CẤU TRÚC ĐỀ TÀI...4 Chương 1: Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
Trang 2LỜI CẢM ƠNBài tiểu luận kết thúc học phần của em đã hoàn thành nhờ sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình về mặt nội dung của thầy.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng do chưa có kinh nghiệm, thời gian nghiên cứu có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những sai sót, khuyết điểm nhất định Kính mong được sự đánh giá, góp ý của thầy để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 4
Chương 1: Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao Quá trình dạy học kỹ thuật chạy đà bật nhảy trong môn nhảy cao 1.1 Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao 5
1.2 Quá trình dạy học kỹ thuật chạy đà bật nhảy trong môn nhảy cao7 Chương 2: Chọn môn nhảy cao, xác định tố chất thể lực chủ yếu để đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật, phương pháp và hệ thống bài tập rèn luyện tố chất thể lực đã chọn 2.1 Lý do chọn môn nhảy cao 9
2.2 Tố chất thể lực chủ yếu đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật 10 2.3 Phương pháp và hệ thống bài tập rèn luyện 10
KẾT LUẬN 12
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ xa xưa thể dục thể thao đã được xem như một bộ phận không thể thiếu của nềnvăn hóa nhân loại nhằm rèn luyện thân thể con người, mang lại sức khỏe tốt để xua đuổi bệnh tật Thể dục thể thao mang lại sự phát triển hài hòa về đạo đức, tinh thần, thể chất,…Nhận thức được vai trò to lớn của thể dục thể thao, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đưa thể dục thể thao vào hang quốc sách trong chiến lược phát triển con người, báckêu gọi toàn dân tập thể dục: “Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Một người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe là cả nước mạnh khỏe”
Xuất phát từ quan điểm của đảng, nhà nước và Bác Hồ luôn xem sức khỏe là tài sản quý báu nhất và là quan trọng nhất đối với mọi tầng lớp xã hội, Việt Nam chúng
ta cũng không nằm ngoài xu thế đó, nguồn nhân lực tương lai của đất nước phải phát triển đầy đủ các tố chất
Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sức khỏenói chung Sức khỏe bao gồm cân nặng; chiều cao; sức mạnh cơ bắp; hệ miễn dịch,…Thể thao còn làm cho tinh thần phấn chấn, lạc quan, ngăn chặn các bệnh về hệ thần kinh như trầm cảm
Lợi ích của thể dục thể thao là thế nhưng những vấn đề trong việc thực hiện hoạt động vẫn thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến chất lượng của các buổi sinh hoạt thể dục thể thao Một trong những vấn đề đó chính là mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tính tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao Dưới đây tôi chọn quá trình dạy kỹ thuật chuyền bóng cao tay trong môn bóng chuyền để làm rõ vấn đề nói trên
Trong môn bóng chuyền, các tố chất thể lực đều nói lên được một ý nghĩa nhất định trong mỗi động tác Nhưng trong đó, tố chất thể lực về sức mạnh lại mang ý nghĩa quan trọng nhất Để hiểu rõ thêm về tầm quan trọng của tố chất sức mạnh trong môn bóng chuyền nên tôi đã chọn nghiên cứu về vấn đề đó
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu về mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao Chọn môn nhảy cao, xác định tố chất thể lực chủ yếu để đáp ứng được yêu cầu
kĩ thuật, phương pháp và hệ thống bài tập rèn luyện tố chất thể lực đã chọn
Trang 53 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu về lý do hình thành nên mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao
Tìm hiểu về tố chất sức mạnh trong môn bóng chuyền
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: “giáo viên và học sinh”
Phạm vi nghiên cứu: Tất cả các bài học được đúc kết lại trong nghành Giáo dục thể chất
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Sử dụng phương pháp sưu tầm, phỏng vấn, thu thập tài liệu, tập hợp tài liệu, khảo cứu
6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài tiểu luận được chia thành 2 phần lớn:
Chương 1: Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao Quá trình dạy học kỹ thuật chạy đà bật nhảy trong môn nhảy cao
Chương 2: Chọn môn nhảy cao, xác định tố chất thể lực chủ yếu để đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật, phương pháp và hệ thống bài tập rèn luyện tố chất thể lực đã chọn
Trang 6Chương 1 Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao Quá trình dạy học kỹ thuật chạy đà bật nhảy trong môn nhảy
cao.
