nhân gây bệnh sẽ có kết quả.

6.1 Táo bón không do nguyên nhân từ đại tràng.

- Táo bón do ăn uống: Ăn quá thiếu chất xơ và uống ít nước.

Để khỏi táo bón cần ăn tăng chất xơ (khoai lang, các loại rau v.v ) và uống nhiều nước

- Táo bón do thói quen sinh hoạt: Không luyện tập đi ngoài hàng ngày,

làm việc ngồi lâu hoặc đi công tác nhiều v.v

Chỉ cần sinh hoạt điều độ là trở lại bình thường

- Táo bón do dùng một số thuốc dễ gây táo kéo dài (thuốc phiện, an thần, thuốc ngủ, thuốc có chất sắt, tanin v.v )

Chỉ cần ngừng thuốc là khỏi

- Táo bón do bị suy tuyến giáp, tăng canxi máu, hạ kali máu v.v

Khi đó cần tìm nguyên nhân để điều trị

- Táo bón do bị sốt cao: Khi sốt cao thường dẫn đến mất nước nên gây táo

do đó cần uống nước và ăn hoa quả

6.2 Táo bón có nguyên nhân từ đại tràng:

6.2.1 Táo bón kèm theo đau rát hậu môn khi đi ngoài, có thể có ít máu tươi bọc ngoài phân hoặc cuối bãi, người bệnh có cảm giác sợ mỗi khi muốn đi ngoài: Nghĩ đến nứt hậu môn.

- Điều trị: Đặt đạn vào hậu môn (vì đạn hậu môn có kháng sinh và có chất làm mềm, chống viêm loét), uống đủ nước, ăn thêm rau và hoa quả

6.2.2 Táo bón kèm theo rối loạn tiêu hoá, đau hai bên bụng và vùng dưới hố chậu hai bên hay xẩy ra vào buổi sáng: nghĩ đến Hội chứng đại tràng

kích thích hay còn gọi là bệnh đại tràng chức năng

Bệnh đại tràng kích thích là bệnh hoàn toàn thuộc về chức năng như co bóp, tiết dịch của thành đại tràng Bệnh có những rối loạn giống như viêm đại tràng nhưng không có viêm loét tại đại tràng Hội chứng đại tràng kích thích hay xẩy ra ở những người bị mổ cũ về bụng(viêm phúc mạc sau viêm ruột thừa, viêm tử cung và phần phụ, mổ đẻ, viêm túi mật, khâu ruột ); ở những người dễ cảm xúc, có tình trạng thần kinh dễ nhậy cảm và hay có rối loạn thần kinh thực vật (ra mồ hôi chân tay, nhức đầu cơn)

Trang 20

- Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng chức năng đóng vai trò chủ yếu với hai biểu hiện chính là rối loạn đại tiện và đau bụng Đau bụng từ mức độ nhẹ đến nặng: ậm ạch, đầy hơi, tức bụng, có khi đau quặn, có khi khu trú ở vùng manh tràng giống như một viêm ruột thừa hoặc có tiếng óc ách khi sờ nắn Nội soi đại tràng và trực tràng thấy niêm mạc có thể bình thường, tiết nhiều dịch nhưng không thấy chẩy máu hoặc loét, xước Chụp đại tràng có baryt có thể bình thường hoặc đại tràng hình ống hoặc có nhiều rãnh ngang ruột kết được mô

tả bằng thuật ngữ chồng đĩa Chỉ được coi là rối loạn chức năng đại tràng sau khi

đã loại trừ các bệnh viêm đại tràng do vi khuẩn, virut, kí sinh trùng v.v ; loại trừ các bệnh thực tổn ở đại trực tràng như ung thư, polip, bệnh Crohn, lao hồi manh tràng

Hội chứng đại tràng kích thích có hai thể: thể táo bón và thể đi lỏng

- Thể táo bón: Đau lâm râm hai bên bụng dưới ở vùng hố chậu trái, hố chậu phải và hai bên mạn sườn Thỉnh thoảng ruột cuộn nổi cục ở bụng một lúc rồi tản đi hoặc chuyển chỗ khác dọc theo khung đại tràng

