1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích nguyên nhân phát sinh sự cố trong công trình thuỷ lợi, thuỷ điện

136 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài luận văn Đánh giá và quản lý chất lượng trong thi công các công trình thủy lợi, thủy điện Việt Nam, tác giả bày tỏ sự cảm ơn trân trọng đến Giáo sư, Tiến

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luận văn Đánh giá và quản lý chất lượng trong thi công các công trình thủy lợi, thủy điện Việt Nam, tác giả bày tỏ sự cảm ơn trân trọng đến Giáo sư, Tiến sĩ Lê Kim Truyền đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tác giả về chuyên môn trong quá trình nghiên cứu

Tác giả trân trọng cảm ơn các giảng viên, khoa Công Trình, phòng đào tạo Đại học và sau Đại học, các Ban nghành đoàn thể, Ban Giám hiệu trường Đại Học Thủy Lợi đã tạo điều kiện cho tác giả được học tập nghiên cứu hoàn thành khóa học tại trường

Tác giả trân trọng cảm ơn tới lãnh đạo Công ty TNHHMTVKTCTTL tỉnh Hưng Yên, Xí nghiệp KTCTL Châu Giang đã tạo điều kiện cho tác giả được đi học tập, nghiên cứu hoàn thành khóa học

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ, nhiệt tình giúp đỡ động viên để tác giả hoàn thành luận văn này./

Hà Nội, Ngày 28 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Trang 2

BẢN CAM ĐOAN

Đề tài luận văn cao học Đánh giá và quản lý chất lượng trong thi công các công trình thủy lợi, thủy điện Việt Nam của học viên được nhà trường giao nghiên cứu theo Quyết định số 596/QĐ-ĐHTL ngày 29 tháng 6 năm

2011 của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi

Trong thời gian học tập tại trường với sự định hướng của các giảng viên cộng với kinh nghiệm làm việc tại cơ quan đơn vị, sự giúp đỡ của bạn bè

và đặc biệt là sự giúp đỡ, chỉ bảo của GS.TS Lê Kim Truyền, học viên đã tự nghiên cứu và thực hiện đề tài Nó là thành quả lao động, là sự tổ hợp của các yếu tố mang tính nghề nghiệp của tác giả./

Hà Nội, Ngày 28 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Đoàn Ngọc Sơn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I.Tính cấp thiết của đề tài 1

II.Mục tiêu của đề tài 1

III.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

IV.Dự kiến kết quả đạt được 2

V Nội dung luận văn 2

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM THI CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH SỰ CỐ TRONG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 3

1.1 Đặc điểm các công trình thủy lợi, thủy điện ở nước ta 3

1.2 Sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện ở nước ta 13

1.3 Nguyên nhân gây ra sự cố công trình thủy lợi, thủy điện 31

1.4 Các phương pháp đánh giá chất lượng công trình 36

Kết luận chương 1 40

CHƯƠNG II: MÔ HÌNH VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 41

2.1.Đặt vấn đề 41

2.2.Các mô hình và nguyên tắc quản lí chất lượng thi công các dự án 42

2.3.Quá trình kiểm soát chất lượng thi công dự án 46

2.4.Các yêu cầu về quản lí chất lượng thi công dự án 57

2.5 Nội dung kiểm tra và quản lí chất lượng thi công dự án 61

Kết luận chương 2 67

CHƯƠNG III: CƠ SỞ PHÁP LÍ ĐỂ QUẢN LÍ GIÁM SÁT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 69

3.1.Cơ sở pháp lí để quản lí giám sát chất lượng công trình xây dựng 69

Trang 4

3.2.Hệ thống đảm bảo chất lượng công trình 69 3.3 Tiêu chuẩn quản lí chất lượng ISO 9001-2008 80 3.4.Nộidung và trình tự giám sát kiểm tra chất lượng công trình của chủ đầu

tư hoặc tổng thầu xây dựng 82 3.5 Đánh giá và kiểm nghiệm chất lượng trình 85 Kết luận chương 3 88

CHƯƠNG IV: QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐẤT 89

4.1 Mở đầu 89 4.2 Đất và các loại đất trong xây dựng 89 4.3 Cơ sở pháp lý quản lý, giám sát chất lượng thi công công trình đất 91 4.4.Nội dung quản lý giám sát chất lượng thi công công trình đất 93 Kết luận chương 4 113

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

Trang 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Ảnh 1.1 Đền thờ Vua Lê năm 938 đào kênh dẫn nước trên sông Bà Hòa 6Ảnh 1.2 Cống lấy nước Xuân Quan hệ thống TN Bắc Hưng Hải ( 1958) 7Ảnh 1.3 Đập Thảo Long – tỉnh Thừa Thiên Huế kết hợp cầu giao thông để ngăn mặn, có âu thuyền đảm bảo giao thông thủy 8Ảnh 1.4 Sự cố đập Cửa Đạt cao trình 50 đang thi công bị phá hoại do lũ ngày 4/10/2007 14Ảnh 1.5 Vỡ đập thủy điện Khe Mơ- Hà Tĩnh năm 2010 14Ảnh 1.6 Vỡ đập thủy điện Hố Hô- Hà Tĩnh năm 2010 15Ảnh 1.7 Thấm nước qua đập bê tông trọng lực (đầm lăn) thủy điện sông Tranh 2 15

