Trong công tác giải quyết án dân sự, có những bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được TAND cấp trên kiểm tra, giám đốc phát hiện ra những sai lầm,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THÙY
BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ THỊ KIM TIÊN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp tác giả nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Ban Giám đốc Học viện, Thầy Cô, Tòa án nhân nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh Với lòng biết ơn đó, tác giả:
Xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn đến Cô TS Đỗ Thị Kim Tiên, công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia – Người hướng đẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn đến Thầy Cô trong Học viện và ngoài Học viện
đã truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như hỗ trợ về mặt thủ tục cần thiết trong suốt thời gian học và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp số liệu cần thiết để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 5 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Thùy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu trong luận văn do tôi thu thập là xác thực rõ ràng và luận văn này chưa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trước Học viện và pháp luật
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 6 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Thùy
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ đƣợc viết tắt
BLTTDS 2004 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi
bổ sung năm 2011 BLTTDS 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
TANDCC Tòa án nhân dân cấp cao
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VKSNDCC Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
Trang 6Mở đầu 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ 9
1.1 Khái quát về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 9
1.1.1 Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 9 1.1.2 Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 12 1.1.3 Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự15
1.2 Tính chất, đặc điểm, ý nghĩa của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 16
1.2.1 Tính chất của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 16
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 16
1.2.3 Ý nghĩa của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 21
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền đề nghị giám đốc thẩm dân sự 23
1.3.1 Quy định pháp luật về đối tượng đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 24
1.3.2 Quy định của pháp luật về thời hạn, hình thức, thủ tục thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 27
1.3.3 Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 33
Tiểu kết chương 1 38
Trang 7Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN
NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1 Quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 40
2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 40
2.1.2 Phạm vi giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 42
2.2 Thực trạng bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.2.1 Thực tiễn công tác bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.2.2 Kết quả đạt được trong công tác bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3 Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 48
2.3.1 Một số khó khăn, vướng mắc 48
2.3.2 Nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc 50
Tiểu kết chương 2 63
Trang 8Chương 3 QUAN ĐIỂM BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN
DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 64
3.1 Định hướng bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 64
3.1.1 Quan điểm của Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 64
3.1.2 Quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 70
3.1.3 Quan điểm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 71
3.2 Giải pháp bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 73
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 73
3.2.2 Nhóm giải pháp cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 81
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….92
Trang 9Mở đầu
1 Tính cấp thiết
Về nguyên tắc, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được mọi người tôn trọng và thi hành Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số bản án, quyết định
đã vi phạm pháp luật, không phản ánh đúng bản chất, mục tiêu của việc xét
xử, không đảm bảo được công lý, mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, cần có cơ chế để xem xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật bằng việc xem xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục giám đốc thẩm, để khắc phục, sửa chữa những sai sót của việc vi phạm pháp luật Quyết định kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của chủ thể có thẩm quyền là căn cứ để mở ra phiên tòa giám đốc thẩm
Trong những năm gần đây, việc xây dựng và hoàn thiện chế định giám đốc thẩm dân sự nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp Chế định giám đốc thẩm dân sự đã được quy định khá chi tiết
và đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Trong đó, chế định giám đốc thẩm là cơ sở để Tòa án bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
vô hiệu hóa bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng; bảo đảm việc xét xử đúng đắn, hợp pháp, các bản án, quyết định được thi hành trên thực tế và tính ổn định và thống nhất của pháp luật
Việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm cũng là nền tảng
để xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự Trong công tác giải quyết
án dân sự, có những bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được TAND cấp trên kiểm tra, giám đốc phát hiện ra những sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc thông qua việc xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
Trang 10luật Tuy nhiên, hiện nay, các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự trong chế định giám đốc thẩm có những điểm chưa phù hợp với thực tiễn Một số quy định còn chung chung, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng Một số trường hợp chưa thống nhất, chưa được nghiên cứu bổ sung Sự bất cập của các quy định đó đã gây ra không ít khó khăn cho đương sự, các cơ quan, tổ chức khác khi thực hiện quyền của mình,
do đó cần phải được rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật
để hoàn thiện
Thực tế ở TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, việc nộp đơn