+ Vài ngày đi ngoài một lần, phân khô cứng Trước khi đi ngoài bụng rất đau nhất là ở vùng bụng dưới bên trái do co thắt đại tràng xích ma và đoạn đại tràng lên ở bên phải, đại tiện xong thường hết đau

- Thể đi lỏng: Thường đau vào sáng ngủ dậy và đi ngoài phân lỏng nhiều khi có nhày hoặc toàn nhầy Ngày đi có thể vài lần, song thường tập trung vào buổi sáng đến trưa Đi lỏng kéo dài có thể hàng năm làm người bệnh khó chịu nhưng cơ thể không bị suy sụp

+ Bệnh thường xẩy ra khi ăn các thức ăn hơi khác (cá, mỡ, ăn thức ăn nguội hơi ôi v.v ) sau vài giờ đi lỏng có khi đi lỏng hàng chục lần và đau bụng, cũng có khi đi lỏng do bị lạnh, cũng có khi do ăn sữâ Có thể đi nhiều lần trong ngày hoặc vài ngày rồi tự khỏi

- Thể vừa đi lỏng vừa đi táo xen kẽ: Hết đợt đi lỏng lại một đợt đi táo

- Điều trị: Vì cơ chế bệnh sinh chưa rõ, yếu tố tâm lí- thần kinh đóng vai trò quan trọng nên chỉ dùng thuốc điều trị triệu chứng Ăn uống theo chế độ thích hợp nhưng cố gắng trở về dần chế độ bình thường để đảm bảo dinh dưỡng Không lạm dụng thuốc kháng sinh đường ruột và các thuốc nhuận tràng để tránh biến một bệnh chức năng thành một bệnh thực thể

+ Thể táo bón: Ăn nhiều chất xơ, có thể thỉnh thoảng dùng Paraffin, dầu lạc, ôliu

Trang 21

+ Thể đi lỏng: Khi đi lỏng nhiều có thể dùng các thuốc cầm ỉa như (Ercefuryl 200mg ngày 2-4 viên, Smecta 3g ngày 2-3 gói, Imodium 2 mg ngày 4-6 viên Nếu chỉ đi lỏng thông thường không cần thuốc cầm đi lỏng.

Các thuốc giảm co thắt dùng một trong các loại sau: Spamaverin 40 mg, No-spa 40 mg, Spasfon Lyon, Visceralgin, Débridat 100 mg, ngày 2-4 viên, mỗi lần 1 viên

Nếu ỉa có mất nước: uống Hydrit hoặc Orêzol pha vào nước đun sôi để nguội

Với hội chứng đại tràng kích thích phần nhiều khả năng do thể tạng, không dẫn tới viêm, loét, ung thư nhưng không chữa khỏi hoàn toàn, chủ yếu là chữa triệu chứng

6.2.3 Rối loạn tiêu hoá: khi táo khi đi lỏng, khi có nhầy máu do ăn thức

ăn lạ hoặc ôi thiu v.v nghĩ đến viêm đại tràng Viêm đại tràng có thể cấp và thể mạn tính, ở phần này chỉ nói về viêm đại tràng mạn tính

Viêm đại tràng mạn tính có khi do nhiễm kí sinh trùng, nhiễm khuẩn hoặc

do mẫn cảm, tự miễn và có bệnh hiện nay vẫn chưa rõ nguyên nhân

- Triệu chứng của viêm đại tràng chủ yếu biểu hiện của một viêm ruột: đau bụng, ỉa chẩy rối loạn tiêu hoá hoặc như một hội chứng lị Bệnh do nhiều nguyên nhân nên mỗi nguyên nhân sẽ có những triệu chứng đặc trưng do đó cần đến bệnh viện khám để tìm nguyên nhân điều trị sẽ có kết quả

6.3 Táo bón kéo dài xen kẽ với ỉa chảy, phân khuôn nhỏ, dây máu, mót rặn, đau bụng, có lúc đi ra máu, toàn thân gầy sút nhanh: Khi đó nghĩ

đến ung thư đại tràng và ung thư trực tràng cần đi khám để được chẩn đoán và

xử trí sớm

VII- KHÀN TIẾNG:

7.1 Đột nhiên xuất hiện khàn tiếng trong vòng 3 ngày:

7.1.1 Khàn tiếng kèm theo sốt, viêm họng: Thường nghĩ tới viêm thanh

quản kèm theo viêm giây thanh âm

Viêm thanh quản thường do virut hoặc do vi khuẩn gây nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp hoặc do bị cảm lạnh, do dị ứng thuốc và do phấn hoa gây nên

- Triệu chứng của viêm thanh quản cấp: Khản tiếng là triệu chứng nổi bật,

có thể mất tiếng hoàn toàn Ngoài ra gây đau và khó chịu trong họng nhất là khi nuốt, ho khan Nếu nguyên nhân do virut hoặc vi khuẩn thường kèm theo sốt,

Trang 22

- Điều trị:

+ Nghỉ ngơi, tạm nghỉ nói hoàn toàn hoặc hạn chế nói to

+ Tránh xa các tác nhân gây khàn tiếng như do dị ứng như thuốc, phấn hoa, cảm lạnh v.v

+ Giữ cho cổ họng ấm, không bị khô (súc miệng nước muối, xông họng v.v )

+ Giảm phù nề thanh quản: có thể dùng một trong các thuốc như: α Chymotrypsin, Danzen 5mg, Xạ can v.v

+ Nếu có sốt: Hạ sốt bằng các thuốc nhóm Paracethamol (Efferalgan C, Efferalgan codein, Panadol v.v )

+ Nếu có nhiễm khuẩn: Dùng kháng sinh chủ yếu là kháng sinh đường hô hấp như Rovamycin 3MUI, ngày 2-3 viên, Erythromycin 250 mg, ngày 4 viên v.v

+ Nếu do dị ứng: Dùng các thuốc chống di ứng như: Péritol 4 mg, Cloféniramin 4 mg, Histalong v.v

Nếu điều trị sau 3-4 ngày không đỡ, đến bác sĩ khám

7.1.2 Khàn tiếng sau khi nói và la hét nhiều: Nghĩ đến viêm thanh quản

do nói nhiều Khi đó chỉ cần nghỉ ngơi, hạn chế nói, ngậm chanh, súc miệng nước muối

Uống thuốc chống phù nề: Alpha Chymotrypsin, Danzen 5mg v.v

7.1.3 Khàn tiếng sau một stress (căng thẳng, lo âu đột ngột):

Khàn tiếng này thường xẩy ra do yếu tố thần kinh bị tác động đột ngột

Xử trí: - Nghỉ ngơi, tránh lo âu, có thể uống thuốc an thần

- Dùng các Vitamin nhóm B, C

- Sinh hoạt bình thường dần dần sẽ trở lại bình thường, không nên

để mất tiếng lâu, cần tập nói sớm

7 2- Khàn tiếng ở người trên 40 tuổi:

Khàn tiếng kèm theo tóc khô, luôn cảm giác gai lạnh, táo bón, ăn ít song vẫn tăng cân, bị mệt không có lý do: Nghĩ đến nguyên nhân từ tuyến giáp do nhược tuyến giáp hoặc do nhược giáp do sau mổ cắt tuyến giáp

- Nguyên nhân nhược tuyến giáp:

Trang 23

+ Đa số suy giáp là do cơ thể tạo kháng thể chống lại chính tuyến giáp, làm giảm sản xuất nội tiết tố tuyến giáp.

+ Một số do cắt bỏ một phần tuyến giáp hoặc dùng Iode đồng vị phóng xạ

để điều trị tuyến giáp

- Triệu chứng nhược tuyến giáp: Bệnh suy tuyến giáp hay gặp ở phụ nữ:+ Người bệnh thường xuyên mệt không rõ nguyên nhân

