Từ đó dân trong vùng chế biến ra nhiều loại danh trà như : Bạch Mao hầu, Trảm Mã Trà, Trùng Diệp Trà, Thiết Quan Âm Nhờ hấp thụ sanh khí thiên nhiên của tạo hóa, mỗi đêm gội nhuần chất c
Trang 1TỔNG HỢP TƯ LIỆU:
Thạc sĩ NGUYỄN TRUNG TOÀN
Trang 2Chữ “TRÀ” từ thời Đường trở về trước đều viết là “ĐỒ” Trà trở thành một loại thức uống
đại khái bắt đầu từ thời Tiên Tần Thời xa xưa, Trung Quốc bị ngăn cách từng vùng, bởi núi sông hiểm trở, chưa thông thong liên lạc như hiện giờ, nên trà được gọi bằng nhiều
danh từ như : trà, giả, thiết, mính, xuyển
“Giả” là một loại trà đắng Người ở miền Tây Nam tỉnh Tứ Xuyên, quen gọi trà là
“Thiết” Người đầu tiên có cống hiến đặc biệt đến văn hoá trà ở Trung Quốc là Lục Vũ,
sống ở thời Trung Đường Lục Vũ tự Hồng Tiệm, quê ở Cảnh Lăng (Giang Tây), lúc nhỏ
đi chơi nơi bờ sông bị lạc đường, được một vị sư cứu đem về chùa nuôi cho ăn học Ong ghiền trà rất nặng, ông đọc nhiều sách, thông suốt kinh dịch Vua Đường Đức Tông (780 – 805) nghe danh sai sứ mời, nhưng Lục Vũ lánh về Thiều Khê (nay ở vùng phụ cận Hồ Châu, Chiết Giang) đóng cửa đọc sách, lấy hiệu là Tang Chữ Ông Lục Vũ là tác giả bộ
“Trà Kinh” rất nổi tiếng
Trong Trà Kinh có ghi: nếu trà mọc trên đá mòn là tốt nhất, mọc trân đất sỏi là trung bình, mọc nơi đất vàng là loại xấu, trà gieo thì không qủa, trồng thì ít sum mậu, phải trồng giống như trồng dưa, bí Loại ttrà mọc ngoài đồng hoang là tốt, mọc trong vườn là xấu Trà mọc theo sườn núi và có ánh sáng mặt trời và mọc nơi rừng thiếu ánh sáng, lá màu tím là loại tốt, lá màu xanh là loại kém Hình dáng lá trà như mục măng là tốt, như hình chiếc răng là xấu Lá cuốn lại là tốt, lá xoè ra là xấu
Vị của trà rất hàn (lạnh) dùng để uống với ai có tính cần kiệm tinh tế Nếu uống vào lúc tiết trời nóng bức thì trà có thể giải nhiệt Trong nhiều thế kỷ bên Trung Hoa, các đạo sĩ có công phổ biến trà như một phương thuốc trường sinh, vì trà uống vào làm cho hết buồn ngủ Tại tỉnh Phúc Kiến bên Trung Quốc có núi Vũ Di Sơn thuộc huyện Sùng An là nơi sản xuất nhiều loại danh trà như : Hoa Hương, Kỳ Chưởng, Danh Chủng, Tiểu Chủng… Núi Vũ Di Sơn là ngọn núi cao vút tận mây xanh, qunh name tuyết phủ, chân núi lại eo cổ
Trang 3bồng, thắt ngang long, chân người và chân thú không sao trèo được Người ta mới dùng nha phiến tập cho khỉ mắc bệnh ghiền, rồi đeo giỏ tre nhẹ nhàng vào cổ con khỉ, sai trèo lên tột đỉnh hái trà Nhờ giá tuyết lạnh buốt nên giống trà hoang mọc trên núi Vũ Di Sơn,
lá quăn cuốn lại trông tựa mỏ chim Từ đó dân trong vùng chế biến ra nhiều loại danh trà như : Bạch Mao hầu, Trảm Mã Trà, Trùng Diệp Trà, Thiết Quan Âm
Nhờ hấp thụ sanh khí thiên nhiên của tạo hóa, mỗi đêm gội nhuần chất cam lộ sương lạnh, giá buốt, không một chút hồng trần, bụi nhơ bám vào, nên trà Vũ Di Sơn chưa được uống, chỉ nghe tiếng đồn mà đã gay sảng khoái, nếu được nhắp vào một hớp, hương thơm của trà
có thể tiêu trừ trược khí, làm cho tinh thần sảng khoái Vua Kiền Long từng nói rằng : mỗi lần thưởng thức một chum trà Vũ Di trẫm thấy nhẹ nhàng, lâng lâng, có cảm giác cởi mở hết ưu tư và được an nhàn tự tại Trà Vũ Di quả là một thứ nước giải khát tuyệt hảo, có thể trừ được mọi căn nguyên phiền não
II Nghệ thuật pha trà
Người xưa khi có khách đến chơi, bao giờ cũng mời khách uống trà, mà không bao giờ có trữ sẳn nước sôi, cho nên thường nói: “để quạt nước bác sơi” cũng là để dò ý xem khách có thể ở lại chơi lâu hay là đi ngay Người xưa không nói “nấu trà” mà gọi là “pha trà”
Lửa phải chụm bằng than mới tốt, rồi đến loại củi gỗ cứng như cây dâu, vây hoè…Không nên dùng than đã đốt cháy một lần rồi, vì như vậy trà sẽ có mùi hôi, nên dùng loại than mới, loại cây có dầu, cây cũ, cây vụn cũng không nên dùng để nấu trà, như vậy sẽ mất ngon Về nước để nấu trà, nên dùng nước trên núi là tốt nhất, nước sông thì tạm được, nhưng không bằng nước trên núi Nước giếng không nên dùng để pha trà Nước trên núi phải chọn nước suối trong, thường gọi là “Nhũ huyền” Nước ở những chỗ trũng trên núi, nhìn thấy ngạch đá bên dưới (thạch trì) hay chỗ nước chảy chậm là tốt nhất
Ơ những dòng thác chảy mạnh, không nên dùng nước này để pha trà, uống lâu ngày ssẽ mang bệnh nơi cổ Nơi thung lũng có nhiều vũng nước, không có đường thông thoáng hay
có rắn rít độc hại Vì vậy muốn dùng nước này phải khai thông cho chảy hết nước cũ có chứa độc, đợi nước hảy trong thì mới nên dùng Nếu gặp nước sông thì chọn nơi cách xa chỗ người ở Nước giếng thì tốt hơn hết là chọn giếng thật nhiều nước Khi nước sôi, có tiếng kêu nhỏ thì gọi là sôi đợt một, khi chung quanh ấm có nhiều bọt trào lên như ngọc reo suối đổ thì gọi sôi đợt hai Còn khi đã sôi như cuộn sóng, thì gọi là sôi đợt ba Khi nước mới sôi là thích hợp nhất để pha trà Khi nước sôi đợt hai thì múc ra một gáo nước để
đó, rồi lấy kẹp tre quay tròn trong nước đang sôi, liệu chừng sức sôi chưa đạt đến đỉnh cao thì cho trà vào Một hồi sau nước lại sôi cuộn tung lên, khi ấy sẽ lấy nước múc ra khi nãy(1 gáo lần sôi đầu tiên) đổ vào để hòa tan bớt sức sôi để dưỡng cái tinh hoa
Trang 4Nấu xong châm ra chén, chén thứ nhất là loại thượng hạng, cất lại dùng để dưỡng cái tinh hoa của tràvà dùng để hãm sức sôi của nước Chén thứ hai, ba, không ngon bằng Còn chén thứ tư, thứ name trở đi, nếu không that khát thì đừng uống Phàm nếu nước được một lít thì châm được 5 chén (ít nhất là 3 chén, nhiều nhất là 5 chén) Nên uống trà lúc còn nóng, vì những gì tinh túy nhất nổi lên trên, còn bã trà chìm ở dưới, nếu đợi nguội thì phần tinh anh
sẽ bay theo hơi hết, khi uống sẽ khó tiêu hóa và không cảm nhận hương vị của trà Điều lưu ý là khi đang uống dỡ chén mà chưa hết thì không nên châm thêm cho đầy chén Mới uống phân nữa mà mùi vị ngọt ngọt là “giả” Không ngọt mà đắng gọi là “xuyển” Hớp vào đắng, đến họng cảm thấy ngọt đó gọi là “trà”
Trà có chín điều khó: một là làm, hai là biết phân biệt tốt xấu, ba là đồ dùng để sao chế, nấu trà, bốn là lửa than, năm là nước, sáu là hong, hơ, bảy làlàm cho lá trà nát, tám là cách nấu, cuối cùng là uống
III Một số danh trà Trung Quốc
Ngoài trà Vũ Di Sơn như đã trình bày, còn vài loại đệ nhất danh trà sau nay, phần nhiều thuộc huyền thoại nhưng cũng kể lại cho biết:
1 Trãm mã trà:
Loại trà này thường mọc ở ngọn núi Vu Sơn, thuộc huyện Vu Sơn, tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc, nay là loại trà lâu đời mọc ở triền núi, khe đá gần vũng nước trũng, khi pha nước, trà có màu đậm đen, nên dân gian còn gọi là “Ô Long Trà” Về tên gọi Trãm Mã Trà, trong nhân gian còn truyền tụng thuyết như sau: Đời nhà Thanh bên Trung Hoa, bà Từ Hy thái hậu hằng ngày sai các ông Thái Gíam trong cung đến Vu Sơn để hái trà về nấu dâng cho bà uống Một hôm có vị Thái Gíam trong cung, đi h1i trà trên đường về, ghé vào vệ đường nghỉ ngơi và ngủ thiếp đi lúc nào không hay, khi tỉnh dậy thấy giỏ đựng trà đã bị con ngựa bean cạnh ăn hết trong lúc vị Thái Gíam đó ngủ quên Ong sợ bị tội nên đã mổ bụng con ngựa ra để lấy tràmà con ngựa đã
ăn Khi đem về cung nấu dâng cho bà Từ Hy thì lúc ấy bà uống trà và cảm nhận thấy sự khác thường so với hằng ngày Vị trà ngon hơn, thơm hơn, cho nên mới hỏi vị Thái Gíam, ông ta thật tình thưa chuyện đã bị ngựa ăn hết giỏ trà Bà Từ Hy truyền chỉ bảo hằng ngày hái trà về cho ngựa ăn, sau đó mổ bụng để lấy lá trà nấu dùng Từ đó trong dân gian mới có tên là “ Trảm Mả Trà”
2 Trùng Diệp Trà:
Thường mọc ở núi Ly Sơn, huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc Hương vị cũng qúi không thua gì trà Vũ Di Sơn và Trảm Mã Trà Uống vào vẫn thấy tỉnh táo tinh thần và yêu đời Tục khách không làm sao phân biệt
Trang 5được, chỉ có mấy ông đạo sĩ tăng lữ, quen sống trong thâm sơn cùng cốc mới biết chỗ hái mà thôi
Tại núi Ly Sơn, vào mùa xuân cây trà mọc sẳn trên núi rừng, đâm trồi nảy lộc, có một giống sâu chuyên ăn đọt tràvà thích làm ổ trong chùm búp non Các đạo sĩ tăng lữ, không ngại khó khăn trèo lên tìm hái những lá sâu cuốn kén ấy đem về trộn chung với lá trà không bị sâu ăn, chế biến ra một thứ trà rất qúy gọi là Trùng Diệp Trà Khi pha trà này có màu xanh dợt, nhưng hương thơm ngào ngạt
3 Trùng Xỉ Trà:
Trùng là con sâu (côn trùng), xỉ là phân, trà là lá trà: Trà phân của con sâu Trà này uống vào đăng đắng, một hồi lâu cảm thấy hơi ngọt trong cổ họng Mỗi lần pha lấy một ít thôi Không can nhiều, uống nhiều ghiền hơn cà phê
4 Thiết Quan Âm:
Đây là trà đặc biệt của tỉnh Phước Kiến Một tỉnh miền Nam của đất Trung Hoa, ở tỉnh này, dân ghiền trà rất nặng Người Phúc Kiến gọi trà là “Thiết” Thiết Quan Âm là sản phẩm của huyện An Khê, vì lá uốn cong lên như mỏ con chim ưng nên cũng gọi là: “Ưng Chủy Trà” ( chủy là mỏ chim) Loại trà này rất hiếm, không đủ cung cấp cho người trong xứ, nên chẳng bao giờ thấy bán ra ngoài Uống vào tỉnh táo, không mệt, tinh thần sáng suốt, vui vẻ, nhẹ nhàng Nếu để nguội, trà vẫn giữ được hương vị thơm ngon
Truyện kể rằng có gia đình họ Ngụy ở An Khê, rất sùng đạo Phật, hằng ngày dâng trà, tụng kinh trước bàn thờ đức Quan Âm Một hôm tối trời, thấy trên núi có ánh sáng Ong lên xem thấy có một cây trà con mọc trong kẹt đá, bèn bứng đem về rồi lựa một kẹt đá khác gần nhà rồi trồng lại cây trà y như trước Cách vài năm, trà lớn, hái lá được, hương vị rất khác trà thường và hái đem cúng phật Quan Âm Đồng thời đặt tên là “Thiết Quan Âm” Vì vùng ấy gọi trà là: “Thiết” Có bài tụng “Thiết Quan Âm”:
Tối ái phương tùng ưng chủy nha Lão lang phong ký tặng tiên gia Kim triêu cách hữu tương giang nguyệt Chiếu xuất phi phi mảng uyển hoa
Dịch:
Rất thích thơm ngon ưng chủy trà Ong già phong kín tặng tiên gia Trên sông đâu có vừng trăng sáng
Trang 6Lóng lánh soi vào khắp chén hoa