đề nghị giám đốc thẩm dân sự ở TANDCC không chỉ nhiều về số lượng, phức tạp về nội dung tranh chấp mà còn có tình trạng nộp đơn đề nghị tràn lan, thiếu căn cứ, không đủ điều kiện thụ lý Những trường hợp này đã gây lên sức
ép lớn về khối lượng công việc cần giải quyết và làm phát sinh nhiều vướng mắc phải có giải pháp khắc phục
Từ nhận thức trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Bảo đảm quyền đề nghị
kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh
giá các quy định pháp luật về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, và nguyên nhân của vấn đề này Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật, làm căn cứ cho các chủ thể có quyền thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quyền của mình, đồng thời, quyền của họ cũng được những chủ thể có thẩm quyền bảo đảm Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Toà án có căn cứ thụ lý, giải quyết thoả đáng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
và người dân khi thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự ở TANDCC Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và TAND có thẩm quyền của cả nước nói chung
Trang 112 Tình hình nghiên cứu
Qua khảo sát, thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học
có liên quan đến đề tài này như sau:
- Đề tài Khoa học cấp bộ "Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao, những vướng mắc và kiến nghị"
(2012), do Nguyễn Huy Du (Tòa án nhân dân tối cao) chủ nhiệm Đề tài có đề cập khái quát đến vấn đề thực hiện quyền yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự nhưng đề tài được thực hiện vào năm 2012, giới hạn trong phạm vi ở Tòa án nhân dân tối cao Trong khi hiện nay Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực pháp luật đã làm thay đổi cơ bản thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung về trình tự, thủ tục thực hiện quyền yêu cầu kháng nghị
- Sách Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự (2012), Nhà xuất bản
Lao động - Xã hội, chủ biên Trần Anh Tuấn bàn về Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và thủ tục xem xét lại các quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Trong sách này, tác giả đã đi sâu phân tích, so sánh các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 với các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011; đối chiếu với thực tiễn, giải thích một cách khoa học
và đưa ra một số vấn đề bất cập cần tiếp tục hoàn thiện của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm Trong đó, tác giả đã trình bày một cách khái quát về quyền yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tác giả chưa chỉ rõ những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành với thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 12- Sách Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 (2015), Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Chủ biên
Nguyễn Thị Hoài Phương Nhóm tác giả sách này đã phân tích, bình luận các điều luật cụ thể để làm nổi bật các quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có các điều luật về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội về: Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam (2014), do Hà Thị Thúy Hà thực hiện
Luận văn đã đề cập chi tiết đến đặc điểm cơ bản, ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm; sự hình thành và phát triển của quy định về giám đốc thẩm dân sự, nêu
ra những hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật trên phương diện lập pháp và thực tiễn, đặc biệt nêu lên thực trạng công tác giám đốc thẩm của ngành Toà án, đồng thời đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, đề tài này chưa đi sâu phân tích bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
- Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, về Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự (2016) của Lê Sỹ Nguyên là
nghiên cứu đề cập về kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự trên cơ
sở phân tích trình tự, thủ tục nộp đơn đề nghị, hình thức, nội dung đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Luận văn chưa đề cập đến việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
- Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, về Quyền yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân
sự (2017) của Nguyễn Thị Lụa Trong luận văn đã đề cập khái quát về chủ
thể có quyền yêu cầu, việc thực hiện yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, trên cơ sở phân tích các quy định có liên quan tại BLTTDS năm 2015 và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 13Tình hình nghiên cứu trên cho thấy các công trình nghiên cứu về chế định giám đốc thẩm khá nhiều nhưng hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự Do vậy, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu một cách toàn diện từ
lý luận đến thực tiễn để hoàn thiện các quy định về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự; đưa ra những định hướng nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và giải pháp khắc phục những khó khăn trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Luận văn nhằm làm rõ những bất cập trong quy định pháp luật về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự ở Việt Nam và thực tiễn bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại TANDCC Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, kiến nghị các giải pháp bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại TANDCC Thành phố Hồ Chí Minh
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự, tính chất, đặc điểm, ý nghĩa của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự Liên hệ với quy định của Việt Nam vấn đề này
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự và việc áp dụng các quy định này tại TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm thuộc lĩnh vực dân sự; thực trạng bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự tại một cấp Tòa án là TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong đó, các đơn đề nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa vào nghiên cứu thuộc 23 tỉnh thành phía Nam thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể:
+ Về nội dung: Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân
sự (bao gồm cả quy định pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật)
+ Về không gian: Hệ thống pháp luật của cả nước Việt Nam; Hoạt động thực thi bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là tại TACC Thành phố Hồ Chí Minh
+ Thời gian: Từ ngày 01/6/2015 đến ngày 30/9/2019
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Quan điểm, chủ trương của
