tại sao 1 người lại chuyển đổi từ tôn giáo này sang ton giáo khác, lý do chuyển đổi từ tton giáo này sang tôn giáo khác. Tóm tắt về những lý do người ta đổi từ tôn giáo này sang tôn giáo khác mà nhóm đã tìm được.
Trang 1Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn
Khoa : Tâm Lý Học
(Niên Khóa 2015-2019)
Môn: Tâm lý học tôn giáo
Giảng Viên: TS Dương Ngọc Dũng
Bài kiểm tra cuối kì
Chủ đề:
Tại sao một người lại chuyển từ tôn giáo này sang tôn giáo khác?
Trang 2
Nhóm : VHVL K07b
Họ và Tên
Nguyễn Thị Yến Ngọc - MSSV :
Trang 3
Mục Lục :
I Tóm tắt về những lý do người ta đổi từ tôn giáo này sang tôn giáo khác mànhóm đã tìm được
II Tài liệu và tóm từ sách báo Việt Nam và nước ngoài về việc cải đạo
Phật giáo sẽ ra sao trước xu hướng biến đổi trên thế giới
Sự Thay Đổi - Bức Tranh Tôn Giáo Toàn Cầu
Biến đổi tôn giáo truyền thống ở các tộc người thiểu số miền núiphía Bắc Việt Nam hiện nay
Vì sao nhiều người bỏ đạo Hindu?
Những biến đổi cơ bản trong tôn giáo, tín ngưỡng ở người Môngmiền núi phía Bắc
Hiện tượng người mông theo đạo tin lành và các tôn giáo mới
Indonesia: người orang rimba phải cải đạo để sinh tồn
Sự Cải đạo và những động cơ
Sự chuyển đổi tôn giáo trong người khmer ở tỉnh Trà Vinh
Châu âu: số người rời bỏ tôn giáo ngày càng đông
Why do people convert to religion?
The pysbehind religious belief
Why do some people change religious?
High cost religion, religious Switching , and Health
Religious switching for marriage reasons
Family Structure, Market Competition and Local Culture: The Mechanisms of Religious mobility beyond Christianity
Religious conversion compared
Parental Divorce and Religious Involvement among Young Adults
Reconceptualizing Religious Change: Ethno-Apostasy and Change
in Religion Among American Jews
Trang 4 A Comparison of Self-Acceptance of Disability between Thai Buddhists and American Christians
Faith in Flux -changes in religious affiliation in the u.s
Religious Beliefs, Religious Participation and Cooperation
Personality change following religious conversion: perceptions
of converts and their close acquaintance
Religious Switching: Preference Development,Maintenance, and Change
The Phenomenon of religious switching among university
students: the case of nairobi and kenyatta universities,Kenya
Những quan điểm cá nhân được nêu trên mạng của những người chuyển đổi tôngiáo
Trang 5Phần I : Tóm Tắt
Trang 6Phần II : Lý do vì sao người ta chuyển từ tôn giáo này sang tôn giáo khác
PHẬT GIÁO SẼ RA SAO TRƯỚC XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO TRÊN THẾ
GIỚI?
Tóm tắt :
Điều làm cho tốc độ cải đạo sang Tin Lành ở châu Á không cao như ở châu
Mỹ là vì ở châu Mỹ La Tinh người ta chuyển đổi trong khuôn khổ đạo Ky tô (hay còn gọi là đạo Cơ đốc), cùng thờ chúa trời, cùng dùng một kinh thánh
Biến đổi tôn giáo được xem là một bộ phận của biến đổi xã hội, và nó diễn ra hàngngày hàng giờ trên thế giới
Bài viết dưới đây ghi nhận các hướng biến đổi các tôn giáo chính từ cái nhìn củangười theo đạo Phật, xem xét trong quan hệ với đạo Phật và thử phác thảo những xuhướng biến đổi trong quan hệ với Phật giáo
Có thể kể đến 3 hướng biến đổi tôn giáo chính:
1 Hướng cải đạo từ đạo Ca tô La Mã sang đạo Tin Lành Nơi diễn ra biến đổi tôngiáo này chủ yếu này là ở các nước châu Mỹ Cuộc viếng thăm mới đây của Giáo hoàngPhan Xi Cô đến Brasil được coi là để đối phó, chặn đứng hướng biến đổi này
2 Hướng từ bỏ Cơ đốc giáo (gồm cả - Ca tô La Mã, Tin Lành và một phần Chínhthống giáo) Hướng biến đổi tôn giáo này diễn ra ở phương Tây (châu Âu, Bắc Mỹ)
3 Hướng cải đạo từ Phật giáo và các tôn giáo truyền thống sang đạo Tin Lành.Hướng biến đổi này diễn ra chủ yếu ở châu Á
Trang 7Dưới đây, chúng ta khảo sát, tìm hiểu tập trung vào 2 hướng 2 và 3.