IV Cách thưởng thức trà theo lối cổ của Việt Nam
Không phải nước Nam ta mới biết dùng trà Tàu, gần đây, từ buổi Mạt – Lê hay sơ Nguyễn chẳng hạn, nhưng sự giao ban mật thiết chỉ có ở buổi Mãn Thanh, cho nên chén trà của ta,
kể về kiểu thức, có lẽ là thoe kiểu Khang Hy, Càn Long dĩ hậu
Một bộ chén trà cổ điển phải gồm những món sau:
+ Một chén trộng trộng, lớn hơn các chén khác để chiết trà từ chiếc ấm rout vào đây, danh từ chuyên moan gọi là chén TỐNG, do chữ Tướng mà đọc trại ra
+ Ba hay bốn chén nhỏ, để dùng trà gọi là “chén quân”, hay “chén tốt” Quân ở đây
là quân sĩ và tốt cũng là sĩ tốt Ơ miền Trung, người ta dùng ba chén quân làm một bộ, trong khi người miền Bắc dùng bốn chén
+ Chót hết là một đĩa bàn, lớn hơn dĩa dùng để chứa những chén quân hay chén tốt
Để các dĩa chén ấy muốn thành một bộ đầy đủ phải để chung với một ấm con, da chu hay
da sành, cả thảy đựng trong một khay gỗ qúi giá
Nghệ thuật uống trà của người Việt cổ không ai đem nhã thú này lên cao hơn là chúa Trịnh Sâm (1739 – 1782) Mặc dầu chúa Trịnh có sủng phi Đặng Thị Huệ, mọi việc đều một tay
bà quán xuyến, nhưng đến việc pha trà cho chúa thì chúa vẫn tự tay pha lấy, không nỡ hay hông dám làm nhọc bà ái phi xinh đẹp Chúa Trịnh Sâm tự xưng mình là: “Trà Nô” Chúa ban khẩu hiệu : “Trà Nô, Tửu Tướng”, có nghĩa là uống rượu phải that sang trọng, oai phong, giống như một vị tướng, có quân hầu hô lệnh, ca nhi chuốc rượu Nhưng trái lại đến khi uống trà phải tự mình pha lấy
Đối với Việt Nam, không nên bắt chước các nước Âu Mỹ, uống trà có thêm đường cho ngọt, cho thêm sữa cho béo, uống như vậy còn gì dư vị của trà
V Uống trà
Có cánh thì bay, có lông thì chạy, hả miện thì nói, ba cái này đã có giữa trời đất, ăn uống
để sống, ý nghĩa của uống, khởi nguyên từ lâu đời vậy Nếu khát thì uống nước, muốn giải cơn buồn giận thì uống rượu, muốn trừa cơn buồn ngủ thì uống trà Nguồn gốc uống trà phát khởi từ Thần Nông Thị, và nổi tiếng từ thời ông Chu Công nước Lỗ Đời Tề có Án Anh, nhà Hán có Dương Hùng, Tư Mã Tương Như, Ngô có Vĩ Diệu, đời Tấn có Lưu Côn… Đều nổi danh về uống trà Sau này lan tràn, truyền đến giới bình dân qua nhiều thời đại và thịnh nhất vào thời Đại Đường Từ đó nhà nào cũng uống trà Uống có trà thô,
Trang 7trà rời, trà boat, bánh trà, hoặc đập dập, hoặc ngào, hoặc hong khô, hoặc đâm rồi cất vào trong bình hay hũ và đổ nước nóng vào gọi là ướp trà, hay cho hành, gừng, táo, vỏ quýt, thù du, bạc hà…nấu cho sôi trăm lần, hoặc vò cho trơn, hoặc nấu bỏ bọt
Nếu hái nhằm vào lúc không có nắng và hơ vào buổi tối, thì không phải là kẻ biết chế trà Nhai để biết vị, ngửi để biết mùi, thì không phải là kẻ biết phân biệt ngon dở, vật dụng hôi tanh thì không phải là đồ trà, củi dầu hay than ngộp (củi dùng rồi làm ngộp tắt) thì không phải là lửa Lo lắng vội vàng thì không phải là nấu trà Mùa hạ năng uống, mùa đông bỏ thì không phải là kẻ uống trà
VI Nghệ thuật Trà Đạo của người Nhật Bản
Người Nhật Bản có một phương pháp uống trà đặc biệt của họ gọi là “ Chanoyu”, dịch là
“Trà đạo”, trà đạo ngày nay là một thú tiêu khiển của người Nhật Theo các tài liệu lịch sử, trà Tàu du nhập vào Nhật Bản vào khoảng 700 năm SCN, giữa thời thịnh Đường, loại trà của người Nhật thường dùng thứ Matcha, đây là một loại trà tán nhỏ ra như bột, có màu xanh như lá cây
Ban đầu vào đầu thế kỷ VII, trà bột bên Nhật cũng chưa được biết nhiều Phải đợi đến cuối thế kỷ XII, thời nhà Tống bên Trung Quốc, thì Matcha mới du nhập sang Nhật, trà lúc ấy rất qúy vô cùng, được xem như một tiên dược, có khả năng giải bệnh hơn là giải nhiệt, giải khát, đến thế kỷ XIV, trà được phổ biến sâu rộng nhờ tục đấu trà (tocha)
Phép đấu trà bằng sự tề tựu vào một nơi với nhiều người cũng thích uống trà, trà được rout
ra trong nhiều chén nóng hổi, hơi bay ngạt mũi và giải khôi nguyên sẽ về tay người nào nhắp chén nào là nói đúng tên trà chén ấy, nói đúng luôn nơi xuất xứ, trà ấy hái ở vùng nào, ngon hay dỡ chỗ nào? và người đoạt giải sẽ được tặng một phần thưởng xứng đáng Ngày nay có giống trà Uji (Vũ Trị), gần cố đô Kyoto, là nổi tiếng nhất, khắp thế giới đều biết tên, càng về sau, cuộc đấu trà không treo giải thưởng để giữ đúng tinh thần của người Nhật Tocha trở nên những buổi hội hiệp tao nhã hơn chung quanh chén trà ấm cúng
Lúc khởi xướng Maruta Juko (1423 – 1502), đưa ra qui tắc mà sau này gọi là Trà đạo (Chanoyu) Tiếp theo có ông Takeno Joo (1502 – 1555) ra công điều chỉnh những qui luật
mà Murata Juko đã đặt ra Sau đó nữa, một vị đạo sĩ phái Thiền Tông là Zen Rikyo dọn xếp lại tất cả thành một bộ luật về Trà Đạo cho đến nay còn lưu hành
Lúc đầu trà đạo thịnh hành giữa giới tăng lữ và giữa những người qúi phái vọng tộc, sau mới bành trướng đến quần chúng và được phổ biến ngày càng sâu rộng thêm Sự thưởng thức hương vị của trà phát triển song song với đạo Phật , phái Thiền Tông, và song song với óc thẩm mỹ sẳng có của dân tộc Phù Tang, để lần hồi trở nên một nghi thức, rồi một
Trang 8triết lý và hơn nữa một đạo giáo hẳn hoi, chánh thức, phải nhìn nhận trà đạo ngày nay có ảnh hưởng rất lớn đến văn hoá và mỹ thuật Nhật Bản
Về dụng cụ cần thiết thì có:
+ Phòng trà : Sukuya, do vậy gọi là Trà that, đúng hơn vì muốn tận hưởng lạc thú trà đạo
thì phải có am thất hợp thức, như vậy mới đáng gọi là Sukiya, Sukiya gồm một phòng uống trà, và một trù thất để pha trà, một phòng khách đợi phiên và có một con đường nhỏ
để dẫn khách đi ngang qua hoa viên đến trà thất Bởi vậy những biệt thự nào muốn có trà thất phải lựa chỗ u tịnh nhất trong hoa viên mà lập, có cây trăm thước, có hoa bốn mùa, có suối reo bốn mùa, có đá cuội lout đường, có rong xanh trãi đất, loại rong này, chủ nhân cho khách xem bằng mắt, và không gì thất lễ và thiếu xã giao cho bằng giẫm chân lên tấm thảm rong xanh biếc ấy
Hầu hết những dụng cụ trên được chế tạo một cách mỹ thuật và công phu
+ Trang phục: cách mặc đúng theo phương pháp trà đạo, phải ăn mặc khiêm tốn, nho nhã,
khi có đại lễ quan trọng, thì nam giới vận chiếc áo rộng tay kiểu Nhật thùng thình gọi là Kimono, may bằng lụa chắc, dày, có thêu năm ba dấu hiệu sắc tộc mình càng tốt Chân mang bít tất trắng gọi là Tabi, đối với nữ cũng mặc Kimono đơn sơ có thêu dấu hiệu tộc phái rõ rệt và cũng mang Tabi Dầu nam hay nữ khách cũng phải mang theo mỗi người một cây quạt giấy xếp và mang theo giấy trải nhỏ gọi là Kaishi
Phương pháp hành lễ
Một lễ trà đạo Chanoyu, đủ các nghi thức gồm những lễ kể ra như sau đây:
Một bữa ăn nhẹ kaiseki Một phút nghỉ xã hơi Nakadachi
Lễ chánh goza iri, trong khi diễn có dâng trà đậm Koicha Tiếp theo và dứt là lễ dâng trà ngon gọi là usucha
Nếu đầu đủ thì một cuộc trà đạo có thể kéo dài trên 4 tiếng đồng hồ
a) Lễ Kaiseki:
Quan khách được mời dự lễ chia ra từng tốp 5 người đều túc trực nơi phòng chờ Chủ nhân bước ra trình diện và mời khách nương theo con đường nhỏ dẫn qua một hoa viên xinh xắn công phu để đến trà thất Cạnh bên đường nhỏ này có xây một bể
Trang 9nước chảy trong veo, khách dừng chân lại, lấy vá múc nước rửa tay, xúc miệng, làm
lễ “tẩy trần”
Trà thất có cửa vào rất thấp, khách phải qùy gối mà chui vào để tỏ long kính cẩn và phục thiện Vào đến phòng chính thấy ở giữa có bày một bếp lửa bất di động, gắn chặt vào một nền lò di động, trên có đặt một siêu nước, bước vào phòng, mỗi du khách đều phải cúi đầu trước khám thờ Tokonoma Khách sẽ cầm cây quạt ngắm bức tranh treo trong khám và chiếc đỉnh con đặt trên bàn bên cạnh, sau đó khách liếc mắt nhìn lò lửa hồng, trên có cái siêu Tiếp theo sẽ phân ngôi thứ để an tọa Vị khách quan trọng sẽ được xếp ngồi cạnh chủ nhân Chào hỏi xong rồi thì dọn Kaiseki và những thức ăn ngọt
Trên tay chủ nhân cầm một cái tô qúi để pha trà gọi là chawan, một cọ tre để khuấy trà gọi là chasen và một cái vá xúc trà từ trong hộp ra gọi là chashaku Chủ nhân bước vào trù phòng trở ra với một chậu nhỏ dùng đựng nước để trau tô cho thêm sạch, một áo múc nước và một giá kê để lát nữa kê gáo lên trên hoặc kê đỡ nắp siêu Sau đó chủ nhân bưng từ trong hộp mức bánh ra đặt trước mặt vị khách quan trọng nhất Chủ nhân lấy khăn Fukusa lau sạch hộp đựng trà và lau luôn cái vá xúc trà, rồi lấy cọ tre quậy trong nước , nước này chủ nhân dùng gáo múc trong ấm siêu đặt trên
lò lửa hồng, chủ nhân tiếp lấy cái tô cũng trau bằng nước nóng, rồi truốt nước tô ấy vào chậu nhỏ, đạon lấy khăn vải gi mịn (gọi là Chaikin) lau lại cái tô sach sẽ trong ngoài Sau đó đặt tô xuống, chủ nhân lấy hộp trà, dùng cái vá tre xúc trà bột, từ hộp sớt qua tô, cứ đếm mỗi vị tân khách là 3 muỗng xúc Đoạn chủ nhân dùng gáo tre múc một gáo nước sôi đầy trong siêu nước, nhưng chỉ rót một phần ba gáo vào trong Matcha đặt trong tô, còn dư nước thì trút lại siêu, chủ nhân sẽ dùng cọ tre
Trang 10khuấy cho trà mau tan ra nước cho đến khi trà trở nên đặc sền sệt như nước đậu xanh sệt Trà pha cách này gọi là Koicha(trà đậm)
Phép hành lễ trà đạo vừa trang nghiêm vừa thanh nhã, thêm đượm chút gì huyền bí của một đạo giáo riêng biệt, nữa Thiền, nữa Thần đạo, nữa Võ sỉ đạo Trà đạo cho đến nay vẫn giữ được tính
cổ truyền bất di bất dịch khiến người Nhật tự hãnh diện và xem đó là tinh hoa của đất nước họ
* NHỮNG LỢI ÍCH TỪ UỐNG TRÀ
Trà đen, trà xanh đều là sản phẩm từ cây trà có tên khoa học là Camellia Sinensis Trà đen được ủ men, còn trà xanh thì không (trà Ô Long được ủ men một phần) Trà xanh là thức uống sức khoẽ phổ biến ở Châu Á từ hơn 5000 năm qua
Những chất polyphenol trong trà xanh có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và chữa bệnh ung thư So với trà đen, trà xanh có lượng polyphenol cao hơn, vì không bị quá trình
