* Phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị thương lượng: - Đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng đầy đủ nội dung cần thiết của hợp đồng4, có tính chất ràng buộc người đưa
Trang 1KHOA LUẬT
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 8
ĐỀ NGHỊ VÀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Nhóm sinh viên thực hiện:
Huỳnh Thị Thái Ngân S1200326
`
Trang 2Giao kết Hợp đồng dân sự (HĐDS) là một mảng quan hệ pháp luật có vị
trí đặc biệt quan trọng cho chế định HĐDS: giao kết HĐDS là giai đoạn đầu tiên, có tính chất quyết định có hay không có hợp đồng được xác lập, nhằm đem lại cho mỗi bên tham gia giao kết lợi ích hợp pháp các bên mong đợi trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí Theo quy định của luật: sự tự do ý chí và yếu tố hoàn toàn tự nguyện của bên giao kết phải phù hợp với ý chí của nhà nước: về năng lực giao kết, về đối tượng hợp đồng, hình thức giao kết…
Về nguyên tắc việc giao kết HĐDS phải qua các giai đoạn khác nhau, đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, trả lời đề nghị giao kết hợp đồng sau đó mới giao kết hợp đồng và kết quả của giao việc giao kết là HĐDS được hình thành
I Giao kết HĐDS
1 Khái niệm:
Luật không đưa ra khái niệm giao kết hợp đồng dân sự, mà chỉ đưa ra khái niệm về hợp đồng dân là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự1 Tuy nhiên, theo trình tự và nguyên tắc của giao kết HĐDS ta có thể hiểu Giao kết HĐDS là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ dân
sự đối với nhau2.
2 Đặc điểm
- Trao đổi ý chí: Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, ở mỗi giai đoạn giao kết:
các bên tham gia giao kết được tự chủ, tự do cam kết, thoả thuận, kết hợp với việc đề cao nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về cam kết, thoả thuận của mình Các bên có thể tự thoả thuận để giao kết HĐDS bằng mọi cách: thư từ, điện tính, điện thoại, mail thậm chí bằng
cử chỉ Tuy nhiên, giao kết đó phải tuân thủ nguyên tắc giao kết và điều kiện chung của luật được quy định tại Điều 122 và 389 BLDS, như: Người tham gia giao kết có năng lực hành vi dân sự; tự do giao kết không trái pháp luật, đạo đức xã hội; người tham gia giao kết hoàn toàn tự nguyện… Do vậy, khi giao kết HĐDS trái với nguyên tắc hoặc điều kiện có hiệu lực thì giao kết đó bị vô hiệu
- Xác lập nghĩa vụ:
+ Giao kết HĐDS phải xác lập được nghĩa vụ pháp lý dân sự, tức là nghĩa vụ phải được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của bộ máy nhà nước, chứ không phải là nghĩa
vụ tự nhiên, đạo đức hay nghĩa vụ của lòng nhân ái, của tâm hồn cao thượng
+ Các nghĩa vụ phát sinh này phải có tính chất tài sản, định giá được bằng tiền
- Xác định đối tượng của nghĩa vụ: việc chuyển giao một quyền hay làm hoặc
không phải làm một công việc phải được xác định cụ thể
3 Nguyên tắc của giao kết HĐDS
1 Điều 388 BLDS quy định: về khái niệm hợp đồng dân sự
2 Theo http://idoc.vn/tai-lieu/mot-so-van-de-li-luan-va-thuc-tien-ve-giao-ket-hop-dong-dan-su.tailieu
Trang 3Nguyên tắc giao kết HĐDS được quy định tại Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 gồm:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội:
Tham gia quan hệ hợp đồng, các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất định Xuất phát
từ lợi ích mà chủ thể mong muốn được thỏa mãn, các chủ thể tham gia các hợp đồng dân
sự khác nhau Pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể và ghi nhận thành nguyên tắc Tuy nhiên, mặc dù pháp luật thừa nhận sự tự do giao kết hợp đồng
là một nguyên tắc nhưng theo Điều 4 BLDS 2005:“Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội…”.