Hướng biến đổi tôn giáo thứ 2 thường được gọi là “dechristianiser”, tạm dịch “giải
cơ đốc giáo”
Từ “dechristianiser” là từ mới dùng gần đây, tra trên Google không thấy Có thểhình dung “dechristianiser” là cảnh nhà thờ tu viện bỏ không, vắng hoe, lạnh tanh, treobản bán nhà Cảnh chỉ còn những tu sĩ già nua, ốm yếu, đối mắt thất thần, tuyệt vọng.Cảnh những cuốn Thánh kinh bụi bặm, vứt bỏ…
Linh mục Thiện Cẩm, trong Nguyệt San Công giáo và Dân tộc, số tháng 8/2013,miêu tả như sau: “Nhưng nay thì xem ra đã hết thời tôn giáo có thể thống trị được thếgiới Sự suy thoái của tôn giáo, nhất là ở những nước truyền thống tôn giáo như ở phươngTây, cách riêng là tại Âu châu, như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan… tạinhững nơi này, dù không ai cấm đạo hay tích cực chống tôn giáo như thời như thờiVoltaire của thời đại mệnh danh là Ánh Sáng, hay như thời của Staline bên Liên Xô cũ,nhưng chính những người tôn giáo lại đang thực hiện một cuộc gọi là
“dechristianiser”khử trừ Ki tô giáo, xóa bỏ mọi dấu vết của một tôn giáo đã từng thống trị
và làm nên nền văn hóa chung của Âu châu trong vòng gần hai ngàn năm” (đây là phátbiểu của linh mục nói trên trong hội thảo khoa học “Nhà nước pháp quyền và tôn giáo”)
Như thế, một khoảng trống tôn giáo đang hình thành ở châu Âu Không gian Cơđốc giáo đang tan rã Nó như rữa nát dần dần, chứ không phải biến dạng, và xu hướng đókhông thể đảo ngược được dù cố gắng cách mấy
Một trong những cách đối phó với giải Cơ đốc giáo ở châu Âu là di tản nó, đưa nóqua châu lục khác Mục tiêu nhắm tới là châu Á, với hoạt động cải đạo những tôn giáobản địa, trước hết là Phật giáo Người ta đã thành công ở Mông Cổ, Hàn Quốc, TrungQuốc…, và cả Việt Nam Cải đạo tại châu Á được tiến hành bằng tất cả phương tiện:thuyết phục, mua chuộc, dụ dỗ Các hoạt động cải đạo ngày càng tăng lên, không hề códấu hiệu giảm bớt Trước đây, hoạt động cải đạo do những người Âu Mỹ thực hiện đốivới đối với dân bản xứ, thỉ bây giờ chuyển sang người bản xứ làm với người bản xứ
Trang 8Hoạt động cải đạo sang Tin Lành vẫn nhắm vào người theo đạo Ca tô La Mã như
ở châu Mỹ La Tinh chứ chẳng phải không Có nghĩa là tôn giáo phương Tây, thờ cùngmột thượng đế Điều này cho thấy hoạt động cải đạo là vô cùng khốc liệt
Từ các ghi nhận kể trên Phật giáo còn có thể rút ra nhiều điều
Đối với Phật giáo châu Á, cải đạo sang Tin Lành rõ ràng là mối đe dọa hàng đầu,
và thực tế đã là tác động mạnh mẽ nhất làm suy giảm tín đồ Phật giáo Cần xác minh rõđiều này, vì hiện nay, nhất là ở Việt Nam, còn không ít phật tử coi đạo Ca tô La Mã lànguy cơ cải đạo chính
Tin Lành hoạt động cải đạo mạnh mẽ ở chính những quốc gia đa số theo đạo Ca tô
La Mã như Brasil Đạo Ca tô La Mã có tổ tổ chức chặt chẽ, chú trọng nhiều vào niềm tin,còn tỏ ra bị động, chịu sự uy hiếp của Tin Lành, huống chi là Phật giáo, với tổ chức lỏnglẻo, dễ dãi trong sinh hoạt tôn giáo, chú trọng thực hành hơn là niềm tin
Giáo hội Ca tô La Mã hiện đã có kế hoạch đối phó, hết sức quan tâm đến việc cảiđạo sang Tin Lành ở châu Mỹ Trong khi đó, mức độ quan tâm đối phó như vậy dườngnhư chưa có ở các giáo hội, đoàn thể, tổ chức Phật giáo châu Á Điều làm cho tốc độ cảiđạo sang Tin Lành ở châu Á không cao như ở châu Mỹ La Tinh là vì ở châu Mỹ La Tinhngười ta chuyển đổi trong khuôn khổ đạo Ky tô (hay còn gọi là đạo Cơ đốc), cùng thờchúa trời, chúa Jesus, cùng dùng một kinh thánh
Trong khi đó, ở châu Á, là chuyển đổi từ một tôn giáo hoàn toàn khác về văn hóa,Phật giáo thường có gốc rễ truyền thống bền chắc trong các dân tộc Á Đông
Nhưng trông cậy vào truyền thống văn hóa là việc trông cậy thụ động Phật giáochâu Á nên quan tâm nghiên cứu đến hoạt động để chọn lọc ra những yếu tố có ích đốivới Phật giáo
Trang 9Nói chính xác, Tin Lành không phải mất chỗ đứng trên toàn Châu Âu, mà việc cảiđạo sang Tin Lành cũng khá phát triển ở Đông Âu, là khu vực của chính thống giáo TinLành suy giảm ở Tây Âu, nhưng lại phát triển ở nhiều châu lục Châu Phi cũng là đốitượng của Tin Lành, nhất là châu Phi theo Ca tô La Mã
Như vậy, biến đổi tôn giáo trên thế giới là biến đổi theo hướng Tin Lành chiếm ưuthế, mặc dù sự gia tăng tín đồ Hồi giáo cũng đáng ghi nhận
“Dechristianiser” tại Tây Âu và khoảng trống tôn giáo do nó tạo ra là một điềuđáng chú ý đối Phật giáo Tây Âu là chỗ mà bên cạnh Ca tô La Mã, Tin Lành đang thoáitrào Từ đó, cần thấy hoằng pháp bằng thiền học (không phải bằng nghi lễ du nhập từphương Đông) là một cơ duyên thuận lợi cho Phật giáo
Vì vậy, Phật giáo, nên vừa chú trọng môi trường hoằng pháp ở Tây Âu, Bắc Mỹ)nơi đang có khoảng trống tôn giáo, vừa nên quan quan tâm đối phó cải đạo ở những nướcPhật giáo truyền thống
Linh mục Thiện Cẩm giải thích sỡ dĩ có “dechristianiser” là do người châu Âutheo tôn giáo thờ “tiền”: “Nhưng không phải chỉ có Ki tô giáo, đặc biệt là Công giáo đang
tự mình đi xuống dốc, mà chủ nghĩa không tôn giáo hay vô thần cũng chẳng làm gì đượchơn Có thể nói, cả hai khuynh hướng Hữu thần Vô thần đang cùng nhau lùi bước,nhường ngôi cho một niềm tin mới vào Thần Mam môn, hay Thần Tài, hay là Thần Tiền,
mà chỉ cần là in bằng giấy cũng được, khỏi tạc, khỏi đúc hay vẽ thành ảnh, vả lại khỏicần đặt trên bàn thờ, mà bỏ ngay túi mà chẳng phạm tội phạm thượng, bất kính! Vấn đềhữu thần hay vô thần chẳng còn ý nghĩa với người thời đại hôm nay, nhất là giới trẻ
Hơn thế nữa, cả những ý thức hệ cũng không còn hấp dẫn được ai Thần Tài đãthực sự lên ngôi, và không có quyền lực tôn giáo hay chính trị nào có thể thắng đượcquyền lực của nó
Trang 10Bây giờ tôi càng hiểu rõ tại sao đức Giesus lại quyết liệt chống đối quyền lực củaMam môn, hay là Thần Tài, và Người đã đòi hỏi các môn đệ phải dứt khoát chọn lựa mộttrong hai “ông chủ”: hoặc là Thiên Chúa, hai là Mam môn!