ủ men làm thay đổi thành phần Đặc biệt chất chống ôxy hoá EGCG (epigallocatechin gallate) là loại polyphenol vô cùng mạnh mẽ, là nhân tố chủ yếu để tạo nên dược tính của trà xanh Nó ngăn chặn các enzyme kích hoạt sự sao chép, nhân bản tế bào gây nên ung thư và những hoạt động khác của tế bào Các nhà khoa học ở Nhật Bản đã khám phá ra rằng những phụ nữ nào có thói quen uống hơn 5 tách trà xanh/ ngày thường ít có nguy cơ mắc bệnh hoặc tái phát bệnh ung thư vú và bệnh sẽ không di căn nhanh chóng như ở những đối tượng khác
Có một nhận xét rất thú vị rằng ở những quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, những nơi mà trà được xem là thức uống sức khoẽ hằng ngày thì tỷ lệ bệnh viêm khớp thấp hơn hẳn so với những nơi khác trên thế giới Ngoài ra nếu uống trà xanh thường xuyên sẽ giúp ích cho những bệnh nhân đang mắc bệnh tim mạch Sau khi phát cơn đau tim thì bệnh nhân nghiện trà xanh cỡ nặng đô có tỷ lệ tử vong ít hơn 44% so với bệnh nhận không uống trà
Chía khoá cho tính năng bảo vệ sức khoẽ của trà xanh chính là các Flavonoid, chất này còn
có cả trong trà đen, táo, hành, bông cải…có khả năng ngăn ngừa Cholesterol xấu LDL không bị oxy hoá, chống tụ máu.chống xơ cứng động mạch
Một số hợp chất hóa học và lợi ích sức khoẽ khác của trà xanh như chất CATECHIN: giảm nguy cơ đột biến gen, giảm cholesterol, cao huyết áp, đường máu, diệt virus cúm, ngừa sâu răng, hơi thở hôi Chất CAFFEINE: giúp bạn tỉnh táo, giảm mỏi meat, buồn ngủ, dùng như chất lợi tiểu VITAMIN C: giảm stress, ngừa cảm cúm, nhiều loại vitamin khác như B,
E, …
Trang 11Chuyên đề:
VĂN HOÁ RƯỢU
Rượu là một phát minh vĩ đại của con người sau lửa, nó trở thành một thức uống khá quen thuộc với con người Ơ Việt Nam rượu cũng trở nên khá quen thuộc và không thể thiếu trong bất cứ trường hợp nào của hội hè, đình đám, giổ tết, ma cha, cưới hỏi… Suốt chiều dài của đất nước Việt Nam, ở mỗi vùng có một số đặc sản riêng, nói đến rượu thì qủa that là một đề tài thú vị và muôn thuở của con người, chỉ sau tình yêu Ơ miền Bắc có rượu làng Vân, rượu làng Mơ, Côn Sơn tửu…Ở miền Trung có rượu Hồng Đào, rượu Bàu Đá, rượu Chuồn, rượu Minh Mạng…Miền Nam có rượu Nàng Hương, rượu Đế Gò Đen, rượu Nếp Mới… Mỗi vùng đều có hương vị rượu riêng, tạo nên thú chơi và cách thưởng thức cũng khác nhau
I Rượu và nguồn gốc của lễ nghi
Theo chữ tượng hình và suy luận của Trung Quốc, chữ TỬU là rượu gồm hai bộ phận: chữ THỦY là nước, ghép với chữ DẬU có nghĩa là lên men Hai chữ ghép với nhau thành chữa Rượu Có nghĩa là men được cất chung với nước tạo thành rượu
Những quả hái lượm về ăn không hết, để chất đống, bị lên men, các loại ngủ cốc bị ẩm cũng lên men Khi lên men chúng tỏa ra mùi thơm dễ chịu, ăn vao thấy vị ngọt mà say xưa và từ đó người ta làm ra rượu Ví như rượu Bồ Đào làm từ nho, ở Tây Vực đưa vào Trung Quốc từ đời Đường Cũng có ý kiến cho rằng, con người trong thời đại đồ đá đã biết làm rượu Khoảng 8000 năm TCN, thần rượu ở Hy Lap gọi là Dionysos, ở La Mã gọi là Bacchus, thần là con của siêu thần Zeus với Sémélé, đó là vị thần có râu ria sồm xoàm, được tượng trưng với dáng mình dê, đầu người có 2 sừng Bacchus là thần của rượu, của sự say mê, của sân khấu, các nhà điêu khắc, các họa sỹ khắp nơi đều đua nhau nặn tượng và vẽ chân dung Bacchus, trong đó có Léonard de Vinci
Rượu là vật ắt phải có để tế tự trời đất quỷ thần, cũng là vật không thể thiếu torng lễ nghi hội hè Với rất nhiều người mà nói, cơm và rượu đã trở thành song song không thể tách rời, chỉ cần ăn cơm thì không thể thiếu một lượng rượu nhất định, nhưng cũng như trà, rượu là một loại xa xỉ phẩm chứ không phải là phẩm vật thiết yếu, muốn uống rượu thì cần nhiều tiền hơn là để ăn no nếu rượu được coi như một thứ đạo, tửu đạo, một tôn giáo, thì với người Việt Nam, Trung Quốc và các nước đồng văn khác từ lâu đã tôn Lưu Linh làm ông tổ Lưu Linh tên chữ là Bá Luân, (210 – 270) sống vào cuối đời nhà Ngụy của Tào Tháo, và đầu đời Tấn của Tư Mã Ý
II Một số loại rượu nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 12Người ta bàn tán về rượu cũng như bàn tán về tình yêu that roam rả, chẳng bao giờ ngớt,
cổ kim đông tây đều vậy Trên thế giới chẳng có dân tộc nào không dùng rượu và đều có
bí quyết chưng cất rượu thoe lối riêng của từng dân tộc, từng vùng, do vậy việc thưởng thức cũng khác nhau, tùy theo khẩu vị và cái tạng của từng địa phương
A Ở Việt Nam
+ Rượu làng Mơ: có chiều dày lịch sử chừng sáu, bảy trăm năm, gốc gác ở vùng Nam
quận Hai Bà Trưng – Hà Nội Xưa kia cả vùng này là một vùng mơ bát ngát, dân nơi đây chuyên nghề nấu rượu mơ, bán đi khắp mọi nơi và cái gọi là rượu làng mơ trở nên rất nổi tiếng Nghề nấu rượu mơ được cha truyền con nối, không đâu có rượu ngon hơn ở đây Nó thanh cao, tinh khiết, xênh xang, tượi mát thanh bạch, say diệu Uống loại rượu này mà kèm theo đồ nhắm là hỏng bét, tức “Ẩm bất tri kỳ vị” Uống rượu mơ chỉ uống với mấy quả mơ xanh, tươi và dòn mà thôi
Trong truyện Tam Quốc, Tào Tháo và Lưu Bị uống rượu với mơ xanh, họ lấy đũa gắp
mơ rồi nhắm nháp Trong màn kịch “ Chung Vô Diệm phá hội kỳ bàn” vua Tấn đấu
cờ với Chung Vô Diệm cùng ngồi uống rượu mơ và ăn mơ xanh Họ uống một hớp nhỏ rồi sau mới ăn mơ, chứ không ăn ngay vì họ còn muốn kéo dài cái dư vị thơm ngon của rượu mơ dâng lên
+ Rượu Tăm:
“ Đố ai đánh võng không đưa
Ru con không haut anh chừa rượu tăm”
Cất 10 lít rượu thường, chỉ được 1 lít rượu tăm mà thôi và nó là loại ngon thượng hạng Người ta cho rượu tăm vào một cái chai, không rót đầy rượu và bịt kín miệng, người ta lắc mạnh cho rượu sủi tăm lên, tăm rượu bốc mạnh như reo Khi để chai đứng lên, các tăm rượu sẽ lặn ngay lập tức Đó là cách để nhận biết loại rượu tăm chính cống
Trang 13thì ở làng Vân việc khám xét bắt bớ còn kinh khủng hơn rất nhiều Nhưng rồi cuối cùng vua Bảo Đại vẫn dùng rượu làng Vân để thiết tiệc các quan Tây, nên Vân Hương Mỹ Tửu còn gọi là rượu cung tiến Vua Chữ “Vân Hương Mỹ Tửu” là do cụ Nguyễn Công Quyển, người làng Vân đặt ra, nhờ có loại rượu này mà cụ được vua Bảo Đại trọng thưởng
Năm 1978, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, sang thăm Pháp, trong tiệc chiêu đãi, chính phủ Pháp dành cho cố Thủ tướng một điều bất ngờ, họ mời Thủ tướng uống
“Vân Hương Mỹ Tửu” Nhân sự kiện này mà làng Vân được tiếp tục nấu rượu, vừa
để dùng trong nước, vừa để xuất khẩu
+ Rượu Cần Tây Nguyên
Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, thường dùng rượu Cần để thiết khách, mừng ngày vui, lễ hội, đình đám Theo truyền thuyết, thì từ khi khai sơn phá thạch, các dân tộc Tây Nguyên chưa biết làm ăn sinh sống Trời đã dạy Y’Rhim xuống dạy dân làng, làm nương, phát rẫy, trồng tỉa, nấu cơm, thổi sôi, làm bẫy bắt chim thú Khi cuộc sống được cải thiện, thần Y’Rhim, dạy dân làng nấu rượu để mừng ngày vui, ngày hội của buôn làng và để cúng Giàng Thần Y’Rhim cùng với dân làng, vào rừng đào
củ gừng dại, mang về giã nhỏ trộn với bột gạo, viên thành bánh, phơi khô, làm men Men rượu ủ với cơm neap chừng bốn ngày rồi bỏ vào ché bịt kín, ít lâu sau sẽ thành rượu Khi uống đổ nước đầy ché, cắm cần vào hút
Một số dân tộc khác như Êđê, Bana, Giarai, họ lấy củ Kuah, giả nhỏ nhào với nước
và bột gạo, nấu lên rồi nắm thành những nắm to bằng qủa trứng gà, đặt những nắm ấy lên một cái mẹt, hong ra gió một thời gian ( không có ánh nắng), tới khi nào những nắm đó ủ men xanh mới đem vào bếp say, rồi thổi cơm cho chín, tr65n những nắm bột có men ấy vào thế là thành men rượu Nắm bột đ1o đem đặt vào trong những chiếc ghè có rơm bọc kín Khoảng một tuần lễ, mở ghè ra, đổ nước lả vào cho đầy rồi cho thêm ít lá tươi mà đồng bào dân tộc giữ kín, không nói là lá gì Sau đó dùng rơm, tr65n bùn bịt chặt miệng ghè lại, để thêm 7 ngày nữa là thành rượu Cần Họ dùng cây lòng bong đã rút ruột, uống cong lại một đầu cắm sâu vào trong vò, một đầu để vào miệng mà hút
Chum rượu tùy tính chất buổi gặp mặt có thể là 1, 2, hay 3 chum, có thể to hoặc nhỏ, uống rượu cần ở nhà rông hay ở từng gia đình Chum rượu thường được buộc ở giữa nhà, có cọc tre làm trụ cho vững, mỗi chum cắm bốn, năm hoặc sáu cần có độ cong vừa tầm người ngồi hút rượu Bên cạnh chum lại có chậu nước để đổ thêm nước vào chum rượu cho đầy cho đến khi rượu nhạt thì thay chum mới
Trang 14Rượu chuẩn bị xong, bao giờ chủ nhà cũng nhấm trước một chút để chứng tỏ rượu tốt rồi Chủ nhân mời người phụ nữ lớn tuổi nhất trong đoàn khách uống tuần đầu Trước
đó họ s4 làm lễ mời Giàng về cùng chung vui Người phục vụ rượu, múc đầy một kháu nước, tức một sừng trâu đầy nước, sừng trâu này có một lổ nhỏ bằng hạt ngô, người phục vụ rượu dùng một ngón tay khéo léo điều chỉnh để nước chảy xuống chum rượu dần dần sao cho hết sừng nước Năm người uống rượu phải hết 5 sừng nước, thế nhưng muốn hết 5 sừng, thì cả 5 người phải hợp sức thì mới hết nổi Sừng nước không cạn, chứng tỏ cả 5 người, không ai uống mà chỉ ngậm miệng vào cần rượu
Tục uống rượu cần còn thể hiện một triết lý bình đẳng, mọi người cùng uống chung trên một chiếc cần rượu, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, già trẻ Buổi vui là vui chung của cả cộng đồng, dù là lễ hội của làng, hay ngày vui của cả gia đình
Rượu Bàu Đá là sản phẩm rượu nguyên chất được chế biến từ gạo, men và nguồn nước được lấy từ Bàu Đá có mùi hương đặc biệt Người ta nấu rượu xong sẽ đựng trong các lu sành, như vậy sẽ giữ được mùi vị thơm ngon của rượu Nếu đựng trong những can bằng nhựa thì rượu sẽ không ngon và mùi nhựa sẽ làm biến mất đi mùi rượu đặc trưng Loại rượu Bàu Đá, đựng trong các lu sành càng lâu càng tốt, đặt biệt những lu sành này được chôn chặt dưới lòng đất, trên miệng lu sành, người ta dùng nắp đậy thật kỹ để hơi rượu và mùi hương không bay ra ngoài Thông thường thì chôn dưới đất khoảng 6 tháng là có thể dùng được, nếu để càng lâu thì càng qúi Rượu nguyên chất khi dùng sẽ có cảm giác thoải mái, dẽ chịu, uống nhiều không thấy choáng váng, không gây đau đầu Đồng thời thành phần rượu được kết hợp có tác dụng trị bệnh đau long, nhức mỏi, dễ tiêu hoá