+ Ngủ nhiều, yếu cơ, tim đập chậm

+ Da khô, tróc vẩy, rụng tóc, béo lên nhanh

+ Nếu ho: dùng thuốc ho, thuốc long đờm

+ Chống phù nề: Dùng α Chymotripsin, Danzen 5mg, ngậm chanh muối

7.4 Khàn tiếng xuất hiện từng đợt tái đi tái lại vài ba lần trong 6 tháng: Nghĩ đến u thanh quản

- U thanh quản thường là u ác tính của thanh quản U thanh quản chiếm 2% các loại ung thư Thường xẩy ra ở người nghiện thuốc lá nặng hoặc nghiện rượu, ở người trên 60 tuổi

- Triệu chứng của u thanh quản:

+ Khàn tiếng là một triệu chứng nổi bật nếu u nằm ngay trên dây thanh

âm U mọc ở các nơi khác trong thanh quản thường không gây triệu chứng nên

Trang 24

- Chẩn đoán: Dựa vào soi thanh quản và sinh thiết xác định tính chất của u lành hay u ác tính.

- Điều trị: Khi thấy triệu chứng khàn tiếng như trên cần đến bệnh viên ngay để được chẩn đoán xác định và có phương pháp điều trị cơ bản sớm Điều trị theo chỉ định của bác sĩ

+ Nếu u còn bé ở dây thanh âm có thể khỏi tới 95% sau điều trị tia xạ hoặc Laser

+ Nếu khối u lớn có thể phải phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần hoặc bán phần

+ Nếu u đã lan ra ngoài thanh quản: Điều trị tạm bằng tia xạ hoặc hoá trị liệu để giảm triệu chứng và chậm tiến triển của u

VIII- CẢM GIÁC TÊ VÀ KIM CHÂM:

8.1 Tê hoặc như kim châm sau khi ngồi lâu hoặc khi ngủ dậy:

Nguyên nhân do dây thần kinh bị chèn ép do ở lâu một tư thế gây thiếu máu nuôi dưỡng dây thần kinh Thường trở lại bình thường sau vài phút

Do đó khi đứng dậy nên vận động nhẹ nhàng một lúc rồi hãy đi lại

8.2 Tê ở hai tay kèm theo cổ có cảm giác cử động không mềm mại:

Nghĩ đến do thoái hoá các khớp giữa các đốt sống cổ, còn gọi là bệnh hư xương sụn cột sống vùng cổ

Bệnh có thể gập từ tuổi trưởng thành, song thường gặp ở người già hoặc người sau chấn thương vùng cổ

- Triệu chứng: Đau và cứng cổ do áp lực đè lên dây thần kinh đi qua giữa các đốt sống cổ có bị bệnh làm cho đau tay, đau vai và tê đau nhức bàn tay, nắm tay không chặt Các triệu chứng trên có khi chỉ rất nhẹ, cảm giác khó chịu, xoay đầu choáng váng, đứng không vững, nhìn đôi, nhức đầu do mạch máu lên não bộ

Trang 25

Chú ý các thuốc giảm đau và chống viêm đều ảnh hưởng đến dạ dày nên thận trọng với người có tiền sử dạ dầy và bao giờ cũng uống sau ăn.

+ Nếu có điều kiện điều trị vật lý trị liệu, xoa bóp bấm huyệt

- Chẩn đoán: Do lượng xung động thần kinh dẫn truyền qua thần kinh giữa đến các cơ bàn tay

- Điều trị: Cần đến khám bác sĩ để chẩn đoán và chỉ định điều trị

+ Nhiều khi phải đặt tay vào máng bột vào ban đêm để giảm đau

+ Nếu đau nhiều: Theo chỉ định của bác sĩ có thể tiêm Corticoid vào dây chằng cổ tay, song cần do các bác sĩ chuyên khoa tiêm trực tiếp để đảm bảo an toàn và kết quả

Nếu cần phải phẫu thuật cắt dây chằng để giải áp cho dây thần kinh giữa làm giảm đau

8.4 Tê và kim châm ở nửa người kèm theo mờ mắt, nói lú lẫn và đôi khi bại nhẹ nửa người, chóng mặt sau cơn các triệu chứng mất hoàn toàn:

Nghĩ đến thiếu máu não

- Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu não, ở đây nói về cơn thiếu máu não thoảng qua Cơn thiếu máu thoảng qua là do sự cung cấp máu động mạch đến não bộ tắc tạm thời nguyên nhân là một phần nhỏ của cục máu đông trong lòng máu hoặc do ép động mạch vì bị xơ vữa Cục máu đông có thể xuất phát từ mạch vành của tim hoặc từ tim

