1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn luật hình sự 1 (8d)

8 303 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 30,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 3 Điều 8 BLHS phân loại tội phạm như sau: “ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm

Trang 1

I - Mở đầu

Trong những năm gần đây, các loại tội phạm ngày càng gia tăng nhất là các tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu Sở hữu là quyền thiêng liêng của mỗi người và quyền đó được Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo vệ trong Hiến pháp, trong các văn vản quy phạm pháp luật khác, đặc biệt là Bộ Luật Hình sự năm 1999 Nhận thức sâu sắc vấn đề này, em xin chọn đề tài 06 để hiểu rõ về loại tội này được quy định tại điều 133 BLHS năm 1999

Đề 06:

C có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của K, tài sản chiếm đoạt có giá trị 30 triệu đồng Hành vi phạm tội của C được qui định tại khoản 1 điều 133 BLHS C bị đưa

ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù Anh ( chị ) hãy xác định :

1 Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại khoản

3 điều 8 BLHS?

2 Tội cướp tài sản ( Điều 133 BLHS) là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?

3 Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu TNHS về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?

4 Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

5 Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

II – Giải quyết vấn đề

1 Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại khoản 3 điều 8 BLHS?

Trước hết có thể khẳng định trường hợp phạm tội C thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng Bởi vì:

Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu về tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính

Trang 2

có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau Bởi vậy, việc phân hóa và

cá thể hóa hình phạt đã được đặt ra và được coi là nguyên tắc của luật Hình sự Việt Nam Điều đó được thể hiện bằng việc luật Hình sự Việt Nam phân tội hạm ra thành bốn nhóm tội phạm khác nhau: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Khoản 3 Điều 8 BLHS phân

loại tội phạm như sau: “ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn

cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội

ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

Ta thấy, tại khoản 2 Điều 8 BLHS có quy định: “ Căn cứ vào tính chất và mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biết nghiêm trọng” Như vậy, khi phân loại tội phạm ta còn phải

dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi nữa Nhưng trong mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đã bao hàm cả việc gây nguy hại không lớn, lớn, rất lớn, đặc biệt lớn, do đó khi phân loại tội phạm chỉ cần căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

Như vậy, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội (là tính nguy hiểm cho xã hội) và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý (là tính phải chịu hình phạt và được biểu hiện ở mức cao nhất của khung hình phạt) Trong đó, dấu hiệu về mặt nội dung, chính trị, xã hội quyết định quyết định về dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý Thực chất dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý chỉ là kết quả của quá trình đánh giá đầy đủ và toàn diện của các nhà làm luật về mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Tuy nhiên, khi đã được xác định thì khung hình phạt cũng trở thành dấu hiệu có tính độc lập tương đối Chính vì vậy, đứng trên góc độ của người

Trang 3

áp dụng pháp luật, để xác định một tội thuộc loại tội gì chúng ta thường dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt mà BLHS quy định cho tội đó

Trường hợp của C : C có hành vi chiếm đoạt tài sản của K có giá trị 30 triệu

đồng, C bị đưa ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù theo quy định tại khoản 1 điều 133

BLHS Khoản 1 điều 133 BLHS quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực

ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm” Đối chiếu với khoản 3 Điều 8 BLHS: “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù”.Hành vi phạm tội của C được quy định tại khoản 1 Điều 133

BLHS với mức cao nhất của khung hình phạt là mười năm tù Do đó trường hợp phạm

tội của C thuộc loại tội rất nghiêm trọng.

Như vậy, theo sự phân loại tội phạm dựa trên khoản 3 Điều 8 BLHS thì trường hợp phạm tội của C là loại tội rất nghiêm trọng.

2 Tội cướp tài sản ( điều 133 BLHS) là tội có CTTP hình thức hay CTTP vật chất? Tại sao?

Ngoài việc xác định tội phạm thì việc xác định CTTP là việc quan trọng và tất yếu trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Dựa vào đặc điểm cấu trúc của CTTP, ta có thể phân loại CTTP thành : CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi và hậu quả; CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội Như vậy, có thể thấy tội cướp tài sản có CTTP hình thức Bởi vì, CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội Khác với CTTP vật chất, thì CTTP hình thức không yêu cầu dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc Theo điều 133 BLHS thì chỉ có mô tả dấu hiệu khách quan là

hành vi nguy hiểm cho xã hội : “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức

khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến 10 năm” Mặt

Trang 4

khác, những hành vi được mô tả tại điều 133 đã thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã

hội Vì thế, Tội cướp tài sản ( Điều 133 BLHS) là tội có CTTP hình thức.

3 Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu TNHS về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?

Xét CTTP của tội cướp tài sản được quy định tại khoản 1 điều 133 BLHS ta thấy tội cướp tài sản có CTTP hình thức tức là người phạm tội chỉ cẩn thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong CTTP ( dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc

có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản) thì coi như tội phạm đã hoàn thành mà không cần xem xét hậu quả

đã xảy ra hay chưa ( Người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa)

Như vậy, trường hợp C mới chỉ dùng vũ lực nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản

Do tội cướp tài sản được quy định tại điều 133 BLHS có CTTP hình thức, chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chứ chưa cần dẫn đến hậu quả thì đã thỏa mãn dấu hiệu hành vi khách quan được mô tả trong CTTP Việc C dùng vũ lực nhưng chưa chiếm được tài sản thì việc vẫn phải chịu TNHS là không thay đổi Bởi chỉ cần thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu hậu quả chỉ là dấu hiệu xác định

khung hình phạt

Như vậy, nếu C dùng vũ lực nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản thì C vẫn phải chịu TNHS về tội cướp tài sản được quy định tại điều 133 BLHS.

Giai đoạn thực hiện tội phạm:

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thưc hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Căn cứ vào đặc điểm của các giai đoạn thực hiện tội phạm, căn cứ vào CTTP của tội cướp tài sản là CTTP hình thức, ta có thể thấy, C đã thực hiện đầy đủ hành vi phạm tội được mô tả trong điều 133 BLHS, đó là dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản ( mặc dù chưa chiếm đoạt được) nên trường hợp phạm tội của C ở giai đoạn tội phạm hoàn thành ( Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dầu hiệu được mô tả trong CTTP)

Trang 5

4 Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình

không? Tại sao?

Trước hết, có thế khằng định, nếu C mới tròn 14 tuổi thì C vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình Bởi:

Căn cứ khoản 3 điều 8 BLHS: “ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy

hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng

là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” C có hành vi chiếm đoạt tài sản

của K có giá trị 30 triệu đồng, C bị đưa ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù theo quy

định tại khoản 1 điều 133 BLHS:“Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức

khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm” Đối

chiếu với khoản 3 Điều 8 BLHS: “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại

rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù” Mà hành vi phạm tội của C được quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS với

mức cao nhất của khung hình phạt là mười năm tù Do đó trường hợp phạm tội của C

thuộc loại tội rất nghiêm trọng.

Khoản 2 điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu TNHS : “ Người từ đủ 14 tuổi trở

lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Trong trường hợp cụ thể, C dùng vũ lực và đã chiếm đoạt được tài sản của K trị giá

30 triệu đồng, lỗi của C trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp Bởi, về lí trí, C nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi chiếm đoạt tài sản của mình và thấy trước hậu quả đó Về ý chí, C mong muốn hậu quả xảy ra

Trang 6

Như vậy, từ những phân tích trên, căn cứ vào dấu hiệu lỗi cố ý, tuổi chịu TNHS và

loại tội phạm là tội rất nghiêm trọng nên C tròn 14 tuổi thì C vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình.

5 Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ, C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ, C vẫn phải chịu TNHS

về hành vi của mình Bởi:

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm

đó Điều 17 BLHS quy định: “ Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm”

Theo luật hình sự Việt Nam, không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng bị truy cứu TNHS Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu TNHS nếu tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc là tội đặc biệt nghiêm trọng ( Điều 17 BLHS) Vậy tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng ở đây được hiểu như thế nào? Điều này được quy định

rất rõ tại khoản 3 điều 8 BLHS : “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại

rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” Như vậy, nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt

giữu, C chỉ phải chịu TNHS nếu tội cướp tài sản được quy định tại điều 133 BLHS thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại điều

8 và điều 17 BLHS Ta cần đi xem xét CTTP của tội cướp tài sản ( Điều 133 BLHS)

Về mặt khách thể của tội phạm: Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa

dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy, có thể thấy, cùng một lúc, tội này xâm hại đến hai quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ đó là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, mà ở đây là tính mạng và sức khỏe của người khác

Trang 7

Về mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm được thể hiện qua

hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản Dùng vũ lực ở đây có thể hiểu là dùng sức mạnh vật chất để chủ động tấn công chủ thể

có tài sản mà người đó muốn chiếm đoạt Hành vi tấn công ở đây nhằm làm mất khả năng chống cự của chủ thể sở hữu để chiếm đoạt được tài sản Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là việc sử dụng sức mạnh vật chất như đã nêu ở trên khi chủ sở hữu có hành vi chống cự lại để khiến cho họ cảm thấy sợ hãi và tin rằng nếu không để cho người tấn công chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị nguy hại đến sức khỏe tính mạng của mình Hành vi khác ở đây có thể là dùng các loại thuốc để khiến người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự Việc người tấn công sử dụng sức mạnh vật chất, đe dọa dùng vữ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác không nằm ngoài mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị tấn công, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó Tội cướp tài sản ( điều 133 BLHS) là tội có CTTP hình thức, tức là, tội này được coi là hoàn thành ngay khi người tấn công có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác nhằm khống chế người bị tấn công, bất kể có chiếm được tài sản hay không, có nghĩa là khi thực hiện những hành vi này, người tấn công đã đe dọa đến quan hệ sở hữu hoặc quan hệ tài sản

Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội cướp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực

tiếp nhằm mục đích mưu lợi Người tấn công biết tài sản không thuộc về mình nhưng lại cố ý cướp để chiếm đoạt tài sản đó

Chủ thể của tội phạm: bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực

trách nhiệm hình sự

Từ những phân tích trên, ta có thể thấy, tội cướp tài sản xâm hại đến hai quan hệ xã hội cơ bản là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Các hành vi xâm phạm đến quan hệ

sở hữu có nghĩa là xâm phạm đến các quy phạm pháp luật về chế độ sở hữu, còn viêc xâm phạm đến quan hệ nhân thân, cụ thể là tính mạng, sức khỏe của công dân gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội Hơn nữa, tại khoản 1 điều 133 BLHS, khung hình phạt cho tội cướp tài sản ( chưa kể tình tiết tăng nặng) là từ ba năm đến mười năm tù Mức cao nhất của khung hình phạt này là đến mười năm tù, căn cứ vào khoản 3 điều 8 BLHS

Trang 8

Theo quy định tại điều 17 BLHS năm 1999 : “người chuẩn bị phạm một tội rất

nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu TNHS về tội định thực hiện trên” Tội cướp tài sản quy định tại điều 133 BLHS thuộc loại tội rất nghiêm trọng

( khoản 1) và đặc biệt nghiêm trọng ( khoản 2, 3, 4 điều 133), nên người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản vẫn phải chịu TNHS.

Từ những lí lẽ trên, ta có thể đi đến kết luận, theo luật hình sự Việt Nam giai đoạn chuẩn bị của tội cướp tài sản vẫn phải chịu TNHS Nguyên nhân là do tội cướp tài sản

là tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, với mục đích răn đe, giáo dục, ngăn ngừa và phòng chống loại tội này, nên giai đoạn chuẩn bị nó cũng phải chịu TNHS theo quy định tại điều 17 BLHS

Trong trường hợp cụ thể, nếu C mới chuẩn bị thực hiện tội cướp tài sản, ta có thể chia thành hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: Nếu C dưới 14 tuổi thì C không phải chịu TNHS về hành

vi chuẩn bị cướp tài sản của mình

- Trường hợp thứ hai: Nếu C đủ 14 tuổi trở lên thì căn cứ điều 12 BLHS “Người

từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Như vậy,nếu C

đã đủ từ 14 tuổi trở lên thì việc chuẩn bị phạm tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS), C vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình, do tội cướp tài sản ( Điều

133 BLHS) có CTTP là tội rất nghiệm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ, C vẫn phải chịu TNHS về hành vi của mình trong trường hợp C đã đủ từ 14 tuổi trở lên.

III – Kết luận

Qua việc phân tích tình huống trên, chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về những vấn đề trong luật hình sự, tình hình phạm tội trong thực tế, đặc biệt là “ Tội cướp tài sản” ( điều

133 BLHS) Thấy rõ được những mối nguy hại cho xã hội, đặc biệt, càng nhận thức sâu sắc SShơn về vai trò của công tác điều tra, xét xử nhằm nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm với mục đích cao cả đó là đảm bảo an toàn xã hội, trật tự

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w