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng: khi tham
gia giao kết hợp đồng, các bên hoàn toàn tự nguyện Khi giao kết hợp đồng, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của chủ thể có thể làm cho hoạt động dân sự mà các chủ thể giao kết bị vô hiệu
4
Trình tự giao kết
Trình tự giao kết hợp đồng: là một quá trình trong đó các bên bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi các ý kiến trong việc cùng nhau đi đến những thỏa thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ Về thực chất, đó là quá trình mà hai bên “mặc cả” với nhau về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng
Quá trình này diễn ra qua hai giai đoạn được pháp luật dân sự quy định như sau: Đề nghị giao kết họp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
II Đề nghị giao kết HĐDS
1
Khái niệm
- Đề nghị giao kết hợp đồng: Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã xác định cụ thể3
Khi một người muốn thiết lập một HĐDS thì ý muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định Chỉ có như vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng Để người mà mình giao kết hợp đồng với họ có thể hình dung hợp đồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng Đó là, một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết HĐDS của mình và chịu sự ràng buộc về lời đề nghị đó
- Đề nghị thương lượng: Đề nghị thương lượng trong giao kết HĐDS là việc thể
hiện ý định giao kết HĐDS của bên đề nghị đối với bên được đề nghị Ví dụ: người ta bày thịt heo trên thớt; rau, củ, quả ngoài sạp hoặc để thao cá ngoài chợ… đều là đề nghị thương
3 Điều 390 BLDS quy định: đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 4lượng Vì khi mua bán, bên mua và bên bán còn phải thương lượng và mặc cả về giá mua bán với nhau, còn thống nhất trọng lượng hàng hoá (thịt, rau, củ…) mua bán
* Phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị thương lượng:
- Đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa đựng đầy đủ nội dung cần thiết của hợp đồng4, có tính chất ràng buộc người đưa ra đề nghị này và được gửi cho đối tác; đề nghị giao kết hợp đồng sẽ trở thành hợp đồng khi người được đề nghị chấp nhận giao kết theo các điều kiện được bên đề nghị đưa ra trong đề nghị đó Do đó, đề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn Còn đề nghị thương lượng chỉ là lời mời gọi thương lượng nên nội dung đề nghị đưa ra không thể hiện đầy đủ nội dung cần thiết của một hợp đồng và không ràng buộc người đưa ra đề nghị
- Sự phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng, vì nếu đề nghị giao kết hợp đồng thì sự chấp thuận của đối tác sẽ khiến cho một hợp đồng được thành lập giữa hai bên; còn nếu là chỉ là đề nghị thương lượng thì sự chấp nhận của đối phương không đủ cơ sở để tạo lập hợp đồng, vì các bên cần phải thương thảo tiếp những nội dung của hợp đồng còn để ngỏ
2 Hình thức:
Luật không quy định riêng về hình thức cho đề nghị giao kết HĐDS Tuy nhiên, giao kết HĐDS là một hình thức của giao dịch dân sự, nên về hình thức phải tuân thủ quy định chung của luật về giao dịch dân sự theo Điều 124 BLDS và Điều 401 BLDS về hình thức HĐDS, Điều 10 Luật giao dịch điện tử 2005 Tóm lại, đề nghị giao kết có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản, thông điệp dữ liệu, hành vi cụ thể,… Trong trường hợp pháp luật có quy định giao kết HĐDS phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo quy định đó
3 Điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng:
Đề nghị giao kết hợp đồng sẽ trở thành hợp đồng một khi người được đề nghị chấp nhận giao kết theo các điều kiện được đưa ra trong đề nghị đó Bởi vậy, đề nghị giao kết hợp đồng phải có hai điều kiện sau:
- Đề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn: Nghĩa là phải thể hiện ý chí dứt