Từ nhiều thế kỷ trước cho đến nay, người ta chỉ dùng nguồn nước trong Bàu đá ở huyện An Nhơn để sản xuất ra loại rượu này, đây là loại rượu thường dùng trng các buổi Yến tiệc của các vua chúa thời nhà Nguyễn
Trang 15+ Rượu Đế Gò Đen
Là loại rượu đặc biệt ở vùng Gò Đen, thuộc huyện Bến Lức tỉnh Long An Thời Pháp thuộc, chúng khai thác bóc lột mọi sản vật, tài nguyên và nhân lực trên lãnh thổ Việt Nam Chúng ra lệnh nghiêm cấm việc chưng cất rượu truyền thống của người Việt Nam để các loại rượu ngoại nhập của Pháp dễ lưu hành trong lãnh thổ Việt Nam
Người dân xứ Gò Đen này đã nhiều đời có lưu truyền nghề chưng cất rượu truyền thống nên để giữ cho nghề không bị thất truyền, người dân ở vùng Gò Đen, ban đêm
lén đem men rượu đã ủ sẳn ra những “cánh đồng đế” để nấu rượu, vì sợ nấu trong
nhà, nhiều kẻ gian rình rập báo cho bọn thực dân Pháp biết, và vì muốn giữ bí quyết
nghề truyền thống không bị mai một, vì thế mới có tên là “Rượu đế” Loại rượu này
sản xuất ở vùng Gò Đen, nên dân gian hay gọi là rượu Đế Gò Đen Những cánh đồng
Đế ngày xưa ở vùng này rất nhiều, theo cụ Vương Hồng Sển trong tác phẩm “Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam” thì cây Đế thân ốm, có nhiều hoa nhỏ li ti giống như cây lau sậy
Dọc quốc lộ 1, khi đi ngang qua khu vực Gò Đen của huyện Bến Lức tỉnh Long An,
du khách dễ dàng thấy được hai bên đường có bày bán rất nhiều can nhựa, phía trước
có ghi là rượu đế Gò Đen Nguyên liệu nấu rượu chủ yếu là gạo, ở đây có rất nhiều lò nấu rượu, việc pha chế, ủ men tùy theo bí quyết của mỗi gia đình, ngoài ra còn có rượu neap, rượu mía, rượu thuốc (có ngâm thêm nhiều vị thuốc Bắc, rắn, tắc kè, tổ ong…)
+ Rượu Minh Mạng
Cũng như các triều đại quân chủ khác trong lịch sử Việt Nam, triều đại Nhà Nguyễn (1802 – 1945) đã lập ra một cơ quan tại kinh đô chuyên trách về y tế, gọi là Thái Y Viện, để chăm lo sức khoẽ cho hoàng gia và điều hành công việc chữa bệnh cho mọi người trong nước Nguyên tắc chung của thiết chế bộ mày hành chánh nhà nước là như thế, nhưng xem ra trên thực tế, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan y tế trung ương này là trông coi, phục vụ sức khoẽ cho vua và hoàng gia, cho nên chúng ta không lạ
gì khi thấy sử sách của nhà Nguyễn còn gọi Thái Y Viện là Ngự Y Viện và viện này đóng ngay trong Tử Cấm Thành là nơi dành riêng cho nhà vua và gia đình ăn ở sinh hoạt hằng ngày
Thái Y Viện được thiết lập từ thời Gia Long (1802 -1819) và tồn tại mãi cho đến thời Bảo Đại (1926 – 1945), nhưng trong số 13 vua nhà Nguyễn thì có 2 ông vua đã tỏ ra quan tâm nhiều nhất về hiệu qủa , tổ chức và hoạt động của cơ quan này, đó là vua Minh Mạng (1820 – 1840) và vua Tự Đức (1848 – 1883) Hai vị vua này có 2 lý do khác nhau
Trang 16Vua Tự Đức thì vì thể chất yếu đuối bẩm sinh hay đau ốm, bị bệnh đậu mùa biến chứng trở thành bất lực, không sanh đẻ được, rất muốn có con để truyền ngôi Nhưng
sự đời thật oái ăm trong khi 3 ông vua triều Nguyễn lại có con đàn cháu đống:
+ Vua Gia Long sinh được 31 người con (13 hoàng tử, 18 hoàng nữ)
+ Vua Minh Mạng sinh được 142 người con (78 hoàng tử, 64 hoàng nữ) + Vua Thiệu Trị sinh được 64 người con (29 hoàng tử, 35 hoàng nữ)
Vua Tự Đức là vị vua thứ tư, không sinh được một mụn con nào để thừa kế ngai vàng, mặc dù khi vua băng hà, vẫn còn đến 103 cung nữ sống trong Tử Cấm Thành Trường hợp vua Minh Mạng thì khác hẳn, nhìn vào những áo quần mà ông vua này mặc lúc sinh thời và hiện nay viện Bảo tàng Huế đang gìn giữ và trưng bày, chúng ta thấy rõ vua Minh Mạng là người to béo, vạm vỡ và thể chất chắc hẳn là rấr khoẻ mạnh Đã cường tráng và sung sức như vậy rồi thì cần dùng thêm thuốc bổ làm gì nữa?
Người ta thường trả lời rằng vua cần tăng lực để thỏa mãn thú vui xác thịt với hàng trăm bà vợ trong hoàng cung Vua Minh Mạng có bao nhiêu bà vợ, hiện nay không ai biết được con số ấy một cách chính xác, vì sử sách không ghi rõ Bộ sách “Minh Mệnh chính yếu” của Quốc sử quán triểu Nguyễn chỉ tiết lộ cho biết rằng vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 6 (tức tháng 2 năm 1825), “trong kinh kỳ ít mưa, nhà vua lấy hạn làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng Bảo Khanh là ông Hoàng Quýnh rằng: hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp, trẫm nghĩ xem vì đâu mà đến thế, nhưng chưa tìm
ra nguyên nhân, có lẽ trong thâm cung, cung nữ nhiều nên âm khí uất tắc mà thành như vậy ư? Nay bout đi cho ra 100 người”, vậy số bà trong cung còn lại chắc hẳn vài trăm trở lên Am thịnh như thế thì nhà vua quá cần thuốc bổ để cường dương
Nhưng theo tương truyền thì đó chưa phải là lý do đầu tiên để các vị ngự y trong triều dâng lên cho vua Minh Mạng thang thuốc bổ mà chúng ta đang nói đến Ngay từ khi còn là hoàng tử, một thời gian trước khi lên ngôi vào năm 1820, giữa lúc 29 tuổi Ong rất yếu về đường sinh dục, cho nên sau khi đăng quang, vua ra lệnh cho các vị ngự y phải cố gắng giúp vua lấy lại sức khoẽ, do đó các ngự y đã “đối chứng lập phương” làm ra một thang thuốc bổ để vua dùng hằng ngày và thang thuốc rất hiệu nghiệm Cái hiệu nghiệm đầu tiên rất cụ thể về mặt sinh lý, trong đời mình nhà vua đã sinh hạ được 78 người con trai và 64 người con gái Về sau vua Thiệu Trị, con trai trưởng đã rất tự hào về khả năng to lớn đó của vua cha Cái hiệu nghiệm thứ hai là về mặt tinh thần trí tuệ Lịch sử cho thấy ngót 20 năm trị vì, vua Minh Mạng đã làm việc rất nhiều và đã đem lại nhiều thành quả tốt đẹp cho đất nước về nhiều phương diện: hành chánh, kinh tế, văn hóa, xã hội…có thể nói thời Minh Mạng là đỉnh cao của triều Nguyễn Làm thành công được nhiều như thế là nhờ tâm trí sáng suốt Có lẽ phương
Trang 17thuốc mà vua Minh Mạng dùng hàng ngày đã đóng góp không nhiều thì ít vào hoạt động tâm trí, các tư duy chính trị thường nhật của nhà Vua Theo nguyên tắc của triều Nguyễn thì toa thuốc bổ ấy chỉ dùng riêng cho vua Minh Mạng mà thôi, không ai được phép bắt chước sử dụng, nhưng vì công hiệu rõ ràng và kết qủa tốt đẹp của nó, các quan lớn trong triều đã “phạm thượng” một cách bí mật bằng cách sao chép đem
về dùng ở nhà rồi sau đó lan truyền dần ra trong dân gian
Ngay từ thời vua Minh Mạng, toa thuốc đã được đặt tên là “ Nhất dạ ngũ giao”, gọi tắt từ một câu thơ tương truyền là nói về hoạt động sinh lý của vua Minh Mạng:
Rượu Trung Quốc được định hình trên 4000 năm Tại Bỉnh Sơn – Hà Bắc, đã đào thấy được những hủ rượu, bát, chén, tước uống rượu của thời Xuân Thu – Chiến Quốc Mỗi địa phương chế rượu theo điều kiện trồng trọt, khí hậu, địa lý, truyền thống…của mình Nhìn chung rượu được chia thành 5 loại: Hoàng tửu (rượu vàng), Bạch tửu (rượu trắng), rượu hoa qủa, rượu hoa qủa phối hợp với ngũ cốc và rượu vang Hoàng tửu là loại rượu
có thể coi như cổ xưa nhất thế giới, trên 4000 năm, người Trung Quốc đã có rượu này
Rượu Thiệu Hưng nổi tiếng trong lịch sử xuất sứ từ vùng Thiệu Hưng – tỉnh Triết Giang Rượu được chế biến bằng loại rượu nếp mới thu hoạch với nước khoáng ở Thiên Hồ và men đặc biệt Rượu Thiệu Hưng trong suốt, thơm ngon, được coi như một dạng thuốc bổ Rượu Thiệu Hưng còn giúp cho việc tiêu hóa dễ dàng, làm bổ máu và loại trừ được sự mệt nhọc Do vậy được sử dụng rộng rãi trong toàn dân Chai, vò, hũ đựng rượu được trình bày theo con mắt mỹ thuật dân gian, nhiều màu sắc, có hình các con vật, hoa lá, phong cảnh, hình vẻ về các chuyện dân gian phổ biến Bởi vậy rượu Thiệu Hưng còn được gọi là rượu trang trí, được cả thế giới biết đến
Trang 18Rượu Phúc Kiến cũng được chế biến từ loại lúa nếp thơm, nhưng dùng loại men phối hợp có nhiều vị thuốc, rất có lợi cho sức khoẽ Lại còn rượu Kê, rượu Đại Mạch, rượu Cao Lương, rượu hỗn hợp vài loại ngũ cốc, rượu hạ thổ được tích trữ trong nhiều năm Rượu mạnh, rượu trắng được chế từ đời nhà Tống (960 – 1279) Rượu mạnh Trung Quốc nổi tiếng về độ trong, thuần, thơm dễ chịu, cất từ ngũ cốc, có khoảng 40% độ cồn Còn nhiều loại rượu mạnh với công cụ chế biến, cách sử dụng men và kỹ thuật khác nhau: Mao Đài, Ngũ Lương, Đổng Tửu, Cổ Tỉnh, Mai Quế Lộ, Lư Châu, Khổng Phủ Gia Tửu…
Rượu Mao Đài coi như là thượng hạng Thị trấn Mao Đài cao hơn mặt nước biển 400 mét, khí hậu ấm áp, có nguồn nước tuyệt vời Rượu Mao Đài có những thành phần chế biến hợp lý và có những điều kiện lý tưởng cho việc cất rượu
Ở Thiểm Tây có loại rượu mạnh gọi là “Bất Tử Tửu”, nơi đây có giếng tiên, có nước chảy từ trên núi xuống Ngày xưa tại Cảnh Dương, nức tiếng rượu Cảnh Dương thuộc thành Dương Cốc huyện Dương Cốc, nơi đây cho ra đời loại rượu qúy “ Thấu Bình Hương” Thủy Hử truyện miêu tả chi tiết ấy là: Võ Tòng trước quán rượu “Tam quyển bất quá cương” để uống liền một lúc 18 chén rượu làm cho tinh thần sản khoái, tăng thêm sức mạnh để đã hổ
Sách cổ của Trung Hoa nói về rượu có nhiều thuyết, phần lớn là do truyền tụng trong dân gian Sử sách lưu lại chỉ chừng một nữa, người ta cho rằng, ông tổ của nghề nấu rượu là
Đỗ Khang, dân gian quen gọi là Thần Tửu Từ đời nhà Thương, cách nấu rượu bằng ngủ cốc đã khá phổ biến Văn viết trên mai rùa, khắc trên đồng hồ đều ghi lại, người nhà Thương lấy rượu làm đồ tế tổ tiên Sang đời Tần, Hán, kỹ thuật nấu rượu càng phát triển với tốc độ nhanh Toàn nước Trung Hoa đều biết cất rượu với nhiều loại ngủ cốc khác nhau Rượu gạo là cách nấu rượu đặc trưng của người Trung Hoa Thời Trung cổ, các danh sỉ đời Ngụy Tấn, các nhà thơ đời Đường, các Hảo Hán, các chính khách lừng danh, đều lấy rượu làm một nghi thức văn hoá khi giao tiếp và rất coi trọng những phút gặp gỡ trong cuộc rượu Rượu là thứ văn hoá gắn bó với đời sống nên những bộ đồ rượu cũng vô cùng phong phú, tiền nhân biết nấu rượu cũng là lúc biết làm đồ gốm