Trang 15Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Phương pháp nghiên cứu
Trên cở sở sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, thống kê, hệ thống hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn giải quyết vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự, các quy định của Việt Nam và việc áp dụng pháp luật thông qua thực tiễn TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn cũng đánh giá khách quan, toàn diện các quy định của pháp luật đã tác động tới những chủ thể thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, các quy định của pháp luật còn vướng mắc trong thực tiễn bảo đảm quyền đề kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho TAND, VKSND
có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm; luật sư, đương
sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng
để học tập nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Trang 16Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3 Quan điểm bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ
KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ 1.1 Khái quát về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
1.1.1 Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
1.1.1.1 Kháng nghị
Nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng xét xử, Tòa án ban hành
các bản án, quyết định để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên đương sự khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Do đó, phán quyết của Tòa án phải được cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và được thi hành trên thực tế Một vụ án dân sự từ khi đương sự khởi kiện, Tòa án thụ lý, đưa vụ án
ra xét xử và ra bản án, quyết định, sẽ có hiệu lực pháp luật ngay nếu đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị Trường hợp nếu bản
án, quyết định đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì vụ án đó tiếp tục được xem xét ở Tòa án cấp phúc thẩm, lúc đó bản án, quyết định phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trong trường hợp phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng về pháp luật nội dung, tố tụng thì người có thẩm quyền kháng nghị sẽ kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2006), do Nhà xuất
bản Đã Nẵng xuất bản, Kháng nghị là bày tỏ ý kiến phản đối bằng đơn chính thức [42] Tác giả Nguyễn Văn Xô trong cuốn sách cũng có tên Từ điển tiếng Việt, Nxb Thanh Niên thực hiện, quan niệm Kháng nghị là bày tỏ ý kiến phản đối một việc gì [43] Còn theo Từ điển mở Wiktionary thì “Kháng nghị là bày
tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị” [44]
Trang 18Theo Từ điển Luật học: “Kháng nghị là việc người có thẩm quyền, bằng đơn của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngừng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm làm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan và đúng pháp luật” [40] Theo khái niệm này, chỉ có những người được pháp
luật giao cho thẩm quyền kháng nghị mới được kháng nghị và hình thức kháng nghị phải bằng văn bản Tuy nhiên, quan niệm này có thể không đủ để giải thích cho những vấn đề của thực tiễn phát sinh Mặc dù kháng nghị là phân tích chỉ ra những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu trong phần quyết định của kháng nghị không có nội dung tạm hoãn thi hành bản án, quyết định cho đến khi xét xử giám đốc thẩm thì về nguyên tắc bản án, quyết định đó vẫn có thể bị thi hành Trong thực tế,
đã có trường hợp mặc dù có quyết định kháng nghị nhưng không nêu việc tạm hoãn thi hành án dẫn đến Cơ quan thi hành án vẫn tiếp tục thi hành bản án, quyết định đó
Mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, nhưng hầu hết các quan điểm đều cho rằng kháng nghị là việc phản đối bằng văn bản đối với một vấn đề đã được được định đoạt, đối chiếu vào pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì đó
là sự phản đối lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Mục đích của kháng nghị là để thể hiện sự phản đối của chủ thể có thẩm quyền kháng nghị đối với phán quyết của Tòa án thông qua việc ra bản án, quyết định mà chủ thể kháng nghị cho rằng chưa khách quan, toàn diện và đúng pháp luật để Tòa án có thể xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.1.2 Giám đốc thẩm dân sự
Trang 19Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự được tiến
hành trên cơ sở kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vi phạm nghiêm trọng pháp luật Thủ tục này do Tòa án có thẩm quyền thực hiện nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị Có nhiều quan niệm khác nhau về giám đốc thẩm Trong cuốn
Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam có ghi:“Giám đốc thẩm là xử lại một bản án của Tòa án cấp dưới" [12] Tuy nhiên, khái niệm này chưa làm rõ được nội
hàm của thủ tục giám đốc thẩm vì nếu việc xét xử lại một bản án của Tòa án cấp dưới mà bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật thì không được xem là thủ tục giám đốc thẩm mà là thủ tục xét xử phúc thẩm, đó là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng cáo của các bên đương sự, hoặc kháng nghị của người có thẩm quyền Còn Giám đốc thẩm là xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về giám đốc thẩm: Theo tác giả Nguyễn Đức Mai trong Bình luận khoa học tố tụng dân sự
cho rằng: “Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt có nhiệm vụ xét lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do phát hiện có
vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo đảm việc
xử lý vụ án được chính xác” [14] Quan điểm này khẳng định giám đốc thẩm
không phải là một cấp xét xử do đó nó không phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng như: thụ lý hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ, đưa vụ án
ra xét xử và ra bản án, quyết định như ở cấp xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm… mà chỉ là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Trang 20Cũng có những quan điểm lại cho rằng: “Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xác định những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"[8]
Trong lĩnh vực dân sự, giáo trình của Trường Đại Học Luật Hà Nội có
ghi: “Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án” [36]
Qua những phân tích nêu trên, có thể hiểu kháng nghị giám đốc thẩm
dân sự như sau: Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là hoạt động tố tụng do người có thẩm quyền thực hiện, phản đối bằng văn bản gửi cho Tòa án có thẩm quyền khi phát hiện bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