1.1 Mối quan hệ tương tác giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và thái độ tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú của học sinh trong quá trình dạy học thể dục thể thao:
Trong quá trình sống và tồn tại, con người có thể tiếp nhận kinh nghiệm sống mộtcách tự nhiên nhờ quá trình giao tiếp và hoạt động với cộng đồng Mỗi cá nhân ngay từ bé đã tiếp nhận được những kỹ năng, kỹ xảo về ngôn ngữ, về lao động sản xuất về cách thức chung sống giữa người với người, giữa người với tự nhiên Trải qua thời gian, cá nhân có sự sàng lọc những gì có lợi cho mình, giúp mình tồn tại trong các mối quan hệ xã hội, thiết lập được những kinh nghiệm sống bao gồm một hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành nhờ những chỉ dẫn của người có kinh nghiệm bằng sự bắt chước, tập dượt để đạt tới sự đúng – sai giữ lại hoặc loại bỏ
Điều đó cũng có nghĩa là việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng hoạt động của tuổi trẻ có thể thực hiện bằng nhiều hình thức (tự phát hoặc tự giác), song dạy học là con đường tối ưu nhất giúp cho tuổi trẻ tiếp cận, nắm vững kinh nghiệm xã hội được phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích luỹ với sự tham gia điều chỉnh hợp lý về mặt tổ chức trong những khoảng thời gian xác định họ đạt với mục đích do nhu cầu xã hội đặt ra với từng trình độ nhận thức tương ứng.Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích củahoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân
“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và học sinh (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường khôngchỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa”.(Bách khoa Giáo dục học –
Maxcơva)
Quan niệm trên về quá trình dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân
Trang 7cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong quá trình họat động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinhđể giúp họ tự khám phá ra tri thức Tất nhiên người giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộquá trình dạy Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp cho để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình.
Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, tự
tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới Chính học sinh chứ không phải người nào khác phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục Tính chất hành động của họ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu
Từ đó có thể rút ra định nghĩa quá trình dạy học như sau: Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học
tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
2 Nhiệm vụ dạy học
Dựa trên cơ sở mục đích dạy học và mục tiêu của trường phổ thông, sự tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc điểm của lứa tuổi học sinh ở các cấp học ở trường phổ thông, người ta đề ra ba nhiệm vụ dạy học sau:
* Nhiệm vụ 1: Làm cho học sinh nắm vững hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhờ vậy mà tích luỹ và khái quát những kinh nghiệm dưới dạng những kháiniệm, định luật, định lý, học thuyết, tư tưởng mà người ta gọi là những tri thức Những tri thức đó có tính chất xã hội
Dưới góc độ xã hội học, tri thức phải có tính chất cá nhân, nghĩa là phải chuyển những tri thức xã hội thành tài sản cá nhân Vì vậy khái niệm tri thức đối với nhà
sư phạm bao giờ cũng gắn liền với khái niệm nắm vững Nắm vững tri thức bao gồm hiểu, nhớ, vận dụng trong hoàn cảnh đã biết và hoàn cảnh mới chưa biết
Trang 8Đối với học sinh phổ thông, chỉ đòi hỏi họ nắm vững tri thức cơ bản được lựa chọn từ vốn tri thức vô cùng to lớn của loài người Tri thức phổ thông cơ bản là những tri thức tối thiểu, cần thiết cho tất cả mọi người, dù sau này họ có làm bất
cứ nghề gì, họ cần phải có để trực tiếp đi vào hoạt động sản xuấtvà các dạng hoạt động khác, để có một cuộc sống có văn hoá phong phú, để đi vào các loại trường
và có thể tiếp tục tự học
Tri thức phổ thông cơ bản cần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ phải là những tri thức hiện đại, nghĩa là những tri thức mới và phù hợp với chân lý khách quan Đồng thời tri thức phổ thông cơ bản đó phải phù hợp với thực tiễn đất nước ta, với trình
độ nhận thức của học sinh để giúp họ giải quyết những vấn đề đất nước đặt ra, và qua đó, giúp họ tìm được việc làm phù hợp sau này
Tri thức phổ thông cơ bản đó phải đảm bảo tính hệ thống, nghĩa là một mặt phải đảm bảo tính logic nội tại của từng môn học, mặt khác phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa những tri thức của những môn học khác nhau, đặc biệt là những môn lân cận nhau.Trên cơ sở những tri thức đã nắm vững, cần rèn luyện để hình thành cho họ những kỹ năng, kỹ xảo nhất định, bao gồm kỹ năng, kỹ xảo chung
và kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt của từng môn học Điều quan trọng là phải hình thành cho người học kỹ năng tự học để từ đó chuyển hoá thành tiềm lực nhận thức – đó mới là chiếc chìa khoá vàng để họ bước vào kho tàng tri thức
* Nhiệm vụ 2: Phát triển trong học sinh năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo
Năng lực hoạt động trí tuệ được đặc trưng bởi hai mặt sau: Năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ và sự tích luỹ các tri thức cơ bản, thiết yếu nhất Trong quá trình nắm tri thức diễn ra sự thống nhất giữa một bên là những tri thức với tư cách
là cái được phản ánh và một bên là thao tác trí tuệ với tư cách là phương thức phản ánh Những tri thức nắm được là nhờ các thao tác trí tuệ, và ngược lai, các thao tác trí tuệ được hình thành và phát triển trong quá trình nắm tri thức Vì vậy, phát triển năng lực trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức cơ bản và thiết yếu nhất, sự thành thạo và độ vững chắc của những thao tác trí tuệ Nó được thể hiện trong các phẩm chất trí tuệ sau:
1.Tính định hướng của hoạt động trí tuệ nghĩa là nhanh chóng và chính xác xác định con đường tối ưu để đạt được mục đích hoạt động trí tuệ
2 Bề rộng của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh có thể tiến hành hoạt động trong nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết với nhau
3 Chiều sâu của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh tiến hành hoạt động trí tuệ và càng ngày càng nắm sâu sắc bản chất sự vật và hiện tượng
Trang 94 Tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ tiến hành hoạt động trí tuệ không những nhanh mà còn di chuyển nhạy bén hoạt động từ tình huống này sangtình huống khác.