Sách “ Thanh khố thực ẩm loại chí” có ghi lại rằng, vua Càn Long dụ cho một số quan đi khảo sát các luồng nước, giếng, suối nước… rồi đánh giá xem nguồn nước nào tốt nhất cho việc cất rượu Cuối cùng kết luận: nước suối Ngọc Tuyền ở kinh sư là tốt nhất Cung đình nhà Thanh dùng nước suối Ngọc Tuyền để nấu rượu, nhất là vào mùa xuân, mùa thu, ở Bắc Kinh ít nước mưa Nước tự nhiên ở suối phun lên thật trong suốt và tươi mát Cung đình nhà Thanh, doing lên một chùa nấu rượu trong thành Tây An, xây doing một Tửu Cục (cục lo về rượu) gồm 24 gian, do 6 sư phụ nấu rượu Ở đây dùng nước Ngọc tuyền nấu rượu, nguyên liệu để phối chế men được giữ bí mật và khác với những loại
Trang 19khác Vua Càn Long thường dùng rượu Ngọc Tuyền, ngừơi ta phải mang rượu theo vua khi ông vi hành
Rượu còn dùng để Hoàng đế thưởng cho các sủng thần, thái giám, cung tần mỹ nữ Lò rượu trong cung đình còn chế ra loại rượu uống trừ ma quỉ gọi là rượu “Đồ Tô”, để uống vào cuối năm Rượu “ Hùng Hòang” và rượu ngâm rắn uống vào tiết Đoan Ngọ, mùa thu uống rượu “ Hoàng Hoa” Từ Hy Thái Hậu cho trồng một vụn cây san diệp và sen qùy rồi sai thái giám lấy nhị sen và thuốc Bắc để nấu rượu, gọi là rượu Sen
2 Châu Âu
Để được gọi là rượu, thức uống phải chứa khoảng 14 % độ cồn trở lên (trên 150), nhưng với nồng độ này, rượu cũng chỉ là loại rượu vang, dù là mang nhãn hiệu Champaghe, Mdera, Port…
Rượu mạnh gồm một số loại thông dụng trên thế giới được nhiều người biết đến qua các tên Whisky, Cognac, Rum, Vodka, Gin… torng đó Whisky, Cognac được sản xuất nhiều hơn cả
Whisky là sản phẩm chưng cất từ hạt lúc đại mạch, luau mạch đen, bắp và các loại ngủ
cốc có hạt nhỏ khác Trước năm 1820 tất cả các loại Whisky đều được làm ra từ mạch nha của lúa đại mạch, có 4 dòng Whisky chính trên thế giới là: Scotch (Tô Cách Lan), Irish (Ái Nhỉ Lan), Mỹ và Canada Trong đó dòng Scotch là lâu đời nhất khoảng 1.100 năm và cũng nổi tiếng nhất Để được mang tên Whisky Scotch theo luật pháp nước Anh, rượu phải có nguyên liệu là lúa mạch, được ủ trong các thùng gổ Sồi với thời gian ít nhất
là 2 năm
Johnnie Walker (Red Label) nhãn đỏ được pha chế từ 40 loại Whisky Scotch đã được ủ
trên 3 năm Loại Black Label (nhãn đen) cũng được pha chế từ hơn 40 loại Whisky Scotch ngon nhất nhưng tất cả phải để trưởng thành lâu hơn 12 năm cho chín mùi
Whisky Mỹ còn có tên là Whisky Bourbon, dùng nguyên liệu chính là bắp Theo qui định của chính phủ Mỹ, đây là loại Whisky được chưng cất từ mạch nha của các loại hạt với trên 51% là bắp, độ cồn không được vượt qúa 80 độ và phải được ủ torng thời gian tối thiểu là 2 năm, mặc dầu hầu hết Whisky Bourbon đều được ủ từ 4 năm trở lên Whisky Mỹ được coi là ngon nhất có độ cồn từ 63 đến 70 độ, khi chưng cất và qua thời gian ủ chỉ còn trên dưới 35 độ Whisky Canada chỉ dùng lúa mạch đen và bắp làm nguyên liệu chính, cộng với các loại hạt nhỏ khác, phải ủ tối thiểu 4 năm trước khi bán
Do dùng nguyên liệu chính là lúa mạch đen nên Whisky Canada còn có tên là Rye Whisky nghĩa là Whisky lúa mạch đen và co màu từ nâu đậm đến đen
Trang 20Cognac được chưng cất từ nho, chất lượng của nó không chỉ phụ thuộc vào tiến trình
chưng cất mà còn là sự tổng hợp của thổ nhưỡng, khí hậu và các điều kiện khác để cho
ra đời trái nho Nho sau khi hái, ép lấy nước cất, để lên men, rồi mới đưa vào nồi chưng cất Rượu mới được cất không có màu chứa khoảng 70% cồn và còn mùi vị trái cây, thậm chí cả mùi đồng (của nồi cất rượu) Rượu được đổ vào thùng gổ Sồi, dần dần chuyển thành màu hổ phách và có hương vị nho dịu dàng Kế tiếp là pha chế các loại Cognac sao cho rượu có vị ngon nhất trước khi vô chai, dán nhãn Thường các chữ ký hiệu được ghi vào nhãn để định rõ chất lượng rượu:
V.O (Very Old); V.S.O.P (Very Superior Old Pal): rất lâu đời, vượt mức
O.X (Extra Old), Napoleon Grand De Serve Cordon Bleu, Liquer Cognac là những
ký hiệu dùng để chỉ những loại Cognac được ủ rất lâu, trên 50 năm hay lâu hơn nữa Đặc điểm của Cognac là khi đổ trên tay, hơi ấm từ lòng bàn tay làm tỏa mùi thơm rất mạnh Các loại Cognac thông dụng nhất ở thị trường Việt Nam là Hennessy, Martell, Remi Martin…
Rum có một lịch sử rất rực rỡ, bắt nguồn từ châu Á, theo chân con người trong cuộc hành
trình về phương Tây Cây mía được Columbus mang đến châu Mỹ, Cuba và Rum xuất hiện đầu tiên tại vùng này Rum ngày nay hiện diện ở những nơi có trồng mía Theo định nghĩa Rum là rượu chưng cất từ nước coat mía hay sản phẩm của cây mía Nó được chưng cất đến khoảng 95 độ cồn và thường giữ lại phần lớn mùi vị tự nhiên của sản phẩm gốc Rum chủ yếu dùng pha chế Cocktail nhưng cũng có thể uống với nước cốt trái cây
Rượu Sâm banh (Champagne) là loại rượu trắng sủi tăm tinh tế, đặc biệt của Pháp, khác với tất cả các loại rượu khác, người Pháp đã tôn thờ và thần thoại hoá Sâmbanh Hầu heat các loại rượu vang chỉ lên men một lần, riêng Sâmbanh phải lên men 2 lần Hầu heat các loại rượu vang ngon đều tự hào rằng: Có nguồn gốc từ một vườn nho và được ủ một năm Còn một trai Sâmbanh hạng trung bình có thể chứa hỗn hợp rượu vang của khoảng 40 vườn nho và ủ vài năm Máu Sâmbanh là màu vàng rất nhạt mặc dù được chế biến chủ yếu
từ nho đen
Loại nho được chế biến Sâmbanh mọc ở một vùng nhỏ thuộc tỉnh Champagne lúc trước của nước Pháp, nay thuộc tỉnh Marné, cách Paris 145 km về phía Đông Bắc Từ Sâmbanh (Champagne) trong tiếng Pháp chính là bắt nguồn từ danh từ riêng Champagne Để giữ chất lượng cho Sâmbanh Pháp, luật pháp của nước Pháp có qui định rõ nho được dùng làm Sâmbanh được trồng ở đâu? Trồng những loại nho nào chủ yếu là 2 giống nho đen, một giống nho trắng và phải cắt tỉa cây nho ra sao?
Trang 21Chuyên đề :
SỰ THỜ PHỤNG & CÁCH BÀI TRÍ CÁC TƯỢNG TRONG CHÙA
Cách thức bài trí các tượng chư Phật, chư Bồ tát, cùng các vị Thần thánh ở trong chùa tuy vẫn có qui thức và ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì từ lâu không có sách vở nào ghi chép cho tinh tường thành
ra người vào chùa không phân biệt được pho tượng nào thờ vị nào Do vậy muốn biết rõ thì trước hết phải phân biệt tượng thờ chư Phật và tượng thờ chư Bồ tát
I Tượng thờ chư Phật :
Tạc theo những tướng lạ đã nói ở trong kinh, nhất là những tướng đã biểu lộ ra bên
ngoài như: trên đảnh đầu có “nhục kế” tức gò thịt nổi cao lên như búi tóc, mặt tròn, ở phía dưới trán, chỗ 2 lông mày giao với nhau có cái nốt thịt gọi là “Bạch ngọc hào”, 2 tai dày
và dài, ngực có chữ “Vạn”, mình vàng sắv hoàng kim Tượng thường ngồi trong tư thế
“Kiết già” xắp bằng trên toà sen Đó là những biểu tướng trang nghiêm, quang minh của
chư Phật, thường gọi là tam thập nhị tướng và bát thập chủng hảo (32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp) Có thể biết thêm là chư Phật có tóc xoăn như con ốc, có hào quang (chư Phật có đầu quang và thân quang, chư Bồ tát chỉ có đầu quang) Một số tượng Phật khuôn mặt có râu xoắn ốc, thì những tượng này ảnh hưởng bởi văn hoá Phật giáo đời Đường, vì tượng Phật đời Đường đều có râu, thể hiện tướng Đại trượng phu
Tư thế và cử chỉ cũng ảnh hưởng đến văn hóa của mỗi quốc gia khi đạo Phật du nhập vào Tượng Phật đi là dạng tượng hiếm hoi, ảnh hưởng của Thailand, Miến Điện Ơ
Việt Nam, tượng và tranh vẽ Phật sơ sinh đứng trên tòa sen có thể tạm gọi thuộc tư thế
tượng đi
Tượng Phật nằm phổ biến ở nhiều nơi và dành riêng cho việc thể hiện Phật Nhập Niết
Bàn
Tư thế đứng và ngồi có vai trò quan trọng hơn Tư thế ngồi có 2 kiểu thức là kiểu ngồi ẤN
ĐỘ và kiểu ngồi CHÂU ÂU
Kiểu ngồi Ấn Độ gồm kiểu Kiết già (2 chân lồng chéo vào nhau và 2 bàn chân ngửa lên rõ ràng) và kiểu Bán Kiết già (chân trái gập lên chân phải)
Kiểu ngồi Châu Âu: là nói một cách khái quát ngồi buông thỏng 2 chân xuống dưới – kiểu ngồi ghế hay ngồi trên ngai Trong thực tế, kiểu ngồi này có thể là kiểu ngồi đặt 2 bàn chân ngay ngắn, song song nhau và có thể 2 bàn chân chéo nhau – gọi là “giao cước”
Trang 22Việc phối hợp một nhóm cử chỉ nhất định, ít nhiều được qui định với các tư thế thể hiện phần lớn các đề tài có nguồn gốc từ cuộc đời của đức Phật: từ việc bỏ kinh thành ra
đi, đến việc đắc đạo và nhập Niết bàn Điều này chỉ ra vai trò quan yếu của các cử chỉ, các thủ ấn, ấn pháp Nắm được ý nghĩa biểu thị của chúng sẽ giúp cho việc chiêm ngưỡng tượng Phật đạt được sự hiểu biết cao sâu
Bên cạnh đó, đài tọa bên dưới các tượng Phật cũng ảnh hưởng rất nhiều đến ý nghĩa, thâm ý qua mỗi hình tượng chư Phật, Bồ tát Phổ biến nhất là “Liên hoa tọa” tức là đài tọa hoa sen Sở dĩ chư Phật và Bồ tát đều đặt trên đài tọa hoa sen vì đây là loại hoa có
ý nghĩa đặc thù của Phật giáo Trong lịch sử tạo hình Phật tượng, liên hoa toạ cũng biến đổi theo từng thời đại
Thời cổ đại thì đa phần là hình vuông – tục gọi là “Tứ phương tọa”, về sau mới xuất hiện đài tọa sáu cạnh (gọi là lục giác tọa), có hoa văn trang trí điêu khắc phức tạp Bên cạnh đó còn có đài tọa Hoa sen tám lá (Bát diệp liên), sen nghìn lá (Thiên diệp liên) lại có hình dáng khác lạ, cầu kỳ, phong phú muôn ngàn dáng vẻ
Ngoài ra còn có Kim Cang tọa, Sư tử tọa, Tu Di tọa, Thiên y tọa, Bàn thạch tọa, Hà
diệp tọa, Cù du tọa (thảm dệt bằng lông thú), Điểu thú tọa, tượng tọa, mã tọa, khổng tước tọa, ngưu tọa, dương tọa, lộc tọa, sinh linh tọa…
II Bồ tát tượng
Bồ tát gọi tắt từ chữ Bồ – đề – tát – đõa (Bodhisattva) vốn là danh hiệu để gọi Đức Phật khi chưa thành Phật, do vậy hình tượng Bồ tát đều căn cứ theo hình tướng thái tử Tất Đạt Đa Y phục đa dạng, nhưng luôn có thiên y, đầu đội bảo quan, tai đeo vòng, cổ đeo chuỗi anh lạc, bắp tay, cổ tay, cổ chân đeo vòng xuyến, cổ đeo nhiều trang sức Bồ tát tức
