Tuy vậy, thực tiễn thực hiện pháp luật về phá sản, mà cụ thể là đối với doanh nghiệp và hợp tác xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các nhà lập pháp cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa lu
Trang 1Mở đầu
Nội dung
I Những vấn đề lý luận chung về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
theo pháp luật hiện hành
II Thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dưới góc
độ thực tiễn.
2 Hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã
7
4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp
tác xã.
13
Kết luận
Trang 2MỞ ĐẦU:
Như chúng ta đã biết, phá sản là một hiện tượng có từ lâu đời trên thế giới Phá sản đã trở thành một hiện tượng, một xu thế tất yếu của quá trình cạnh tranh, quá trình đào tạo và chọn lọc tự nhiện Nó loại bỏ các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Như vậy phá sản là một hiện tượng khách quan nó góp phần làm lành mạnh hoá thị trường, thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, từ đó góp phần vào đẩy nhanh và
sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Và ở Việt nam cũng như vậy Nhằm góp phần hạn chế đến mức tối đa hậu quả của phá sản, nhà nước đã có những biện pháp tích cực mà điển hình là sự ra đời của bộ luật phá sản doanh nghiệp 1993, rồi sau đó là bộ luật phá sản 2004 ( bổ sung và sửa đổi từ bộ luật phá sản doanh nghiệp 1993 ) Tuy vậy, thực tiễn thực hiện pháp luật về phá sản, mà cụ thể là đối với doanh nghiệp và hợp tác xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các nhà lập pháp cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa luật doanh nghiệp 2005 ,nhằm phù hợp với thực tế xã hội đang vận động và phát triển không ngừng
NỘI DUNG:
I Những vấn đề lý luận chung về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo pháp luật hiện hành
1 Cơ sở pháp lý
Pháp luật hiện hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dựa trên các cơ sở pháp lý sau:
* Luật phá sản năm 2004;
* Nghị định của Chính phủ số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 hướng dẫn áp dụng Luật phá sản với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của tổ quản lý, thanh lí tài sản;
Trang 3* Nghị định của Chính phủ số 114/2008/NĐ-CP ngày 3/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật phá sản đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác;
* Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản
2 Mục tiêu và vai trò của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Phá sản là một hiện tượng vẫn còn rất mới đối với nền kinh tế thị trường ở nước
ta, song tính chất của phá sản lại vô cùng phức tạp và thông thường để lại những hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần hết sức khéo léo cũng như linh động trong cách giải quyết Và Luật phá sản là một công cụ rất cần thiết cho quá trình giải quyết các vụ việc có liên qua đến phá sản Tuy nhiên, do Luật phá sản doanh nghiệp 1993 còn có nhiều điểm chưa hợp lí nên hiệu suất giải quyết các vụ việc chưa cao Do đó, cần có một bộ luật hoàn chỉnh hơn, và Luật phá sản
2004 đã ra đời
Về cơ bản, Luật phá sản 2004 đã khắc phục nhiều hạn chế của Luật phá sản doanh nghiệp 1993 Cụ thể Luật Phá sản 2004 đã có hướng đi rất đúng đắn, đó là nghiêng về mục tiêu “hướng vào con nợ” trong đó quy định rõ hai thủ tục: thủ tục thanh toán và thủ tục phục hồi với khả năng chuyển đổi từ phục hồi sang thanh toán
Có thể nói Luật Phá sản 2004 có cấu trúc và mục tiêu tốt, theo khuôn mẫu của Luật Phá sản hiện đại
3 Thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Thông qua việc quy định trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản là công củ để bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, con nợ, người lao động trong doanh nghiệp đồng thời góp phần đảm bảo trật tự, kỳ cương xã hội và
cơ cấu lại nền kinh tế Theo đó, Điều 5 Luật Phá sản 2004 quy định thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm: “a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá
Trang 4sản; b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.”
* Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Nộp đơn yêu cầu
Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì người có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất là các chủ nợ Bên cạnh đó người lao động cũng phải chịu nhiều rủi
ro ( không nhận được lương, mất việc làm…) Chính vì vậy, Luật phá sản đã quy định
cả hai chủ thể: chủ nợ và người lao động đều có quyền nộp đơn Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn là bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong thời hạn ba tháng kể từ khi nhận thấy mình lâm vào tình trạng phá sản
Thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Việc thụ lý đơn yêu cầu quy định tại hai điều 23 và điều 24 được coi là một hình thức nhằm chính thức hóa trách nhiệm của Tòa án trong quá trình tiến hành giải quyết
vụ việc phá sản và buộc các chủ nợ vào một khuôn khổ chung trong quá trình đòi nợ; bảo vệ và giúp doanh nghiệp tránh được các phương thức đòi nợ mang tính “côn đồ”,
“luật rừng” có thể có từ phía các chủ nợ Từ đó, bảo đảm việc giải quyết phá sản được tiến hành theo một quy trình thống nhất
Điều kiện để Tòa án thụ lý đơn là nội dung đơn đã đầy đủ theo quy định; người nộp đơn đã nộp đủ các tài liệu kèm theo, đã nộp tạm ứng lệ phí phá sản; và không thuộc các trường hợp trả lại đơn Thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là cơ quan quyền lực cao nhất của các chủ nợ do Tòa án triệu tập và chủ trì Hội nghị này được lập ra nhằm giúp cho các chủ nợ và doanh nghiệp có
cơ hội đàm phán với nhau để đi đến vấn đề thanh toán ổn thỏa bao gồm 2 trường hợp: phục hồi nếu hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua nghị quyết đồng ý với giải pháp
tổ chức lại hoạt động kinh doanh hoặc thanh lý tài sản của doanh nghiệp nếu nghị
Trang 5quyết của hội nghị chủ nợ không đồng ý cho doanh nghiệp cơ hội phục hội hoặc hội nghị chủ nợ không thành thì Tòa sẽ quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
* Phục hồi hoạt động kinh doanh
Mục tiêu hàng đầu của bất kỳ luật phá sản nào trên thế giới cũng là tạo điều kiện
để cứu giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợ và chỉ đặt vấn đề thanh lý (chấm dứt tồn tại) nếu thực sự không còn khả năng phục hồi Chính vì vậy, phá sản không chỉ bao gồm trình tự thu hồi tài sản và thanh toàn (phát mại tài sản)
mà thủ tục phá sản còn một khía cạnh khác đáng lưu ý: tạo cơ hội cho con nợ và chủ
nợ thỏa thuận tái tổ chức kinh doanh và lập một kế hoạch trả nợ phù hợp, được giám sát thực hiện bởi Tòa án và tạo cơ hội cho các chủ nợ thu hồi được một phần hợp lý các khoản nợ của mình đối với các doanh nghiệp thua lỗ
* Thanh lý tài sản, các khoản nợ
Việc thanh lý tài sản hay phân chia giá trị tài sản của DN được tiến hành sau khi
đã giao phối, làm rõ giá trị tài sản phá sản của doanh nghiệp Về nguyên tắc, phương
án phân chia tài sản do Hội nghi chủ nợ đề nghị, được Tòa án phê chuẩn và do chấp hành viên phụ trách việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản cùng với Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện Thủ tục này, ngoài ra cũng mang ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế xã hội, bằng việc thanh lý tài sản, nền kinh tế được cơ cấu lại khi loại bỏ những doanh nghiệp đã yếu kém, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp mới phát triển mạnh hơn
* Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
Điều 84 của Luật phá sản quy định thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản Tòa án có trách nhiệm thông báo công khai quyết định tuyên bố phá sản như đối với quyết định mở thủ tục phá sản và phải gửi quyết định tuyên bố phá sản cho cơ quan đăng kí kinh doanh để xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng kí kinh doanh Đây được coi là bước cuối cùng, kết thúc thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp
Trang 6Ngoài ra, thời điểm ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản có ý nghĩa là căn cứ
để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp (Khoản 3 Điều 94 Luật phá sản 2004 )
II Thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dưới góc độ thực tiễn.