khoát của người đề nghị: hợp đồng được xác lập nếu lời đề nghị được chấp nhận trong thời hạn trả lời Không có tính chất này, thì không phải là lời đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ
là một lời mời thương lượng
Ví dụ: A để bảng “Giữ xe: xe gắn máy 3000 đồng/ngày, xe đạp 2000 đồng/ngày và
có nhận giữ xe vào ban đêm” trước cửa nhà Như vậy, việc để bảng giữ xe và nội dung được ghi như vậy, A đề nghị giao kết hợp đồng nhận gửi giữ tài sản xe gắn máy và xe đạp vào ban ngày với giá đã ghi trên bảng; vì đây, là đề nghị có tính chất chắc chắn, người gửi
xe chỉ cần chấp nhận là giữa các bên đã hình thành hợp đồng gửi giữ tài sản, có đối tượng
là xe đạp hoặc xe gắn máy Tuy nhiên, đối với việc giữ xe vào ban đêm do A đề nghị chỉ là lời đề nghị thương lượng: vì, nếu người gửi xe gắn máy và xe đạp vào ban đêm thì A vẫn
4 Điều 402 BLDS quy định: về nội dung cần thiết của hợp đồng
Trang 5có thể nhận nhưng hai bên phải thương lượng theo giá khác; đề nghị của A thiếu các nội dung cần thiết cho việc xác lập một hợp đồng gửi giữ tài sản hay nói khác đi đề nghị đó không có tính chắc chắn
- Đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng và đầy đủ: nghĩa là đề nghị đó phải ghi
nhận tất cả các nội dung cần thiết của một hợp đồng để hợp đồng được giao kết chỉ trên cơ
sở tuyên bố chấp nhận giao kết của người được đề nghị 5
- Đề nghị giao kết hợp đồng mới: luật quy định có hai trường hợp được coi là đề
nghị mới:
Trường hợp 1: người đề nghị thay đổi đề nghị: người đề nghị có thể thay đổi đề
nghị trước khi hoặc cùng lúc hoặc trong thời hạn trả lời đề nghị do mình đưa ra trước đó Khi đó, nội dung thay đổi được xem là nội dung của đề nghị giao kết mới6 Khi đó, đề nghị giao kết hợp đồng mới có giá trị thay thế đề nghị giao kết hợp đồng được thay thế và trong trường hợp này đề nghị giao kết hợp đồng bị thay thế sẽ mất hiệu lực Ví dụ: A nhắn tin vào điện thoại B đề nghị bán điện thoại di động hiệu Nokia 6300 giá 1,5 triệu đồng; Trong khi B chưa trả lời chấp nhận, A nhắn tin cho B thay đổi giá bán 1,8 triệu đồng Như vậy, đây là đề nghị giao kết hợp đồng không có ấn định thời hạn, đề nghị này đã phát sinh hiệu lực và trong khi B chưa trả lời A đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng mới để thay thế cho
đề nghị giao kết hợp đồng bán điện thoại di động hiệu Nokia 6300 giá 1,5 triệu đồng bằng
đề nghị bán cho B một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 6300 giá 1,8 triệu đồng Trong trường hợp này, đề nghị giao kết hợp đồng bán điện thoại di động hiệu Nokia 6300 giá 1,5 triệu đồng mất hiệu lực
Trường hợp 2: Người được đề nghị đề xuất sửa đổi đề nghị: khi bên được đề nghị
đã chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng có điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới7 hoặc khi bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị sau thời hạn trả lời8
Trong thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị, bên được đề nghị đưa ra đề nghị mới; đề nghị mới này không làm mất hiệu lực của đề nghị giao kết HĐDS trước đó Trừ khi, bên được đề nghị giao kết mới chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mới Ví dụ: Theo ví dụ trên, khi A đề nghị bán điện thoại Nokia 6300 cho B giá 1,5 triệu đồng và hạn cho B trả lời trong thời hạn 3 ngày; B chấp nhận mua với giá 1,2 triệu đồng Ta thấy rằng, đề nghị giao kết hợp đồng do B đưa ra không làm mất hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng của A trong thời hạn 3 ngày đã ấn định: Bởi vì, khi A không đồng ý giá bán 1,2 triệu đồng cho B (theo giá B đưa ra) thì trong thời hạn 3 ngày A đã ấn định, B vẫn có thể đồng ý mua điện thoại của A giá 1,5 triệu đồng (do đề nghị của A chưa mất hiệu lực)
5 Điều 402 BLDS quy định về nội dung cần thiết của hợp đồng: Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về các nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng và các nội dung khác.
