ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM MAI LINH MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệC KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH HOặC G
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệC KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH HOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệC KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH HOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và Tố tụng Hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THU HẠNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Mai Linh
Trang 4VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 8
1.1.1 Khái niệm các tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác 8 1.1.2 Khái niệm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 12 1.1.3 Đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan cảnh sát
điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 16
1.2 Cơ sở của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 22 1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 23
Trang 51.3.1 Viện kiểm sát nhân dân 23
1.3.2 Cơ quan cảnh sát điều tra 25
Kết luận chương 1 29
Chương 2: NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN
HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN
CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH NINH BÌNH
TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY
THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI TỚI SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC Error! Bookmark not defined
2.1 Nội dung, hình thức của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra
các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác Error! Bookmark not defined
2.1.1 Hình thức của mối quan hệ Error! Bookmark not defined
2.1.2 Nội dung của mối quan hệ Error! Bookmark not defined
2.2 Thực tiễn mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình trong việc
khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác Error! Bookmark not defined
Kết luận chương 2 Error! Bookmark not defined
Chương 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG
TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA
NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNHError! Bookmark not defined 3.1 Một số kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn
chế trong mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác Error! Bookmark not defined
Trang 63.1.1 Những kết quả đạt được Error! Bookmark not defined
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế Error! Bookmark not defined
3.1.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế Error! Bookmark not defined
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc
khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác Error! Bookmark not defined
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Error! Bookmark not defined
3.2.2 Tiếp tục kiện toàn, đổi mới cơ cấu tổ chức hoạt động của Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát Error! Bookmark not defined
3.2.3 Nâng cao năng lực của đội ngủ cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra
viên làm công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về trật
tự xã hội Error! Bookmark not defined
3.2.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động của Điều tra viên, Kiểm sát viênError! Bookmark not defined
3.2.5 Xây dựng quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra Error! Bookmark not defined
3.2.6 Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất Error! Bookmark not defined
Kết luận chương 3 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Viết đầy đủ
BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
CQĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
VKS Viện kiểm sát
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành các hành vi tố tụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của luật
Tố tụng hình sự một cách độc lập, không phụ thuộc vào nhau Trong đó, Cơ quan điều tra có chức năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động theo quy định
để phát hiện tội phạm và người phạm tội, tiến hành các hoạt động điều tra, lập
hồ sơ đề nghị truy tố; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự để bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đầy
đủ và xử lý công minh, đúng pháp luật Tuy nhiên trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự các cơ quan vẫn có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ thể hiện
sự phối hợp và chế ước lẫn nhau nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong
vụ án hình sự của mình
Thực tế trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫn xảy ra nhiều, tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả có chiều hướng nghiêm trọng Đã xuất hiện tình trạng một số nhóm thanh, thiếu niên đi chơi thường mang theo hung khí nguy hiểm như: Dao, mã tấu, kiếm để sẵn sàng sử dụng khi có mâu thuẫn xảy ra Tình trạng xung đột, mâu thuẫn, xô xát trong tầng lớp thanh thiếu niên ngày càng gia tăng, nảy sinh từ những mâu thuẫn rất đơn giản phát sinh trong giao tiếp xã hội hàng ngày dẫn đến hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, dẫn đến những hậu quả đau lòng cho cá nhân, gia đình và xã hội
Trang 9Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan cảnh sát điều tra trong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự đã được pháp luật quy định, tuy nhiên vẫn còn những thiếu sót Bên cạnh đó, thực tế thực hiện mối quan hệ phối hợp giữa VKSND với các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, đặc biệt với Cơ quan cảnh sát điều tra nói riêng vẫn còn có những tư tưởng ngại va chạm nên không sâu sát, kịp thời phát hiện
ra các vi phạm pháp luật của cơ quan điều tra hoặc còn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của cấp trên hoặc của liên ngành, làm cho mối quan hệ phối hợp chất lượng chưa cao, mang tính hình thức, chưa giải quyết được hết những vấn đề khó khăn, phức tạp nên ảnh hưởng một phần không nhỏ đến hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội phạm Nhiều vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chưa khám phá được hoặc khám phá được nhưng khi xử lý lại còn nhiều bất cập làm cho việc giải quyết vụ án chưa kịp thời theo đúng quy định, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật
Ngoài ra, nghiên cứu về mối quan hệ giữa VKSND và cơ quan CSĐT trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung là đề tài không còn mới
mẻ, việc nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận và trên thực tiễn trong mối quan hệ giữa VKSND và cơ quan CSĐT trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nói chung, vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy nhiên cần được nghiên cứu và hoàn thiện một cách tổng thể hơn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta trong thời gian tới
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ
án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)” có ý nghĩa hết sức quan