1 Thành quả đạt được
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 được xem như một công cụ trợ giúp cho nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn làm quen với nền kinh tế thị trường đầy biến động Tuy nhiên, do còn tồn đọng nhiều hạn chế cũng như không hoàn toàn sát với điều kiện thực tế hiện tại nên kể từ khi Luật này có hiệu lực từ 1/7/1994 có rất ít đơn xin yêu cầu phá sản doanh nghiệp Trong thời gian 9 năm thi hành Luật này, toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý có 151 đơn yêu cầu, trong đó Tòa án chỉ tuyên bố được 46 doanh nghiệp phá sản Một yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải nhanh chóng sửa đổi
và bổ sung những thiếu sót của luật phá sản doanh nghiệp 1993 Và luật phá sản 2004
đã ra đời việc Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật Phá sản năm 2004 mang một ý nghĩa hết sức to lớn Kể từ khi có hiệu lực (ngày 15/10/2004) Luật Phá sản 2004 có thể nói đã đạt được những thành quả nhất định Thể hiện rõ nhất ở việc số lượng các vụ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đều tăng hằng năm Năm 2005 các Tòa án tỉnh thụ lý 11 vụ, năm 2006 thụ lý 40 vụ…Để làm được điều này, so với Luật PSDN 1993, Luật Phá sản 2004 đã có nhiều bổ sung và thay đổi phù hợp Cụ thể:
Đầu tiên, phải kể đến Luật phá sản 2004 đã có cái nhìn đúng đắn về khái niệm
phá sản hay khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Đây là khái niệm cực
kỳ quan trọng của pháp luật phá sản Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm
Trang 7hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ Từ đó đã thể hiện các nhà lập pháp đang đi theo đúng xu hướng chung của toàn cầu Bên cạnh đó, Luật phá sản 2004 còn ghi nhận nhiều quy định, thông qua đó
đã giúp các bên có liên quan sớm đưa doanh nghiệp mắc nợ ra Tòa, khắc phục tình trạng đã tồn tại nhiều năm trước đây là có nhiều DN, về mặt thực tế thì đã “chết” nhưng về mặt pháp lý thì vẫn “sống” Theo đó, Điều 3 của Luật này quy định doanh nghiệp bị coi là đã lâm vào tình trạng phá sản khi “không có khả năng thanh toán được khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu” đây được coi là tiêu chí đã đi được vào bản chất của hiện tượng, đơn giản và hợp lý hơn vì đã không căn cứ vào thời gian thua lỗ, nguyên nhân của tình trạng thua lỗ… Ngoài ra, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được mở rộng thêm cho một số đối tượng So với Luật PSDN 1993 thì ngoài chủ
nợ không có bảo đảm, con nợ và người lao động; Luật phá sản 2004 đã mở rộng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho một số đối tượng khác là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ động của công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Tiếp theo, Luật phá sản 2004 khẳng định thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp
đặc biệt Qua đó phân biệt rõ phá sản với các thủ tục pháp lí bình thường khác Đồng thời khẳng định tầm quan trọng của thủ tục phá sản, bởi nhiều khi các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết không khéo dễ dẫn đến việc nảy sinh thêm những rắc rối Và đây là
bước phát triển về lý luận của pháp luật phá sản nước ta Không chỉ dừng lại ở đó, Luật Phá sản 2004 cũng đã đa dạng hóa cá thủ tục của tố tụng phá sản, qua đó giúp Tòa án có thể chấm dứt sớm sự tồn tại của doanh nghiệp mắc nợ nếu việc phục hồi nó
là điều không thể thực hiện được Ngoài việc Điều 5 Luật này đã quy định nhiều loại thủ tục khác nhau; đối với những DN không có khả năng phục hồi, Tòa án sẽ áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản (Điều 78), thậm chí, nếu xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán chi phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay (Điều 87)…
Trang 8Một điểm tiến bộ quan trọng nữa, đó là Luật phá sản 2004 bảo vệ lợi ích của các chủ nợ triệt để hơn Qua đó giúp họ dễ dàng hơn trong việc thu hồi vốn nhằm tái thiết cho các hoạt động đầu tư khác Không chỉ vậy, Luật phá sản năm 2004 còn tạo điều kiện thuận lợi hơn để các doanh nghiệp phục hồi năng lực tài chính, trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường Cụ thể, luật mở rộng khả năng tham gia vào phục hồi DN cho các đối tượng khác ngoài DN mắc nợ Theo khoản 2 Điều 68, chủ nợ hoặc bất kỳ người nào nhận nghĩa vụ phục hồi hoạt động kinh doanh của DN đều có quyền xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh… Ngoài ra, khác với Luật PSDN cũ, Luật Phá sản 2004 đồng thời cũng quy định rõ các biện pháp cần phải thực hiện để phục hồi hoạt động kinh doanh của DN như: thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; huy động nguồn vốn mới; đổi mới công nghệ; tổ chức lại bộ máy quản lý; sáp nhập hoặc chia, tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất; bán lại cổ phần cho chủ nợ;… (khoản 2 Điều 69)