Sự ngừng cung cấp máu tạm thời tới một phần của não, gây giảm sút tạm thời thị giác, ngôn ngữ

Trang 26

- Triệu chứng: Thường xẩy ra đột ngột, tuỳ thuộc vào vị trí và thời gian bị tắc của dòng máu đến gâybại nửa người hoặc 1 tay, 1 chân; mất ngôn ngữ, choáng váng, mắt nhìn mờ Sau cơn, các triệu chứng mất đi, người bệnh hoàn toàn trở về bình thường.

- Chẩn đoán: Để chẩn đoán chính xác và loại trừờng hợp tổn thương não

và mạch máu não cần chụp cắt lớp (CT), siêu âm Doppler nếu có điều kiện chụp cộng hưởng từ

- Điều trị: Nếu được xác định là cơn thiếu máu thoảng qua, có thể điều trị:+ Nghỉ ngơi, tránh căng thẳng

+ Dùng Aspegic liều nhỏ để phòng đông máu, nếu có rối loạn mỡ trong máu cần điều trị kết hợp

+ Khám bệnh để chẩn đoán xác định và theo dõi phòng bệnh lâu dài

8.5 Tê đầu ngón tay, xanh tái khi trời lạnh hoặc cho tay vào nước lạnh, bàn tay trở lại hồng hào khi được ấm bàn tay: Nghĩ đến bệnh Raynaud

hoặc hiện tượng Raynaud

- Bệnh Raynaud là bệnh mạch máu, khi tiếp xúc với môi trường lạnh thường các mạch máu nhỏ ở ngón tay, ngón chân co thắt đột ngột gây tím đầu ngón nhất là ngón tay Bệnh thường gặp ở phụ nữ

- Triệu chứng: Khi tiếp xúc trời lạnh, đầu ngón tay ngón chân trắng bệch

ra do hiện tượng co mạch, sau đó dòng máu chảy chậm đầu ngón tay ngón chân

có màu xanh Khi làm ấm trở lại, lưu thông máu hồi phục, đầu chi đỏ trở lại

- Điều trị: Đến khám bác sĩ để được chẩn đoán và chỉ định điều trị như:+ Sưởi ấm đầu ngón chân tay khi trời trở lạnh

+ Dùng thuốc giãn mạch

+ Nếu có hút thuốc lá: ngừng hút thuốc

+ Nếu bệnh thường xuyên xẩy ra và bệnh nặng: Đến khám bác sĩ để xin ý kiến về xử trí thần kinh giao cảm

- Hiện tượng Raynaud:

Hiện tượng Raynau thường do xơ cứng mạch máu, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh tổ chức liên kết (Lupus), xơ cứng bì (Sclérodermie) hoặc rối loạn do nghề nghiệp (thợ máy khoan, máy cưa, sử dụng các máy có độ rung lớn, đánh máy, dương cầm v.v )

Trang 27

+ Triệu chứng: Như triệu chứng của bệnh Raynaud.

+ Điều trị: Như đối với bệnh Raynaud

+ Tránh những tác nhân tạo điều kiện gây bệnh

+ Nếu là các bệnh xơ cứng mạch máu, viêm đa khớp dạng thấp, Lupus, xơ cứng bì: cần khám để được điều trị theo nguyên nhân bệnh

X TĂNG HUYẾT ÁP:

10.1 Khi nào gọi là tăng huyết áp: Theo tổ chức y tế thế giới ở người trưởng

thành có huyết áp bình thường, nếu huyết áp động mạch tối đa dưới 140mmHg

và huyết áp động mạch tối thiểu dưới 90mmHg Gọi là tăng huyết áp khi huyết

áp động mạch tối đa trên 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu trên 95mmHg Gọi là tăng huyết áp giới hạn nếu huyết áp động mạch tối đa từ 145- 160mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu từ 90-95mmHg Huyết áp động mạch tối đa còn gọi là huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch tối thiểu còn gọi là huyết áp tâm trương

