Phân tích mạng xã hội là phương pháp phân tích kết nối giữa cá nhân, nhóm hay cơ quan Khảo sát tương tác giữa các actors Tập trung vào phân tích các tương tác thay vì phân tích hành vi của cá nhân. Cho phép khảo sát tác động của cấu hình mạng đến cá nhân, nhóm, cơ quan hay các chức năng của hệ thống Có thể áp dụng trên nhiều ứng dụng khác nhau: Mạng xã hội Mạng chính trị Mạng điện Mạng giao thông Mạng tương tác các protein Đầu tiên chúng ta thảo luận về lịch sử của phân tích mạng nhằm đưa ra một số ý tưởng về các vấn đề cần bàn luận, Sau đó chúng ta sẽ định nghĩa các khái niệm cơ bản. Các nghiên cứu trước đây về phân tích mạng thuộc các lĩnh vực phân tích tâm lý giáo dục, phát triển của trẻ, xã hội học, nhân loại học (anthropology). Granovetter trong “The Strength of Weak Ties” (khảo sát một trong số các bài báo xã hội học quan trọng nhất được viết trong thập kỷ qua) và nhận xét rằng các kết nối yếu (weak ties) có thể thực sự hữu ích trong chính trị hay trong tìm kiếm nhân viên thay cho các kết nối mạnh(strong ties) vì các kết nối yếu cho phép cá nhân đạt con số cao hơn các cá nhân khác.
Trang 1Phân tích mạng xã hội Social Network Analysis
Trang 2Phân tích mạng ?
Phân tích mạng xã hội là phương pháp phân tích kết nối giữa cá nhân, nhóm hay cơ quan
Khảo sát tương tác giữa các actors
Trang 3Phân tích mạng
tác thay vì phân tích hành vi của cá nhân.
hình mạng đến cá nhân, nhóm, cơ quan hay các chức năng của hệ
thống
Trang 4Phân tích mạng
Có thể áp dụng trên nhiều ứng dụng khác nhau:
Trang 5Lịch sử về phân tích mạng ( xã
hội)
Đầu tiên chúng ta thảo luận về lịch sử của
phân tích mạng nhằm đưa ra một số ý tưởng
về các vấn đề cần bàn luận, Sau đó chúng ta
sẽ định nghĩa các khái niệm cơ bản
Các nghiên cứu trước đây về phân tích mạng thuộc các lĩnh vực phân tích tâm lý giáo dục, phát triển của trẻ, xã hội học, nhân loại học (anthropology)
Trang 6Lịch sử về phân tích mạng
( xã hội)
Thế kỷ 19, Durkheim đã viết “sự kiện xã hội”—hay hiện tượng được tạo qua sự tương tác giữa các cá nhân, tuy vậy
hàm chứa thực tế là sự độc lập của các chủ thể cá nhân (individual actor).
Trang 7Lịch sử về phân tích mạng (xã hội)
Bước sang thế kỷ 20, Simmel là học giả đầu tiên suy nghĩ tường tận về các thuật ngữ cho mạng xã hội Simmel đã khảo sát cách đối tác thứ 3 có thể tác động lên quan hệ giữa hai cá nhân và cách thức cần thiết để các cấu trúc
tổ chức hay quan chức hành chính điều hành tương tác trong các nhóm lớn
(See “
The Number of Members in Determining the Sociological Form of the Group
”)
Trang 8Lịch sử về phân tích mạng (xã hội)
Một trong các ví dụ đầu tiên về nghiên cứu mạng theo lối thực nghiệm là vào năm 1922, của Almack “Ảnh hưởng của sự thông minh vào việc lực chọn mối kết hợp.”
Almack đã hỏi học sinh ở trường tiểu học tại California cách chọn bạn Sau đó ông ta kết hợp chỉ số IQ của người chọn và người được chọn và đưa ra giả thuyết về tác động của
các lựa chọn là chủ thể chọn và lựa chọn là đồng cấp độ thông minh
Trang 9Lịch sử về phân tích mạng (xã hội)
nhân thường chơi thân nhau Cô đã ghi lại các dữ liệu về các thuộc tính chiều cao, học lực, IQ,… và cũng phát hiện ra sự đồng cấp
về cấp độ
(see “The School Child’s Choice of
Companions”, Journal of Educational
Research 14: 126-132.)
Trang 10Khái niệm
Nút là cá nhân trong đồ thị hay hệ thống
(Nếu mạng của các nhà lập pháp thì mỗi nút
là một nhà lập pháp)
Đồ thị hay hệ thống hay mạng là tập các
đơn vị có hay không có các liên kết với nhau
Trang 11Khái niệm
“Cung” là kết nối giữa 2 nút
Lân cận N của nút là tập các nút kết nối trực
tiếp với nút đó
Bậc (degree): bậc ki của nút là số các nút trong lân cận của nó
Trang 12Khái niệm
Trong một đồ thị hay mạng không có hướng cung là thuận nghịch(reciprocal), nghĩa là nếu A được nối với
B thì B được xem là nối với A.
Trong đồ thị hay mạng có hướng, các cung là không thuận nghịch—A có thể nối với B, nhưng B không nối với A (mũi tên của cung chỉ chiều kết nối.)
Trang 13Sức mạnh của kết nối yếu
Granovetter trong “ The Strength of Weak Ties
” (khảo sát một trong số các bài báo xã hội học quan trọng nhất được viết trong thập kỷ qua)
và nhận xét rằng các kết nối yếu (weak ties) có thể thực sự hữu ích trong chính trị hay trong
tìm kiếm nhân viên thay cho các kết nối
mạnh(strong ties) vì các kết nối yếu cho phép
cá nhân đạt con số cao hơn các cá nhân khác.
Trang 14Sức mạnh của kết nối yếu
Granovetter quan sát rằng sự tồn tại
các kết nối yếu thường làm giảm chiều dài của các con đường giữa các cá nhân
—khiến sự truyền tin trở nên nhanh
hơn.
Trang 16Random Graphs
Trong random graph, cặp
nút i, j có cung nối với xác suất độc lập là p
Đồ thị này có 16 nút, 120 nối khả dĩ và 19 nối thực thụ—xác suất nối giữa 2 nút bất kỳ
được nối với nhau khoảng 0.15
Trong random graph, sự xuất hiện của cung nối giữa A và B cũng như cung nối giữa B và C
sẽ không ảnh hưởng đến xác suất nối giữa A và C.
Trang 17Regular Graphs
A regular graph là
mạng mà từng nút đều
có cùng số (k) các láng giềng (các nút đều có bậc k).
Đồ thị bậc k được trình bày phía trái Với k = 3 (mỗi nút được nối 3 nút khác—nghĩa là có 3 nút trong vùng lân cận của từng nút.)
Trang 18Hế số cụm
Clustering Coefficients
Clustering Coefficients được Watts & Strogatz đề xuất vào năm 1998 nhằm đo mức độ gần nhau của các nút và lân cận của nó từ một đồ thị con đầy đủ (complete graph) trong một đồ thị hay mạng lớn hơn.
Clustering coefficient của nút là số các nối kết thực
sự giữa các lân cận của một nút cụ thể Clustering coefficient được xem như là phần trăm của các kết nối khả dĩ.
Clustering coefficient cho toàn bộ hệ thống là số trung bình của clustering coefficient cho từng nút.
Trang 20Ví dụ đơn giản
Có 4 nhà làm luật—họ chung nhau trong một nhóm công tác.
Đồ thị vô hướng—nếu nhà làm luật A làm việc cùng một nhóm với nhà làm luật B
Trang 21Ví dụ đơn giản
Số các nối kết khả dĩ
là 6
Với k=4 ; số các nhà làm luật
Trang 22Ví dụ đơn giản
Clustering coefficient cho nhà làm luật A là 2/3 – nhà làm luật A được “nối với” hai trong
3 nối khả dĩ với 3 nhà làm luật khác Tương
Trang 23Ví dụ đơn giản
Trung bình của clustering
coefficients là 0,5
Lưu ý clustering coefficients toàn bô mạng là 0,5 (3 của 6) của tất cả các nối kết khả dĩ được thực hiện
Trang 25Clustering Coefficient
Lưu ý clustering coefficient của đồ thị
vô hướng có chút khác biệt so với
clustering coefficient của đồ thị có
hướng—có 2 lần các nối kết khả dĩ,
cạnh không thuận nghịch được đếm là một nối kết còn cạnh thuận nghịch
được đến là 2 nối kết.
Trang 26 Clustering phản ánh cách nối kết các láng
giềng của bạn với nhau
Trang 27Đường kính mạng
Graph Diameter
(nhiều nhất) là 7 cung để đi giữa một nút với các nút khác (hai nút ở trên đáy của mạng là không rất gần nhau)