Điều mà tôi thực sự băn khoăn và tự hỏi, liệu thế giới chúng ta sẽ đi về đâu, khi
mà cả thế giới xem ra chẳng còn nghĩ đến chuyện gì khác, hơn là phát triển kinh tế, nghĩa
là làm giầu Hữu thần hay vô thần không còn có ý nghĩa gì, mà hình như chỉ còn có tiềnbạc mới có ý nghĩa và được mọi người yêu mến tôn thờ, vì nó mới là cứu cánh, là mụctiêu, là lẽ sống của con người trong Thiên niên kỷ này! ”
Tôi nghĩ là một cách chống chế Tiền đã hớp hồn con người từ khi mới có, chứkhông phải đợi đến thế kỷ XXI Đổ thừa tiền là tìm cách trốn tránh việc lý giải vấn đề ởchính đạo Cơ đốc Chính Cơ đốc giáo đã bộc lộ các nhược điểm của mình, làm các tín đồchâu Âu mất tin tưởng, thất vọng, đi đến đào thải, vứt bỏ Có hay không có Cơ đốc giáongười ta vẫn xài tiền, quý tiền đó thôi
Hơn nữa, trong thời đại mới, hậu công nghiệp, quyền lực đồng tiền đã lui bướctrước quyền lực của tri thức (xem Alvin Toffler về thuyết “làn sóng thứ ba”) Chính sựlên ngôi của tri thức đã đánh đổ đạo Ca tô La Mã ở những châu lục mà tri thức lên đếnđỉnh cao (Tây Âu, Bắc Mỹ) Phật giáo, tôn giáo duy nhất không mâu thuẫn với tri thứchiện đại, cần chú ý đến điểm này
Làn sóng mới về tri thức, theo A Toffler, sớm hay muộn gì cũng lan đến châu Á.Mức gia tăng đạo Tin Lành ở Hàn Quốc có vẻ chững lại trong thời gian gần đây như làmột minh chứng cho việc này
Tri thức không làm bớt đi nhu cầu tôn giáo, nhưng tri thức đòi hỏi những yêu cầucao hơn đối với tôn giáo Đây là một thuận lợi hết sức cơ bản đối với Phật giáo, hứa hẹnlàn sóng thứ ba là làn sóng Phật giáo
Trang 11Tuy nhiên, điều này đòi hỏi nỗ lực của chính Phật giáo, không phải cơ hội là một
sự diễn tiến tự nhiên Trước hết, những nhà hoằng pháp Phật giáo cần quan tâm nhiềuhơn đến biến đổi xã hội
Trang 12Sự Thay Đổi Bức Tranh Tôn Giáo Toàn Cầu
Tóm tắt :
Những đứa trẻ sinh ra từ Hồi giáo sẽ bắt đầu vượt hơn con số những ca sinh Kitôgiáo vào năm 2035; Những người không tôn giáo sẽ đối mặt với sự sụt giảm về số lượngtrẻ sơ sinh
Số lượng trẻ được sinh ra từ những người mẹ Kitô Giáo vượt hơn bất cứ tôn giáonào trong những năm gần đây, đã phản ánh rằng Kitô Giáo đang tiếp tục giữ vị thế lànhóm tôn giáo lớn nhất trên thế giới Nhưng điều này sẽ thay đổi trong tương lai không
xa Không đến 20 năm nữa, con số trẻ mới sinh từ Hồi giáo được dự đoán sẽ cao hơnKitô giáo, theo một biểu đồ dự đoán mới nhất của trung tâm nghiên cứu Pew ResearchCenter
Trang 13Hồi giáo được dự đoán là nhóm tôn giáo lớn phát triển mạnh nhất trong nhữngthập kỉ tới, theo trung tâm nghiên cứu Pew, và những dấu hiệu của việc phát triển nhanhchóng này đã trở nên rõ ràng Trong giai đoạn từ 2010 đến 2015, các ca sinh Hồi giáođược ước tính chiếm 31% trẻ em được sinh ra trên toàn thế giới – vượt xa tỷ lệ người Hồigiáo ở mọi độ tuổi trên toàn thế giới trong năm 2015 (24%).
Số lượng người Kitô giáo trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng nhưng khiếm tốn hơn.Trong những năm gần đây, trẻ em sinh từ Kitô giáo chiếm 33% Tỷ lệ này chỉ nhỉnh hơnmột chút so với phần trăm số người Kitô giáo trên toàn thế giới năm 2015 (31%)
Trong khi con số người Kitô hữu tương đối trẻ ở một khu vực như vùng hạ SaharaChâu Phi được dự kiến sẽ gia tăng trong những thập kỷ tới, số lượng Kitô hữu ở khắpmọi nơi trên thế giới lại đang giảm sút Thật vậy, trong những năm gần đây, Kitô hữu đãchiếm tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng số người chết trên toàn thế giới (37%) – phần lớn là
do độ tuổi của các Kitô hữu ở một số nơi tương đối cao Điều này đặc biệt đúng ở Châu
Âu, nơi mà con số người Kitô giáo chết vượt quá số ca mới sinh trong thời gian từ 2010đến 2015 Ví dụ, chỉ riêng ở Đức, ước tính số lượng người Kitô giáo đã chết cao hơnkhoảng 1,4 triệu người so với số ca sinh ra trong khoảng từ năm 2010 đến năm 2015 vàđiều này được dự đoán là sẽ tiếp tục diễn ra trên khắp châu Âu trong những thập kỷ tới
Lưu ý về thuật ngữ
Cụm từ “trẻ được sinh từ Kitô giáo” và “ca sinh Kitô giáo” được sử dụng cách luânphiên trong báo cáo này để chỉ các ca sinh có mẹ là người Kitô giáo Cũng vậy đối với cácnhóm tôn giáo khác (ví dụ: những trẻ sinh từ Hồi giáo, các ca sinh Hồi giáo)
Báo cáo này tránh thuật ngữ “các trẻ Kitô giáo” hay “trẻ em Hồi giáo” vì những từ này
có thể ám chỉ các em đã bị áp đặt tôn giáo ngay từ khi sinh
Nhận định trong những ước tính và dự báo ở đây là các trẻ có khuynh hướng kế thừabản sắc tôn giáo từ mẹ (hoặc ít nhất là vậy) cho đến khi trưởng thành và một số lựa chọnchuyển đổi bản sắc tôn giáo Các biểu mẫu dự báo trong báo cáo này tính đến các ước lượng
Trang 14về tỷ lệ chuyển đổi tôn giáo (hoặc cải đạo) trong các nhóm tôn giáo lớn dựa trên cơ sở dữ liệu
có được từ 70 quốc gia
Trên bình diện toàn cầu, dân số tương đối trẻ và tỷ lệ sinh cao của người Hồi giáodẫn đến dự đoán rằng từ năm 2030 đến 2035, số trẻ sinh từ Hồi giáo sẽ là (225 triệu) caohơn so với Kitô giáo (224 triệu), mặc dù tổng số người Kitô giáo vẫn sẽ đông hơn Vàothời gian từ 2055 đến 2060, khoảng cách ca sinh giữa hai nhóm được dự kiến sẽ đạt đếncon số 6 triệu (232 triệu trẻ sinh từ Hồi giáo so với 226 triệu từ Kitô giáo).1
Ngược lại với sự bùng nổ tỷ lệ trẻ sơ sinh của Hồi giáo, những người không theobất kì một tôn giáo nào đang có một xu hướng rất khác Mặc dù số người không tôn giáohiện chiếm 16% dân số toàn cầu, nhưng ước tính chỉ có khoảng 10% số trẻ em sinh ra từcác bà mẹ không tôn giáo Sự thiếu hụt số lượng trẻ sơ sinh ở những người không tôn
Trang 15giáo (bao gồm cả người vô thần, người theo thuyết bất khả tri và những người không cómột tôn giáo cụ thể) giúp giải thích lý do vì sao họ được dự đoán sẽ sụt giảm số lượngtrên toàn thế giới trong những thập niên tới.