Theo một số nghiên cứu cho thấy huyết áp bình thường của người Việt Nam:

- Ở nam giới: Huyết áp động mạch tối đa trung bình 120mmHg Huyết

áp động mạch tối thiểu trung bình: 76 mmHg

- Ở nữ giới: Huyết áp động mạch tối đa trung bình 110mmHg Huyết

áp động mạch tối thiểu trung bình: 75 mmHg

Gọi là huyết áp bình thường khi: Huyết áp động mạch tối đa dưới 140mmHg, huyết áp động mạch tối thiểu dưới 90mmHg

Ban đêm cả huyết áp tối đa và tối thiểu đều giảm 20% so với ban ngày, thấp nhất là vào khoảng 2-3 giờ sáng

10.2 Phân loại tăng huyết áp:

Muốn khẳng định là có bệnh tăng huyết áp, phải được đo huyết áp ít nhất hai kỳ khác nhau, mỗi kỳ đo được ít nhất 3 lần trong những điều kiện khác nhau, phải được nghỉ ngơi trước đó ít nhất 20 phút Sở dĩ phải làm như vậy vì huyết áp chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố như: hoạt động, tình trạng thể lực, trạng thái tâm thần kinh, môi trường, ăn mặn, tư thế đứng, mức độ lao động trí óc và chân tay, thời thiết hoặc là bị stress v.v

Phân loại theo bệnh tăng huyết áp:

Trang 28

- Tăng huyết áp thường xuyên: Có thể phân ra tăng huyết áp lành tính và tăng huyết áp ác tính.

- Tăng huyết áp cơn: Trên cơ sở huyết áp bình thường hoặc gần bình thường có những cơn cao vọt, những lúc này thường có tai biến

- Tăng huyết áp dao động - tăng huyết áp giới hạn: huyết áp có thể lúc tăng, có lúc không tăng

Phân loại theo nguyên nhân:

- Tăng huyết áp thứ phát hay còn gọi là tăng huyết áp triệu chứng nếu tìm thấy nguyên nhân

- Tăng huyết áp nguyên phát, còn gọi là tăng huyết áp không tìm thấy nguyên nhân

10.3 Những nguyên nhân chủ yếu của tăng huyết áp:

10.3.1 Nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát:

- Nguyên nhân từ thận: Viêm cầu thận cấp, viêm thận mạn tính do mắc phải hoặc do di truyền (cầu thận, kẽ thận), thận đa nang, ứ nước bể thận, hẹp động mạch thận, u tăng tiết renin

- Nguyên nhân nội tiết: Cường Aldosteron tiên phát (Hội chứng Conn), phì đại thượng thận bẩm sinh, hội chứng Cushing, u lõi thượng thận, tăng Calci máu, to đầu chi v.v

- Những nguyên nhân khác: Hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, do rối loạn chuyển hoá, tăng áp lực sọ não v.v

10.3.2 Tăng huyết áp nguyên phát: Khi không tìm thấy nguyên nhân gọi

là tăng huyết áp nguyên phát

Do đó khi được chẩn đoán tăng huyết áp, cần đến bệnh viện khám để xác định đúng nguyên nhân và điều trị Nếu không tìm thấy nguyên nhân sẽ được theo dõi và điều trị tăng huyết áp nguyên phát

Các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp nguyên phát và tổn thương cơ quan đích:

- Yếu tố nguy cơ: Hút thuốc lá, rối loạn chuyển hoá lipid máu, tiểu đường týp 2, tuổi trên 60, nam và nữ sau mãn kinh, tiền sử gia đình có mắc bệnh tim mạch, chế độ ăn nhiều muối, uống nhiều rượu

- Tổn thương cơ quan đích: Tại tim (dầy thất trái, đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim cũ, suy tim, đã từng điều trị tái tưới máu động mạch vành Tai

Trang 29

biến mạch máu não và cơn thiếu máu thoảng qua, bệnh động mạch ngoại biên, bệnh lý thận do cao huyết áp, bệnh võng mạc.