Trang 6

D ANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1-1 Thống kê khối lượng công tác một số công trình thủy lợi, thủy

điện 10

Bảng 1-2 Thống kê sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện Việt Nam 23

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quy trình đánh giá chất lượng công trình 39

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của một công ty xây dựng 43

Sơ đồ 2.2 là sơ đồ quá trình kiểm soát chất lượng thi công dự án 47

Sơ đồ 2.3 Quá trình kiểm soát chất lượng dự án thi công 48

Sơ đồ 2.4 Kiểm soát nhân tố chất lượng 48

Trang 7

M Ở ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian qua việc đầu tư cho phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện được Đảng và Chính Phủ quan tâm, nhiều hệ thống công trình đã và đang được thi công thu hút hàng ngàn tỷ đồng Nhiều công trình với nhiệm vụ phục vụ đa mục tiêu đã phát huy hiệu quả tích cực thúc đẩy kinh tế xã hội của nước ta

phát triển và hội nhập

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác quản lý chất lượng trong thi công chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra nên nhiều công trình hiệu quả đầu tư thấp, mới làm xong đã phải sửa chữa, nâng cấp hoặc đang thi công đã phát sinh sự cố…làm tăng kinh phí đầu tư và kéo dài thời gian thi công gây lãnh phí, tốn kém cho nhân dân Nhiều nguyên nhân làm cho công trình hư hỏng, xuống cấp, tuổi thọ công trình giảm, mỹ thuật không đảm bảo…nhưng trong đó có nguyên nhân cơ bản là do chất lượng công trình chưa đạt yêu cầu so với thiết kế

Chất lượng xây dựng công trình là sự sống còn của đơn vị thi công xây dựng công trình, là hiệu quả đầu tư cho việc phát triển kinh tế, xã hội, là sự an toàn cho nhân dân, cho nên cần phải được quan tâm đúng mức trong việc đầu

tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện Quản lý tốt chất lượng xây dựng công trình sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn và an toàn cao cho người dân trong vùng của dự án hưởng lợi đó là ý nghĩa cấp thiết của đề tài

II Mục tiêu của đề tài

- Phân tích nguyên nhân phát sinh sự cố trong công trình thuỷ lợi, thuỷ điện từ đó nghiên cứu các mô hình, hệ thống và cơ sở pháp lý để quản lý đảm bảo chất lượng xây dựng công trình

- Nghiên cứu biện pháp quản lý chất lượng thi công công trình đất

Trang 8

III.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Cách tiếp cận: Thông qua các công trình thực tế và các ấn phẩm đã phát

hành nghiên cứu, phân tích để giải đáp các mục tiêu đề ra của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Thu nhập thông tin liên quan, phân tích đánh giá lựa chọn giải pháp hợp lý + Phương pháp nhân quả

+ Phương pháp chuyên gia

IV.Dự kiến kết quả đạt được

- Hệ thống được các nguyên nhân gây ra sự cố, hư hỏng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện đã và đang xây dựng tại Việt nam

- Đề xuất phương pháp, cơ chế, chế tài quản lý chất lượng công trình xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện ở Việt Nam

V Nội dung luận văn

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4 Các nội dung chủ yếu:

Chương 1: Đặc điểm thi công và nguyên nhân phát sinh sự cố trong thi công công trình thuỷ lợi, thuỷ điện

Chương 2: Mô hình và hệ thống quản lý chất lượng trong thi công xây dựng công trình

Chương 3: Cơ sở pháp lý để quản lý giám sát chất lượng công trình xây dựng Chương 4: Quản lý chất lượng thi công công trình đất

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM THI CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH SỰ CỐ TRONG THI CÔNG CÔN G TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 1.1 Đặc điểm các công trình thủy lợi, thủy điện ở nước ta

1.1.1 Khái nhiệm công trình thủy lợi

Là công trình thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng nhằm khai thác mặt

có lợi của tài nguyên nước; phòng, chống và ngăn chặn giảm thiểu những tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái phục vụ đời sống của con người

1.1.2 Nhiệm vụ của công trình thủy lợi

Làm thay đổi, cải biến trạng thái tự nhiên của dòng chảy sông, hồ, biển, nước ngầm để sử dụng nước có lợi nhất và bảo vệ môi trường xung quanh khỏi tác hại của dòng nước gây ra phục vụ đời sống con người

1.1 3 Phân loại công trình thủy lợi

Theo mục đích sử dụng công trình thủy lợi được chia thành các loại:

1.1.3.1 Thủy năng: sử dụng năng lượng của nước để phát điện;

1.1.3.2 Thủy nông: dùng biện pháp thủy lợi để tưới tiêu, thau chua rửa mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp;

1.1.3.3.Công trình phòng chống lũ lụt giảm nhẹ thiên tai: dùng biện pháp công trình như đê sông, đê biển, các biện pháp chỉnh trị sông…;