vi phạm pháp luật nghiêm trọng để Tòa án xem xét lại bản án, quyết định dân
sự đã có hiệu lực pháp luật một cách khách quan, chính xác và đúng pháp luật
1.1.2 Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự xuất phát từ quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, một trong những quyền cơ bản được Hiến Pháp ghi nhận, tôn trọng bảo vệ và bảo đảm, cụ thể Điều 30:
“1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần
và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật
Trang 213 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
Về cơ bản Điều 30 Hiến pháp năm 2013 là sự ghi nhận lại Điều 74 Hiến pháp 1992 bằng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất đảm bảo cho các công dân được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và buộc các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách phải xem xét và giải quyết kịp thời Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 đã có bước phát triển mới khi coi quyền này không những là
quyền của công dân mà là quyền con người khi thay thế thuật ngữ “công dân
có quyền” bằng “mọi người có quyền” Hiến pháp không những nghiêm cấm
việc trả thù người khiếu nại, tố cáo mà đồng thời còn nghiêm cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo để làm hại người khác Đây
là sự kế thừa quy định của Hiến Pháp năm 1992 Thực tế cho thấy rằng việc
vu khống, vu cáo người khác là một hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm tổn thất danh dự, nhân phẩm và cuộc sống bình thường của con người và công dân
Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để công dân có thể tiếp cận công lý Vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự với tư cách là công cụ hữu hiệu bảo vệ các quyền dân sự của công dân đã có những quy định cụ thể để bảo đảm cho đương sự có khả năng bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình Theo
đó, đương sự có đầy đủ các quyền tố tụng trong đó có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự đối với các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự cũng xuất phát từ hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật của Tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, các nhân Những bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cần phải được thi hành để bảo
Trang 22đảm được quyền lợi của đương sự và bảo đảm cho việc thực thi công lý Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng với bản chất sự việc, có vi phạm pháp luật hoặc nếu có thi hành thì không chỉ gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án mà đôi khi còn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Nhà nước, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân khác Do đó, khi thấy bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì không chỉ đương sự trong vụ án mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cũng có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đó theo thủ tục giám đốc thẩm
Cho đến thời điểm hiện nay, tác giả chưa tìm thấy một khái niệm nào về quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự Nhưng theo từ điển tiếng Việt thì quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu thì được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại; Theo từ điển luật học thì đề nghị của đương sự là những điều đương sự đưa ra trong quá trình tố tụng, mong muốn Tòa án xem xét giải quyết Đề nghị của đương sự thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Đương sự đưa ra đề nghị bằng việc gửi đơn đề nghị cho người có thẩm quyền kháng nghị hoặc đến trực tiếp đề nghị Người có thẩm quyền kháng nghị có nhiệm vụ xem xét, giải quyết các đề nghị của đương sự theo quy định của pháp luật
Từ những phân tích và khái niệm nêu trên, có thể rút ra kết luận như sau: Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là quyền của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị để họ xem xét và quyết định việc kháng nghị bản án, quyết định đó
Trang 231.1.3 Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Bảo đảm “là làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [41] Như vậy, “bảo đảm” nghĩa là làm cho một
vấn đề nào đó được thực thi trên thực tế Để làm cho vấn đề nào đó có tính khả thi đòi hỏi có một cơ chế phù hợp với từng vấn đề cần thực hiện Đặt trong một ngữ cảnh để hiểu rõ nội hàm khái niệm bảo đảm, Từ điển Luật học diễn giải: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho các quyền công dân đã được ghi trong các đạo luật phải được thực thi, phải tạo điều kiện cho công dân hưởng các quyền đó Trường hợp có sự vi phạm đến các quyền của công dân thì phải áp dụng các biện pháp để loại trừ Cán bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp họ không hành động để bảo vệ quyền lợi ích của công dân Cũng có ý kiến cho rằng, bảo đảm là những hoạt động, những công việc tạo ra các điều kiện, tiền đề cần thiết làm cho quyền của chủ thể được thực hiện đầy đủ… Như vậy, bảo đảm là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền và lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn thực hiện được, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường
Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước như Quốc hội trong việc thiết lập hành lang pháp
lý, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc thực thi pháp luật, nhằm tạo điều kiện cho người đề nghị có khả năng thực hiện được quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của mình trên thực tế và chịu trách nhiệm trong việc giám sát hoặc giải quyết đề nghị đó
Mỗi cơ quan Nhà nước nêu trên giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, Điều 102
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1 Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp 2 Tòa
Trang 24án nhân dân ở nước ta hiện nay gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định 3 Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền là lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.” Việc quy
định Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án trong đó có xét xử giám đốc thẩm dân sự là nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân
Từ những phân tích nêu trên, tác giả rút ra kết luận như sau: Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là trách nhiệm của người có thẩm quyền kháng nghị, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm khi có đề nghị của người có quyền và chịu trách nhiệm trong việc giải quyết đề nghị đó
1.2 Tính chất, đặc điểm, ý nghĩa của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