- Stress: do căng thẳng thần kinh hệ thần kinh giao cảm tăng cùng hoạt động giải phóng adrenalin và Nor adrenalin làm tim tăng co bóp, nhịp nhanh hơn, tiểu động mạch co lại và làm huyết áp tăng

- Bệnh xơ vữa động mạch: Bệnh xơ vữa động mạch phối hợp với tăng huyết áp sẽ thúc đẩy sự tiến triển của bệnh, dễ gây biến chứng nặng, như tai biến mạch máu não

10.4 Các giai đoạn của tăng huyết áp:

- Giai đoạn 1: Không có dấu hiệu gây tổn thương thực thể rõ ở các cơ quan và động mạch

- Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong các dấu hiệu tổn thương thực thể sau đây: Dầy thất trái: phát hiện trên lâm sàng, X quang, điện tim, siêu âm tim; Hẹp các động mạch võng mạc: khi soi đáy mắt; Nước tiểu có Protein niệu và hoặc tăng nhẹ Creatinin huyết tương

- Giai đoạn 3: Có đủ các biểu hiện chủ quan và khách quan do tổn thương nội tạng

Biết được giai đoạn của bệnh giúp cho thầy thuốc và bệnh nhân biết được tình trạng của bệnh để có cách điều trị và dự phòng tai biến

10.5 Phòng và chữa bệnh tăng huyết áp:

Trước tiên cần chữa các bệnh có thể là nguyên nhân của tăng huyết áp như đã nêu ở trên Khi bằng mọi cách không tìm được nguyên nhân, mới được coi là tăng huyết áp nguyên phát

10.5.1 Chế độ ăn và sinh hoạt: Hạn chế ăn muối nhưng không cần thiết

khắt khe, kiêng muối ít hay nhiều còn phụ thuộc vào bệnh; kiêng thuốc lá vì nicotin thuốc lá làm co mạch ngoại biên; dùng dầu thực vật (trong dầu có chứa vitamin F và những axit béo không bão hoà có vai trò trong việc điều hoà Cholesterol máu); giảm thức ăn chứa Cholesterol như lòng đỏ trứng, óc, bầu dục, tim v.v ; uống Vitamin E do có tác dụng chống oxy hoá có vai trò phòng vữa xơ động mạch, VitaminE có trong giá đỗ, cà chua chín, dầu lạc, dầu đậu tương Không uống rượu, cà phê

- Sinh hoạt điều độ, tránh Stress căng thẳng thần kinh

- Tránh gắng sức trong luyện tập cũng như trong sinh hoạt, không tập

Trang 30

- Tập thể dục nhẹ nhàng, đi bộ ngắn, thở sâu

10.5.2 Điều trị tăng huyết áp:

- Nguyên tắc chung điều trị tăng huyết áp:

+ Ức chế hoạt động của hệ thần kinh giao cảm

+ Làm giảm trực cho tiếp các tiểu động mạch bằng cách cản trở ion calci không vào trong thành mạch

+ Làm tăng đào thải nước tiểu và natri bằng thuốc lợi niệu

+ Cản trở hoạt động của renin angiotensin

- Điều trị tăng huyết áp dao động:

Nếu tăng huyết áp vừa phải, không cần các thuốc chống tăng huyết áp Chỉ cần dùng thuốc an thần, ăn hạn chế muối, nghỉ ngơi, thư giãn, giảm mọi căng thẳng thể lực và tinh thần

Nếu tăng huyết áp dao động liên tục, nhịp tim nhanh và dùng các biện pháp nói trên không hiệu quả thì nên dùng thuốc làm hạ huyết áp như thuốc lợi tiểu là thuốc đầu tiên được sử dụng (hiện nay Indapamide và Thiazides là loại được ưa chuộng), loại chẹn Bêta giao cảm là thuốc được chọn điều trị sau lợi tiểu Các thuốc khác như đối kháng canxi, ức chế men chuyển đều có thể được chọn khi điều trị khởi đầu tuỳ theo tình trạng của bệnh Một số thuốc làm hạ huyết áp hiện nay thường được khuyên dùng như:

Các thuốc lợi tiểu như: Thiazides, nhóm sulfonamide (Fludex, Natrrilix ), lợi tiểu quai (Furosemide, lasix ), lợi tiểu ít thải kali

Nhóm thuốc chẹn giao cảm bêta: Atenolol, Nadolol, Metoprolol, Talliton

Nhóm thuốc đối kháng calcium: Dehydropyridin loại thuốc tác dụng chậm (Nifedipin, Adalat, Nifehexal ), Amlor, Verapamin, Diltiazem

Nhóm ức chế men chuyển: Quinaprin, Captoprin, Enalapril, Coversyl, Ednyt, Eman, Rinitec

Nhóm đối kháng thụ thể angiotensin II: Aprrovel, Losacar

- Điều trị tăng huyết áp thường xuyên lành tính: Thực hiện 3 bước:

• Bước 1: + Người tăng huyết áp dưới 45 tuổi, thuốc đầu tiên cần dùng

là loại chẹn bêta hoặc thuốc ức chế men chuyển Angiotensin ngày 1-2 lần

Trang 31

+ Người tăng huyết áp trên 45 tuổi, thuốc đầu tiên là thuốc thuộc nhóm lợi niệu ngày một lần

Nếu điều trị như vậy mà huyết áp không xuống, chuyển sang bước 2

• Bước 2: Phối hợp 2 thứ thuốc lợi niệu + chẹn bêta, hoặc men ức chế chuyển angiotensin, hoặc thuốc đối kháng Calci ngày 1-2 lần Nếu huyết áp xuống thì giữ ở liều tác dụng Nếu huyết áp không xuống hoặc xuống quá ít, có thể tăng dần liều Nếu huyết áp không xuống chuyển sang bước 3

• Bước 3: thường phối hợp 3 thuốc; bước 4: phối hợp 4 thuốc Việc sử dụng thuốc khi đó nhất thiết đến khám lại bác sĩ để cho chỉ định điều trị và theo dõi diễn biến bệnh điều chỉnh thuốc kịp thời

- Điều trị tăng huyết áp ác tính:

Cần được điều trị nội trú tại các bệnh viện hoặc các trung tâm y tế vì hay

có biến chứng nguy hiểm

Với những cơn tăng huyết áp cao vọt tại nhà: Để bệnh nhân nằm tại giường, phải dùng thuốc loại giãn mạch nhanh như: Nhỏ ngay dưới lưỡi 3 giọt viên nang Adalat (cắt viên nang, giỏ giọt thuốc vào dưới lưỡi), ngậm dưới lưỡi 1 viên Nitroglycerin, mời bác sĩ khám, sau nửa giờ huyết áp chưa xuống có thể dùng thêm và đưa đến cơ sở y tế để cấp cứu điều trị và theo dõi diễn biến của bệnh

XI ĐAU XƯƠNG VỀ ĐÊM, CỨNG KHỚP VÀO BUỔI SÁNG, ĐAU Ở CÁC KHỚP NHỎ, CƠ THỂ MỆT MỎI, THƯỜNG Ở TUỔI TRUNG NIÊN NGHĨ ĐẾN BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:

Bệnh viêm khớp dạng thấp là một bệnh hay gặp nhất trong các về bệnh khớp, bệnh hay gặp ở lứa tuổi từ trung niên trở lên, diễn biến kéo dài dù có được điều trị và hậu quả có thể dẫn đến tàn phế

Bệnh VKDT là tình trạng viêm tổ chức liên kết, tổn thương chủ yếu ở các khớp ngoại vi, tiến triển bằng những đợt viêm gây đau và làm biến dạng dần các khớp, kèm theo teo, cứng cơ dẫn đến hạn chế vận động, gây tàn phế, mất khả năng vận động của khớp Bệnh này không gây tổn thương ở tim

11.1 Nguyên nhân VKDT:

Trước đây có nhiều giả thuyết được đưa ra về nguyên nhân gây bệnh, gần đây người ta coi VKDT là một bệnh tự miễn dịch, nghĩa là có rối loạn quá trình miễn dịch của cơ thể Những yếu tố tác nhân gây bệnh: có thể là virut (chưa

Ngày đăng: 28/08/2013, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w