2 Hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2011 do Tập đoàn Tài chính Quốc tế IFC và Ngân hàng Thế giới WB công bố, VN được xếp ở vị trí 78/183 nước
về mức độ thuận lợi kinh doanh Trong đó, ở tiêu chí thứ 10, giải thể DN, báo cáo cho rằng việc giải quyết các trường hợp phá sản DN ở VN còn kém hiệu quả, xếp hạng 124/183 Thủ tục phá sản phải mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của
DN Đối với những DN vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản Vì thế, rất ít DN tuân theo các quy định và thủ tục chính thức khi muốn đóng cửa hoạt động
Thông qua những số liệu đó, có thể thấy rằng, thực tiễn thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở nước ta hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, từ đó dẫn tới chưa đạt được hiệu quả cao Để có thể lí giải cho điều này, trước hết phải xuất phát từ phía các doanh nghiệp, hợp tác xã với tư cách là con nợ và
Trang 9từ bản thân các chủ nợ, sau đó cũng cần phải đề cập đến việc bản thân pháp luật về phá sản ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế gây khó khăn cho quá trình áp dụng
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường đầy biến động và luôn thay đổi theo tình hình thế giới, để có thể tồn tại được thì các doanh nghiệp cần có những chiến lược cụ thể nhằm sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp nước ta lại không có những sự chuẩn bị chu đáo như vậy Với lối làm
ăn , kinh doanh theo kiểu “chụp giựt”, thiếu tầm nhìn cùng những cách thức kinh doanh thiếu lành mạnh, bất hợp pháp thường dẫn đến một kết cục chung Đó là các doanh nghiệp này không thể trụ vững lâu, và đi đến phá sản Chính vì lẽ đó, khi các doanh nghiệp này phá sản, Tòa án gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết các khoản nợ có bảo đảm cho ngân hàng bởi các khoản nợ này chỉ được bảo đảm bằng tài sản ảo
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam Phần lớn các doanh nghiệp đều có nền tài chính hạn chế , ngay đối với các doanh nghiệp làm ăn đứng đăn nhất, có nghĩa là cá khoản vay huy động vốn đã được bảo đảm bằng tài sản có thật của doanh nghiệp thì cũng chỉ mới bảo đảm được khoản nợ “cứng” Còn đối với các khoản nợ khác như tiền công, tiền lương, các khoản trợ cấp chế độ cho người lao động, các khoản nợ thuế… thì hầu như bị bỏ quên Vì lẽ
đó, khi kiểm kê lại có thể thấy tổng giá trị nợ của doanh nghiệp thường rất lớn, và không thể giải quyết ngay được Thực tế cũng đã chứng minh rằng, hầu hết các vụ việc khi giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tổng số nợ khi khóa sổ danh sách chủ nợ thì giá trị nợ thường gấp nhiều lần giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp Chẳng hạn vụ phá sản của Công ty vật tư dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp Trà Vinh, tổng số nợ của doanh nghiệp trên 5,5 tỷ đồng nhưng toàn bộ tiền mặt chỉ còn 113 triệu đồng và số tài sản ước tính 1,5 tỷ đồng Hậu quả tất yếu là chủ nợ hoặc sẽ mất trắng hoặc chỉ được thanh toán một phần rất nhỏ khoản nợ của mình
Trang 10Từ phía các chủ nợ, một trong những lý do khác khiến cho số doanh nghiệp tiến hành thủ tục phá sản còn quá ít so với thực tế là bản thân các chủ nợ không muốn khai
tử con nợ của mình Để hạn chế tình trạng này, cần phải làm cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như xã hội coi việc phá sản là hiện tượng bình thường Chỉ vậy, các bên liên quan tới việc phá sản doanh nghiệp mới tìm được đồng thuận để giải quyết êm thấm các vướng mắc về quyền lợi, nghĩa vụ, để bắt đầu một hoạt động mới
3 Những bất cập của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Đã đi vào thực hiện được hơn 7 năm, tuy nhiên cho đến nay việc “sinh dễ, tử khó” của doanh nghiệp vẫn đang diễn ra Vẫn biết luật phá sản 2004 ra đời nhằm giải quyết mối quan hệ nợ nần trong hoàn cảnh đặc biệt: khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính không thể phục hồi Nhưng khi đi vào thực tiễn muôn màu muôn vẻ và luôn biến đổi thì việc luật phá sản 2004 phát sinh nhiều điểm chưa hợp lí
là điều dễ hiểu Chính vì vậy nên luật này được xếp vào loại ít được sử dụng nhất, với khoảng 10 vụ việc được áp dụng mỗi năm mà theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh Cụ thể điều này được thể hiện
ở những khía cạnh sau:
* Về phạm vi, đối tượng áp dụng
Luật phá sản năm 2004 áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; đối với các doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu do Chính phủ sẽ quy định cụ thể danh mục và áp dụng.(1) Như vậy, theo quy định này, chỉ có những cơ sở, sản xuất kinh doanh nào được pháp luật quy định là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mới thuộc đối tượng áp dụng trong Luật phá sản năm 2004 Quy định này có những điểm chưa phù hợp và thiếu tính khoa học