Vào khoảng năm 2055 đến 2060, chỉ có 9% trẻ em sẽ được sinh ra bởi người mẹkhông tôn giáo, trong khi có đến hơn bảy-trên-mười trẻ sinh ra sẽ là từ Hồi giáo (36%)hoặc (Kitô giáo 35%)
Trên đây là một trong những phát hiện quan trọng nhất từ phân tích dữ liệu nhânkhẩu học của trung tâm nghiên cứu Pew Phân tích này được căn cứ và xây dựng trên cơ
sở dữ liệu của hơn 2,500 cuộc tổng điều tra, khảo sát và sổ đăng kí dân số được sử dụngtrong một báo cáo năm 2015 với chủ đề “Tương lai của các tôn giáo trên toàn thế giới:
Dự báo sự gia tăng dân số giai đoạn 2010 – 2050”
Thêm vào đó, báo cáo này cung cấp những ước tính dân số thế giới mới nhất tínhđến 2015 đối với Kitô giáo, Hồi giáo, người không tôn giáo và những người thuộc cácnhóm tôn giáo khác Và các dự báo về gia tăng dân số trong bài báo cáo này kéo dài đếnnăm 2060, hơn một thập kỉ so với báo cáo ban đầu
Trang 16Các dự báo ở đây không áp đặt rằng tất cả các trẻ mới sinh đều sẽ tiếp tục theo tôngiáo của người mẹ, nhưng còn cố gắng tính đến việc chuyển đổi tôn giáo (trong mọiphương diện), tuy các trường hợp cải đạo luôn là đa dạng và phức tạp Ở một số quốc gia,bao gồm cả Hoa Kỳ, việc một người trưởng thành chuyển từ tôn giáo thời thơ ấu củamình sang một tôn giáo khác (hoặc không tôn giáo) là rất phổ biến Ví dụ, nhiều ngườisinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ là Kitô hữu có thể không còn theo Kitô giáo nữa khi trưởngthành, và ngược lại – nhiều người lớn lên không theo bất cứ một tôn giáo nào lại gia nhậpmột nhóm tôn giáo trong suốt phần đời còn lại của họ Tuy vậy, ở một số quốc gia, những
sự thay đổi tôn giáo là thực sự hiếm thấy hay thậm chí bất hợp pháp.2
Trang 17Hiện nay, nguồn dữ liệu tốt nhất mà chúng tôi có thể tiếp cận đã chỉ ra rằng nếu
chỉ tính riêng các tác động toàn cầu của việc
chuyển đổi tôn giáo, không tính đến các yếu
tố khác, sẽ dẫn đến kết quả là số lượng
người Hồi giáo gia tăng nhẹ, số người không
tôn giáo sẽ gia tăng đáng kể và sự giảm sút mạnh về số lượng người Kitô giáo trong
những thập niên tới Tuy nhiên, trên bìnhdiện toàn cầu, tác động của việc chuyển đổitôn giáo không rõ nét và mạnh mẽ bằng cáctác động của sự khác biệt về mức sinh và tỷ
lệ tử vong Kết quả là những người khôngtôn giáo được dự đoán sẽ suy giảm tỷ lệ trêntổng dân số thế giới dù vẫn có sự gia tăng từnhững người rời bỏ Kitô giáo và các nhómtôn giáo khác ở Châu Âu, Bắc Mỹ và mộtvài nơi khác trên thế giới Và số lượngngười Kitô hữu được dự đoán sẽ gia tăng dùkhông nhanh bằng số lượng người Hồi giáo
Dự báo dân số thế giới từ 2015 đến2060
Kitô giáo là nhóm tôn giáo lớn nhất trên thế giới năm 2015, chiếm gần một phần
ba (31%) dân số trong 7,3 tỷ người trên trái đất Hồi giáo đứng thứ hai, với 1,8 tỷ người,chiếm 24% dân số toàn cầu Kế đến là nhóm người không tôn giáo (16%), Ấn Độ giáo(15%) và Phật giáo (7%) Những người theo các tín ngưỡng dân gian, Do Thái giáo vàmột số tôn giáo khác chiếm một phần nhỏ trong tổng số người trên thế giới
Trang 18Trong khoảng thời gian từ 2015 đến
2060, dân số thế giới được dự đoán sẽ gia tăng32%, thành 9,6 tỷ người Trong cùng thời gian
đó, con số người Hồi giáo – nhóm tôn giáolớn với dân số trẻ nhất và tỷ lệ sinh cao nhất –được dự đoán sẽ gia tăng 70% Số lượngngười Kitô giáo được dự đoán sẽ tăng 34%,tăng nhanh hơn các nhóm dân số khác trêntoàn cầu nhưng chậm hơn nhiều so với Hồigiáo
Ngoại trừ Hồi giáo và Kitô giáo, tất cảcác nhóm tôn giáo lớn trên thế giới được dựbáo sẽ chiếm phần trăm nhỏ hơn trong tổngdân số thế giới vào năm 2060 so với năm
2015.4 Mặc dù Ấn Độ giáo, Do Thái giáo và những người theo các tín ngưỡng dân gianđược dự báo sẽ gia tăng đến một số lượng nhất định trong những thập kỉ tới, nhưngkhông có nhóm nào theo kịp với đà tăng trưởng dân số toàn cầu
Trên toàn thế giới, số lượng người Ấn Độ giáo được dự báo sẽ tăng lên 27%, từ1,1 tỷ người lên đến 1,4 tỷ, hơi thấp hơn so với nhịp tăng trưởng dân số toàn cầu Do Tháigiáo, nhóm tôn giáo nhỏ nhất có dự báo riêng được đưa ra, dự kiến tăng 15% từ 14,3 triệungười năm 2015 thành 16,4 triệu người trên toàn cầu năm 2060.5 Những người theo cáctín ngưỡng dân gian – bao gồm các tín ngưỡng truyền thống Châu Phi, tín ngưỡng dângian Trung Hoa, tín ngưỡng người da đỏ Châu Mỹ và thổ dân Châu Úc – được dự báo sẽgia tăng 5% từ 418 triệu lên 441 triệu người
Phật giáo, ngược lại, được dự báo sẽ sụt giảm ở một con số nhất định, giảm 7% từ
gần 500 triệu vào năm 2015 còn 462 triệu người năm 2060 Tỷ lệ mức sinh thấp và sự giàhóa dân số ở các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan và Nhật Bản là những lý do chính
Trang 19mang tính nhân khẩu học đối với dự báo về sự sụt giảm của dân số Phật giáo trong nhữngnăm tới.
Tất cả các tín ngưỡng còn lại – cũng được thể hiện trong biểu đồ hình tròn ở trên
bao gồm Baha‘I giáo,Kỳ na giáo, Sikh giáo, Lão giáo và nhiều những tín ngưỡng nhỏ
khác – cũng được dự báo sẽ giảm nhẹ về số lượng, từ khoảng 59,7 triệu năm 2015 xuốngcòn 59,4 triệu vào năm 2060.6
Nhóm dân số không tôn giáo được dự đoán sẽ sụt giảm phần trăm trong tổng dân
số toàn cầu, cho dù có sự gia tăng cách khiêm tốn ở một con số nhất định Vào năm 2015,
có gần 1,2 tỷ người vô thần, người theo thuyết bất khả tri và những người không xác địnhtheo một tôn giáo nào trên khắp thế giới.7 Đến năm 2060, số dân không tôn giáo được dựđoán sẽ đạt 1,2 tỷ người Nhưng nếu tính tỷ lệ đối với dân số toàn cầu, những ngườikhông tôn giáo được dự báo sẽ giảm từ 16% trên tổng dân số thế giới năm 2015 xuốngcòn 13% vào năm 2060 Trong khi tỷ lệ dân số không tôn giáo ở Châu Âu và Bắc Mỹđược dự đoán sẽ tiếp tục gia tăng thì ở Châu Á – nơi có tới 75% người không tôn giáođang sinh sống được dự đoán là sẽ sụt giảm
Những sự khác biệt về địa lý như trên đây đóng một vai trò quan trọng trong các
mô hình phát triển tôn giáo Thật vậy, một trong những yếu tố chính quyết định tương laiphát triển của một nhóm tôn giáo chính là vị trí địa lý của nhóm đó ở thời điểm hiện tại
Ví dụ, nhóm dân số không tôn giáo tập trung chủ yếu ở những nơi có dân số già và mứcsinh thấp như Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu và Bắc Mỹ Ngược lại, các nhóm tôn giáo
có nhiều tín đồ tập trung ở các nước đang phát triển – nơi tỷ lệ sinh cao và tỷ lệ trẻ sơsinh tử vong nhìn chung đang giảm – thì có khuynh hướng gia tăng cách nhanh chóng.Điển hình như phần lớn sự gia tăng toàn cầu của Hồi giáo và Kitô giáo được dự đoán sẽdiễn ra ở khu vực cận Sahara thuộc Châu Phi
Trang 21Sự thay đổi về mật độ phân bố của các nhóm tôn giáo
Sự phân bố theo khu vực của các nhóm tôn giáo cũng được dự báo sẽ thay đổitrong những thập niên tới Ví dụ, tỷ lệ người Kitô giáo sống ở cận Sahara Châu Phi được
Trang 22dự đoán sẽ gia tăng mạnh mẽ trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2060, từ 26% lên 42%,nhờ vào tỷ lệ sinh cao ở khu vực này Trong khi đó, tỷ lệ người chuyển đổi tôn giáo tăng
và mức sinh thấp sẽ kéo giảm tỷ lệ người Kitô giáo sống ở khu vực Châu Âu và Bắc Mỹtrên tổng dân số Kitô giáo toàn cầu
Vùng cận Sahara Châu Phi cũng được dự đoán sẽ là trung tâm của sự gia tăng tỷ lệngười Hồi giáo trên thế giới Vào năm 2060, 27% dân số Hồi giáo toàn cầu được dự đoán
sẽ đến từ khu vực này, từ chỉ có 16% ở thời điểm năm 2015 Ngược lại, tỷ lệ người Hồigiáo sống ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong cùng khoảng thời gian này được
dự đoán sẽ giảm từ 61% xuống còn 50% Tỷ lệ người Hồi giáo ở Trung Đông và Bắc Phiđược dự đoán sẽ duy trì ở mức 20%
Vào năm 2015, cứ 4 người không tôn giáo thì có 3 người sống ở Châu Á và khuvực Thái Bình Dương Nhưng tỷ lệ đó được dự đoán sẽ giảm xuống còn 66% vào năm
2060 vì mức sinh thấp và dân số đang bị già hóa Đồng thời, tỷ lệ người không tôn giáosinh sống ngoài khu vực Châu Á– Thái Bình Dương đang gia tăng, đặc biệt là ở khu vựcChâu Âu và Bắc Mỹ Theo dự báo, đến năm 2060, chỉ riêng Hoa Kỳ sẽ chiếm đến 9%người không tôn giáo trên toàn cầu
Một số lượng đông đảo những người theo Ấn Độ giáo và Phật giáo (98-99%) sẽtiếp tục sống ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong nhiều thập niên tới Hầu hếtnhững người theo các tín ngưỡng dân gian cũng sẽ ở tại khu vực Châu Á và Thái BìnhDương (khoảng 79% vào năm 2060), dù một bộ phận được dự đoán là đang gia tăng củanhóm này sống ở khu vực cận Sahara Châu Phi (từ 7% năm 2015 lên đến 16% năm2060) Tỷ lệ người Do Thái giáo sống ở Israel (42%) gần như cân bằng với ở Hoa Kỳ(40%) Tuy nhiên, vào khoảng năm 2060, hơn một nửa số người theo Do Thái giáo (53%)được dự đoán sẽ sống ở Israel, trong khi ở Hoa Kỳ sẽ chiếm một phần nhỏ hơn (32%)
Trang 23Độ tuổi và mức sinh là các yếu tố chính đằng sau sự phát triển của các nhóm tôngiáo
Sự phân bố theo độ tuổi của mỗi nhóm tôn giáo ở thời điểm hiện tại là một yếu tốquan trọng quyết định sự phát triển nhân khẩu của nhóm đó Một số nhóm có tín đồ chủyếu là trẻ đang ở độ tuổi sinh sản, trong khi tín đồ của một số nhóm khác có độ tuổi lớnhơn và hầu hết là đã qua độ tuổi sinh sản Độ tuổi trung bình của người theo Hồi giáo (24tuổi) và Ấn Độ giáo (27 tuổi) trẻ hơn độ tuổi trung bình của toàn thể dân số thế giới (30tuổi) Trong khi độ tuổi trung bình của người Kitô giáo (30 tuổi) vừa bằng với độ tuổitrung bình của dân số trên toàn cầu.8
Trang 24Hơn nữa, Hồi giáo có tỷ lệ sinh cao nhất so với bất kì nhóm tôn giáo nào khác –trung bình 2,9 trẻ trên một phụ nữ, cao hơn hẳn mức sinh thay thế (2,1), mức tối thiểu cầnthiết để duy trì một dân số ổn định.9 Kitô giáo đứng thứ hai với mức 2.6 trẻ trên một phụ
nữ Tỷ lệ sinh của người theo Ấn Độ giáo và Do Thái giáo (2,3) đều ở dưới mức trungbình trên toàn cầu là 2,4 trẻ trên một phụ nữ Tất cả các nhóm tôn giáo còn lại đều có tỷ
lệ sinh quá thấp để có thể duy trì dân số của họ cách bền vững
Trang 25Ngoài tỷ lệ sinh và sự phân bố về độ tuổi, việc chuyển đổi tôn giáo cũng đóng mộtvai trò trong sự thay đổi quy mô của các nhóm tôn giáo.