là quả vị sắp thành Phật nên có một số qúy tướng
Bồ tát là lập thệ nguyện cầu Phật đạo, hóa độ chúng sanh, lại trải qua một trình độ
tu luyện nhất định mới đạt được qủa vị này Trách nhiệm của Bồ tát là hoằng dương chánh Pháp, giáo hóa chúng sanh Trong Phật giáo địa vị của Phật là cực cao, là đại biểu của chân
lý, hóa thân của lòng tin, không chỗ nào không có, không có đều gì không làm được Nhưng đôi lúc khiến người ta cảm thấy cảnh giới của Phật có thể hy vọng mà không thể đến, có thể tiếp cận, thần bí màthiếu cảm giác gần gũi Nhưng đối với Bồ tát thì “Ta không vào địa ngục thì ai vào”, Bồ tát gần gũi với nhân gian và người nghèo khổ hơn
Bồ tát ở nhân gian phổ độ chúng sinh, dùng muôn vàn hóa thân để đến với chúng sinh ở mọi nơi, giải cứu khổ nạn cho chúng sinh, do đó khiến cho chúng sanh có cảm giác
Trang 23thân thiết hơn Sau khi đạo Phật truyền vào Trung thổ thì loại tín ngưỡng Bồ Tát này rất phù hợp với tâm lý dân gian
Các tượng Bồ tát hoặc ngồi, hoặc đứng trên tòa sen, có khi cởi trên lưng thú, tay cầm Pháp bảo hay bắt ấn là hiệu riêng của từng vị Như ngài Địa Tạng Bồ tát, ngồi trên lưng con Đề Thính, tay trái cầm tích trượng, tay phải cầm qủa minh châu Hoặc như Bồ Tát Văn Thù ngồi trên lưng con sư tử xanh dũng mãnh, biểu thị cho trí tuệ dũng mãnh của
Bồ tát, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải cầm bảo kiếm, bảo kiếm tượng trưng cho trí tuệ
có thể chém dứt mọi phiền não vô minh Đối với tượng Phổ Hiền Bồ tát ngồi trên con voi trắng sáu ngà, tay phải cầm chày Kim Cang, tay trái cầm Kim Cang Lệnh, tượng trưng cho hạnh nguyện của chư Bồ tát
Trên đây là vài nhận biết cơ bản các tượng Phật, Bồ tát Để biết cách bài trí các tượng ở trong chùa như thế nào là đúng qui thức thì nên chia nhà chùa ra làm 4 lớp như sau: Điện thờ Phật, Nhà bái đường ở trước điện thờ Phật, nhà hành lang ở hai bên chùa, Tăng đường hay Tổ đường Đây chỉ là cách phân bố mang tính tổng quát, về quy hoạch tổng thể thì còn tùy thuộc vào đặc điểm của từng chùa Tuy nhiên 4 lớp nêu trên có tính cơ bản trong hầu hết sự bố trí ở các chùa
A Điện thờ Phật
Trước khi vào chùa đến Phật điện, thông thường người đến chùa thường đi qua cổng Tam Quan, được làm rộng rãi, cách thiết kế cổng Tam quan tùy theo từng chùa có cách kiến trúc riêng Có nhiều chùa xây dựng Tam quan có cả lầu chuông, lầu trống và gian thờ Vi Đà Hộ Pháp như Tam quan chùa Thiên Mụ (Huế) hoặc chùa Bát Tháp (Hà Nội) Tuy vậy cũng có nhiều chùa Tam quan rất đơn giản, xây dựng một cổng chính, có 3 lối đi vào, bên trên lợp mái âm dương hoặc xây dựng theo kiểu trùng diêm, tạo nhiều bộ mái chồng lên nhau như Tam quan chùa Kim Liên ở quận Tây Hồ – Hà Nội Đây là dạng cổng Tam quan độc nhất vô nhị hiện còn ở nước ta Chỉ có một dàn hàng ngang 4 cột, mở
ra 3 lối đi có cách đóng mở bên trên là hệ thống con sơn 2 tầng chồng đấu để đỡ các con rường Khẩu độ của các con rường này thu nhỏ dần tới nóc Bộ vì kèo được nối với nhau bằng các hàng xà trên và xà dưới tạo nên 3 gian (3 lối vào) trong đó cửa giữa nhô cao hẳn lên với bốn mái xoè rộng cùng với các đầu đao uốn cong bay lên phía trên Hai cổng hai bên thấp và hẹp hơn, có mái như chui sát dưới mái cổng và tỏa ra 3 phía ngoài
Trong đạo Phật Tam quan có nghĩa là: ba cái lối vào, bao gồm:
Không quan: nghĩa là quán xét mọi sự vật không có thật tính và thật tướng, tức mọi
vật trong thế gian đều không thật, như trong Bát Nhã Tâm Kinh có nói: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệt, phục, như thị” Mọi thứ trên
Trang 24thế gian này đều không thật tồn tại, tất cả các đều ấy không hiện hữu một cách vĩnh viễn và không có thật
Giả quan: nghĩa là quán xét mọi sự vật đều biến hoá vô thường, tất cả đều là giả
tạo, cuộc sống không bền chắc, chỉ là tạm bợ, lệ thuộc và bị chi phối bởi định luật “ thành trụ hoại diệt”
Trung quan: có nghĩa là nhìn sự vật ở chỗ không phải là không có, và cũng không
phải là giả tạm Cái đạt được là biết trung hòa giữa cái không và cái giả tạm, hiểu được đều đó tức hiểu đạo
Vì thế tất cả các chùa đều làm cái cổng Tam quan để biểu thị cho chân lý ấy, tất cả người giàu sang, nghèo hèn, thông minh, dại khờ đều đi chung một cổng như vậy, tức không có sự phân biệt mà chỉ đi theo đúng con đường chân thật ấy thì sẽ đạt đạo Chỉ có chùa thì mới gọi là Tam quan, đi vào đến trong Phật điện, nơi đây chỉ có một ý nghĩa là thờ Phật mà thôi
Chư Phật có Tam thân: Pháp thân, Báo thân, và Ứng thân, do vậy cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện là theo đúng ý nghĩa như thế Do đó tầng trên cùng của Phật điện thờ Pháp thân Phật, kế đến tầng thứ hai là Báo thân Phật, và cuối cùng là Ứng thân Phật
a Bộ tượng Tam Thế:
Là lớp tượng trên cao nhất, tức là lớp tượng “Thường trụ Tam thế diệu pháp thân”, người ta thường gọi tắt là tượng Tam thế, nghĩa là thờ Phật thường trụ trong thời gian Qúa khứ, hiện tại, và tương lai Vị Phật trong quá khứ đó chính là đức Phật A Di Đà, vị Phật trong hiện tại là Trung thiên Điều Ngự Thích Ca Mâu Ni, vị Phật trong tương lai là Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật Bộ tượng này cũng có thể gọi là Tam Tôn Thông thường bộ 3 tượng này được tạc trong tư thế Kiết già
thiền định, các vị Phật này quyết Định Ấn ( là thủ ấn thể hiện trong tư thế thiền tọa,
hai bàn tay ngửa đặt lên nhau, để giữa lòng đùi, 2 đầu ngón cái chạm vào nhau Về
ý nghĩa, như tên gọi của nó, ấn này biểu thị cho sự Thiền định, chỉ quán)
b Tây Phương Tam Thánh (hoặc Di Đà Tam tôn)
Lớp thứ hai ở trong Phật điện có 3 pho tượng lớn Pho tượng ngồi giữa là đức Phật A Di Đà, pho tượng bên tả là Bồ Tát Quán Thế Âm, bên hữu là Bồ tát Đại Thế Chí Đức Phật Di Đà cùng 2 vị Bồ tát này ở cõi Tây Phương Cực lạc luôn tiếp dẫn những chúng sanh trong cõi nhân gian sau khi chết muốn được sanh về thế giới của ngài Để nhận biết các vị Phật, Bồ tát trong bộ 3 này cần lưu ý:
Phật A Di Đà: thường thờ thì có 2 tượng : tượng ngồi trên tòa sen, tay kiết
Định Ấn, tượng tự Phật Thích Ca trong bộ Tam Thế Tuy vậy trong bộ Tây Phương Tam Thánh thì tượng Đức Phật Di Đà đứng trên Hoa sen lơ lửng trong hư không, mắt ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẳn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang tầm mịch nơi
Trang 25biển khổ Tượng này gọi là tượng Di Đà phóng quang Hoặc tượng đứng trên tòa sen, mắt nhìn xuống, tay trái cầm Kim liên (hoa sen vàng), tay phải duỗi thẳng xuống, lòng bàn tay ngửa ra cũng là Phật A Di Đà trong tư thế tiếp độ
Tượng đức Quan Thế Âm: thường đứng bên trái đức Phật A Di Đà, tượng
hình người nữ đứng trên hoa sen, tay mặt cầm cành dương liễu, tay trái cầm bình tịnh thủy có chứa nước cam lộ
Tượng đức Đại Thế Chí: thừơng đứng bên phải đức Phật A Di Đà, hình dạng
giống cư sĩ (Phật tử), cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh
c Hoa Nghiêm Tam thánh
Lớp thứ ba có 3 pho tượng lớn, pho tượng ngồi giữa là tượng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, tức Ứng thân, đản sanh xuống trần gian để hóa độ chúng sanh Tượng này tạc trong tư thế ngồi trên tòa sen, hai tay bắt ấn Tam muội, đôi mắt khép lại 3 phần 4 Bên phải tượng Thích Ca là tượng của Bồ tát Văn Thù, tay phải cầm kiếm sắc bén, tay trái cầm hoa sen xanh Mình ngồi trên lưng sư tử xanh Bên trái tượng Thích Ca là tượng Bồ tát Phổ Hiền, ngồi trên con voi trắng 6 ngà, hình thức giống như vị cư sĩ, hai tay chắp lại Thông thường bộ 3 tượng này thể hiện tinh thần sâu sắc của Phật giáo đại từ bi, đại trí tuệ, tinh thần nhập thế cứu đời Thể hiện tính nhân văn của dân tộc, từ bi phải có trí tuệ
Một số chùa biểu thị đức Thích Ca ngồi cầm hoa sen như khi ngài thuyết pháp ở Linh Thứu Sơn, tượng này gọi là “Niêm hoa vi tiếu” hai bên tả hữu cũng có
Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền Hầu hết các thiề viện ở Việt Nam đều có tôn trí
bộ tượng này duy nhất ở Phật điện Chính vì vậy khi vào thiền viện thì chỉ có thờ bộ tượng này hoặc có một số nơi thay thế 2 vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền bằng 2 vị Tôn giả là A Nan (khuôn mặt trẻ) và Ca Diếp (khuôn mặt già), đây là 2 vị đệ tử của đức Phật khi ngài còn tại thế
d Tượng Cửu long
Lớp thứ 4 có pho tượng Cửu Long đứng giữa Theo Phật tích, khi đức Thích
Ca đản sanh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài làm lễ mộc dục (lễ tắm) Tượng Cửu long được làm có chín con rồng vây bọc chung quanh và ở phía trên có những đám mây và các vị Phật, chư Thiên Ơ giữa có một pho tượng đồng tử đứng trên tòa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”
e Tượng Tứ Thiên Vương
Một số chùa có diện tích rộng rãi thì Phật điện còn bố trí thêm vài lớp tượng nữa, ngoài tượng Cửu Long, còn có 4 pho tượng Thiên Vương nữa, mặc áo vương phục, bài trí theo 2 dãy đối xứng nhau Bốn vị Thiên Vương đó là Trì Quốc Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương
f Tượng Tứ Bồ tát
Trang 26Đây là tượng 4 vị Bồ tát được tạc theo dạng thiên thần gọi là:
Ái Bồ tát, tay cầm mũi tên Sách Bồ tát tay cầm cái cây Ngữ Bồ tát tay cầm cái lưỡi hái Quyền Bồ tát tay nắm lại để vào trong lòng ngực
g Tượng Bát bộ Kim Cang
Đây là 8 vị Kim Cang, họ là những Thiên tướng trên trời, luôn ủng hộ Phật pháp và giúp đỡ những người lương thiện, trừng phạt những kẻ bất thiện Tám vị ấy là:
Thanh Trừ Tai Kim Cang Tích Độc Thần Kim Cang Bạch Tịnh Thủy Kim Cang Xích Thanh Hỏa Kim Cang Định Trừ Tai Kim Cang Đại Thần Lực Kim Cang
Tử Hiền Kim Cang
B Nhà Bái đường