6 Điều 392 BLDS quy định: thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng.
7 Điều 395 BLDS quy định: sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất.
8 Khoản 1 Điều 397 BLDS.
Trang 6- Ấn định, không ấn định thời hạn trả lời và hạn chế: Luật để ngỏ giải pháp cho
bên đề nghị giao kết hợp đồng được lựa chọn ấn định thời hạn trả lời hoặc không ấn định thời hạn trả lời9
- Trong trường hợp có ấn định, thời hạn ấn định bao lâu là tuỳ nghi Người đề nghị
có ấn định thời hạn trả lời, thì phải chịu sự ràng buộc trách nhiệm trong thời hạn mà mình
đã đưa ra
Ví dụ: A nói với B, A có 50 kg lúa giống IR504, giá 15.000đồng/kg Nếu B mua thì trong vòng 5 ngày nữa xuống Nếu hết hạn đó, B không trả lời hoặc không vào mua thì A bán cho người khác Theo ví dụ này, thời hạn ấn định do A đưa ra là 5 ngày kể từ ngày hôm nay để cho B trả lời mua hoặc không mua lúa giống mà A đề nghị bán Thời hạn này
ấn định này có thể là ít hơn hoặc nhiều hơn 5 ngày là tuỳ ý chí của A, luật không giới hạn Với quy định này, luật tạo điều kiện cho bên đưa ra đề nghị được tự do ấn định thời hạn theo ý chí của mình; nhưng đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người đưa ra đề nghị phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra đề nghị Theo đó, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn trả lời làm cho người được đề nghị bị thiệt hại do không được giao kết hợp đồng thì phải bồi thường Tuy nhiên, xét góc độ sự ràng buộc người đề trong nghị trong thời hạn ấn định xét về mặt tổng thể là chưa hợp lý trong trường hợp ấn định thời hạn quá dài không phù hợp với đặc điểm của đối tượng giao kết, nếu tiếp tục duy trì có thể dẫn đến thiệt hại cho người ấn định trong và việc duy trì tiếp thời hạn trả lời cũng không đem lại lợi ích gì cho các bên
- Đối với đề nghị giao kết hợp đồng không có ấn định thời hạn trả lời: Theo luật đề nghị này không có thời hạn để ràng buộc (do không ấn định thời hạn trả lời), nhưng cũng không có thời điểm kết thúc của sự ràng buộc nếu bên đề nghị không đưa ra thay đổi, rút lại hoặc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng đó và bên được đề nghị cũng không phản ứng
gì Ví dụ: tương tự như ví dụ trên, anh nông dân A đề nghị bán toàn bộ ruộng cà chua cho
B giá bán 2.500 đồng/kg và không ấn định thời hạn trả lời; đến ngày thứ 5 không có trả lời của B, A đã bán toàn bộ cà chua thu hoạch được cho C Theo ví dụ này, rõ ràng đề nghị giao kết hợp đồng của A vẫn còn hiệu lực, do: A không có thông báo cho B về việc thay đổi, rút lại hoặc huỷ bỏ hợp đồng và B cũng chưa trả lời: không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của A Như vậy, đề nghị của A tồn tại đến bao giờ (do không thể chấm dứt hiệu lực)10?
Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 390 BLDS: trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh Như vậy, luật chỉ đưa ra giải pháp bảo vệ quyền lợi cho người được đề nghị trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời Còn trong trường hợp, bên đề nghị giao kết hợp đồng
9 Điều 397 BLDS quy định: thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
10 Điều 394 BLDS quy định: Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 7không ấn định thời hạn trả lời, thì việc thay đổi, rút lại hoặc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng bất kỳ thời gian nào, mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu đề nghị đó còn chưa được chấp nhận Đây là một hạn chế, vì điều này là “quá” tự do cho bên đề nghị và sẽ
có thể dẫn đến sự “tuỳ tiện” của bên đề nghị, trong khi thực tế bên được đề nghị có thiệt hại, nhưng không thể kiện ra Toà yêu cầu bồi thường Ví dụ: A đề nghị bán cho B 1 tấn gạo, nhưng vì, A không ấn định thời hạn trả lời Như vậy, liệu đề nghị của A có chắc chắn không?
và B có giám đề nghị bán lại cho C 1 tấn gạo mà A đã đề nghị không? hoặc ngay sau khi B
và C vừa thoả thuận hợp đồng xong, thì A rút lại đề nghị trước khi B trả lời với A về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng này Do đó, theo quy định này, để đưa ra đề nghị hoặc tiến hành giao kết hợp đồng với C thì trước tiên B phải giao kết hợp đồng với A trước đã Giả sử: B có thiệt hại phát sinh do không được giao kết hợp đồng theo đề nghị của A, theo luật B không được bồi thường
Vì vậy, đối với đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn trả lời, người đề nghị giao kết hợp đồng chỉ chịu sự ràng buộc bởi thời hạn ấn định đó, nhưng thời hạn ấn định phải trong thời hạn hợp lý Đồng thời, đối với đề nghị giao kết hợp đồng không ấn định thời hạn trả lời, người đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc trong khoản thời
hạn hợp lý Thời hạn hợp lý có thể công nhận theo tập quán giao dịch hoặc căn cứ đặc
điểm đối tượng trong hợp đồng và thiệt hại có thể xảy ra đối với người đề nghị nếu tiếp tục
bị ràng buộc bởi đề nghị giao kết của mình để xác định Tuy nhiên, đây cũng chỉ là quan điểm, nhưng luật chưa quy định cụ thể11
Ngoài ra, Luật không dự kiến trường hợp trở ngạy khách quan làm cho thời hạn ấn định đề nghị giao kết bị kéo dài
4 Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng:
- Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực:
Theo Điều 391 BLDS năm 2005 thì thời điểm xác định đề nghị giao kết hợp đồng
có hiệu lực do bên đề nghị ấn định hoặc nếu bên đề nghị không ấn định rõ trong đề nghị thì
đề nghị có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó12 Và để xác định được bên được đề nghị đã nhận được đề nghị thì căn cứ theo Khoản 2 Điều này, Luật nêu:
“Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú nếu bên được đề nghị là cá nhân, được chuyển đến trụ sở nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị hoặc khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua phương thức khác”
Ví dụ: A nói với B rằng: A xây nhà còn thừa 3.000 viên gạch ống, vì B là bạn bè thân thiết, nếu B chịu mua gạch, A sẽ để lại cho B giá hữu nghị 1.000 đồng/viên và hạn cho B trả lời vào ngày kia Từ ví dụ này, cho thấy A đã tạo cho B một khoản thời gian rất thoán để trả lời mua hoặc không mua: có thể trong thời gian này, B sẽ mua được gạch viên
11 Tham khảo luận văn Tốt nghiệp của khoá 36 - Đại học Cần Thơ
12 Theo khoản 1 Điều 391 BLDS
Trang 8của một đối tác khác có giá thấp hơn hoặc có thể gạch cùng giá nhưng chất lượng tốt hơn.
Do A không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị, cho nên thời điểm có hiệu lực của
đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp này là thời điểm B biết được thông tin từ A
- Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng:
Bên cạnh việc xác định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu thì trong giao đoạn đề nghị đề nghị giao kết hợp đồng còn cần quan tâm vấn đề khác Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình, đặc biệt khi bên được đề nghị đã biết đến đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, pháp luật cho phép bên đề nghị có quyền rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, điều này đồng nghĩa với việc bên
đề nghị sẽ không chịu sự ràng buộc pháp lý về đề nghị giao kết hợp đồng của mình Khoản
1 Điều 392 BLDS 2005 quy định bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị (Ví dụ: A gửi đề nghị bán cho B 10 tấn xoài, nhưng sau đó bị áp thấp nhiệt đới: mưa và giông nhiều xoài trái bị rụng hết, A gọi điện thoại thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng cho B biết trước khi đề nghị
đó được gửi đến nơi cư trú của B)
+ Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị
có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh
+ Nếu bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới Trong trường hợp này, xác định tiêu chí của đề nghị, căn cứ thay đổi hoặc rút lại
đề nghị giao kết hợp đồng được áp dụng giống như đề nghị giao kết hợp đồng mới
- Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng:
Đối với đề nghị giao kết hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, người ta có thể huỷ bỏ đề nghị, Pháp luật cho phép bên đề nghị có quyền hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng theo Điều
393 BLDS Tuy nhiên, việc hủy bỏ giao kết hợp đồng chỉ được thừa nhận nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Quyền hủy bỏ đề nghị phải được nêu rõ trong lời đề nghị;
+ Bên đề nghị phải thông báo cho bên được đề nghị về việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng
+ Thông báo hủy bỏ đề nghị chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Về nguyên tắc người đề nghị giao kết hợp đồng luôn phải chịu sự ràng buộc về đề nghị giao kết hợp đồng của mình trong khoản thời gian do mình ấn định Đây là nguyên tắc bất dịch góp phần ổn định pháp lý, tránh trường hợp người đề nghị tuỳ tiện huỷ đề nghị của mình đối với người khác Buộc người đưa ra đề nghị phải thận trọng và chịu trách nhiệm
về đề nghị đó
Trang 9Điều kiện huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng: Đây là quy định hoàn toàn mới so với BLDS 1995, Điều 393 BLDS cho phép người đề nghị hủy bỏ đề nghị giao kết HĐDS cho
dù đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực (người được đề nghị đã nhận đề nghị giao kết hợp đồng) và xem đây là “quyền” của bên đề nghị đưa ra Trong điều luật, quyền này phải được ghi rõ trong đề nghị và thông báo hủy bỏ đề nghị phải được gửi cho người được
đề nghị trước khi người này trả lời chấp nhận
Tuy nhiên, Luật đưa điều kiện hủy bỏ đề nghị giao kết HĐDS trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực như là một “quyền” của bên đề nghị giao kết hợp đồng Quy định này làm cho đề nghị giao kết hợp đồng có ấn định thời hạn về mặt nào đó không khác đề nghị giao kết hợp đồng không ấn định thời hạn Khi đó, người đưa ra đề nghị có thể huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng theo điều kiện mà mình đưa ra như một
“quyền”; chính điều này, tạo điều kiện đề nghị không còn bị ràng buộc bởi thời hạn người
đề nghị đã ấn định, giống như không ấn định hạn và người đề nghị huỷ bỏ đề nghị, mà có phát sinh thiệt hại, không phải bồi thường nếu bên được đề nghị còn chưa trả lời chấp nhận
- Đề nghị mất hiệu lực: Theo Điều 394 BLDS 2005, đề nghị giao kết HĐDS sẽ chấm dứt
hiệu lực một trong những trường hợp: Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận đề nghị; hết thời hạn trả lời chấp nhận; khi thông báo về việc thay đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết HĐDS có hiệu lực hoặc theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên đề nghị trong thời hạn ấn định trả lời
Ngoài ra, Điều 398 BLDS quy định trường hợp đề nghị giao kết HĐDS mất hiệu lực nếu bên đề nghị mất năng lực hành vi dân sự hoặc chết trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận Đây là quy định mới bổ sung của luật Trong thực tiển, cần phân biệt người đại diện là người làm thay công việc của người được đại diện, do vậy: người đại diện không phải là người giao kết hợp đồng Cho nên: người giám hộ hoặc đại diện của cá nhân, pháp nhân khi thực hiện hành vi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành
vi dân sự trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận, thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn không mất hiệu lực Bởi, chủ thể của giao kết vẫn còn, họ là người được giám hộ, tổ chức được đại diện Tuy nhiên, quy định này cũng còn điểm hạn chế chỉ đề cập đến người đề nghị giao kết HĐDS là cá nhân, còn người đưa ra đề nghị là tổ chức bị phá sản hoặc bị giải thể trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận Quan điểm người viết cho rằng, trường hợp này, đề nghị giao kết phải đương nhiên hết hiệu lực Vì chủ thể đề nghị giao kết không còn, giống như trường hợp cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự
5 Đề nghị giao kết thông qua người đại diện:
Trang 10Để hợp đồng được giao kết một cách có giá trị thông qua vai trò của người đại diện (được quy định trong điều 139 khoản 1 BLDS 2005), người này phải có quyền đại diện và phải bày tỏ ý chí giao kết với tư cách người đại diện
- Quyền đại diện: Có thể do luật định, có khi quyền đại diện do luật thiết lập nhưng nội dung quyền này lại do toà án xác định Quyền đại diện theo uỷ quyền phải phát sinh từ một hợp đồng uỷ quyền được giao kết phù hợp với pháp luật
- Phạm vi đại diện: theo điều 144, 145, 146 BLDS 2005
- Ý chí đại diện: Người đại diện phải bày tỏ ý chí về việc giao kết hợp đồng với tư cách người đại diện, bày tỏ ý chí thay cho người khác và dưới danh nghĩa của người này Nếu không làm việc đó, người bày tỏ ý chí được coi như giao kết dưới danh nghĩa của mình
- Hiệu lực của việc đại diện: Việc thực hiện đề nghị của người đại diện phải trong phạm vi đại diện mới có sự ràng buộc nghĩa vụ đối với người được đại diện;
Ngược lại khi người đại diện giao kết hợp đồng dân sự vượt quá quyền hạn của mình, thì phần giao kết được xác lập vượt quá quyền hạn sẽ ràng buộc người được đại diện khi người đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối Trong trường hợp người đại diện
và người giao kết với người đại diện cố ý thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại - Điều 146 BLDS 2005
III Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1 Khái niệm: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề
nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị13
2 Hình thức của sự trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Ngoại trừ đối với các hợp đồng trọng thức, sự chấp nhận không cần phải được thể hiện theo một hình thức nào cả, chỉ cần có sự thoả hiệp ý chí là đủ Do đó, sự chấp nhận có thể là rõ ràng hay mặc nhiên Chấp nhận rõ ràng như: trả lời bằng văn bản, bằng lời nói hay biểu đạt bằng hành động (lấy hàng trong ngăn hàng của siêu thị và đi đến quầy thu ngân) hay thậm chí im lặng cũng có thể là trả lời chấp nhận đề nghị như một sự mặc nhiên Tuy nhiên, trong thực tiễn, có rất nhiều hợp người ta khó có thể biết rằng đã có một sự chấp nhận mặc nhiên, như trường hợp một người đề nghị nhưng đối phương im lặng không chấp nhận mà cũng không từ chối Trên nguyên tắc, một sự im lặng không có giá trị như một sự chấp nhận
Sự im lặng cũng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, khi hết hạn trả lời mà bên
đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận14 Cần lưu ý câu chữ trong luật “nếu có thoả thuận” Một người đề nghị cho một người khác và quy định rõ nếu người được đề nghị im lặng, thì hết thời hạn trả lời, người này coi như chấp nhận giao kết hợp đồng Trong trường hợp này, sự im lặng trở thành hình thức diễn đạt sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo sự thoả thuận giữa các bên liên quan Giá trị của sự im lặng có
13 Điều 396 BLDS quy định: chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
14 Khoản 2 Điều 404 BLDS