Các dự báo của trung tâm nghiên cứu Pew đã cố gắng kết hợp các mô hình chuyểnđổi tôn giáo ở hơn 70 quốc gia có cung cấp thông tin về số lượng những người cho biết
họ không còn thuộc về nhóm tôn giáo mà họ đã theo.10Trong biểu đồ dự báo, tất cả nhữngtrường hợp chuyển hướng sang tôn giáo khác đều có thể xảy ra và các tôn giáo có thể bổsung phần nào số lượng cho nhau Điển hình như tại Hoa Kỳ, các cuộc khảo sát đã chỉ rarằng những trường hợp người Kitô hữu trưởng thành và trở thành người không tôn giáo làtương đối phổ biến, nhưng ngược lại cũng có một số người không tôn giáo chuyển đổithành Kitô giáo.11 Các trường hợp này được dự đoán sẽ tiếp tục xảy ra với các thế hệtương lai khi chúng bước vào độ tuổi trưởng thành (Để biết thêm chi tiết về cách thức vànơi thực hiện nghiên cứu về những sự chuyển đổi tôn giáo này, xem thêm Phụ lục B:Phương pháp)
Trang 26Giao đoạn từ 2015 đến 2020, Kitô giáo được dự đoán sẽ trải qua sự sụt giảm lớnnhất về số lượng do những trường hợp chuyển đổi tôn giáo Trên bình diện toàn cầu,trong khoảng thời gian 5 năm này, có khoảng 5 triệu người được dự đoán sẽ trở thànhngười Kitô giáo, trong khi có đến 13 triệu người được dự đoán sẽ rời bỏ Kitô giáo và hầuhết các trường hợp này sẽ gia nhập nhóm những người không tôn giáo.
Nhóm những người không tôn giáo được dự báo sẽ tăng thêm 12,2 triệu và giảm
bớt 4,6 triệu người do chuyển đổi tôngiáo, tăng ít nhất 7,6 triệu người từ 2015đến 2020 Đối với các nhóm tôn giáokhác, sự gia tăng về số lượng do việcchuyển đổi tôn giáo được dự đoán là thấphơn
Các thách thức nhân khẩu học đối với nhóm người không tôn giáo
Trang 27Mặc dù các mô hình chuyển đổi tôn giáo ở thời điểm hiện nay có lợi cho sự pháttriển của nhóm dân số không tôn giáo – đặc biệt là ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Úc và New
Zealand – nhưng tỷ lệ nhóm người không tôn giáo được dự đoán là sẽ sụt giảm so với
tổng dân số toàn thế giới trong những thập niên tiếp theo do sự kết hợp của mức sinh thấp
và độ tuổi ngày càng cao
Từ năm 2015 đến 2020, những người không tôn giáo được dự báo sẽ gia tăng ítnhất 7,6 triệu người nhờ việc chuyển đổi tôn giáo Những người sinh ra và lớn lên làngười Kitô giáo được dự đoán sẽ chiếm đa số trong những trường hợp chuyển sang nhómkhông tôn giáo.12 Tuy nhiên, ngay cả khi các trường hợp chuyển đổi tôn giáo tiếp tục diễn
ra thì những lợi thế có được thông qua việc này vẫn sẽ không đủ lớn để bù đắp vào phầndân số thiếu hụt do các yếu tố nhân khẩu học khác gây ra
Ví dụ, từ năm 2015 đến 2020, tổng tỷ lệ sinh từ người mẹ không tôn giáo được dựđoán sẽ là 1,6 trẻ trên một phụ nữ, ít hơn gần 1 trẻ so với mức 2,5 trẻ trên một phụ nữ ởnhóm người mẹ có tôn giáo Và mặc dù nhóm phụ nữ không tôn giáo có khuynh hướngtrẻ hơn những người có tôn giáo ở Hoa Kỳ nói riêng, nhưng trên bình diện toàn cầu thì
đang xảy ra điều ngược lại: Những phụ nữ không tôn giáo lớn tuổi hơn các phụ nữ có tôn
giáo và hầu như đã qua độ tuổi sinh sản Vào năm 2015, độ tuổi trung bình trên toàn cầucủa nhóm phụ nữ không tôn giáo là 36, trong khi độ tuổi trung bình của nhóm phụ nữ cótôn giáo là 30
Những thay đổi nhân khẩu học trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tình hình củakhu vực Châu Á, đặc biệt là ở Trung Quốc, mái nhà của hơn 61% những người không tôngiáo trên toàn thế giới ở thời điểm năm 2015
Trang 28Các nhận định và kì vọng của người Mỹ đối với quy mô toàn cầu của các nhóm tôn giáo
Trang 29Trước khi công bố dự báo về quy mô của các nhóm tôn giáo trong tương lai vàonăm 2015, Trung tâm nghiên cứu Pew đã đặt ra một số câu hỏi với các thành viên củaHội Đồng về các Khuynh Hướng ở Hoa Kỳ (American Trends Panel) về những nhận địnhcủa họ đối với bức tranh tôn giáo toàn cầu – và kì vọng của họ về tương lai của bức tranhđó.
Theo đó, khoảng một nửa người dân Mỹ (52%) có hiểu biết chính xác về nhómtôn giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay và khẳng định rằng Kitô giáo chiếm tỷ lệ lớn nhất,trong khi có một phần tư số người Mỹ nghĩ (một cách không đúng) rằng Hồi giáo là lớnnhất Một số nhỏ hơn những người Mỹ trưởng thành cho rằng nhóm không tôn giáo(15%) hoặc Ấn Độ giáo (6%) là nhóm tôn giáo lớn nhất
Cuộc khảo sát trên cũng hỏi người dân Mỹ về kì vọng của họ đối với tỷ lệ nhómdân số không tôn giáo so với dân số toàn câu trong những thập niên tới Hầu hết người
Mỹ (62%) đoán rằng tỷ lệ người không tôn giáo toàn cầu sẽ gia tăng trong khoảng thờigian từ nay đến 2050 – dự đoán này có lẽ căn cứ trên những gì đang diễn ra ở cấp độquốc gia tại Mỹ
Trang 30Thật vậy, ở Mỹ và các quốc gia phương Tây khác, tỷ lệ dân số không tôngiáo đang gia tăng và được dự báo sẽ tiếp tục tăng lên khi nhiều người từ Kitô giáo và cácnhóm khác rời khỏi tôn giáo của họ Và khi những thế hệ trẻ và ít quan tâm tôn giáo thaythế cho các thế hệ lớn hơn Tuy nhiên, vì hầu hết những người không tôn giáo đang sinhsống ở Châu Á, nơi dân số không tôn giáo tương đối lớn tuổi và có tỷ lệ sinh tương đối
thấp, trung tâm nghiên cứu Pew dự đoán rằng dân số không tôn giáo trên toàn cầu sẽ sụt giảmtrong những thập niên tới, ngay cả khi đã tính đến các yếu tố gia tăng từ các trưởng
hợp chuyển đổi tôn giáo Chỉ 15% người Mỹ trưởng thành được khảo sát cho rằng nhómngười không tôn giáo sẽ giảm tỷ lệ so với dân số trên toàn cầu vào năm 2050.13
Khi được hỏi nhóm nào được kì vọng sẽ có nhiều tín đồ nhất trên toàn cầu vàonăm 2050, tỷ lệ những người Mỹ trả lời gần bằng nhau đối với các nhóm như không tôngiáo (33%), Kitô giáo (32%) và Hồi giáo (29%) Một phần nhỏ (4%) dự đoán rằng Ấn Độgiáo sẽ là nhóm tôn giáo lớn nhất
Những dự đoán về nhóm tôn giáo lớn nhất tùy thuộc vào độ tuổi, tôn giáo và đảngphái chính trị của người được hỏi Ví dụ, gần một nửa (46%) những người Mỹ trưởngthành dưới tuổi 30 dự đoán rằng con số những người không tôn giáo sẽ vượt Kitô giáo,Hồi giáo và Ấn Độ giáo vào năm 2050, trong khi chỉ có ba-trên-mười người ở độ tuổi 50trở lên cho rằng nhóm không tôn giáo sẽ trở thành nhóm lớn nhất ở giữa thế kỷ này Tuy
Trang 31nhiên, số người Mỹ lớn tuổi lại nhiều hơn số người trẻ trưởng thành (dưới 30 tuổi) khicho rằng Hồi giáo sẽ trở thành nhóm tôn giáo lớn nhất.
Số người Kitô giáohơn những người khôngtôn giáo khi nói rằng Kitôgiáo sẽ trở thành nhóm tôngiáo lớn nhất vào năm
2050 (tỷ lệ 36% so với22%) Ngược lại số ngườikhông tôn giáo lại hơnngười Kitô giáo khi dựđoán nhóm không tôn giáo
sẽ là nhóm lớn nhất vàogiữa thế kỷ này (44%người không tôn giáo sovới 31% người Kitô giáo).Những khác biệt khi dự báo về quy mô của các nhóm tôn giáo trong tương laicũng tùy thuộc vào quan điểm chính trị Con số người Mỹ ủng hộ hay thiêng về phíaĐảng Cộng Hòa vượt hơn so với số những người ủng hộ Đảng Dân Chủ khi dự đoán rằngHồi giáo sẽ trở thành nhóm tôn giáo lớn nhất trên thế giới vào năm 2050 (tỷ lệ 35% sovới 25%) Ngược lại, sốgười của Đảng Dân Chủ hơn người theo Đảng Cộng Hòa (tỷ lệ35% so với 29%) khi dự đoán rằng nhóm những người không tôn giáo sẽ trở thành nhómlớn nhất
Trang 32Ảnh hưởng của tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử đến sự thay đổi dân số tôn giáo
Là nhóm tôn giáo lớn nhất thếgiới, Kitô giáo có tỷ lệ sinh và tử caonhất trong thời gian từ năm 2010 đến
2015 Trong khoản thời gian 5 nămnày, 223 triệu trẻ được dự đoán đãđược sinh ra từ người mẹ Kitô giáo và
có khoảng 107 triệu người Kitô giáo
đã chết Điều này có nghĩa rằng số
lượng gia tăng tự nhiêncủa dân số Kitô
giáo – lấy số sinh trừ đi số tử – là 116triệu người trong khoảng thời giannày
Hồi giáo có tỷ lệ sinh cao thứhai từ 2010 đến 2015, với 213 triệu trẻsinh từ mẹ Hồi giáo Nhưng Hồi giáo
đã cho thấy sự gia tăng tự nhiên lớnhơn bất kì nhóm tôn giáo nào khác –tăng thêm hơn 152 triệu người – do sốlượng người chết của Hồi giáo tương đối thấp (62 triệu người) Sự gia tăng tự nhiên lớnnhư vậy là kết quả của cả hai yếu tố: mức sinh cao và sự tập trung của dân số Hồi giáo ởcác khu vực dân số trẻ hơn với tỷ lệ tử ở mức thấp
So với tổng quy mô dân số của nhóm không tôn giáo (chiếm 16% dân số thế giới),thì tỉ lệ trẻ sinh từ người mẹ không tôn giáo là tương đối thấp (chiếm 10% số ca sinh toàncầu từ 2010 đến 2015) Nhóm không tôn giáo là nhóm lớn thứ 3 Tuy nhiên, với tỷ lệ sinhthấp, nhóm này được xếp thứ 4 sau Ấn Độ giáo về tỷ lệ trẻ mới sinh Từ 2010 đến 2015,
dự đoán có khoảng 68 triệu trẻ em được sinh ra từ người mẹ không tôn giáo so với 109
Trang 33triệu trẻ từ Ấn Độ giáo Ấn Độ giáo cũng cho thấy sự gia tăng tự nhiên lớn hơn nhómkhông tôn giáo (tỷ lệ 67 triệu người Ấ Độ giáo so với 26 triệu người không tôn giáo).
Mức sinh cũng vượt hơn mức tử ở các nhóm tôn giáo lớn khác trong khoảng thờigian từ năm 2010 đến 2015 gồm Phật giáo, Do Thái giáo và các tín ngưỡng mang tínhtruyền thống hoặc dân gian
Sau năm 2015, số những trẻ được sinh ra từ những người mẹ Kitô giáo và Hồigiáo được dự báo sẽ ngày càng tăng lên cho đến năm 2060 Nhưng mức sinh của Hồi giáođược dự đoán sẽ tăng với tỷ lệ cao hơn nhiều – vì vậy đến 2035 số trẻ sinh ra từ Hồi giáo
sẽ vượt hơn một chút so với số trẻ sinh từ mẹ Kitô giáo Từ 2055 đến 2060, khoảng cáchmức sinh của cả hai nhóm được dự đoán là khoảng 6 triệu người (Hồi giáo với 232 triệu
ca sinh so với 226 triệu ca từ Kitô giáo)
Ngược lại, tổng số ca sinh của tất cả các nhóm tôn giáo lớn khác được dự đoán sẽgiảm nhanh chóng từ 2015 đến 2060 Ấn Độ giáo sẽ có mức giảm trầm trọng nhất – được
dự đoán là sẽ giảm hơn 33 triệu ca từ 2015 đến 2060 so với từ 2010 đến 2015 – do dự sụtgiảm tỷ lệ sinh ở Ấn Độ, cái nôi của 94% dân số Ấn Độ giáo toàn cầu năm 2015
Số người chết được dự báo sẽ gia tăng đối với tất cả các nhóm tôn giáo từ năm
2015 đến 2060, khi dân số thế giới tiếp tục phát triển và tiếp tục bị già đi.14
Trang 34Tỷ lệ sinh và tử theo cấp độ khu vực và quốc gia.
Đối với các nhóm tôn giáo ở hầuhết các quốc gia, tỷ lệ gia tăng tự nhiênhiện tại đều ở mức dương (sinh cao hơntử) hoặc có rất ít sự thay đổi số lượng
do mức sinh hay mức tử Nhưng cácquốc gia Châu Âu đang phải trải qua
giai đoạn sụt giảm tự nhiên (mức tử cao
hơn mức sinh) đối với dân số của mộtvài nhóm tôn giáo nhất định, đặc biệt làKitô giáo
Trang 35Trên khắp Đông Âu và một vài phần của Tây Âu, mức tử vượt hơn mức sinh ởngười Kitô giáo trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 tại 24 trên 42 quốc gia Mức tử cũngvượt mức sinh ít nhất 10,000 người đối với dân số của nhóm không tôn giáo ở Áo,Ukraine và Nga Nhưng nhóm không tôn giáo ở hầu hết các quốc gia Châu Âu khác đãcho thấy sự gia tăng tự nhiên đạt mức dương (ở 19 quốc gia) hoặc ít có sự thay đổi (ở 20quốc gia) trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 Điều này phản ánh rằng độ tuổi của nhómkhông tôn giáo ở Châu Âu tương đối trẻ so với nhóm dân số Kitô giáo.
Đối với Hồi giáo, không có quốc gia Châu Âu nào có số người chết vượt quá sốsinh Ở hầu hết các khu vực, số lượng trẻ sinh từ người mẹ Hồi giáo đều vượt số lượngngười chết trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2015 (ở 21 quốc gia) Tại Đức, Vương QuốcAnh, Ý, Nga và Pháp, số lượng trẻ được sinh ra cao hơn ít nhất 250,000 người so với sốchết đi trong cùng khoảng thời gian trên Bên cạnh đó, sự di cư cũng góp phần vào sự giatăng dân số Hồi giáo ở Châu Âu
Đối với những nhóm dân số sống ngoài khu vực Châu Âu, dù là Kitô giáo, Hồigiáo hay không tôn giáo, không có bất cứ nhóm nào có mức tử cao hơn mức sinh tronggiai đoạn từ 2010 đến 2015 Tương tự, các nhóm tôn giáo khác cũng cho thấy sự gia tăng
tự nhiên ở mức dương hoặc ít có sự thay đổi, tuy có vài ngoại lệ như: Phật giáo ở NhậtBản, Ấn Độ giáo ở Nam Phi và các tín ngưỡng dân gian ở Nam Triều Tiên và Tanzania
có số người chết cao hơn mức sinh trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2015
Trang 37Xu hướng tỷ lệ sinh và tử của các nhóm tôn giáo cónhững khác biệt quan trọng tùy theo khu vực Điểnhình như với Kitô giáo, khu vực cận Sahara Châu Phi
đã cho thấy mức gia tăng tự nhiên lớn nhất từ 2010đến 2015 – với mức sinh hơn 64 triệu người so vớimức tử – tiếp đến là sự gia tăng ở mức thấp hơn đốivới Kitô giáo ở các khu vực Mỹ latinh, vùngCaribbean, Châu Á –Thái Bình Dương và Bắc Mỹ.Tuy nhiên, ở Châu Âu, số người chết của Kitô giáo đãvượt quá tỷ lệ sinh – sự sụt giảm này được dự báo là
sẽ tiếp tục tăng đến 2060 Còn ở Bắc Mỹ, số ngườichết của Kitô giáo sẽ bắt đầu vượt số được sinh ra vàokhoảng năm 2050
Những xu hướng này cho thấy rằng sự phát triển trongtương lai của Kitô giáo sẽ chủ yếu là ở Nam bán cầu,đặc biệt ở khu vực cận Sahara Châu Phi – khu vựcduy nhất có mức tăng tự nhiên dân số Kitô giáo được
dự đoán sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa trong nhữngthập niên tới (Điều này không chỉ có nghĩa là sẽ tiếptục có nhiều ca sinh Kitô giáo hơn so với mức tử ở cậnSahara Châu Phi, nhưng con số ca sinh vượt hơn số ca tử sẽ còn lớn hơn rất nhiều trongcác giai đoạn 5-năm tới đây.) Ở các khu vực Châu Mỹ Latinh và Châu Á – Thái BìnhDương, số ca sinh Kitô giáo vẫn sẽ vượt số ca tử cho đến năm 2060, nhưng mức gia tăng
tự nhiên ở các khu vực này trong giai đoạn từ 2055 đến 2060 sẽ thấp hơn nhiều so vớihiện tại vì sự sụt giảm tỷ lệ sinh ở những khu vực này
Trang 38Dân số Hồi giáo toàn cầu cũng được dự báo sẽ có những chuyển đổi quan trọng vềmặt địa lí hướng đến khu vực cận Sahara Châu Phi Hiện tại, số người Hồi giáo sống ởkhu vực Châu Á – Thái Bình Dương đông hơn bất cứ khu vực nào khác, và hệ quả là khuvực này có mức tăng tự nhiên dân số Hồi giáo cao nhất từ 2010 đến 2015.
Trang 39Nhưng người Hồi giáo khu vực cận SaharaChâu Phi cũng cho thấy mức sinh cao hơn rất nhiều
so với mức tử trong cùng giai đoạn, và mức giatăng tự nhiên dân số Hồi giáo ở cận Sahara ChâuPhi được dự báo sẽ còn tăng mạnh hơn nữa trongcác giai đoạn 5-năm tới nhờ tỷ lệ sinh cao Đếnkhoảng 2040, mức gia tăng tự nhiên của dân số Hồigiáo ở cận Sahara Châu Phi được dự báo sẽ vượtmức tăng tự nhiên ở Châu Á của nhóm tôn giáonày
Hồi giáo ở Châu Á và khu vực Trung Đông– Bắc Phi sẽ trải qua giai đoạn dân số phát triểnchậm trong những thập niên tới vì mức sinh củaHồi giáo ở những khu vực này giảm Dân số Hồigiáo ở những khu vực này vẫn có tỷ lệ sinh cao hơn
tử tính đến năm 2060 nhưng sẽ phát triển với mức
độ chậm hơn
Hồi giáo ở Châu Âu và Bắc Mỹ cũng được
dự báo sẽ có mức sinh cao hơn mức tử cho tính đến2060