Công trình thủy lợi ngày nay với mục đích phục vụ đa mục tiêu với 2 loại (1.1.3.1;1.1.3.2) thì còn kết hợp cấp và thoát nước cho các khu công nghiệp, thành phố, nông thôn, trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; kết hợp giao thông thủy; phục vụ thể thao, du lịch và giải quyết môi trường

Đối với loại (1.1.3.3) trong thời điểm hiện nay biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên toàn thế giới Nhiệt

Trang 10

độ trái đất tăng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế xã hội trong tương lai Ở Việt Nam biến đổi khí hậu làm cho thiên tai, bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Hậu quả biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng, là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Các công trình thủy lợi (cống ngăn mặn, đê sông, đê biển…) phải đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế xã hội và an sinh cho con người trong điều kiện biến đổi khí hậu

1.1.4 Sự phát triển của khoa học công trình thủy lợi

1.1.4.1 Trên thế giới

Khoa học công trình thủy lợi được phát triển từ lâu Các loại đập thấp, kênh mương và các công trình đơn giản để tưới nước cho cây trồng, cung cấp nước cho thành thị được xây dựng ở Ai cập 4400 năm trước Công nguyên, ở Trung quốc 2280 năm trước Công nguyên Đập đầu tiên được xây dựng trên sông Lile cao 15m, dài 450m có cốt là đá và đất sét Cùng với sự tiến bộ của loài người, khoa học kỹ thuật việc xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô và hình thức Nói đến thủy lợi, thủy điện thì đặc trưng và điển hình là Hồ chứa (Hồ chứa là cụm công trình đầu mối nó có nhiều các hạng mục công trình để tạo thành hệ thống phục vụ sản xuất: đập dâng; đập tràn; dốc nước; cống lấy nước; tiêu năng; hệ thống kênh dẫn, nhà máy thủy điện, hệ thống nhà quản lý…), tiếp sau đó là: hệ thống đại thủy nông; các trạm bơm tưới tiêu; công trình đê sông, đê biển; các công ngăn triều… Đối với hồ chứa chiều cao đập từ chỗ vài mét buổi ban đầu, đến chiều cao đập (10 ÷15)m ở thế kỷ XV, đến 200 m ở thế kỷ XX và 300 m thế kỉ XXI Vật liệu đắp đập từ chỗ làm bằng vật liệu địa phương đến đập bằng bê tông thường, bê tông đầm lăn… Về hình thức kế cấu đập thì từ đập

Trang 11

đồng chất đến đập đá đổ bê tông bản mặt, đập bê tông trọng lực, đập vòm, đập trụ chống… Hiện nay nước có nhiều đập nhất là Trung Quốc với trên 22.000 đập Đứng thứ 2 là Mỹ với trên 6.575 đập Đứng thứ 3 là Ấn Độ có trên 4.291 đập sau đó là Nhật Bản với trên 2.675 đập, tiếp đó là Tây Ban Nha có trên 1.196 đập

1.1.4.2.Tại Việt Nam

Lịch sử xây dựng và phát triển Thuỷ lợi Việt Nam gắn liền với lịch sử dựng nước và phát triển của dân tộc Hàng nghìn năm trước đây, bằng những hình thức: đào kênh tiêu thoát nước, đắp bờ giữ nước, làm phai đập, guồng, cống để lấy nước, đắp đê phòng lụt đến nay đã xây dựng được các công trình lớn như thủy điện Sơn La, các đê sông, đê biển, các trạm bơm lớn…

Kênh đào đầu tiên được Lê Hoàn cho đào năm 938 từ Sông Mã qua núi Đồng Cổ đến Sông Bà Hoà thuộc tỉnh Thanh Hóa Lý Nhân Tông (1066-1127) là vị Vua thứ tư của triều Lý Ông rất quan tâm đến nông nghiệp Ông cho đắp đê chống lũ lụt, nổi tiếng nhất là đê Cơ Xá ( thuộc huyện Gia Lâm Hà Nội ngày nay), khởi đầu cho việc đắp đê ngăn lũ ở Việt Nam, nhằm giữ cho kinh thành khỏi ngập lụt Năm 1438, Lê Thái Tông cho đào các kênh ở Thanh Hoá Năm 1445, Lê Nhân Tông sai các quan đốc thúc quân lính đào các kênh

ở lộ Thanh Hoá và Nghệ An Năm 1744, vua Lê Hiển Tông tiếp tục cho khơi kênh từ Thanh Hoá vào Nghệ An Kênh Nhà Lê đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông, buôn bán từ các tỉnh miền Bắc Trung bộ ra Bắc bộ Trong quá trình tồn tại, dòng kênh đã trở thành con đường huyết mạch về thủy lợi, giao thông trong thời bình cũng như thời chiến

Trải qua thời kỳ phong kiến, nô lệ, đến khi có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo và khai sinh ra đất nước Việt Nam từ đó công cuộc tái thiết xây dựng thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và chống lũ mới được quan tâm Các hệ thống thủy lợi được quy hoạch, cải tạo, mở rộng và đầu tư xây dựng mới Năm 1945