1.2.1 Tính chất của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Tính chất của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự được thể hiện thông qua việc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ tiếp nhận, thụ lý, xem xét đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị đề nghị
Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của TTDS, được tiến hành trên
cơ sở kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Thủ tục này do Tòa án có thẩm quyền thực hiện Theo đó, chỉ những chủ thể được pháp luật giao cho thẩm quyền kháng nghị mới được
Trang 25kháng nghị và hình thức kháng nghị phải bằng văn bản Mục đích là thể hiện
sự phản đối của chủ thể kháng nghị đối với phán quyết của Tòa án mà căn cứ vào các quy định của pháp luật, chủ thể kháng nghị cho rằng phán quyết đó chưa khách quan, toàn diện và đúng pháp luật Tuy nhiên, việc phát hiện những vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật lại
là tiền đề cho hoạt động kháng nghị để làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm
Về chính sách, phát hiện các vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật là quyền của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân Điều này thể hiện quyền giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động xét xử của Tòa
án và sự dân chủ trong tư pháp Khi mọi công dân đều có quyền phát hiện vi phạm trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đồng thời cũng có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đó Do vậy, việc đảm bảo quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trên thực tế là một mắt xích quan trọng trong thủ tục giám đốc thẩm, đòi hỏi phải được thực hiện đúng pháp luật, theo một quy trình, thủ tục nghiêm ngặt Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm cũng chính là yếu tố ràng buộc người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình khi tiếp nhận xem xét, thụ lý giải quyết các đề nghị kháng nghị
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Thứ nhất, chủ thể đảm bảo quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân
sự
Bản chất của Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà là một trình tự tố tụng đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Xuất phát từ tính chất đặc điệt của thủ tục giám đốc thẩm và đối tượng đặc biệt được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm mà Nhà nước đã giao quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Trang 26cho những chủ thể cũng hết sức đặc biệt và hạn chế, đó là những người đứng đầu các cơ quan tố tụng bao gồm Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao mới
có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Chủ thể có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm dân sự cũng khác so với thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án dân sự Nếu như chủ thể có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm là các thẩm phán sơ cấp, thẩm phán trung cấp thì thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm tại TANDCC phải là Thẩm phán cao cấp nhưng nằm trong Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao; tại TAND tối cao là Hội đồng Thẩm phán TANDTC Đây là những chủ thể có đủ thẩm quyền đại diện cho lợi ích công,
có năng lực, trình độ chuyên môn cao để đưa ra những nhận định, đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp của một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Xuất phát từ những chủ thể đặc biệt nêu trên cho ta thấy quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự được tôn trọng và đảm bảo Người đề nghị kháng nghị sẽ củng cố lòng tin khi họ biết rằng thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định bị đề nghị kháng nghị sẽ do những chủ thể đặc biệt xem xét, giải quyết Theo quy định của pháp luật, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDCC, Viện trưởng VKSNDCC là những chủ thể
có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do đó, sau khi Tòa án, Viện kiểm sát tiếp nhận văn bản đề nghị kháng nghị của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân thì phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết đề nghị của họ Việc chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị của
họ phải được thể hiện bằng văn bản và trong thời hạn mà pháp luật quy định Nhằm bảo đảm cho hoạt động giải quyết đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được nhanh chóng, chính xác, BLTTDS năm 2015 đã quy định như sau:
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phân công
Trang 27người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ
vụ án, báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, quyết định [27] Chánh án TANDTC phân công Thẩm phán TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC phải phân công Kiểm sát viên VKSNDTC nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC xem xét, quyết định kháng nghị [27]
Theo các quy định nêu trên, người có thẩm quyền kháng nghị sẽ phân công Thẩm phán, Kiểm sát viên xem xét đơn đề nghị kháng nghị Nếu nhận thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị đề nghị không đúng với bản chất vụ việc hoặc không đúng pháp luật, thi hành sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì người có thẩm quyền kháng nghị xem xét ra quyết định kháng nghị, tạo tiền đề cho Tòa án mở phiên tòa giám đốc thẩm để xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới Trường hợp nhận thấy bản án, quyết định bị đề nghị đã đúng quy định của pháp luật thì Thẩm phán, Kiểm sát viên sẽ ra thông báo cho người có đơn đề nghị kháng nghị Như vậy, trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm không chỉ là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan tố tụng mà còn là trách nhiệm của một bộ máy giúp việc, của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cũng tham gia vào việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm thông qua công tác tác kiểm tra, giám sát, đề nghị, kiến nghị Quy định này nhằm giải quyết kịp thời, trong thời hạn luật định các đơn đề nghị giám đốc thẩm, bảo đảm việc giải quyết khách quan, đúng và thống nhất các quy định của pháp luật
Thứ hai, chủ thể được đảm bảo quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Trang 28Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà có vi phạm, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật thì không chỉ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự trong vụ án mà còn có thể ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tố tụng, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật Do đó, ở Việt Nam phạm vi chủ thể được bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị tương đối rộng Điều này, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc tiếp cận công lý mà còn đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong công tác giám đốc, kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án