5 Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ hoạt động tư duy của học sinh được tiến hành theo hướng xuôi lẫn ngược cũng được
6 Tính độc lập của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh tự mình đề xuất cáchgiải quyết và tự giải quyết vấn đề
7 Tính nhất quán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở tính logic, sự thống nhất của tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không có mâu thuẫn
8 Tính phê phán của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ học sinh biết phân tích, biết đánh giá các quan điểm, lý luận, phương pháp của người khác và đồng thời đưa rađược ý kiến riêng của mình và bảo vệ ý kiến đó
9 Tính khái quát của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ nhận thức nhất định ở học sinh sẽ hình thành mô hình giải quyết những nhiệm vụ cùng loại
Tất cả những phẩm chất hoạt động trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảmbảo cho hoạt động đó đạt được kết quả
Về năng lực thực hành cần hình thành cho học sinh thể hiện ở chỗ học sinh phát hiện được vấn đề và biết vận dụng tri thức giải quyết tốt những nhiệm vụ của từng môn học, những vấn đề do thực tiễn đề ra Đặc biệt phải hình thành cho họ phương pháp tự học để có thể tiếp tục học suốt đời, để có thể sẵn sàng thích ứng; đồng thời phải chú ý hình thành cho người học phương pháp tự đánh giá để họ luôn biết nhìn nhận đúng đắn trình độ hiện có của bản thân, từ đó có khát vọng vàquyết tâm vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức
* Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở vũ trang tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và thực hành mà hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức của con người mới.+ Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, về những hiên tượng trong tự nhiên, xã hội
Người ta phân biệt thế giới quan giai cấp và thế giới quan cá nhân Thế giới quan giai cấp là ý thức xã hội của giai cấp Thế giới quan cá nhân là hệ thống những quan điểm về tự nhiên, về xã hội và về bản thân được hình thành ở mỗi cá nhân
Nó quy định xu hướng chính trị, đạo đức, phẩm chất tư tưởng khác Nó là biểu hiện của toàn bộ nhân cách, nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động củamỗi cá nhân Trong xã hội có giai cấp, thế giới quan cá nhân mang tính giai cấp Chính vì thế trong quá trình dạy học cần phải quan tâm đầy đủ đến việc hình
Trang 10thành cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh để họ có suy nghĩ đúng, có thái
độ và hành động đúng
+ Lý tưởng là biểu tượng của con người về cái mà họ cảm thấy rất đẹp và mong muốn đạt tới Vì vậy nó là lẽ sống của con người Nó có sức lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của cá nhân vào những hoạt động để vươn tới mục tiêu cao cả
đã định
Bồi dưỡng cho học sinh lý tưởng cách mạng là phải giúp họ có ước mơ, hoài bão cao đẹp, có phương hướng sống đúng đắn Trước mắt, phải giúp họ có nhu cầu học, ham học, có cái tâm chịu học, tinh thần sang tạo, ý thức rõ ràng trách nhiệm học tập của mình đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và đối với bản thân mình mà phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và tu dưỡng của bản thân
* Ba nhiệm vụ dạy học nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợlẫn nhau để hoàn thành mục đích giáo dục Nếu không có khối lượng tri thức cơ bản, đúng đắn và phương pháp nhận thức thì sẽ không phát triển được trí tuệ và cũng thiếu cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng và niềm tin Phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều kiện của việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
và hình thành thế giới quan, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức khác Phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh biết cách nhìn nhận, biết tỏ thái độ và biết hành động đúng, mới biến tri thức thành niềm tin, lý tưởng Nhiệm vụ thứ ba vừa là kết quả, vừa là mục đích của hai nhiệm vụ trên Nó là yếu
tố kích thích và chỉ đạo việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức
Đúng vậy! Tri thức không thể thiếu được trong thành phần của học vấn song nó không phải là thành phần duy nhất và cốt lõi Cái sinh ra tri thức chủ yếu không chỉ từ tri thức mà bao gồm cả thái độ, niềm tin, lý tưởng, lòng ham học hỏi, thái
độ cầu thị, khiêm tốn…
Chính vì vậy mà từ những năm 80, cấu trúc và thành phần của học vấn đã quay ngược trở lại: Thái độ – kỹ năng – kiến thức Trong khi đó vào những năm 60, cấu trúc của nó như sau: Kiến thức – kỹ năng – thái độ
3 Bản chất của quá trình dạy học
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh.
* Trước tiên, ta khẳng định học là một hoạt động nhận thức Vậy thế nào là hoạt động nhận thức?
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Sự học tập củahọc sinh cũng là quá trình như vậy Đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải