1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình huống môn luật kinh tế

12 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 109,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hết 03 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính một cổ đông sở hữu liên tục trong vòng một năm 12% tổng số cổ phần phổ thông yêu cầu họp Đại hội đồng cổ đông vì cho rằng: 1 Hội đồng quản

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP: MÔN LUẬT KINH TẾ

NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5

DANH SÁCH NHÓM:

Trang 2

1 TÌNH HUỐNG 2

Tình huống: Hội đồng quản trị công ty cổ phần Nụ Tầm Xuân, sau khi kết thúc năm tài chính, xin phép cơ quan đăng ký kinh doanh cho hoãn họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 05 (năm) tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính Cơ quan đăng kí kinh doanh đồng ý Hết 03 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính một cổ đông sở hữu liên tục trong vòng một năm 12% tổng số cổ phần phổ thông yêu cầu họp Đại hội đồng cổ đông vì cho rằng: (1) Hội đồng quản trị đã ra quyết định vượt quá thẩm quyền bởi trong Điều lệ công ty quy định việc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên phải được tiến hành trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính; và (02) cơ quan đăng ký kinh doanh không thể quyết định cho hoãn trái với Điều lệ của công ty.

Có thể thấy trong tình huống này, có một số vấn đề pháp lý được đặt ra đó là:

- Quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông của cổ đông phổ thông

- Điều lệ công ty có trái luật không và trong trường hợp có sự khác nhau giữa Điều lệ công ty và văn bản luật thì ưu tiên áp dụng cái nào?

- Việc luật quy định sự can thiệp của Cơ quan đăng ký kinh doanh theo khoản 2 điều 97 LDN là có hợp lý không?

1.1 Quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông của cổ đông phổ thông

Theo khoản 2 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005 “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền: yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản

3 Điều 79”

Theo đó thì người cổ đông trong tình huống - sở hữu liên tục trong vòng 1 năm 12% tổng số cổ phẩn phổ thông – có quyền yêu cầu họp Đại hội đồng cổ đông hay không Bởi trường hợp mà khoản 3 Điều 79 đưa ra là: “Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc

Trang 3

ra quyết định vượt quá thẩm quyền” Tuy nhiên, việc xác định quyết định của Hội đồng quản trị có vượt quá thẩm quyền hay không thì phải xem xét đến tính hợp pháp của Điều lệ công ty, quy định của Luật doanh nghiệp cũng như việc áp dụng quy định trong trường hợp Điều lệ công ty và Luật có sự khác nhau

1.2 Hiệu lực của Điều lệ công ty

Bản chất của Điều lệ công ty là một hợp đồng giữa các chủ sở hữu công

ty, thể hiện ý chí của các chủ sở hữu – cổ đông Điều lệ công ty, một cách thông thường, vẫn được hiểu là “bản hiến pháp”, là “luật tối cao” trong công ty Các thành viên sáng lập khi thành lập công ty cũng như các thành viên mới khi gia nhập công ty luôn phải thông qua hoặc cam kết tuân thủ Điều lệ – ấn định những nguyên tắc về tổ chức nội bộ, hoạt động, giải thể của công ty, từ đó điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong công ty Xét cho cùng, Điều lệ công ty là bản thỏa thuận của các thành viên công ty và được cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền công nhận, do vậy, trong ý nghĩa đó, Điều lệ có tính chất như một bản hợp đồng Do vậy, việc không áp dụng một điều khoản nào đó của Điều

lệ công ty chỉ khi có lý do chính đáng rằng quy định đó bị vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối khi trái luật và chống lại trật tự công cộng, đạo đức xã hội hay vô hiệu tuyên đối theo lý do chính đáng của người nại ra)

Khoản 2 Điều 97 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định rằng: “Đại hội đồng

cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm

tài chính”, và Điều lệ công ty lại quy định “việc họp Đại hội đồng cổ đông

thường niên phải được tiến hành trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày kết thúc

năm tài chính” Có sự khác nhau giữa quy định của Điều lệ công ty và luật, nhưng rõ ràng quy định của Điều lệ công ty là không hề trái luật, sẽ là trái luật nếu Điều lệ công ty lại quy định thời hạn này trên 4 tháng (giả dụ 5, hoặc 6 tháng…) Khoản 2 điều 97 quy định Đại hội cổ đông phải họp trong thời hạn 04 tháng nghĩa là tối đa là trong khoảng thời gian 04 tháng, nếu vượt quá 04 tháng thì trái luật Xét về tính hợp lý, thì việc Điều lệ công ty đưa ra thời hạn dưới 4 tháng (sớm hơn thời hạn mà luật đưa ra) đáng khuyến khích, công ty sẽ sớm hoàn thành việc báo cáo tài chính với cổ đông và với cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 4

quyền, đồng thời giúp cổ đông sớm nắm bắt được tình hình của công ty và giải quyết những vướng mắc tạo điều kiện cho hoạt động của công ty trong năm tài chính mới

Do đó, quy định tại Điều lệ công ty “họp Đại hội đồng cổ đông thường

niên phải được tiến hành trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài

chính” không hề trái với quy định tại khoản 2 điều 97 Luật Doanh nghiệp 2005

Nó sẽ không bị tuyên vô hiệu và cần được ưu tiên áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp nội bộ công ty

1.3 Thẩm quyền của Hội đồng quản trị trong việc ra quyết định hoãn họp Đại hội đồng cổ đông

Quyết định của Hội đồng quản trị có vượt quá thẩm quyền hay không? Quyết định của Hội đồng quản trị về việc hoãn họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 05 (năm) tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính là trái với Điều lệ

công ty Ra quyết định hoãn họp trái với Điều lệ công ty, do đó Hội đồng quản

trị đã vi phạm nghĩa vụ của người quản lý Công ty theo điểm a khoản 1 điều 119 Luật doanh nghiệp 2005 “Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Luật này, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, quyết định của Đại hội đồng cổ đông” Nhưng cũng khó có thể nói là Hội đồng quản trị có

vi phạm nghĩa vụ người quản lý hay vượt quá thẩm quyền hay không bởi quy định của Luật Doanh nghiệp tại khoản 2 điều 97: “theo đề nghị của Hội đồng quản trị, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể gia hạn, nhưng không quá sáu tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính” Và có thể thấy được, Hội đồng quản trị đã hành xử phù hợp với luật Nếu căn cứ vào khoản 2 điều 97 Luật doanh nghiệp 2005 thì lý do triệu tập họp đại hội đồng cổ đông là không phù hợp bởi: quyết định của Hội đồng quản trị không quá thẩm quyền Nhưng căn cứ vào khoản 4, điều 108 và điểm a khoản 1 điều 119 thì cổ đông này có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông với lý do “Hội đồng quản trị đã vi phạm nghĩa vụ quản lý do ra quyết định trái với điều lệ” Có thể thấy đây là một trong những khiếm khuyết của Luật doanh nghiệp, dẫn đến khó khăn khi giải quyết tình huống trên thực tế

Trang 5

1.4 Ưu tiên áp dụng Điều lệ Công ty

Hội đồng quản trị đã ra quyết định trái với điều lệ công ty nhưng lại phù hợp với quy định của luật Có thể thấy, khó giải quyết trong trường hợp này bởi pháp luật Việt Nam quy định không rõ ràng, đặc biệt trong trường hợp có mâu thuẫn giữa Điều lệ công ty và luật thì ưu tiên áp dụng cái nào?

Công ty có nền tảng là hợp đồng Điều lệ công ty có bản chất là một bản hợp đồng trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của các cổ đông về phương thức hoạt động của công ty và những vấn đề có liên quan Luật tư coi việc thỏa thuận giữa các bên (luật hợp đồng) là nguồn quan trọng và cơ bản Trong giải quyết tranh chấp trước hết phải quan tâm tới luật hợp đồng giữa các bên trừ trường hợp thỏa thuận của các bên trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Như vậy, Điều lệ công ty là bản hợp đồng bắt buộc các bên phải tuân theo, bao gồm cả Hội đồng quản trị Điều lệ công ty có thể khác biệt với quy định pháp luật Tuy nhiên việc không áp dụng quy định nào đó trong điều lệ chỉ có lý do chính đáng khi chắc chắn rằng quy định đó bị vô hiệu

Các nước Common Law khi giải quyết các tranh chấp nội bộ công ty thì

ưu tiên áp dụng Điều lệ công ty trước Và thậm chí ở Việt Nam cũng có những

vụ án Tòa giải quyết căn cứ vào bản Điều lệ của công ty trước, nếu Điều lệ chưa quy định thì áp dụng các quy định của Luật Doanh nghiệp nói riêng và pháp luật nói chung Tuy nhiên, nếu Điều lệ của công ty trái với quy định của Luật Doanh nghiệp (pháp luật) hiện hành thì áp dụng quy định tại Luật Doanh nghiệp Hay, nếu như xem xét ý chí của nhà làm luật Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp cũng thấy trong rất nhiều điều khoản nhà làm luật coi trọng việc áp dụng Điều lệ công ty với việc quy định “các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty” hay “trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì…” miễn

là Điều lệ không trái luật hay chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội

Có thể thấy Điều lệ công ty không trái luật (như phân tích trên), nên nó cần được ưu tiên áp dụng để giải quyết tranh chấp nội bộ của công ty Cổ đông

sở hữu trên 10% cổ phần có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông

Trang 6

với lý do “Hội đồng quản trị đã vi phạm nghĩa vụ của người quản lý do ra quyết định trái với Điều lệ công ty”

1.5 Thẩm quyền của Cơ quan đăng ký kinh doanh tại khoản 2 điều

97 Luật doanh nghiệp là không hợp lý

Vấn đề khó giải quyết trong tình huống này xuất phát từ việc pháp luật Việt Nam đã trao cho Cơ quan đăng ký kinh doanh quyền năng “gia hạn” Cụ thể hơn là cơ quan đăng ký kinh doanh đã can thiệp vào vấn đề nội bộ của công ty

Điều lệ chính là hành vi pháp lý (hợp đồng thỏa thuận giữa các thành viên sáng lập công ty), không trái với quy định pháp luật, trật tự công cộng thì phải

ưu tiên áp dụng thỏa thuận này Điều lệ công ty chỉ không áp dụng trong trường hợp chứng minh được điều lệ đó vô hiệu theo luật hay chống lại trật tự công cộng, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục Thế nên, việc cơ quan đăng ký kinh doanh can thiệp vào thỏa thuận của các bên trong khi thỏa thuận đó không bị vô hiệu là một điều bất hợp lý Có thể thấy quy định tại khoản 2 điều 97 Luật doanh nghiệp “theo đề nghị của Hội đồng quản trị, cơ quan đăng ký kinh doanh

có thể gia hạn, nhưng không quá sáu tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính”

là không phù hợp Cơ quan Nhà nước hay Tòa án chỉ có thể can thiệp đối với những hợp đồng vô hiệu tuyệt đối (trái luật hay chống lại trật tự công cộng, đạo đức xã hội) hay có người nại ra sự vô hiệu với lý do chính đáng Mặt khác, cơ quan quản lý nhà nước nên hạn chế sự can thiệp không cần thiết tới quan hệ nội

bộ công ty, tránh sự xâm phạm tới tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng giữa các bên

Kết luận, Điều lệ công ty đã quy định rõ việc họp Đại hội đồng cổ đông

thường niên phải tiến hành trong thời hạn 2 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính, quy định này là phù hợp với luật Bản chất Công ty là một hợp đồng và Điều lệ công ty chính là văn bản thỏa thuận giữa các bên, do vậy nó cần được tôn trọng và ưu tiên áp dụng nếu không có lý do chính đáng chắc chắn rằng quy định của Điều lệ vô hiệu Do đó, quyết định hoãn họp Đại hội đồng cổ đông của Hội đồng quản trị là trái với điều lệ công ty và sự can thiệp của Cơ quan đăng ký

Trang 7

kinh doanh vào vấn đề nội bộ của Công ty theo khoản 2 điều 97 Luật doanh nghiệp 2005 là không phù hợp nên cần có sự điều chỉnh

1 TÌNH HUỐNG 4

Tình huống: Công ty TNHH Hoa Vàng có 50 thành viên, trong đó có Hoàng Hữu Lộc chiếm 75% tổng số vốn góp của Công ty, là Chủ tịch Hội đồng thành viên, kiên Tổng giám đốc Công ty Hoàng Hữu Lộc lâm bệnh nặng sắp qua đời tại bệnh viện viết di chúc để lại phần vốn góp trong công ty Hoa Vàng cho hai đứa con là Hoàng Hữu Duyên và Hoàng Hữu Tình, đồng thời chỉ định Hoàng Hữu Duyên làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Công ty Cơ quan đăng ký kinh doanh và nhiều thành viên Công

ty đòi hỏi Công ty phải chuyển đổi thành Công ty Cổ phần vì số lượng thành viên vượt quá 50 hoặc một trong hai người thừa kế phải chuyển nhượng lại phần vốn góp; đồng thời bác bỏ tư cách Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc công ty của Hoàng Hữu Duyên Tuy nhiên Hoàng Hữu Duyên và Hoàng Hữu Tình không đồng ý.

Xuất phát từ tình huống này có một số vấn đề pháp lý nảy sinh:

- Vấn đề thừa kế vốn góp và tư cách Chủ tịch hội đồng thành viên trong Công ty TNHH

- Chuyển đổi hình thức công ty do vượt quá số lượng thành viên luật định

Trang 8

- Cơ quan đăng ký kinh doanh Bác bỏ tư cách Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc công ty của Hoàng Hữu Duyên

1.1.Thừa kế phần vốn góp và tư cách thành viên trong công ty TNHH

Khoản 1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2005 về xử lý phần vốn góp đối với

công ty TNHH 2 thành viên trở lên quy định: "Trong trường hợp thành viên là

cá nhân chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty".

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 điều 45 Luật Doanh nghiệp thì Hoàng Hữu Tình và Hoàng Hữu Duyên thừa kế vốn góp và trở thành thành viên của Công ty theo di chúc của ông Hoàng Hữu Lộc là hợp pháp

2.2 Tư cách Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Công

ty của Hoàng Hữu Duyên

Việc Ông Hoàng Hữu Lộc di chúc chỉ định Hoàng Hữu Duyên làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Công ty là không trái pháp luật Nhưng việc Hoàng Hữu Duyên giữ chức vụ đó không được sự đồng thuận của các thành viên còn lại trong công ty thì theo yêu cầu sẽ tiến hành họp Hội đồng thành viên theo Điều 52 Luật doanh nghiệp để bầu lại Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc công ty

Những thành viên còn lại không đồng ý cho Hoàng Hữu Duyên giữ chức

vụ đó thì phải đưa ra được những chứng minh về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Hoàng Hữu Duyên không đáp ứng được đủ như những điều kiện đó để có thể đảm nhiệm được những chức vụ trên Nếu không đưa ra được

lý do chính đáng thì việc yêu cầu bác bỏ tư cách của Hoàng Hữu Duyên là không đúng

Cơ quan đăng ký kinh doanh tham gia vào việc này là không đúng thẩm quyền, vấn đề này là những vấn đề nội bộ của công ty, phải do chính những thành viên trong công ty thống nhất giải quyết

2.3 Số lượng thành viên công ty TNHH vượt quá 50

Trang 9

Thứ nhất: Việc Công ty phải chuyển đổi hình thức thành công ty cổ phần

là đúng quy định của pháp luật:

Tại điểm a khoản 1 Điều 38 Luật doanh nghiệp thì số lượng thành viên của Công ty TNHH tối đa là 50 thành viên Như vậy, trong trường hợp này Ông Hoàng Hữu Lộc để lại phần vốn góp cho hai người con trai thì công ty phải chuyển đổi hình thức thành công ty cổ phần là đúng quy định của pháp luật

Thứ hai:

Cơ quan đăng ký kinh doanh và các thành viên còn lại trong công ty đưa

ra lựa chọn yêu cầu:

Một trong hai người thừa kế phải chuyển nhượng lại phần vốn góp Điều này cũng trái với ý chí của Hoàng Hữu Duyên và Hoàng Hữu Tình Cơ quan đăng ký kinh doanh và các thành viên khác không quyền được yêu cầu như vậy

Cơ quan đăng ký kinh doanh không có thẩm quyền can thiệp vào vấn đề trên, các thành viên trong công ty sẽ họp lại và đưa ra phương hướng giải quyết Nếu Hoàng Hữu Duyên và Hoàng Hữu Ích đều giữ vai trò là thành viên trong công ty thì công ty chuyển đổi mô hình thành công ty cổ phần theo quy định

Tuy nhiên, việc giới hạn số lượng thành viên công ty TNHH là 50 có hợp lý hay không?

Sự phân biệt cơ bản giữa công ty TNHH và Công ty Cổ phần đó chính là khả năng chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên trong công ty Đối với công ty TNHH, sự ra/vào của một thành viên sẽ rất khó khăn, bởi nó phải có

sự đồng thuận của các thành viên trong Hội đồng thành viên Tuy nhiên, đối với công ty cổ phần việc chuyển nhượng cổ phần dễ dàng hơn, ngoài ra công ty cổ phần còn có thể phát hành cổ phiếu nhằm huy động vốn một cách rộng rãi Số lượng của các thành viên/ cổ đông trong công ty không phải là yếu tố căn bản để phân biệt hai loại hình công ty này

Do vậy, phải chăng quy định giới hạn số lượng thành viên tối đa của công

ty TNHH 2 thành viên trở lên của Luật Doanh nghiệp là không cần thiết Thậm chí có thể nói nó đã vi phạm nguyên tắc tự do ý chí cá nhân khi họ mong muốn công ty hoạt động và mang bản chất TNHH nhưng số lượng thành viên nhiều

Trang 10

hơn 50 người Thiết nghĩ, số lượng thành viên không ảnh hưởng tới bản chất của công ty TNHH, để mở số lượng thành viên tối đa sẽ tránh được việc khó khăn trong áp dụng luật khi thành viên công ty tăng thêm so với số lượng đăng ký ban đầu

2.4 Thẩm quyền của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc yêu cầu chuyển đối Công ty và bác bỏ tư cách Chủ tịch Hội đồng thành viên

Theo nghị định số 43/2010/NĐ-CP về đăng kí doanh nghiệp quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan đăng kí kinh doanh thì Cơ quan đăng kí kinh doanh không có thẩm quyền yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi hình thức công ty, chỉ có quyền thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý

Cơ quan Đăng ký kinh doanh bác bỏ tư các Chủ tịch Hội đồng thành viên – can thiệp vào vấn đề nội bộ của Công ty là bất hợp lý

Thứ nhất, theo quy định của Luật Doanh nghiệp không thấy có đề cập đến thẩm quyền của Cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc bác bỏ các chức danh trong công ty

Thứ hai, đây là vấn đề nội bộ của công ty, cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ nên quản lý trong vấn đề tư cách pháp lý của công ty, còn việc tổ chức nội bộ của Công ty phải xuất phát từ ý chí của các thành viên trong công ty Bởi công

ty thực chất là một hợp đồng – thể hiện tự do ý chí, tự do lập hội, tự do kinh doanh

Kết luận:

Hoàng Hữu Tình và Hoàng Hữu Duyên thừa kế vốn góp và trở thành thành viên của Hội đồng thành viên Công ty TNHH Hoa Vàng là hợp pháp

Việc các thành viên trong công ty không đồng ý cho Hoàng Hữu Duyên giữ chức vụ Chủ Tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc thì phải đưa ra được những lý do chính đáng như đã phân tích ở trên

Công ty phải chuyển đổi thành hình thức công ty cổ phần khi số lượng thành viên lớn hơn 50 theo quy định của pháp luật Nhưng trong thực tế việc quy định như vậy có hợp lý không trong khi không theo tự do ý chí của các chủ thể, bản chất của công ty TNHH và công ty Cổ phần đều là trách nhiệm hữu hạn

Ngày đăng: 25/03/2019, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w