Pháp luật TTDS Việt Nam quy định không chỉ đương sự trong vụ án mà bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, trong các chủ thể có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự, đương sự trong vụ án là chủ thể quan trọng, chiếm khối lượng lớn trong số các đơn đề nghị và đây cũng là chủ thể chủ yếu trong việc bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự Bởi lẽ, khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và nếu bản án, quyết định này có vi phạm pháp luật thì đương sự là người có quyền lợi bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả giải quyết vụ việc của Tòa án nhưng họ không có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án xét xử lại và cũng không thể tự mình khôi phục lại những quyền và lợi ích đã bị xâm phạm Do đó, pháp luật quy định đương
sự có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
Cùng với đương sự, BLTTDS 2015 quy định chủ thể có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm còn có Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác [27] Những chủ thể này phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì phải thông báo bằng văn
Trang 29bản tới người có thẩm quyền để họ xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Quy định này nhằm đề cao quyền tiếp cận công lý của công dân, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong đó có các quan
tố tụng trong việc phát hiện những vi phạm pháp luật và đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm
Thứ ba, đối tượng của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Chủ thể được bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
là đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi họ có đơn đề nghị kháng nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Còn chủ thể bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là người có thẩm quyền, các có quan tố tụng sẽ tiếp nhận, thụ lý và giải quyết đơn đề nghị kháng nghị đối với bản án, quyết định đó Như vậy, đối tượng mà các chủ thể
hướng tới chính là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định của Tòa án là sự phản ánh kết quả giải quyết vụ, việc
dân sự cụ thể Bản án, quyết định của Tòa án được ban hành với hình thức và đầy đủ nội dung theo quy định tại BLTTDS Đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sau khi được ban hành thì có một thời hạn nhất định để đương sự thực hiện quyền kháng cáo, VKSND thực hiện quyền kháng nghị Trong trường hợp hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật mà đương sự không kháng cáo, VKSND không kháng nghị thì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật Do đó, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án là những bản án, quyết định không có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Đối với những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án Như vậy, bản án, quyết
Trang 30định có hiệu lực pháp luật bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định; Bản
án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
1.2.3 Ý nghĩa của bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt thực tiễn
Pháp luật không thừa nhận việc bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm nghiêm trọng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng cộng hoặc lợi ích của tổ chức, cá nhân khác nhưng lại được thi hành trên thực tế Do đó, giám đốc thẩm là một
cơ chế, thủ tục để khắc phục, sửa chữa sai lầm đó
Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là một trong những kênh giúp người có thẩm quyền kháng nghị nhận biết được những vi phạm pháp luật của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thông qua các trình tự, thủ tục xem xét, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị tạo điều kiện cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền tố tụng này trên thực tế, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, lợi ích của nhà nước và xã hội Đồng thời góp phần đảm bảo được quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói chung; tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn đề nghị kháng nghị được thuận lợi
và hiệu quả hơn
Bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm cũng nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự tại Tòa án các cấp Bởi lẽ, khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành, đương sự vẫn có quyền đề nghị kháng nghị, Tòa án cấp trên có thẩm xem xét lại bản án, quyết định đó thì Tòa án
Trang 31cấp dưới sẽ thận trọng hơn, có trách nhiệm hơn trong việc giải quyết vụ án Thông qua công tác giám đốc thẩm, những sai phạm trong việc áp dụng pháp luật được tổng kết, rút kinh nghiệm cũng góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết vụ án dân sự, từ đó góp phần thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác mà ngành Tòa án đã đề ra trong công cuộc cải cách tư pháp
Khi xem xét, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, người
có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Quy định này, nhằm hạn chế những hậu quả không thể khắc phục được do thi hành bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai phạm
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền đề nghị giám đốc thẩm dân sự
Trang 321.3.1 Quy định pháp luật về đối tượng đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Để bảo đảm quyền đề nghị giám đốc thẩm dân sự thì cần thiết phải xác định được những đối tượng mà chủ thể có quyền đề nghị và chủ thể có quyền kháng nghị hướng đến Theo quy định tại Điều 325, Điều 337 BLTTDS hiện hành thì đối tượng của đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
Quyết định giám đốc thẩm của TANDCC
Trước đây tại dự thảo BLTTDS 2015 quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán TANDCC bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong trường hợp có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật làm thay đổi cơ bản việc giải quyết vụ án gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” [29] Quy định này nhằm hạn chế việc kháng nghị giám
đốc thẩm nhiều lần nhằm duy trì tính ổn định của bản án, quyết định Bởi lẽ, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TANDCC bao gồm: bản án, quyết định đã có hiệu lực sau khi đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện lần đầu Còn đối với quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán TANDCC nếu bị kháng nghị thì đây là kháng nghị lần hai Như vậy, việc kháng nghị lần hai sẽ làm cho vụ việc kéo dài, không có hồi kết Tuy nhiên nội dung này không được đưa vào BLTTDS hiện hành dẫn đến việc áp dụng BLTTDS hiện nay phát sinh trường hợp trong cùng một vụ án dân sự được xem xét lại theo thủ tục
Trang 33giám đốc thẩm nhiều lần với nhiều kháng nghị của những người có thẩm quyền kháng nghị khác nhau
So với BLTTDS năm 2004, đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm là Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh, hoặc quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa chuyên trách thuộc TANDTC không còn Bởi vì, theo Luật tổ chức TAND năm 2014 và BLTTDS hiện hành, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh và các Tòa chuyên trách của TANDTC không còn tồn tại trên thực tế
Trước đây, theo BLTTDS 2004, quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC không phải là đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm Quá trình thi hành BLTTDS năm 2004 phát hiện những trường hợp quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC có vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng lại không có cơ chế để sửa chữa, khắc phục Do đó, tại Điều 310a BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011, quy định:
“Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem lại quyết định đó
Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên
Trang 34cứu hồ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định”
Có quan điểm cho rằng điều luật trên xuất phát từ góc độ “Đề cao quyền tiếp cận công lý của công dân nên BLTTDS sửa đổi, bổ sung đã quy định những ngoại lệ về thủ tục xét lại bản án, quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” [38] Tuy nhiên, qua thực tiễn làm công tác giải
quyết đơn đề nghị, kiến nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tác giả nhận thấy từ khi có quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC cho đến nay chưa có trường hợp nào áp dụng điều luật nêu trên Việc điều luật trên không mang tính khả thi một phần là do theo BLTTDS hiện hành thì Hội đồng thẩm phán TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngoài chức năng xét
xử giám đốc, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng thẩm phán còn có chức năng hướng dẫn áp dụng pháp luật thông qua việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC Với vai trò quan trọng như vậy, việc xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ làm cho người dân mất đi niềm tin vào công lý và việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ không có hồi kết, không bảo đảm được nền pháp chế
xã hội chủ nghĩa
Điều này cũng phù hợp với Luật tổ chức TAND năm 2014: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị” [24]
Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán TANDTC, đương sự đã không thể biết được khi ra quyết định đó Nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc
Trang 35hội, kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC hoặc đề nghị của Chánh án TANDTC thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét lại quyết định đó Như vậy, theo BLTTDS hiện nay, quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm mà được xem xét lại theo thủ tục đặc biệt được quy định tại chương XXII của BLTTDS
1.3.2 Quy định của pháp luật về thời hạn, hình thức, thủ tục thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Thời hạn thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Trước đây, BLTTDS năm 2004 không quy định về thời hạn để đương sự thực hiện quyền đề nghị kháng nghị mà chỉ quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do đó, quá trình áp dụng pháp luật tố tụng dân sự xuất hiện nhiều trường hợp đương sự gửi đơn đề nghị đã quá thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm hoặc gửi đơn khi gần hết thời hạn kháng nghị Do vậy, người có thẩm quyền kháng nghị không có thời gian rút và nghiên cứu hồ sơ vụ án để quyết định xem xét xem bản án, quyết định mà đương sự đề nghị có vi phạm pháp luật hay không để ra quyết định kháng nghị nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự
Sau đó, BLTTDS 2004 đã sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS năm
2015 quy định rõ thời hạn đề nghị, kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị:
Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản đến những người có quyền kháng nghị để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi
Trang 36phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 (BLTTDS 2004) cũng như BLTTDS 2015 đã có quy định tiến bộ hơn so với trước đây là
đã quy định một thời hạn cụ thể để đương sự thực hiện quyền đề nghị kháng nghị theo thủ giám đốc thẩm dân sự Điều này, không chỉ góp phần làm nên tính chặt chẽ của luật pháp mà còn giúp giảm thiểu số lượng đơn đề nghị, giảm bớt áp lực cho Tòa án
Hiện nay, có ý kiến cho rằng việc quy định thời hạn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm như nêu trên là quá dài với lý giải rằng bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật về nguyên tắc sẽ được thi hành án khi đương sự có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án Do đó, nếu phát hiện bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật thì việc chậm trễ trong việc thực hiện quyền đề nghị kháng nghị sẽ ảnh hưởng đến việc kháng nghị, dẫn đến bản án, quyết định đó đã được thi hành xong, hậu quả xảy ra khó khắc phục được [17] Cần thiết phải quy định thời hạn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm ngắn hơn so với quy định về thời hạn hiện nay và đồng thời cần có sự tương thích với thời hạn thi hành án đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự [8]
Quan điểm của tác giả, tác giả không đồng tình với quan điểm cho rằng thời hạn thực hiện quyền đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của đương sự được quy định tại khoản 1 Điều 327 BLTTDS 2015 là quá dài Bởi
lẽ, sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, đương sự cũng cần có một thời gian nhất định để cân nhắc việc đề nghị xem xét đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm Vì sau khi xét xử phúc thẩm, đương sự cũng cần chuẩn bị tài liệu, chứng cứ hoặc đưa ra những lập luận phản bác lại nội dung
Trang 37bản án, quyết định đó Hơn nữa, thông thường đương sự nhận bản án, quyết định của Tòa án sau ngày bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật Do đó, thời hạn thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm là 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời gian hợp lý cho đương sự thực hiện quyền của mình
