1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bai thu hoach viet hang 2

13 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 39,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công

Trang 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thế kỷ của trí tuệ và cạnh tranh thị trường, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và xu thế toàn cầu hoá vv Đất nước ta đang tiến lên con đường công nghiệp hóa- hiện đại hóa, điều đó đặt ra những yêu cầu to lớn, cấp bách về nguồn lực, đặc biệt là chất lượng nguồn lực con người Đó là chất lượng toàn diện con người Việt Nam về: Phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ,thể lực và kỹ năng nghề nghiệp của con người Việt Nam

Nền kinh tế trí thức của Việt Nam có đạt được hiệu quả hay không, tương lai đất nước, tiền đồ của dân tộc ta có được phồn vinh, thịnh vượng hay không, có sánh vai được với các nước tiên tiến trên thế giới hay không là tuỳ thuộc phần lớn vào chất lượng đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường

Chính vì vậy, Giáo dục- đào tạo ở Việt Nam , đã được Đảng và nhà nước ta đặt lên vị trí là:” Quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục- đào tạo là đầu tư cho phát triển” ( Nghị quyết TW 2 khoá VIII) Đứng trước nhiệm vụ cao cả và nặng nề như vậy, ngành giáo dục-đào tạo cần tập trung đổi mới về chương trình, sức lực, trí lực, tài lực nhằm tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng dạy học- giáo dục trang bị kiến thức khoa học cần thiết và năng lực sáng tạo cho học sinh

II NỘI DUNG ĐỀ TÀI:

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM:

1 Một số khái niệm:

+ Giáo dục: là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc

biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại

+ Giáo dục phổ thông: là bộ phận tiếp theo của giáo dục mầm non, là nền tảng cho

giáo dục đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp

+ Theo Luật giáo dục: Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ

6 đến 14 tuổi , được thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5, tuổi vào lớp 1 là 6 tuổi

2 Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam và Giáo dục Tiểu học:

- Về mục tiêu đào tạo con người: Vừa đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa đảm bảo phát huy tốt nhất tiềm năng riêng của mỗi cá nhân

Trang 2

- Về mục tiêu hệ thống: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục

và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, giáo dục đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

- Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

- Theo Luật giáo dục năm 2005: Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM

1 Tổng quan về giáo dục tiểu học:

Cấp tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 10 tuổi Cấp I

là một cấp học phổ cập, gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5 Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân

Học sinh phải học các môn sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, và 3), Khoa học (lớp 4 và 5), Lịch sử (lớp 4 và 5), Địa lý (lớp 4 và 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Tiếng Anh (lớp 3, 4, 5, một số trường cho học sinh học tiếng Anh bắt đầu từ năm lớp 1, lớp 2) Để kết thúc bậc tiểu học, học sinh được xét tốt nghiệp bằng các thành tích được tích luỹ trong 5 năm

2 Các chính sách của nhà nước đối với giáo dục Việt Nam:

Thực tiễn áp dụng chính sách của Nhà nước đối với nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2000 đến nay) Đảng và Nhà nước ta luôn đặt giáo dục và đào tạo

ở vị trí quan trọng Nghị quyết Trung ương 2( khóa VIII) đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nội dung của Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) được toàn Đảng, toàn dân hoan nghênh và tích cực hưởng ứng, mau chóng đi vào cuộc sống, được thể chế hóa trong nhiều chính sách giáo dục và đào tạo của Nhà nước

Các nghị quyết gần đây nhất của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo đều coi giáo dục Tiểu học là tiền đề cho một nền giáo dục, là điểm khởi

Trang 3

đầu để hình thành nhân cách con người Giáo dục tiểu học là nền móng mở đầu cho cả một nền giáo dục

3 Những thành tựu của giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây:

Sau hơn 12 năm thực hiện, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đề ra:

- Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và chính sách giáo dục Đã phát huy được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế được tiêu cực của cơ chế thị trường, khuynh hướng thương mại trong giáo dục Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, người dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội ngày càng được chú trọng

- Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển Các trường công lập đã giữ được vai trò nòng cốt trong phổ cập giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, các trường ngoài công lập phát triển nhanh về số lượng

- Việc phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ có bước tiến bộ

- Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn với các cấp, bậc học, độ đào tạo, các loại hình và phương thức giáo dục Quy mô giáo dục tăng lên nhất là ở bậc đại học và đào tạo nghề

- Từ một hệ thông giáo dục chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy, đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình không chính quy, có các trường tư thục, dân lập, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài… Đó là một trong những thành tựu lớn nhất mà nền giáo dục nước ta đã đạt được

- Nhìn chung, số học sinh trong toàn bộ hệ thống giáo dục không ngừng được tăng lên, số học sinh trong các trường ngoài công lập tăng nhanh: Số trẻ em tăng bình quân 7%/năm; mẫu giáo tăng bình quân 5,2%/năm Riêng ở cấp trung học phổ thông, quy mô học sinh ngoài công lập năm học 2000 – 2001 tăng 2,91 lần so với năm học 1995 – 1996

- Chất lượng giáo dục có chuyển biến trên một số mặt Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao; giáo dục trung học phổ thông chuyên đạt trình độ cao của khu vực và thế giới, số học sinh phổ thông đạt giải quốc gia và quốc tế ở một số môn học ngày càng tăng Số đông sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập, năng động;

Trang 4

- Chất lượng đào tạo của một số ngành khoa học cơ bản và khoa học công nghệ đã được nâng cao một bước Giáo dục đại học đã từng bước vươn lên, đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật từ cử nhân, thạc sỹ cho đến tiến sĩ, đã và đang công tác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội

- Nhìn chung, công bằng xã hội trong giáo dục về cơ bản được đảm bảo, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số có những chuyển biến tích cực Cả nước đã hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở Gần 94

% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ; số năm đi học trung bình đạt 7,3 Về có bản, nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục

- Hưởng ứng chủ trương xã hội hoá giáo dục, ở hầu hết các địa phương đều đã có phong trào xây dựng quỹ khuyến học, đóng góp công sức tiền của để phát triển giáo dục Trong những năm gần đây, phần kinh phí do nhân dân đầu tư, trang trải cho các hoạt động giáo dục ước tính khoảng trên dưới 40% Các nguồn lực thông qua con đường xã hội hóa, cùng với nguồn lực của Nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và nhu cầu học tập của các tâng lớp nhân dân

- Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc Cả nước đã hoàn thành công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học năm 2000 Đến tháng 12-2008, đã có 43/63 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng

độ tuổi, 46/63 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, một số nơi đang thực hiện phổ cập giáo dục phổ thông

- Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở phổ thông, dạy nghề và đại học đang được tích cực thực hiện, góp phần làm chất lượng giáo dục trên một số mặt chuyến biến theo hướng tích cực Kiến thức và kĩ năng của học sinh, sinh viên có tiến bộ, tiếp cận với phương pháp học tập mới (như áp dụng thí điểm dạy các môn tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường chuyên – Trung học phổ thông, phương pháp học tín chỉ ở các trường Đại học, Cao đẳng )

- Chất lượng đào tạo sau đại học, đại học, đào tạo nghề ở một số ngành đã nâng lên Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng lên đáng kể Năm 2005 chi cho giáo dục đào tạo chiếm gần 18% tổng chi ngân sách Nhà nước Việc huy động nguồn lực trong xã hội đầu

tư cho giáo dục thông qua chủ trương xã hội hóa đạt hiệu quả khá tốt Các nguồn đầu tư cho giáo dục ngày càng được kiểm soát và tăng dần hiểu quả sử dụng

- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng phát triển cả về số lượng

và chất lượng, đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục

Trang 5

4 Những điểm yếu của giáo dục Việt Nam hiện nay:

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được vẫn còn nhiều nội dung chưa thực hiện được, những hạn chế, khiếm khuyết:

- Giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Mặc dù được tăng đầu tư tài chính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao; công tác tổ chức, các bộ, chế độ, chính sách chậm đổi mới

- Chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa; thi cử còn nặng

nề, tốn kém Phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhiều nơi chưa vững chắc Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước

- Đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng yêu cầu

- Chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn bất cập, chưa đề ra những giải pháp kịp thời, có hiệu quả để khắc phục hạn chế, yếu kém Định hướng liên kết đào tạo với nước ngoài để xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, dân tộc, xã hội chủ nghĩa còn nhiều lúng túng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; quản lý sinh viên Việt Nam đang theo học ở nước ngoài còn rất lỏng lẻo

- Thừa, thiếu giáo viên: Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường lớp học ở một số địa phương còn chưa phù hợp, chậm hướng dẫn triển khai

Tình trạng thiếu trường, lớp ở các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết

- Năng lực nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn yếu, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới; năng lực quản trị của một bộ phận cán bộ quản lý trường học còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới

- Hướng nghiệp chưa hiệu quả: Công tác giáo dục hướng nghiệp đã được tăng cường, tích hợp, lồng ghép các chủ đề giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông

và hoạt động tư vấn tuyển sinh Nhưng theo Bộ GD-ĐT, phương thức dạy nghề trong các trường phổ thông vẫn còn nặng về kiến thức lý thuyết, việc phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa hiệu quả

- Chuẩn ngoại ngữ còn chưa đạt: Thực tế, nhiều giáo viên phổ thông vẫn chưa đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ Số học sinh được học theo chương trình ngoại ngữ hệ 10 năm còn thấp

Trang 6

- Điều kiện dạy học thiếu: Theo Bộ GD-ĐT, cơ sở vật chất của các nhà trường đã được chuẩn hóa và từng bước hiện đại hóa, số trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia được tăng lên Nhưng so với yêu cầu hiện nay thì cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu.Nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất còn hạn hẹp; công tác xã hội hóa giáo dục chưa thực sự hiệu quả

- Tự chủ, nhưng trách nhiệm giải trình hạn chế: Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, công tác

tự chủ, trách nhiệm giải trình với xã hội của các cơ sở đào tạo còn hạn chế; việc thực hiện tự chủ đại học chưa gắn liền với đổi mới quản trị nhà trường

- Việc tiếp cận công nghệ, mô hình giáo dục nước ngoài, các chương trình học bổng nói chung ở các địa phương vùng sâu, vùng xa còn rất ít Các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Mầm non “còn nhiều bất an”: Một trong những thành quả đạt được từ năm học trước

là cả nước đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ được đổi mới theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Nhưng chất lượng chăm sóc, giáo dục mầm non chưa đồng đều giữa các vùng miền Một bộ phận giáo viên còn hạn chế năng lực thực hành, kỹ năng tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ

- Đổi mới GD phổ thông chưa đảm bảo lộ trình: Bộ GD-ĐT khẳng định đã chú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, thi, đánh giá học sinh phổ thông được thực hiện theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học Đặc biệt, bộ đã rà soát, giảm các cuộc thi, hội thi để giảm áp lực cho giáo viên và học sinh.Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

đã được thông qua: Tuy nhiên, Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận tiến độ thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông chưa đảm bảo theo lộ trình đề ra.Việc thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục ở một số địa phương còn chưa nghiêm túc; chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi còn thấp so với yêu cầu

- Cấp chứng chỉ tin học, ngoại ngữ chưa nghiêm: Đây là vấn đề gây nhức nhối xã hội trong thời gian qua Theo đánh giá của chính Bộ GD- ĐT, việc quản lý tổ chức, hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học của một số địa phương còn hạn chế; việc thi và cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học thực hiện chưa nghiêm

- Sinh viên thất nghiệp còn nhiều: Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước Bên cạnh đó, tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm còn nhiều

Trang 7

- Xử lý vi phạm sau thanh tra còn chưa nghiêm: Việc ban hành văn bản còn chậm, chưa đồng bộ; công tác xử lý vi phạm sau thanh tra ở một số địa phương chưa nghiêm Công tác truyền thông chưa thực sự chủ động, việc xử lý thông tin có lúc chưa kịp thời

5 Nguyên nhân những hạn chế của giáo dục Việt Nam:

- Việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội

- Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng cấp… chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn Tư tưởng và thói quen bao cấp trong giáo dục còn nặng nề làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực

xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo

- Việc phân định giữa quản lí nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ Công tác quản lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ

- Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục còn thấp so với yêu cầu Mức chi cho mỗi người học chưa tương xứng với yêu cầu về chất lượng, chưa phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo

6 Cơ hội để thực hiện thành công đổi mới giáo dục Việt Nam:

Bước sang giai đoạn mới, đất nước ta đứng trước những cơ hội lớn là:

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng tiên tiến, hiện đại

- Phấn đấu không rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”

- Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng dựa chủ yếu vào vốn, đất đai, tài nguyên và lao động, sang đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu dựa ngày càng mạnh vào tri thức, khoa học và công nghệ

- Đẩy mạnh có hiệu quả quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao năng lực hợp tác và cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn

- Nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân; xây dựng xã hội ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh hơn

- Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia

Trang 8

Tất cả những giá trị mới nêu trên tất yếu đặt ra những yêu cầu mới về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, cơ chế phát triển giáo dục; về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục của đất nước Cho nên những vấn đề nêu trên góp phần thúc đẩy Cơ hội để thực hiện thành công đổi mới giáo dục Việt Nam là:

- Về cơ hội thuận lợi lớn nhất mà nghị quyết đã chỉ ra là đất nước ta ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm qua, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với chiến lược và quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 Những thuận lợi trên là tiền đề cơ bản để chúng ta thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam

- Thứ hai là Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển GD-ĐT, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" và hội nhập quốc tế mạnh mẽ

- Thứ ba là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin

và truyền thông, kinh tế tri thức phát triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục), đổi mới quản lý giáo dục và xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của

xã hội và cá nhân người học

- Thứ tư là quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục

- Thứ năm là nền giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới: xây dựng

xã hội học tập cùng với các điều kiện bảo đảm học tập suốt đời; đại chúng hóa, đa dạng hóa, toàn cầu hóa, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh tranh quốc tế về giáo dục… Và quan trọng nữa là nhân dân ta với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, sẽ tiếp tục dành sự quan tâm và đầu tư cao cho GD-ĐT

7 Những thách thức đối với nền Giáo dục Việt Nam hiện nay:

- Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải

có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của Nhà nước và phần đông gia đình còn hạn chế Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, đặt ra nhiệm vụ nặng nề và thách thức lớn đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo

Trang 9

- Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn tiếp tục là nguyên nhân dẫn đến thiếu bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục

và khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền

- Tư duy bao cấp, sức ì trong nhận thức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, không theo kịp sự phát triển nhanh của kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ; bệnh thành tích, hư danh, chạy theo bằng cấp trong cán bộ và người dân chậm được khắc phục

- Khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo giữa nước ta và các nước tiên tiến trong khu vực, trên thế giới có xu hướng gia tăng Hội nhập quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường đang làm nảy sinh nhiều nguy cơ tiềm

ẩn như sự thâm nhập lối sống không lành mạnh, xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc; sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục kém chất lượng, lạm dụng dạy thêm, học thêm, chạy trường, chạy điểm

8 Những giải pháp để phát triển toàn diện nền Giáo dục Việt Nam:

- Trước hết là cải cách thể chế về GD-ĐT

- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp, trong đó, triển khai điều chỉnh, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, nhân sự của các cơ quan quản lý giáo dục, trước hết

là cơ quan Bộ GD-ĐT, nhằm tinh gọn bộ máy, trên cơ sở đó sắp xếp nhân sự phù hợp theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả

- Tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục, trong đó, chú trọng các nguồn lực của

xã hội và quốc tế để phát triển GD-ĐT, quan tâm đầu tư cho các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách

- Xác định chất lượng độc lập các cơ sở giáo dục, để có bức tranh tổng thể về năng lực thực sự của từng cơ sở và công khai kết quả kiểm định để xã hội đánh giá Tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả nhưng đảm bảo công bằng, nghiêm túc

- Đẩy mạnh công tác truyền thông về giáo dục và đào tạo, trong đó chủ động cung cấp thông tin cho báo chí, nhất là thông tin về các gương người tốt, việc tốt trong ngành để

xã hội có cái nhìn đầy đủ và chia sẻ Xây dựng hệ thống truyền thông thông suốt từ các trường, sở đến bộ, để truyền tải thông tin đầy đủ, đa chiều về những đổi mới mà ngành đang thực hiện

- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý Cần coi trọng cả ba mặt giáo dục: dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt chú ý giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo

Trang 10

đức, lối sống, lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, giáo dục về Đảng Phát triển quy mô hợp lý cả giáo dục đại trà và mũi nhọn, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, kể cả những nghề thuộc lĩnh vực công nghệ cao

Đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, thực hiện phổ thông trung học

cơ sở một cách bền vững; củng cố kết quả xóa mù chữ, ngăn chặn tình trạng tái mù chữ Làm tốt việc phân luồng, giáo dục hướng nghiệp Phấn đấu giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học

- Đổi mới mạnh mẽ quả lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp, vai trò của ngành giáo dục và đào tạo để phát triển sự nghiệp giáo dục

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, chú trọng quản lý chất lượng giáo dục

- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng

- Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, phù hợp và có hiệu quả Thực hiện tốt đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục lối truyền thụ một chiều

- Tăng cường nguồn lực cho giáo dục, không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục Hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách đối với trường ngoài công lập

- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục; Nhà nước có chính sách huy động mạnh

mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng cơ chế quản lý, giám sát mọi nguồn đầu tư của xã hội cho giáo dục

- Đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục Nhà nước tập trung cho các vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước giảm sự chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền

- Thực hiện tốt chính sách cử tuyển với việc bổ túc nâng cao trình độ cho đối tượng

cử tuyển Tiếp tục phát triển hệ thống trường nội trú, bán trú, thực hiện tốt các chính sách

ưu tiên, hỗ trợ cho học sinh dân tộc thiểu số

- Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo Nhà nước tăng cường ban hành những cơ chế, chính sách thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài cho giáo dục nhất là lĩnh vực

Ngày đăng: 15/03/2019, 21:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w