Nhà bái đường là nơi dành cho bá tánh thập phương, phật tử cùng du khách tề tựu chỉnh trang lại y phục trang nghiêm, lễ vật tươm tất trước khi vào Phật điện để lễ Phật Thông thường nhà Bái đường là nhà ngang liền với chánh điện thờ Phật Một số chùa do diện tích Phật điện không được rộng rãi, cho nên khi hành lễ tại chánh điện chỉ có chư tăng đứng bên trong ấy, Phật
tử và bá tánh thập phương đứng bên ngoài nhà Bái đường để hành lễ hoặc ngồi tụng kinh, niệm Phật
Trong nhà Bái đường thường có 2 pho tượng đặt đối xứng nhau ở 2 bên tả hữu của nhà bái đường Hai pho tượng này mặc áo giáp, đội mão trụ, tay cầm binh khí, hình dáng giống như hai người võ sĩ trông rất dữ tợn Đây là 2 vị Hộ Pháp của nhà Phật mà hầu hết tất cả các chùa đều có thờ Bên tả là vị Khuyến Thiện, bên hữu là vị Trừng Ác Hầu hết hiện nay các chùa đều đặt tượng của Vi Đà Thiên Tướng và Tiêu Diện Đại Sĩ làm 2 vị Hộ Pháp ở nhà Bái đường Đối với tượng
Vi Đà Hộ Pháp, thường mang dáng võ tướng oai hùng, mình mặc giáp trụ, tay cầm chày Kim Cang hoặc 2 tay chắp lại, để chày ngang ngực giữa 2 cùi tay, thể cách uy vũ dũng mãnh Về phần tượng Tiêu Diện Đại Sĩ, thực ra đây là tượng của Đức Quan Thế Âm hiện thân, vì tuân lời chỉ bảo của Đức Phật mà Bồ tát hiện thân Tiêu Diện Đại Sĩ để thống lãnh 36 loại cô hồn trong tam giới, đồng thời cũng để bảo vệ cho nhà chùa không bị những cô hồn, ngạ qũy đói khát quay phá Tượng này được tạc trong tư thế đang cầm cờ lệnh điều khiển âm hồn Nhìn khuôn mặt của tượng này trông rất dữ tợn Trên đầu tượng này đội 3 qủa núi Tu Di làm cho trời đất rung động, trong miệng, mắt khi nhìn và khi nói phun ra lửa làm cho qủy thần điều kinh sợ
Một số chùa trong nhà Bái đường còn có bàn thờ Thổ Địa, Long Thần Thờ Thổ Địa thần tức
vị coi giữ đất đai cho chùa, pho tượng này tạc mặt đỏ trông rất uy nghiêm, bên cạnh đó có thờ Long Thần để che trở cho Phật pháp và bảo vị cho các vị sư, tăng trong chùa
Trang 27Đồng thời ở trước gian bái đường, nhiều chùa có tôn trí tượng đức Phật Di Lặc như chùa Thiên Mụ (Huế), chùa Viên Giác (Tân Bình – TPHCM)…để Phật tử và bá tánh chiêm bái cầu mong sự hoan hỷ hạnh phúc trong cuộc đời, lúc nào cũng gặp những điều vui và an lành
C Nhà hành lang hai bên chùa
Thường hai dãy hành lang này là nơi đặt bộ tượng Thập Điện Diêm Vương hay Thập Bát
La Hán Nhà hành lang là 2 dãy nhà dài làm ở 2 bên chùa, đi thông vào nhà Hậu đường Ơ giáp tường nhà hành lang, thường có mỗi bên chín pho tượng của các vị A La Hán, như vậy 2 bên là 18 vị gọi là Thập Bát La Hán
Ơ các chùa bên Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam thường làm 18 vị La Hán, nhưng trong các tài liệu chỉ nói có 16 vị mà thôi, mười sáu vị này vâng sắc lệnh của Phật ở lại Thế gian hoằng dương và hộ trì chánh pháp Mười sáu vị La Hán đó là:
1 Tân Độ La Bạt Ra Nọa Xa (Pindola Bharadvaja)
Về sau thêm 2 vị Hàng Long, Phục Hổ thành ra 18 vị La Hán
Đối với Thập Điện Diêm Vương, thì ở 2 dãy hành lang, mỗi dãy nhà đặt 5 bàn thờ , mỗi bàn thờ có thờ một vị vua Diêm La cai quản 1 điện ở cõi âm ty Mười vị Diêm Vương ấy là:
1 Tần Quảng Vương
2 Sở Giang Vương
3 Tống Đế Vương
4 Ngũ Quan Vương
Trang 2810 Chuyển Luân Vương
D Tổ đường (hay Tăng đường)
Thông thường các Tổ đường hay Tăng đường được thiết kế theo kiểu “Tiền Phật Hậu Tổ) tức là phía trước là chánh điện thờ Phật, thì phía sau la nơi thờ Tổ NhàTổ tức là nơi thờ các vị su Tổ đã mất Các vị Tổ này là người khai sáng ra chùa hoặc đã từng trụ trì, trùng tu, chấn hưng Phật giáo ở chùa
Trên bàn thờ các vị tổ ở Tổ đường thường có một pho tượng tạc dung mạo người Tây Trúc (Ấn Độ), mũi cao tóc quăn, râu quai nón rậm, đó chính là Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma Ong là vị tổ thứ 28 của Thiền Tông Ấn Độ và là vị tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Hoa Bên dưới là di ảnh của các vị tổ sư ở chùa đã viên tịch, đồng tthời có Long vị (ghi pháp húy, thế danh, pháp danh, thụy hiệu, dòng truyền thừa…)
Xung quanh Tổ đường còn có bàn thờ “Hương linh trí tự” tức bàn thờ vong linh của người quá cố gởi vào chùa Những vong linh này là thân nhân của các Phật tử ở chùa hoặc
là thân quyến của các vị sư tu học, trụ trì ở chùa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trần Trọng Kim – PHẬT LỤC – NXB Tôn Giáo Hà Nội năm 2002
Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật Việt Nam – SỔ TAY HÀNH HƯƠNG ĐẤT PHƯƠNG NAM – NXB TP.HCM năm 2002
HT Thích Thanh Từ – THÂM Ý QUA HÌNH TƯỢNG PHẬT & BỒ TÁT – NXB TPHCM năm 1997
Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ – TRUNG QUỐC PHẬT GIÁO ĐỒ TƯỢNG GIẢNG THUYẾT – NXB TP.HCM năm 2001
Võ Văn Tường, Thích Bảo Nghiêm – HÀ NỘI DANH LAM CỔ TỰ – NXB Văn hóa Thông tin năm 2003
Trang 29
Chuyên đề
SƠ LƯỢC PHẬT GIÁO VIỆT NAM MỘT SỐ NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG TRÊN TUYẾN DU
LỊCH TP.HCM – HUẾ
A SƠ LƯỢC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Phật giáo truyền đến Việt Nam vào khoảng đầu Tây Lịch Trên đường phát triển, đạo Phật đã chia thành nhiều tông phái khác nhau Trong đó, 2 tông phái lớn đó là Bắc Tông và Nam Tông, ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tín ngưỡng và tâm linh của người Việt rất sâu rộng Tinh thần Từ Bi – Trí Tuệ của đạo Phật cũng là triết lý sống của đại đa số người Việt Nam Sự phát triển của Phật giáo qua nhiều giai đoạn cũng là sự hưng thịnh, thăng trầm của đất nước Việt Nam
Giai đoạn 1: Phật giáo thời đại du nhập và Bắc thuộc
Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu TK III SCN, các thiền sư Ấn Độ theo các thuyền buôn đến Giao Châu (tức Việt Nam thời bấy giờ) Giao Châu là một trong những địa điểm mà các thương nhân hàng hải Ấn Độ đến miền viễn đông để mua các thứ gia vị, hương liệu, gỗ, trầm hương…những nơi thờ tự được tạo lập để thỏa mãn yêu cầu tín ngưỡng của họ, các thiền sư ẤN
Độ bắt đầu truyền đạo và đạo Phật từ lúc ấy đã len lõi vào trong cộng đồng người Việt Trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) xuất hiện Những ngôi chùa nổi tiếng thời bấy giờ là: chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Dàn, chùa Tương
Trong thời kỳ này có 2 thiền phái du nhập vào nước ta:
Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (580 SCN)
Phật Thích Ca nhập Niết bàn truyền y bát cho Tổ Ca Diếp (sơ tổ Thiền Tông
Ấn Độ)….Ca Diếp tiếp tục truyền xuống đến Bồ Đề Đạt Ma (vị tổ thứ 28 của thiền tông Ấn Độ) Bồ Đề Đạt Ma theo thuyền buôn đến Trung Quốc vào khoảng năm 520 đời Lương Vũ Đế Từ đây Bồ Đề Đạt Ma trở thành vị sơ tổ của thiền tông Trung Hoa
Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc tiếp tục truyền xuống Huệ Khả (tổ thứ 2), Tăng Xán (tổ thứ 3), Đạo Tín (tổ thứ 4), Hoàng Nhẫn (tổ thứ 5), và lục tổ Huệ Năng (vị tổ thứ 6) Thiền sư TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI là bạn cùng tu với đệ tứ
tổ Đạo Tín
Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Giao Châu vào năm 580, trụ trì chùa Dâu ở Luy Lâu (Bắc Ninh) Mở ra phái thiền thứ Nhất tại Việt Nam Dòng thiền này
Trang 30truyền được 19 đời, đến TK XIII (có 28 thiền sư đắc pháp, khởi đầu từ ngày Pháp Hiền, kết thúc là ngài Y Sơn, không truyền vào Phương Nam)
Thiền phái Vô Ngôn Thông (826 SCN)
Ngài là người Trung Hoa, ngài là đệ tử của tổ Bách Trượng Nguyên từ vị tổ thứ 6 của thiền tông Trung Hoa là Huệ Năng, khi truyền xuống lại có 2 ngài
là Nam Nhạc và Thanh Nguyên Ngài Nam Nhạc có vị đệ tử xuất sắc là ngài
Mã Tổ Ngài Mã Tổ truyền xuống cho vị đệ tử xuất chúng là ngài Bách Trượng (Hoài Hải) Ngài Bách Trượng có 2 đệ tử kiệt xuất là Vô Ngôn Thông và Qui Sơn Ngài Vô Ngôn Thông đến Việt Nam trụ trì chùa Kiến Sơ, truyền đạo vào khoảng năm 826 Phái thiền này truyền đạo song song với dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi Phái thiền Vô Ngôn Thông truyền được 15 đời ,
có 40 vị đắc pháp, phái thiền này truyền đến niên hiệu Khai Hựu, nhà Trần (1337) Qua nhiều đời đến ngài Thông Thiền, Thông Thiền truyền xuống cho ngài Hiện Quang (đây là vị tổ khai sơn Yên Tử – 1221)
Giai đoạn 2: Phật giáo từ thời Ngô đến thời Trần (TK X đến TK XIV)
Đây là giai đoạn Phật giáo phát triển rực rỡ nhất, đặc biệt dưới 2 triều đại nhà Lý và nhà Trần Các vua Lý đều tôn sùng đạo Phật Thời kỳ này có thiền sư Thảo Đường ở chùa Khai Quốc lập
nên thiền phái Thảo Đường Các vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Anh Tông, thiền
sư Không Lộ đều thuộc phái thiền này
Đến thời nhà Trần Phật giáo phát triển càng rực rỡ hơn Các vua nhà Trần cho lập nhiều chùa, độ dân làm tăng Các thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, vẫn phát triển rực
rỡ cho đến khi vua Trần Nhân Tông xuất gia đầu Phật tại núi Yên Tử vào năm 1299, ông lấy Pháp
hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thống nhất Phật giáo trên toàn cõi
Đại Việt Vua Trần Nhân Tông truyền xuống cho Thiền sư Pháp Loa, Pháp Loa tuyền xuống cho ngài Huyền Quang Đến thời vua Trần Anh Tông, Phật giáo bị pha lẫn Đạo giáo
Đến cuối TK 14, thời nhà Hồ, Hồ Qúy Ly bắt các tăng sĩ dưới 40 tuổi phải hoàn tục để ra trận Các chùa triền xuống cấp, không người tu sửa, lòng người hoang mang, tăng, sĩ phiêu tán Phật giáo bước vào giai đoạn suy yếu
Giai đoạn 3: Sự truyền bá của dòng thiền Lâm Tế và Tào Động (TK XV đến TK XVIII)
Phật giáo thời kỳ này không còn khởi sắc như trước nữa, triều Lê sơ (1428 – 1527) được thiết lập, chùa triền bị hư hỏng nhiều sau cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Minh xâm lược Cuộc chiến tranh Lê – Mạc nổ ra, tiếp theo là Trịnh – Nguyễn phân tranh Các Chúa Nguyễn tỏ ra ham mộ đạo Phật, với tư tưởng “Cư Nho, mộ Thích”
Trang 31Trong thời kỳ này, sự du nhập của phái Thiền Lâm Tế và Tào Động từ Trung Quốc sang Việt Nam Phật giáo phát triển mạnh tại Đàng Trong từ khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hoá năm 1558 Trên 200 năm, các Chúa Nguyễn hết lòng mộ đạo Phật
Hai thiền sư nổi tiếng của phái thiền Lâm Tế là ngài Nguyên Thiều (1649 – 1729) và ngài Liễu Quán (? – 1792) Ngài Nguyên Thiều từ Trung Quốc sang, ông người ở phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông Còn ngài Liễu Quán là người Việt Nam (ở tỉnh Phú Yên) Ngài Liễu Quán là đệ tử của thiền phái Lâm Tế đời thứ 35, khai sơn nên chùa Thiền Tôn ở Huế
Thiền sư Nguyên Thiều đến Việt Nam vào năm 1677, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, ông lập chùa Thập Tháp ở Bình Định Sau đó vâng mệnh của Chúa về Trung Quốc mời các danh tăng, cao tăng sang Việt Nam truyền đạo Ngài mời Thiền sư Thích Đại Sán (tức Thiền sư Thạch Liêm, thường gọi là Thạch Đầu Đà, người Triết Tây – Trung Quốc), ngài được Chúa Nguyễn mời làm trụ trì chùa Thiên Mụ Năm 1696, trước khi lên đường về nước, ngài đã truyền Bồ Tát Giới cho Chúa Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa), ban hiệu là Thiên Túng Đạo Nhơn, đệ tử nối pháp đời thứ 30 của Tào Động chánh Tông Thiền sư Thạch Liêm là người có công truyền bá phái Tào Động ở Đàng Trong
Giai đoạn 4: Từ TK XIX đến năm 1920
Nhà Tây Sơn, phá bỏ nhiều chùa triền, lấy chuông, pháp khí trong chùa đem nấu chảy làm vũ khí, nhiều chùa bị triệt hạ để làm nơi tế lễ trời đất, hoặc nơi cất giấu vũ khí, lương thực Nhà Nguyễn lên ngôi, vua Gia Long và các vị vua nhà Nguyễn cũng không mộ đạo nhiều như các vị chúa Nguyễn, tuy nhiên, do các bà Hoàng Hậu, Thái Hậu của truyền Nguyễn, mến mộ đạo Phật, các vị vua nhà Nguyễn hết lòng hiếu thảo nên vì mẹ mà bỏ tiền phụng cúng, trùng tu tôn tạo nhiều ngôi chùa Trong thời gian này các vua nhà Nguyễn cũng “Sắc Tứ” cho nhiều ngôi chùa trong cả nước
Bên cạnh đó, các vị vua nhà Nguyễn còn mời các vị Cao tăng, danh tăng vào trong cung để giảng pháp, lập đàn chay tịnh cầu xin Quốc thới dân an Các nhà thơ, nhân sĩ, Nho sĩ đương thời cũng ít nhiều ảnh hưởng bởi giáo lý của nhà Phật trong các tác phẩm của mình như : Nguyễn Du (Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh), Nguyễn Gia Thiều (Cung Oán Ngâm Khúc), Nguyễn Công Trứ (Vịnh Phật), Chu Mạnh Trinh…
Giai đoạn 5 : Từ năm 1920 đến nay – Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất
Phong trào phản đối sự đàn áp của chế độ Ngô Đình Diệm, phong trào chấn hưng Phật giáo trãi qua 50 năm (1920 – 1970) đạt được nhiều thành tựu ở nhiều mặt Bên cạnh đó có nhiều tông phái
ra đời như: Khuất Sĩ, Thiên Thai Giáo Quán Tông…
Trang 32- Năm 1951 đại hội Giáo hội tăng già toàn quốc bầu cơ quan đại diện giáo hội đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) Đây là GHPGVN thống nhất tại miền Bắc
- Năm 1963, đại hội Phật giáo tổ chức tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn), thành lập GHPGVN thống nhất tại miền Nam
- Tháng 11 năm 1983, hội nghị gồm 165 đại biểu của 9 tổ chức giáo hội, hệ phái Phật giáo trong
cả nước đã họp tại chùa Qúan Sứ (Hà Nội) đã nhất trí thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và bầu ra hội đồng trị sự trung ương, đứng đầu là Hòa thượng Pháp Chủ
- Từ ngày 26/12 đến ngày 27/12/2003 Hội đồng trị sự trung ương tổ chức tại thiền viện Quảng Đức (TP.HCM) công bố cả nước có:
14.401 ngôi tự viện (trong đó có 12.036 ngôi chùa Bắc Tông, 539 ngôi chùa Khmer và Nam Tông, 361 Tịnh xá Khuất sĩ, 467 tịnh thất, 998 niệm Phật đường)
38.866 tăng ni (trong đó có 28.365 tăng ni thuộc Bắc Tông, 512 thuộc Nam Tông, 7635 thuộc Nam Tông Khmer, 2534 thuộc Khuất sĩ)
03 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Huế, và TP.Hồ Chí Minh
05 lớp Cao đẳng Phật học và 30 trường trung cấp Phật học trong cả nước
500 giảng sư trong nước và 200 tăng ni đang du học ở nước ngoài
B MỘT SỐ NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG TRÊN TUYẾN TP.HCM – HUẾ
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên, lịch sử truyền bá đạo Phật và xây dựng chùa chiền trên khắp đất nước, kể cả TP.HCM & Huế đã được rất nhiều sách báo tài liều ghi lại Những ngôi chùa nổi tiếng trên tuyến du lịch TP.HCM – Huế nhằm giới thiệu sơ nét các ngôi chùa Phật giáo Bắc Tông nổi tiếng, về kiến trúc, điêu khắc, cảnh quan trên đường bộ đi
từ TP.HCM đến Huế, khi bàn về những ngôi danh lam đại tự này, chúng tôi xin được trình bày
ở góc độ người làm du lịch, và xem như là những điểm du lịch mà du khách thích đến tham quan chiêm bái, đồng thời sẽ trình bày theo dạng liệt kê
1 Chùa Linh Sơn Trường Thọ (Bình Thuận)
Tên tự : Linh Sơn Trường Thọ Tự
Trang 33Tên dân gian: Chùa núi Tà Kóu
Địa chỉ: Xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
Trụ trì: Thượng tọa Thích Chơn Thành
Thời gian tạo lập: - Giữa, TK 19, do tổ sư Hữu Đức
- Khởi công trùng tu vào ngày 07/05/1993
Đặc điểm: Có tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài nhất Đông Nam Á, 49 thước, cao
11 thước, xây dựng năm 1963, hiện nay có hệ thống cáp treo sản xuất năm
2002, với chiều dài toàn tuyến cáp là 1600m, độ cao 505m được trang bị từ
25 đến 35 cabin, có công xuất chở khách từ 700 đến 1000 khách/giờ
2 Chùa Cổ Thạch (Bình Thuận)
Tên tự: Cổ Thạch Tự
Tên dân gian: Chùa Cổ Thạch, Chùa Hang
Địa chỉ: xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
Trụ trì:
Thời gian tạo lập: Giữa TK 19, do thiền sư Bảo Tạng khai sơn, sau đó ông Hồ Công
Điểm đã tổ chức xây dựng ngôi chùa khang trang và đặt tên là Cổ Thạch Tự, được trùng tu từ 1956 – 1964
3 Chùa Long Sơn (Khánh Hòa)
Tên tự: Long Sơn Tự
Tên dân gian: Chùa Phật trắng
Địa chỉ: số 22 đường 3 tháng 2, phường Phương Sơn, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Trụ trì: Thượng tọa Thích chí Tín
Thời gian tạo lập: Xây dựng năm 1886 do HT Ngộ Chí khai sơn
Trang 34Đặc điểm: Nằmtrên đồi Trại Thủy, có tượng kim thân Phật Tổ do Thượng tọa Thích
Đức Minh và điêu khắc gia Bửu Điền thực hiện 1964 – 1965, Phật đài cao 24m, tượng cao 14m
4 Chùa Từ Quang (Phú Yên)
Tên tự: Từ Quang Tự
Tên dân gian: Chùa đá trắng, chùa Bạch Thạch
Địa chỉ: Thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Trụ trì: Thượng tọa Thích Thiện Tu
Thời gian tạo lập: Vào cuối TK 18 do thiền sư Pháp Chuyên tự Lục Truyền , hiệu Diệu
Nghiêm (Người Quảng Nam) Năm 1992 được trùng tu
Đặc điểm: Chùa nằm giữa một vùng toàn đá trắng, nên tục gọi là chùa đá trắng Đây là
quê hương của Tổ Liễu Quán Chùa được sắc tứ vào thời vua Thành Thái Hiện còn giữ được đại hồng chung đời Duy Tân
5 Chùa Thập Tháp Di Đà(Bình Định):
Tên tự: Sắc tứ Thập tháp Di Đà Tự
Tên dân gian: Chùa tháp trắng, chùa Thập tháp
Địa chỉ: Thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
Trụ trì: Thượng tọa Thích Viên Định (1994 – nay)
Thời gian tạo lập: Cuối YK 17, do thiền sư Nguyên Thiều từ Quảng Đông – TQ dựng
nên, ông là đời thứ 33 của dòng thiền Lâm Tế
Đặc điểm: Đây là ngôi tổ đình đặc biệt quan trọng của khu vực miền Trung Nơi đây là
nơi dừng chân đầu tiên của Thiền sư Nguyên Thiều, vị tổ sư truyền dòng Lâm Tế đầu tiên vào khu vực miền Trung
Tại dây có ngôi tháp của vị Hòa thượng Thiệt Kiến - Liễu Triệt, với nhiều huyền thoại linh ứng với ngôi chùa và đạo hạnh của ngài Điều đặc biệt ngôi
Trang 35chùa được xây dựng trên nền củ của mười ngôi tháp Chăm cổ của thành Đồ Bàn xưa Bên cạnh đó chùa Thập Tháp còn có vị quốc sư Phước Huệ Ông là
vị cao tăng tài đức vẹn tròn, được hoàng gia rất trọng vọng và nhiều lần được mời vào cung để giáo huấn
6 Chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi)
Tên tự: Sắc tứ Thiên Ấn tự
Tên dân gian: chùa Thiên Ấn, chùa giếng
Địa chỉ: Tọa lạc trên núi Thiên Ấn, xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi,
name ở phía Bắc sông Trà Khúc, cách TX Quảng Ngãi 3km
Trụ Trì:
Thời gian tạo lập: Vào cuối thế kỷ 17, do Thiền sư Pháp Hoá khai sơn, ngài người
Phúc Kiến TQ, trụ trì chùa trong 60 năm
Đặc điểm: Nằm trên núi cao 105 m, núi này có nhiều đá son để mài mực chấm quyển
chữ Nho Tại chùa có đại hồng chung nối tiếng linh thiêng Lúc đầu đánh không kêu Năm 1845 Thiền sư Bảo Ấn chú nguyện tham thiền và sau đó thỉnh chuông mới kêu và vang xa khắp nơi Chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu sắc tứ vào năm 1716 Chùa hiện nay được trùng tu vào năm 1992 –
2001
7 Chùa Linh Ứng & Chùa Tam Thai:
Tên tự: Linh Ứng Tự và Tam Thai Tự
Tên dân gian: chùa Non nước
Địa chỉ: Tọa lạc tại ngọn Thủy Sơn, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung
tâm TP Đà Nẵng 8 km về phía Đông Nam
Trụ Trì: HT Thích Trí Giác (Chùa Tam Thai)
TT Thích Thiện Nguyện (Chùa Linh Ứng)
Thời gian tạo lập:
Trang 36Chùa Linh Ứng: Khai sơn vào thời Cảnh Hưng(1740 – 1786) do HT
Quang Chánh
Chùa Tam Thai: khai sơn vào thời Hậu Lê do HT Thiền sư Hưng Liên từ
TQ sang, năm 1695 HT Thạch Liêm có ghé viếng chùa
Đặc điểm: Ngũ Hành Sơn là tên do vua Minh Mạng đặt cho cụm núi này, chùa Linh
Ứng do vua Minh Mạng ngự chế vào năm 1825 Năm 1997 xây dựng Bảo Tháp Xá Lợi cao 30m
Chùa Tam Thai do vua Minh Mạng ngự chế vào năm 1825
8 Chùa Tịnh Quang (Quảng Trị)
Tên Tự: Tổ đình sắc tứ Tịnh Quang
Tên dân gian: chùa Tổ Tịnh Quang
Địa điểm: xã Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Trụ trì: Thượng tọa Thích Phước Châu
Thời gian tạo lập: 1739 do HT Tánh Tu tự là Chí Khả thời chúa Nguyễn Phúc Khoát
khai sơn
Đặc điểm: Nhà nghiên cứu Phật giáo Lê Mạnh Thát cho biết, nếu không ra đời trước
1558 thì đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng Ái Tử chắc chắn ngôi chùa này đã xuất hiện rồi, đến khoảng những năm 1600 – 1650 chắc hẳn đã
có nhiều vị thiền sư nổi tiếng đến đây trụ trì Đặc biệt là 2 thiền sư Lục Hồ – Viên Cảnh và Đại Thâm – Viên Quang Đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, đích thân chúa thân hành ngự bút viết 5 chữ: “ Sắc tứ Tịnh Quang” để ban tặng cho chùa