trọng và cần thiết cả về lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự, đã có một số công trình khoa học và bài viết nghiên cứu đề cập đến trên nhiều phạm vi và lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi lên một số đề tài
sau: “Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra
trong tố tụng hình sự”- Luận án tiến sỹ của Đào Hữu Dân; Luận văn Thạc sĩ
“Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Sơn, hoàn thành năm 2006 tại Học viện
Cảnh sát nhân dân; “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” - Đề tài
khoa học cấp Bộ của TS Lê Hữu Thể, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao; Bài phát biểu của đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh đăng trên tạp chí kiểm sát số tháng 2/2003 “Tăng cường quan hệ phối hợp,
hiệp đồng công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân và Công an nhân dân”; Các
bài nghiên cứu đăng trên số chuyên đề: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố” -
Tạp chí kiểm sát số 12 (tháng 6/2009) v.v
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có nhiều chế định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng liên quan đến quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động TTHS Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết nêu trên ở những góc độ, nhất định đã nghiên cứu tổng quát về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ án hình
sự nói chung và các vụ án về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng
Trang 11Các tác giả đã phân tích cơ sở pháp lý và mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, cũng như mối quan hệ giữa CQĐT với các cơ quan, tổ chức hỗ trợ tư pháp trong TTHS Mối quan hệ phối hợp được thể hiện thông qua việc định kỳ thông báo cho nhau về tình hình tội phạm và công tác của hai bên bao gồm các hoạt động khởi tố, điều tra, kiểm sát khởi tố, điều tra; trao đổi trước với nhau về các quyết định khởi tố hay áp dụng biện pháp ngăn chặn; tham gia xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung và phương pháp tiến hành bảo đảm kết quả điều tra Tuy nhiên, chưa chỉ ra được quan hệ chế ước giữa VKS với CQĐT được thể hiện cụ thể như thế nào, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan đến đâu trong từng chế định cụ thể, cũng như những vấn đề nảy sinh trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS trong quan hệ phối hợp Hơn nữa, chưa thể hiện được mối quan hệ chế ước là mối quan hệ cơ bản và xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án, còn mối quan hệ phối hợp chỉ là cơ sở để đem lại hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
Ngoài ra, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá quan
hệ phối hợp giữa VKSND với Cơ quan CSĐT trong hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội về xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng, làm rõ những bất cập, vướng mắc làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự, kiến nghị đề xuất các giải pháp
Trang 12nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa VKSND với Cơ quan CSĐT trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Nhiệm vụ của đề tài:
- Làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng thông qua các quy định về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học thực trạng quan hệ phối hợp và chế ước giữa CQĐT và VKS trong việc khởi tố, điều tra các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; làm rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa VKSND và Cơ quan CSĐT trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đang gia tăng như hiện nay Trên cơ
sở đó đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành đáp ứng với tinh thần cải cách tư pháp
và hội nhập quốc tế
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối
quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong việc khởi tố, điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa VKSND với CQ CSĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Về thời gian: Nghiên cứu trong thời gian 05 năm gần đây (từ năm
2010 đến năm 2015)
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm để phân tích, lý giải các vấn đề Ngoài phương pháp luận trên, để phù hợp với tính chất của đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tổng kết kinh nghiệm; phương pháp thống kê, so sánh để đánh giá, khái quát thực trạng hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát Từ đó đánh giá một cách khoa học và chính xác, khách quan về việc duy trì và củng cố mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong hoạt động TTHS
6 Ý nghĩa và yếu tố mới của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn, xác định rõ mối quan hệ giữa hai cơ quan VKSND và Cơ quan CSĐT là mối quan hệ chế ước và mối quan
hệ phối hợp, trong đó mối quan hệ chế ước xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án Từ đó có sự nhận thức, vận dụng thống nhất đúng đắn các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, góp phần tăng cường hoạt động phối hợp
có hiệu quả giữa hai Cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói
Trang 14chung, các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng
- Điểm mới của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các công trình khoa học, bài viết nghiên cứu đề cập đến quan hệ phối hợp giữa VKSND
và Cơ quan CSĐT trong hoạt động TTHS Tác giả đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu làm rõ những chế định mới và thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, quan hệ phối hợp trong việc khởi tố, điều tra các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa VKSND với CQCSĐT trong điều tra các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
7 Bố cục của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 2: Nội dung, hình thức và thực tiễn mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 3: Một số hạn chế và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1 Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm các tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Như chúng ta đã biết, con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật bảo vệ Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và tự do của họ Hiến pháp năm
2013 đã quy định một trong những quyền cơ bản của con người đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể Thể chế hóa các quy định của Hiếp pháp, Bộ luật hình sự Việt Nam đã đưa ra nhiều điều luật quy định về những hành vi phạm tội và mức hình phạt khi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm của con người [9]
Nằm trong nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và
quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người Tội phạm “Cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” lần đầu tiên được quy
định tại Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 Sắc luật quy định tội danh của 05
Trang 16tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội cố ý gây thương tích, tội cố ý gây thương tích và tội hiếp dâm Còn các tội khác chỉ được nêu chung
là “các tội khác xâm phạm thân thể và nhân phẩm của người dân” Năm
1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời
thì tội phạm này được quy định tại Điều 109 BLHS với tội danh “Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”
Đến năm 1999, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2000; sau đó đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) tội phạm này được quy định thành 03 điều luật: Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 109 của BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 104, BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Khoản 4 Điều
109 BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 105 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) và Điều 106 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người được quy định trong Chương XII- BLHS năm 1999
Đến năm 2015, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 2015 (có hiệu lực từ 01/7/2016 Tuy nhiên, ngày 29 tháng 6 năm 2016 Quốc hội ban hành Nghị quyết số: 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành) tội
Trang 17phạm này được quy định thành 03 điều luật mới: Điều 134, BLHS 2015 (Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều
135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh); Điều 136 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội) Tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người được quy định trong Chương XIV - BLHS năm 2015
Một trong những điểm mới cơ bản của BLHS năm 2015 là bổ sung các trường hợp phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; phân định mức độ gây tỷ lệ thương tích để quy định khung hình phạt thay vì gộp chung như trước; bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc tù chung thân ngoài các trường hợp đã được quy định tại BLHS 2015; bổ sung quy định đối với người chuẩn bị phạm tội Và một số điểm mới nữa góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, phục vụ đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của xã hội, của tình hình tội phạm
Trong hoạt động điều tra tội phạm, để giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đó
là phải hiểu rõ về bản chất của hành vi phạm tội cũng như những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm đó Chính vì vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có hiệu quả, vấn đề đầu tiên đặt ra là phải xác định rõ khái niệm của loại tội phạm này
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 18bao gồm một nhóm tội danh được quy định tại các Điều 134,135,136 của BLHS 2015, cụ thể:
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: là hành vi mà người phạm tội dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể người khác làm cho người đó có những thương tích nhất định (để lại dấu vết) như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc Việc dùng sức mạnh vật chất có thể bằng chân tay hoặc các công cụ phương tiện hỗ trợ khác như: dao, súng, gậy gộc…làm cho nạn nhân mất đi một hay nhiều bộ phận trên thân thể [8]
- Do lỗi cố ý: nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác là hành vi có thể hoặc nhất định gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của nạn nhân, để mặc cho hậu quả đó xảy ra [8]
Điều đó chứng tỏ việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là do ý thức chủ quan của người phạm tội và trái pháp luật
hình sự, Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Đối với hành vi cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các trường hợp khác nhau, người phạm tội thực hiện những hành vi mà luật hình
sự ngăn cấm cụ thể được quy định tại các Điều 134, Điều 135, Điều 136 BLHS 2015 [13]
Ngoài ra, phân tích dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định ở 3 tội danh cụ thể nhưng đều có đặc trưng chung là:
Trang 19Tội phạm đã xâm hại vào quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người; đều có hành vi gây thương tích, do lỗi cố ý Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhất định Trong đó, dấu hiệu bắt buộc về mặt hậu quả của loại tội phạm này là để lại thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ % thương tật theo luật định Cơ sở để xác nhận nạn nhân bị thương tích là kết luận của Hội đồng giám định y khoa Việc xác định tỷ lệ thương tích được căn cứ vào Bảng tiêu chuẩn thương tật được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 27/9/2013 của
Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tỷ lệ tổn thương
cơ thể do thương tích, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp, để xác định tỷ lệ thương tật của người bị hại Xác định tỷ lệ thương tật một cách khách quan, chính xác, nhanh chóng sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tội phạm Cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội phạm
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội phạm xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý dùng sức mạnh vật chất và thể chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác, nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ một cách trái pháp luật và bị xử lý theo quy định tại các Điều 134, 135, 136 BLHS 2015
1.1.2 Khái niệm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà
Trang 20Nẵng năm 2002 do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì: “Quan hệ là sự gắn liền
về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thì có thể tác động đến sự vật kia” [34]
Theo “Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam” trên trang website http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn thì:
Quan hệ là phạm trù triết học nói lên sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố trong một hệ thống nhất định, một trong những hình thức của sự thống nhất của các đối tượng, các thuộc tính của chúng Quan hệ mang tính chất khách quan và phổ biến Phạm trù quan hệ liên hệ chặt chẽ với khái niệm quy luật, thể hiện mối liên hệ bản chất của các sự vật, quy luật phát sinh và phát triển của chúng thông qua quan hệ của chúng với các sự vật khác Khi vạch ra mối quan
hệ giữa hai hoặc nhiều đối tượng, nhận thức khoa học dựa vào đặc tính khách quan của các đối tượng đó và vào thông số khách quan của đặc tính từng đối tượng Nghiên cứu và phân loại những 11 vấn
đề quan hệ là đối tượng của logic quan hệ - một bộ phận của logic hình thức hiện đại
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng thì “mối quan hệ
nghĩa là sự gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật với nhau” [34]
Từ đó có thể hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng thể hiện ở sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định rằng các sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan không thể tồn tại độc lập mà luôn là một thể thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, không thể hiểu được bất kỳ
sự vật, hiện tượng nào nếu không đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với các