Khái niệm về trọng tài thương mại Trọng tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đây là phương thức thông qua một thiết chế tài phán d
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 2
1 Khái niệm về trọng tài thương mại 2
2 Phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại 3
2.1 - Ưu điểm 3
2.2 - Nhược điểm: 3
3 Khái quát về Tòa án và sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại 4
3.1 - Tòa án 4
3.2 - Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại 5
II BA QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 6
1 Tòa án chỉ định, thay đổi trọng tài viên 7
2 Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 9
3 Tòa án quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài 11
III THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 13
1 Về chỉ định, thay đổi trọng tài viên 13
2 Về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 14
3 Về huỷ quyết định trọng tài 14
VI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tranh chấp thương mại là sự xung đột lợi ích của các bên trong quan hệ thương mại, việc giải quyết tranh chấp có thể được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau, đó có thể là thương lượng; hòa giải; giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại hoắc cũng có thể được tiến hành tại Tòa án Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại là việc giải quyết tranh chấp có nhiều tác động tích cực đối với việc giải quyết xung đột lợi ích của các bên Tuy nhiên phương thức giải quyết này cũng có nhiều hạn chế nhất định trong việc áp dụng cũng như tổ chức thực hiện Vì vậy pháp luật quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại Vậy Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định về vấn đề này như thế nào? Sự hỗ trợ của Tòa án về những vấn đề gì?
Trong phạm vi bài tập của mình, em xin “Phân tích ba quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại và bình luận thực tiễn áp dụng các quy định đó”.
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Khái niệm về trọng tài thương mại
Trọng tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đây là phương thức thông qua một thiết chế tài phán do các bên thỏa thuận với nhiều ưu việt, hạn chế được những khó khăn khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án công của nhà nước trong các tranh chấp thương mại Dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càn được sử dụng phổ biến trong các quan hệ thương mại không chỉ ở phạm vi quốc gia mà ở cả phạm vi quốc tế Trọng tài phi chính phủ được hiểu là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của các trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự tồn tại của các bên tranh chấp và có hiệu lục bắt buộc đối với các bên Trọng tài là một thiết chế dân chủ trong giải quyết tranh chấp
Trang 3thương mại Theo quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này (khoản 1 Điều 3) Trọng tài không có thẩm
quyền đương nhiên mà chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi mà các bên có quyền lợi liên quan chỉ định, thẩm quyền của trọng tài được xác lập trên cơ sở của thỏa thuận trọng tài
2 Phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại
2.1 - Ưu điểm
Thứ nhất, thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng, các bên có thể chủ động
về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, không trải qua nhiều cấp xét xử như ở toà án, cho nên hạn chế tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp
Thứ hai, khả năng chỉ định trọng tài viên thành lập Hội đồng trọng tài giải
quyết vụ việc giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm,
am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp để từ đó họ có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác
Thứ ba, nguyên tắc trọng tài xét xử không công khai, phần nào giúp các bên
giữ được uy tín trên thương trường Đây được coi là ưu điểm được các bên tranh chấp ưa chộng nhất
Thứ tư, các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài,
kiểm soát được việc cung cấp chứng cứ của mình và điều này giúp các bên giữ được bí quyết kinh doanh
Thứ năm, trọng tài khi giải quyết tranh chấp nhân danh ý chí của các bên,
không nhân danh quyền lực tự pháp của nhà nước, nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài
2.2 - Nhược điểm:
- Đầu tiên, khuỵết điểm được phát sinh do tính chất nhanh chóng của cách thức giải quyết vụ việc, trọng tài tuyên án chỉ sau một cấp xét xử duy nhất, nên đôi
Trang 4khi các quyết định của trọng tài là không chính xác, gây thiệt hại đối với doanh nghiệp
- Trong thời gian trước đây, khi chưa có luật trọng tài thương mại 2010 thì tính cưỡng chế thi hành các quyết định trọng tài không cao vì trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước
- Việc thực hiện các quyết định của trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức
tự nguyện của các bên Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, uy tín của doanh nghiệp được đặt lên hàng đầu do đó việc họ tự giác thực hiện các quyết định của trọng tài khá cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước hiện nay vẫn chưa coi trọng việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nên vẫn chưa có ý thức tự giác
- Trong thực tiễn tình hình nước ta hiện nay, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quá lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng chi trả
- Khi không được thoả thuận sử dụng trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp kinh doanh trong hợp đồng thì khi xảy ra tranh chấp, trọng tài không có thẩm quyền giải quyết ngay cả khi doanh nghiệp có ý định đó
3 Khái quát về Tòa án và sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại
3.1 – Tòa án
Tòa án là hệ thống cơ quan có chức năng đặc thù trong bất kỳ bộ máy nhà nước nào Tính đặc thù thể hiện ở chỗ, Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất được thực hiện chức năng xét xử và ra các phán quyết buộc các bên thực hiện
bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Theo Điều 12 Hiến pháp 1992: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án quân sự và tòa án nhân dân địa phương, và các tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Tuy nhiên, không phải tất cả các Tóa án được thành lập trên lãnh thổ Việt Nam đều tham gia hoạt động hỗ trợ trọng tài, mà chỉ có Tòa án Kinh tế - Tòa án chuyên trách giải quyết các tranh chấp về thương mại mới tham gia hỗ trợ hoạt
Trang 5động của trọng tại Bởi vì, xuất phát từ tính chất của tranh chấp được trọng tài giải quyết là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà các bên tranh chấp là
cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh
Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhưng nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng như: sơ thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án dưới cấp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; giải quyết việc phán sản theo quy định của pháp luật Như vậy căn cứ vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân, tòa kinh tế không có chức năng hỗ trợ hoạt động trọng tài, mà chỉ quy điịnh chức năng xét xử các tranh chấp và giải quyết phá sản Tuy nhiên căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự
2004 thì Tòa kinh tế lại có thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu liên quan đến trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại; yêu cầu công nhân và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của trọng tài nước ngoài
3.2 - Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại
Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của trọng tài: trọng tài là cơ quan tài phán
phi chính phủ có quyền lực bắt nguồn từ “quyền lực hợp đồng” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm Phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí nhà nước mà đại diện cho ý chí các bên tranh chấp
Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài gặp rất nhiều khó khăn, những khó khăn này vượt khỏi sự kiểm soát của trọng tài và cần đến sự giúp đỡ của Tòa án và các cơ quan tư pháp khác Trong quá trình trọng tài thụ lý vụ kiện,
có trường hợp việc giải quyết trọng tài không thể tiến hành, ví dụ: không chọn được trọng tài viên, khi xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài… Nếu không có sự trợ giúp của Tòa án , vụ tranh chấp khó có thể được giải quyết bằng trọng tài, bởi vì các bên đã không nhất trí trong quá trình kiện tụng Vì vậy sự
hỗ trợ của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tránh bế tắc cho hoạt động trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết tốt các tranh chấp mà các bên đã tin tưởng giao phó
Trang 6Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài:
Nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản lý hoạt động của cá nhân, tổ chức xã hội, trong đó có trọng tài Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài
Thứ ba, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài đã đảm bảo tính
hiệu quả của hoạt động trọng tài Trọng tài thương mại có rất nhiều ưu điểm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ác bên thể hiện tối đa ý chí của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp Tuy nhiên cùng với khiếm khuyết vốn có nhiều khi hoạt động trọng tài không đảm bảo tính hiệu quả, không bảo về tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Với việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án hủy quyết định của trọng tài nếu quyết định của trọng tài rơi vào những trường hợp pháp luật quy định
II BA QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA
ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 trước đây và hiện này là Luật trọng tài thương mai 2010 đã có nhiều quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại Trọng tài thương mai hoạt động có hiệu quả tốt sẽ giảm bớt gánh nặng cho tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của các nhà kinh doanh trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại Sự
hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài được thể hiện ở những vấn đề sau:
- Tòa án hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc;
- Tòa án có thể quyết định thay đổi Trọng tài viên;
- Tòa án xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của Hội đồng trọng tài;
- Tòa án hỗ trợ trong việc thu thập chứng cứ có liên quan đến vụ tranh
chấp;
- Tòa án quyết định triệu tập người làm chứng;
Trang 7- Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời;
- Tòa án đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc;
- Tòa án quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài;
Trong phạm vi bài tập của mình, em xn trình bày về sự hỗ trợ của Toàn án đối với trọng tài ở ba vấn đề sau:
1 Tòa án chỉ định, thay đổi trọng tài viên
Trong tố tụng, trọng tài vụ việc hay thường trực, việc thành lập hội đồng trọng tài để giải quyết vụ tranh chấp hoàn toàn là quyền của các bên tranh chấp Bên nguyên đơn và bên bị đơn có quyền lựa chọn hoặc thành lập hội đồng trọng tài chỉ có một trọng tài viên duy nhất để giải quyết tranh chấp cho mình Tuy nhiên đối với hình thức trọng tài vụ việc, nếu bị đơn không chọn được trọng tài viên hoặc các bị đơn không chọn được trọng tài viên hoặc hai trọng tài viên được chọn hay chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ ba hoặc các bên đương sự không chọn được trọng tài viên duy nhất thì có quyền yêu cầu Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu
bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức (Điểm a, Khoản 2 Điều7, Luật trọng tài thương mại 2010) lựa chọn Hơn nữa pháp luật cũng quy định về những trường hợp mà tòa án chỉ định trọng tài viên trong các trường hợp cụ thể, vấn đề này được quy định tại Điều 41 Luật trọng tài thương mại năm
2010 Cũng theo quy định tại khoản 5 Điều 41 thì: “trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên quy định tại các khoản 1,2,3 và 4 của Điều này, chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một thẩm phán chỉ định trọng tài viên và thông báo cho các bên”.
Quy định này nhằm tránh bế tắc trong tố tụng trọng tài, đồng thời đảm bảo
vụ tranh chấp trọng tài được giải quyết Bởi vì, vụ tranh chấp đã được các bên thỏa thuận giải quyết theo thủ tục trọng tài, Tòa án không thụ lý giải quyết Trong trường hợp này, nếu vì lý do không thành lập được hội đồng trọng tài hoặc không chọn được trọng tài viên duy nhất mà tranh chấp đó không được trọng tài giải quyết thì cũng sẽ không được giải quyết tại Tòa án Vì thế quyền lợi của các bên tranh chấp sẽ không được đảm bảo, đặc biệt là bên có quyền và lợi ích bị xâm hại
Trang 8Tòa án chỉ có thẩm quyền thay đổi Trọng tài viên trong trường hợp vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết Tại khoản 4 Điều 42 Luật TTTM có
quy định: “Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc các bên tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên” Theo đó, nếu các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không
quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp thì Tòa án sẽ có thẩm quyền về việc thay đổi Trọng tài viên Theo quy định này, nếu nhận được yêu cầu của ít nhất một Trọng tài viên, của một hoặc các bên tranh chấp, Tòa án cũng có thể phân công một Thẩm phán quyết định
về việc thay đổi Trọng tài viên Trong khi đó, Pháp lệnh TTTM 2003 quy định chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết là nguyên đơn, điều này đã hạn chế quyền của các Trọng tài viên và bên bị đơn trong việc yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên Nói cách khác, theo Pháp lệnh TTTM 2003, nếu không có yêu cầu của nguyên đơn thì không phát sinh thẩm quyền của Tòa án trong việc thay đổi Trọng tài viên Có thể thấy, Luật TTTM 2010 đã khắc phục được hạn chế này của Pháp lệnh TTTM 2003, điều này đảm bảo sự công bằng và quyền lợi chính đáng của các bên tranh chấp
Bên cạnh đó, Luật TTTM 2010 còn có quy định tại khoản 4 Điều 43 đối với trường hợp Trọng tài viên được lựa chọn không thể tiếp tục tham gia giải quyết
tranh chấp: “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế; nếu không thỏa thuận được, thì có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết” Theo
đó, Tòa án cũng có thể hỗ trợ trong trường hợp Trọng tài viên được lựa chọn
Trang 9không thể tiếp tục tham gia giải quyết tranh chấp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
Có thể nói, việc Tòa án thực hiện sự hỗ trợ của mình đối với hoạt động của trọng tài thương mại thông qua việc chỉ định và thay đổi trọng tài viên thể hiện sự tham gia của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại, chính việc chỉ định và thay đổi trọng tài viên trong những trường hợp nhất định bằng quyền lực nhà nước, Tòa án có thẩm quyền chỉ định và thay đổi trọng tài viên trong trường hợp các bên không thỏa thuận được, và quyết định chỉ định hoặc thay đổi trọng tài viên của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể
2 Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại Theo quy định của Luật TTTM 2010, các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tùy theo
sự thỏa thuận giữa các bên Khoản 1 Điều 49 Luật TTTM 2010 quy định như sau:
“Theo yêu cầu của một trong các bên, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên tranh chấp” Theo đó, Hội
đồng trọng tài có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu Đây là một điểm mới của Luật TTTM 2010, bởi vì, theo Pháp lệnh TTTM 2003, chỉ Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định mới này hoàn toàn hợp lý, bởi vì, Hội đồng trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp, hơn ai hết, họ là những người hiểu rõ nhất nội dung vụ việc, cũng như mức độ, tính cần thiết của các biện pháp cần áp dụng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Hội đồng trọng tài chỉ có quyền ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được liệt kê tại Điều 49 của Luật TTTM và Hội đồng trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật TTTM 2010, những biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài bao gồm:
Trang 10- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
- Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành
vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
- Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
Các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do Tòa án thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật TTTM: “Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời” Các biện pháp khẩn cấp tạm
thời mà Tòa án có thẩm quyền thực hiện được quy định tại Điều 102 Bộ Luật tố tụng dân sự Vì vậy, khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng cơ quan có thẩm quyền Luật TTTM đã dự liệu
và phân định phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa Hội đồng trọng tài và Tòa án nhằm tránh tình trạng xung đột về thẩm quyền, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Tại khoản 3 Điều 49 Luật TTTM có quy định: “Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều này mà sau đó lại có đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng trọng tài phải từ chối” và khoản 5 Điều 53 Luật này lại có quy định: “Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Hội đồng trọng tài
áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại có đơn yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải từ chối và trả lại đơn yêu