Đối với thời hạn thực hiện quyền (thông báo) đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì hiện nay Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam không quy định thời hạn Theo tác giả, điều này không phù hợp về mặt lý luận và không phù hợp với nguyên tắc về quyền quyết định
và tự định đoạt của đương sự Bởi vì bản án, quyết định nếu có vi phạm pháp luật thì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự Nhưng quyền đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của đương sự bị khống chế trong thời hạn
01 năm, trong khi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lại không bị hạn chế về thời hạn Việc quy định như vậy sẽ tạo ra kẽ hở trong hoạt động tư pháp, gây bất bình đẳng giữa các chủ thể có quyền đề nghị kháng nghị Mặt khác, điều này cũng tạo ra lỗ hổng pháp lý khi các đương sự đã hết thời hạn nộp đơn nhưng sau đó lại thông qua các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác để thực hiện quyền đề nghị kháng nghị
Hình thức, thủ tục thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự
Vấn đề hình thức, thủ tục thực hiện quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự được quy định khá cụ thể trong BLTTDS 2015, theo đó đương
sự hoặc cơ quan, tổ chức cá nhân khác gửi đơn đề nghị và tài liệu chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị Nội dung đơn đề nghị phải có các nội dung chính được quy định tại khoản 1 Điều 328 BLTTDS 2015 như ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị; tên, địa chỉ của người đề nghị; tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục
Trang 38giám đốc thẩm; lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị; người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn
Ngoài ra, kèm theo đơn đề nghị, người đề nghị phải gửi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị Đơn đề nghị được gửi trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc được gửi qua đường bưu chính
Nội dung và hình thức đơn đề nghị theo BLTTDS quy định khá chi tiết Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
dễ dàng trong việc thực hiện quyền đề nghị, thông báo của mình, mặt khác cũng giúp cho người có thẩm quyền kháng nghị có được thông tin chính xác
mà người đề nghị, kiến nghị cung cấp Tuy nhiên, BLTTDS 2015 quy định: Đơn đề nghị và tài liệu chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị bằng cách nộp trực tiếp tại TAND, VKSND hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính [27] Như vậy, BLTTDS không quy định cụ thể là đơn đề nghị được nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến TAND, VKSND nơi có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị hay cả nơi không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị
Tại khoản 2, Điều 5 của Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 15/10/2013 của TANDTC, VKSNDTC về việc hướng dẫn
03/2013/TTLT-TANDTC-thi hành một số quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục đặc biệt
xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS quy định: Đương sự gửi đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa
Trang 39án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị Trường hợp đương sự nộp trực tiếp đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo tại Tòa án, Viện kiểm sát không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn, thì Tòa án, Viện kiểm sát giải thích cho đương sự nộp đơn đến người có thẩm quyền giải quyết Nếu đương sự vẫn đề nghị được nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn thì Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn, xác nhận ngày nhận đơn vào đơn đề nghị và chuyển đơn đến Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn và thông báo cho đương
sự biết Từ quy định này cho thấy, đương sự có quyền gửi đơn qua đường bưu chính hoặc nộp đơn trực tiếp tại các TAND, VKSND kể cả những TAND, VKSND không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc thực hiện quyền của mình
Tuy nhiên, có rất ít trường hợp đương sự gửi hoặc nộp đơn trực tiếp tại TAND, VKSND không có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị mà chủ yếu gửi hoặc nộp đơn trực tiếp tại các TAND, VKSND có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị như TANDTC, VKSNDTC, TANDCC, VKSNDCC Trong khi đó, hiện nay các TAND, VKSND có thẩm quyền xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm chỉ tập trung ở 3 địa phương là thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Để người nộp đơn từ các địa phương khác, nhất là ở những nơi vùng sâu, vùng xa đến được các trụ
sở tiếp dân của các cơ quan này gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém Do đó lượng đơn nộp trực tiếp rất ít Các đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết, không đủ điều kiện thụ lý, đơn trùng lặp phần lớn là do đương sự nộp qua đường bưu chính Mặc dù, tại Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/10/2013 của TANDTC- VKSNDTC nêu trên quy định về việc nhận đơn của TAND, VKSND không có thẩm quyền xem
Trang 40xét, giải quyết đơn đề nghị nhưng mới chỉ dừng lại ở thẩm quyền nhận và chuyển đơn nên đơn do các TAND chuyển đến phần lớn là đơn không đủ điều kiện thụ lý, đơn trùng lặp Hàng năm, TAND có thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị phải tiến hành phân loại rất nhiều đơn thành: Đơn đủ điều kiện thụ lý, đơn trùng lặp, đơn không thuộc thẩm quyền, yêu cầu sửa chữa, bổ sung đơn đề nghị, gây lãng phí thời gian, nguồn lực, tiền bạc của Nhà nước và công dân
Về trách nhiệm gửi tài liệu chứng cứ kèm theo đơn đề nghị, so với
BLTTDS 2004 thì BLTTDS 2015 đã bổ sung cụm từ “nếu có” khi quy định
đương sự phải gửi kèm theo tài liệu chứng cứ khi nộp đơn đề nghị [27], điều
đó cho thấy pháp luật đã giảm bớt trách nhiệm của đương sự trong giai đoạn này Đương sự chỉ phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ nào mà đương sự hiện
có cho người có thẩm quyền kháng nghị Vấn đề này được thể hiện rõ hơn tại
khoản 1, Điều 330, BLTTDS 2015 “Đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương
sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án” Theo quy định này,
việc cung cấp chứng cứ của đương sự trong thủ tục giám đốc thẩm là quyền chứ không phải là nghĩa vụ
Tuy nhiên, BLTTDS 2015 chỉ có một quy định chung cho tất cả các chủ thể có quyền đề nghị kháng nghị về việc gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn
đề nghị mà chưa phân biệt trách nhiệm của từng chủ thể Điều này chưa phù hợp với vị trí, vai trò của từng chủ thể khi thực hiện quyền đề nghị kháng nghị Bởi, đương sự là người tham gia tố tụng trong vụ án, do đó trong quá trình giải quyết vụ án đương sự đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ mà họ có