Trang 12

cả nước mới có 13 hệ thống công trình thủy lợi năng lực tưới khoảng 30 vạn

ha và tiêu úng 8 vạn ha Đến nay, cả nước đã xây dựng được hàng chục nghìn công trình thủy lợi các loại; trong đó có 904 hệ thống có diện tích phục vụ từ

200 ha trở lên Theo thiết kế, tổng năng lực của các công trình có khả năng tưới cho khoảng 3,45 triệu ha đất canh tác, tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp

Ảnh 1.1 Đền thờ Vua Lê năm 938 đào kênh dẫn nước trên sông Bà Hòa

Ngoài ra, mỗi năm các công trình thủy lợi trong cả nước còn cung cấp gần sáu tỷ m3 nước cho các ngành sản xuất công nghiệp và sinh hoạt Tính đến năm 2009 cả nước đã xây dựng được 5.616 hồ chứa nước lớn, nhỏ các loại, với tổng dung tích gần 50 tỷ m3 nước (bao gồm cả các hồ tự nhiên) Trong đó, có 150 hồ chứa của các công trình thủy điện với tổng dung tích 39,6 tỷ m3 nước, 5.466 hồ chứa thủy lợi, với tổng dung tích 10,28 tỷ m3 nước, bảo đảm nước tưới cho 803.180 ha đất canh tác

Trang 13

Tóm lại: Thủy lợi thực sự là biện pháp kỹ thuật hàng đầu trong nông nghiệp, góp phần quan trọng trong chiến lược đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới

Ảnh 1.2 Cống lấy nước Xuân Quan hệ thống TN Bắc Hưng Hải ( 1958)

Trang 14

Ảnh 1.3 Đập Thảo Long – tỉnh Thừa Thiên Huế kết hợp cầu giao

thông để ngăn mặn, có âu thuyền đảm bảo giao thông thủy

1.1.5 Đặc điểm công trình thủy lợi, thủy điện

- Thường xuyên chịu sự phá hoại của môi trường nước về mặt cơ học, hóa học, lý học, hiện tượng thấm và chịu ảnh hưởng xấu của của các vi sinh vật trong nước Ngoài ra công trình thủy lợi còn chịu sự phá hoại bất thường như bão, lũ lụt, động đất, sóng thần… gây ra

- Là kết quả tổ hợp của nhiều lĩnh vực: quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công và quản lý khai thác… và điều đặc biệt quan trọng là sự tham gia quyết định về chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các cấp lãnh đạo từ Trung Ương đến địa phương

Trang 15

- Chứa đựng nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau

- Vốn đầu tư rất lớn

- Thời gian hoàn thành công trình từ khi còn là ý tưởng cho đến khi hoàn thiện sản phẩm rất lớn Tuổi thọ của công trình từ hàng chục đến hàng trăm năm tùy theo cấp công trình

- Khi xây dựng công trình thì nó tác động mạnh đến môi trường xung quanh như xây hồ, đập ngăn nước và phát điện…

- Hậu quả khi công trình hư hỏng là rất lớn và có trường hợp rất nghiêm trọng nó đe dọa đến đời sống của người dân trong vùng hạ du (Ví dụ như xảy ra vỡ đập của hồ chứa …)

Những đặc điểm trên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất chất lượng công trình, vì vậy nếu ở khâu nào đó, thời điểm nào đó để xảy ra kém chất lượng công trình thì có thể dẫn đến sự cố lớn nhỏ trong quá trình thi công, quản lý

và khai thác

1.1 6 Đặc điểm, nguyên tắc thi công công trình thủy lợi, thủy điện

1.1.6.1 Yêu cầu đối với thi công và cán bộ kỹ thuật quản lý thi công

- Thi công là giai đoạn tất yếu quan trọng trong quá trình xây dựng công trình nhằm biến các đồ án thiết kế thành các công trình hiện thực phục

vụ con người

- Xây dựng công trình thủy lợi là một quá trình nhiều khâu công tác khác nhau Có những khâu có khối lượng lớn khống chế cả quá trình xây dựng như: công tác đất, bê tông và xây lát Có những công trình đòi hỏi kỹ thuật cao: như đổ bê tông dưới nước, đóng cọc, phụt vữa ciment, thi công lắp ghép…

- Phạm vi xây dựng công trình thường rất rộng, có nhiều công trình cần tiến hành xây dựng một lúc nhưng diện tích công trình xây dựng đơn vị hẹp phải sử dụng nhiều các loại máy móc thiết bị, mật độ nhân lực cao

- Do công tác thi công phức tạp nên không những cán bộ thi công phải

có tinh thần trách nhiệm và trách nhiệm cao mà đòi hỏi cán bộ phải có khả

Trang 16

năng tổ chức và quản lý thi công giỏi, khả năng hướng dẫn công nhân thực hiện quy trình, quy phạm kỹ thuật, giải quyết các vướng mắc thông thường về mặt kỹ thật xảy ra trong quá trình thi công có như vậy mới vận động được quần chúng thi công công trình đảm bảo tiến độ, chất lượng cao, giá thành hạ,

an toàn tuyệt đối

1.1.6.2 Đặc điểm thi công công trình thủy lợi

Khác với việc xây dựng các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp, công tác thi công xây dựng công trình thủy lợi có đặc điểm sau:

- Có khối lượng lớn: các công trình thủy lợi thường mang tính lợi dụng tổng hợp nguồn nước như phát điện, giao thông thủy, tưới, cắt lũ, nuôi trồng thủy sản, du lịch…Mỗi công trình có nhiều công trình đơn vị như đập dâng, đập tràn, cống lấy nước, âu thuyền, kênh mương, trạm thủy điện… Mỗi công trình đơn vị lại có nhiều loại, nhiều kiểu làm bằng các vật liệu khác nhau như đất, đá, bê tông, sắt, thép… với tổng khối lượng rất lớn có khi hàng trăm, hàng triệu m3

Bảng 1-1 thống kê khối lượng công tác một số công trình thủy lợi, thủy điện đã thi công tại Việt Nam

Bảng 1-1 Thống kê khối lượng công tác một số công trình thủy lợi, thủy điện

TT Tên công

trình

Đất, đá ( triệu m3

)

Bê tông (m3)

Xây lát (m3)

Sắt thép (Tấn)

Khoan phụt (1000m)

Trang 17

- Có chất lượng cao: Công trình thủy lợi yêu cầu phải ổn đinh, bền lâu,

an toàn tuyệt đối trong quá trình quản lí khai thác Do đó phải thỏa mãn các yêu cầu: chống lật, lún, nứt nẻ, chống thấm, chống xâm thực, xây lắp với độ chính xác cao Yêu cầu đảm bảo an toàn cao vì ảnh hưởng đến sinh mạng hàng vạn người nếu xảy ra đổ vỡ

- Điều kiện thi công khó khăn: Công tác thi công công trình thủy lợi trên lòng sông, lòng suối, địa hình chật hẹp, mấp mô, địa chất xấu và chịu ảnh hưởng của nước mưa, nước ngầm, thấm do đó thi công rất khó khăn Mặt khác vị trí thi công xa khu dân cư, điều kiện kinh tế chưa phát triển

- Thời gian thi công hạn chế: Công trình thủy lợi thường phải xây dựng trên lòng dẫn sông suối ngoài yêu cầu lợi dụng tổng hợp nguồn nước còn phải hoàn thành công trình vượt lũ trong mùa khô hay hoàn thành cơ bản với chất lượng cao do đó thời gian thi công hạn chế

- Cường độ thi công cao: Trước khi ngăn dòng phải thi công các công trình dẫn dòng và sau khi ngăn dòng phải thi công vượt lũ trong thời gian có hạn

1.1.6.3 Tính chất của việc thi công các công trình thủy lợi

- Tính phức tạp: thi công trong điều kiện khó khăn; Liên quan đến nhiều bộ môn khoa học kỹ thuật, nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều địa phương, nhiều người; Phải đảm bảo lợi dụng tổng hợp và tiến hành thi công trong điều kiện khô giáo

- Tính khẩn trương: Do chất lượng đòi hỏi cao, khối lượng lớn, thi công trong điều kiện khó khăn, thời gian thi công ngắn, thời hạn thi công chỉ có được trong mùa khô và yêu cầu đưa công trình vào phục vụ sản xuất

- Tính khoa học: Trong thiết kế đảm bảo vững chắc, thỏa mãn các điều kiện của nhiệm vụ của thiết kế, tiện lợi cho quản lý và khai thác Trong thi công sử dụng nhiều vật tư, máy móc thiết bị, nhân lực, vật lực và phải xử lý giải quyết những vấn đề kỹ thuật Vì vậy nhiệm vụ của người thi công là phải

tổ chức quản lý thi công tốt, giải quyết, xử lý kịp thời và tốt các tình huống kỹ thuật trên công trường

Trang 18

- Tính quần chúng: Công tác thi công công trình thủy lợi yêu cầu có khối lượng lớn, phạm vi xây dựng rộng (công trình đầu mối, kênh mương…) nên phải sử dụng lực lượng lao động rất to lớn do vậy Đảng đưa ra chủ trương

“ Nhà nước và nhân dân cùng làm” (Trong chương trình kiên cố hóa kênh mương, Nhà nước đầu tư kênh chính, kênh cấp 2 còn kênh loại 3 do nhân dân đóng góp thi công)

1.1.6.4 Những nguyên tắc cơ bản trong thi công

- Thống nhất hóa trong thi công: Để đảm bảo nhanh nhiều, tốt, rẻ phải thống nhất hóa trong thi công trên cơ sở các tính chất kỹ thuật, tiêu chuẩn, qui trình qui phạm của nhà nước

- Công xưởng hóa thi công: Là tổ chức sản xuất các chi tiết kết cấu, các bộ phận công trình theo quy định đã thống nhất sau đó lắp ráp tại thực địa

- Cơ giới hóa trong thi công: Là sử dụng máy móc để thi công công trình, nếu tất cả các khâu được cơ giới hóa thì gọi là cơ giới hóa đồng bộ

- Thực hiện thi công dây chuyền: Trong dây chuyền công nghệ sản xuất các khâu dây chuyền do mỗi công nhân hoặc tổ, nhóm phụ trách

- Thực hiện thi công liên tục: nghiên cứu kỹ tiến độ thi công, nắm chắc tình hình khó khăn để có kế hoạch toàn diện, chủ động khắc phục khó khăn

- Tôn trọng đồ án thiết kế: Số liệu kích thước hình học sai trong phạm

vi cho phép Khi phát hiện thiết kế sai phải báo với chủ đầu tư, giám sát để có hướng giải quyết, không được tự ý thay đổi thiết kế

- Làm tốt công tác tổ chức và kế hoạch thi công: Thi công các công trình thủy lợi đòi hỏi phải hoàn thành khối lượng lớn, trong thời gian hạn chế lại gặp điều kiện khó khăn phức tạp và phải đảm bảo chất lượng cao, giá thành hạ do đó phải làm tốt công tác tổ chức và kế hoạch thi công bằng cách:

* Lập kế hoạch tiến độ thi công hợp lý

* Tranh thủ mùa khô, chú trọng công trình trọng điểm

* Kế hoạch phải cụ thể, toàn diện và có biện pháp đối phó với những trường hợp bất lợi có thể xảy ra

Trang 19

* Các bộ phận công trình phải phối hợp chặt chẽ với nhau hướng tập trung vào việc hoàn thành kế hoạch tiến độ

Tóm lại: các nguyên tắc thi công liên quan mật thiết với nhau, phải quán triệt đầy đủ trong các loại công tác, có vận dụng đầy đủ, sáng tạo và linh hoạt vào các điều kiện hoàn cảnh cụ thể thực tế công trường đặt ra

1.2 Sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện ở nước ta

Công trình xây dựng nói chung và công trình thủy lợi, thủy điện nói riêng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và đời sống con người Trong những năm gần đây, hàng năm Chính Phủ đầu tư cho xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi nhiều tỷ đồng Nhiều công trình hoàn thành với chất lượng cao đã phát huy hiệu quả khi đưa vào khai thác sử dụng, tạo diện mạo mới cho đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi Nhìn tổng thể, chất lượng các công trình xây dựng đã có nhiều chuyển biến tốt và không ngừng được nâng cao Tuy nhiên vẫn còn nhiều công trình có chất lượng không tốt và nhiều sự cố công trình gây tổn thất về con người, về kinh tế rất lớn và hậu quả nghiêm trọng đến an sinh xã hội

Khi nói đến công trình thủy lợi, thủy điện công trình đại diện phải nói đến Hồ Chứa, kế sau là trạm bơm, các công trình chỉnh trị sông, biển… Cũng như các công trình xây dựng khác, công trình thủy lợi thường xảy ra những

sự cố ở những thời gian, mức độ và tính chất khác nhau Nhưng những sự cố thường gặp nhất, gây nên tổn thất về người và của nhất, hủy hoại môi trường lớn nhất thì có thể nói là những sự cố xảy ra đối với hồ chứa mà điển hình là: Đập Cửa Đạt (Thanh Hóa năm 2007); Sự cố vỡ đập thủy điện Khe Mơ Hà Tĩnh vào lúc 7 giờ ngày 16/10/2010 Sự cố vỡ đập thủy điện Hố Hô – Hà Tĩnh ngày 6/10/2010 Và vấn đề thời sự nóng bỏng nhất của nước ta khi gần đến mùa mưa bão năm 2012 là sự cố nước thấm ở thủy điện sông Tranh 2 gây tâm

lý hoang mang không tốt cho người dân hạ du

Trang 20

Ảnh 1.4 Sự cố đập Cửa Đạt cao trình 50 đang thi công bị phá hoại do lũ ngày

4/10/2007

Ảnh 1.5 Vỡ đập thủy điện Khe Mơ- Hà Tĩnh năm 2010

Trang 21

Ảnh 1.6 Vỡ đập thủy điện Hố Hô- Hà Tĩnh năm 2010

Ảnh 1.7 Thấm nước qua đập bê tông trọng lực (đầm lăn) thủy điện sông

Tranh 2

Trang 22

Cũng như các sản phẩm công trình xây dựng nói chung và sản phẩm công trình thủy lợi, thủy điện nói riêng là sản phẩm hàng hóa đặc biệt được sản xuất đơn chiếc, phức tạp do nhiều người tham gia: từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia, của vùng, của từng địa phương; Công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; công tác khảo sát; công tác thiết kế; công tác thi công và quản lý khai thác với thời gian dài, khi thi công dưới điều kiện phức tạp… vì vậy việc xảy ra sự cố là khó tránh khỏi mặc dù có đủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định của pháp luật, sự chỉ đạo sát sao của các Ban quản lý nhưng chỉ một sơ xuất của người khảo sát, thiết kế, sự thiếu kiểm tra của người giám sát, người thi công trực tiếp vi phạm các quy trình kỹ thuật… đều có thể dẫn đến sự cố công trình Vấn đề đặt ra là từ thực trạng sự cố công trình, chúng ta cần rút ra được những bài học về nguyên nhân để từ đó đề ra các giải pháp để hạn chế phòng ngừa Như vậy trước hết chúng ta cùng luận bàn và thống nhất về khái niệm sự cố công trình

1.2.1 Khái niệm sự cố

Sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần, toàn bộ công trình hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế

1.2.2 Phân loại sự cố công trình

Qua nghiên cứu khái niệm sự cố theo khoản 29 Điều 3 Luật xây dựng

và Quyết định số 28/2007/QĐ-BXD ngày 28/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Xây Dựng về ban hành hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê sự cố công trình xây dựng thì sự cố được phân loại nhưng chỉ mang tính định tính chứ không định lượng cụ thể Do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về mức độ sự

cố và thậm chí nhầm lẫn giữa sự cố và vi phạm chất lượng hoặc ngược lại Do vậy việc thống kê, phân loại, báo cáo về sự cố chất lượng công trình còn

Trang 23

nhiều hạn chế Mặt khác các sự cố công trình đa phần không muốn phô trương, phanh phui do ý chủ quan của Chủ đầu tư hoặc cơ quan quản lý, cơ quan thiết kế, giám sát… vì nó liên quan trách nhiệm đến nhiều nghành, nhiều người

Vậy để phân tích, tổng hợp, phân loại sự cố cần phải phân loại sự cố công trình cả về định tính lẫn định lượng đảm bảo chính xác và đây là quy định bắt buộc phải thực hiện làm cơ sở cho việc điều tra, xử lí sự cố cũng như việc rút kinh nghiệm trong thiết kế, thi công và quản lý giám sát Về quan điểm cá nhân, tôi cũng đồng thuận với các quan điểm của Quyết định số 28/2007/QĐ-BXD ngày 28/12/2007 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu và chế

độ báo cáo thống kê bảng tổng hợp ngành xây dựng tại chỉ tiêu 25 và có bổ sung thêm về phần định lượng về hai yếu tố thiệt hại con người hoặc kinh tế

và phân loại như sau:

1.2.2.1 Sự cố cấp độ nhẹ: Là công trình hoặc một bộ phận công trình

bị hư hỏng hoặc có dấu hiệu hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép nhưng chưa bị sập đổ hoặc bị phá hoại Chia ra:

* Về kinh tế: Gây thiệt hại có giá trị từ (5 ÷ 10)% giá trị xây lắp, thiết

bị công trình

* Về ảnh hưởng đến con người: Làm trọng thương từ 01 đến 05 người

Còn dưới mức độ trên thì là có sai sót về mặt chất lượng

1.2.2.2 Sự cố cấp độ vừa: Là một bộ phận kết cấu, bộ phận công trình

bị sập đổ hoặc bị phá hoại, đe dọa tính mạng của người hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Chia ra:

* Về kinh tế: Gây thiệt hại có giá trị từ (11 ÷ 15)% giá trị xây lắp, thiết

bị công trình

* Về ảnh hưởng đến con người: Làm trọng thương từ 6 người trở lên hoặc gây chết từ 1 đến 3 người

Trang 24

1.2.2.3 Sự cố cấp độ nghiêm trọng: là công trình bị sập đổ hoàn toàn hoặc một bộ phận công trình bị sập đổ, bị phá hoại gây thiệt hại về người và gây ô nhiễm môi trường Chia ra:

* Về kinh tế: Gây thiệt hại có giá trị từ 16 % giá trị xây lắp, thiết bị công trình trở lên

* Về ảnh hưởng đến con người: Làm trọng thương từ 7 người trở lên hoặc gây chết lớn hơn 3 người

1.2.2.4.Đối với công trình thủy lợi, thủy điện: cũng phân loại theo mức

độ như trên và đối với từng loại công trình có những đặc điểm riêng và hình thức phân loại sự cố riêng, qua tài liệu tổng hợp các sự cố công trình thủy lợi, thủy điện chia ra các loại sau:

a) Đối với đập đất: Thường xảy ra 11 loại sự cố:

* Lũ tràn qua đỉnh đập;

* Sạt mái đập thượng lưu;

* Thấm mạnh hoặc sủi nước ở nền đập;

* Thấm mạnh hoặc sủi nước ở vai đập;

* Thấm mạnh làm xói rỗng ở mang công trình;

* Thấm mạnh hoặc sủi nước trong phạm vi thân đập;

* Nứt ngang đập;

* Nứt dọc đập;

* Nứt nẻ sâu mặt hoặc mái đập;

* Trượt sâu mái đập thượng;

* Trượt sâu mái đập hạ lưu

b) Đập Tràn xả lũ: Thường xảy ra 9 loại sự cố như sau:

* Lũ vượt qua đỉnh đập tràn;

* Thấm qua nền;

* Thấm qua thân đập;

Trang 25

* Đập bị trôi hoặc gãy;

* Xói tiêu năng;

d) Trạm bơm: Có 4 loại sự cố thường gặp:

* Chọn sai vị trí; Tính toán thủy văn sai;

* Lún nền;

* Gãy móng trạm bơm;

* Thấm nước tầng máy bơm

Từ những khái niệm, phân loại sự cố thống nhất như trên, căn cứ thực

tế các sự cố các công trình đã xảy ra trong quá trình thi công qua các thời kỳ chúng ta thống nhất một số đặc điểm về sự cố như sau:

1.2.3 Đặc điểm về sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện

- Do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có khảo sát (Khảo sát địa hình, địa chất, địa chất thủy văn, thủy văn công trình) thiết kế (Thủy công, cơ khí, điện), chế tạo, lắp đặt, thi công và quản lý khai thác Trong các

Trang 26

khâu trên thì sự cố công trình thủy lợi thường xảy ra đối với các khâu: Khảo sát, thiết kế, thi công và chế tạo lắp đặt

- Sự cố có thể xảy ra trong quá trình thi công và sau khi hoàn thành công trình đưa vào sử dụng Các sự cố ở cấp độ nghiêm trọng thường xảy ra khi gặp lũ cực lớn và trong quá trình thi công hoặc ở năm tích nước đầu tiên,

xả lũ đầu tiên Trong quá trình quản lý, vận hành những sự cố nhỏ không được xử lý hoặc xử lý không triệt để dẫn đến phát triển thành lớn

- Sự cố xảy ra bất kỳ hạng mục công trình nào từ thủy công đến cơ điện Nhưng sự cố thường xảy ra với các công trình thủy công

- Sự cố công trình thủy lợi thường gây hậu quả lâu dài, trên diện rộng, việc khắc phục thường phức tạp và tốn kém Sự cố ở cấp độ nghiêm trọng thường xảy ra đột ngột trong thời gian ngắn không kịp ứng phó

- Hậu quả do sự cố ở cấp độ nghiêm trọng gây ra thường phải xử lý rất tốn kém, gây ra tổn thất lớn về tài sản, tính mạng của nhân dân và quốc gia; đối với các sự cố nghiêm trọng còn ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, xã hội

1.2.4 Sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện:

Công trình thủy lợi, thủy điện là công trình thuộc kết cấu hạ tầng, nó phải luôn luôn đi trước một bước để phục vụ các nghành kinh tế xã hội khác phát triển Trong những thế kỷ qua các nước trên thế giới cũng như Việt Nam

đã và đang tập trung xây dựng phát triển công trình thủy lợi, thủy điện; nguồn vốn đầu tư cho công trình thủy lợi, thủy điện rất lớn; hiệu ích của các công trình mang lại là không thể phủ nhận; nhưng thực tế trong quá trình tổ chức xây dựng các công trình, công tác quản lý, giám sát chất lượng vẫn còn nhiều tồn tại dẫn đến một số công trình xảy ra sự cố làm thiệt hại đến kinh tế, con người và ổn định xã hội, số liệu dưới đây minh chứng cho vấn đề nêu trên

1.2.4.1 Về tình hình sự cố công trình thủy lợi, thủy điện trên thế giới[2]

:

- Ở Malaysia năm 1961 vỡ đập Kua la Lumpur làm chết 600 người

Trang 27

- Ngày 9/10/1963 xảy sự cố trên đập Vayon ở nước Ý Trong hồ chứa

có một khối núi với thể tích khoảng 0,25 km3 đã bị sạt lở xuống lòng hồ làm trên 50 triệu m3nước tràn qua đập Một sóng nước với chiều cao 90m trong vòng 15 phút đã cuốn trôi nhiều điểm dân cư làm 2.000 người thiệt mạng

Nguyên nhân sạt lở núi là do mực nước ngầm dâng cao sau khi xây dựng đập

- Ở Italia năm 1963, đập bê tông trọng lực dạng vòm Vaiont cao 265m

bị sạt lở bờ, khoảng 300 triệu m3 đất đá rơi xuống lòng hồ tạo cột sóng vượt trên đỉnh đập 100m làm chết 2.600 người ở hạ lưu

- Ở Indonesia năm 1967 vỡ đập Sampot cao 60m làm chết 200 người

- Ở Philippine năm 1976 vỡ đập S.Tomas cao 43 m làm chết 80 người

- Năm 1976, ở Mỹ đập Teton cao 93 m, dung tích 300 triệu m3 bị vỡ Nguyên nhân do mưa lũ lớn, nước hồ lên nhanh Ngày 03/06/1976 xuất hiện thấm ở chân đập; đến ngày 4/06/1976 xuất hiện thêm thấm ở bờ phải; Ngày 5/6/1976 thấm cả ở thân đập và hình thành vết nứt rồi vỡ đập vào 11 giờ 30 phút Vỡ đập làm phá hủy nhà cửa của 25.000 người, nhiều công trình bị hư hỏng, đồng ruộng bị ngập lụt… thiệt hai ước tính khoảng 400 triệu đô la

- Năm 1979 tại Ấn Độ vỡ đập Machuchet làm chết 2.000 người; năm

1961 vỡ đập Panhet cao 49 m làm chết 1.000 người

- Ở Pháp đập bê tông trọng lực dạng vòm Malpasset cao 66 m làm chết

420 người

- Năm 1994 tại vùng Beloretski của Liên Bang Nga đập Tirlanski bị vỡ làm cho 8,6 triệu m3nước xả xuống hạ lưu ngoài ý muốn làm cho 85 ngôi nhà

bị phá hủy hoàn toàn, 200 ngôi nhà khác bị hư hỏng Có 29 người thiệt mạng

- Ngày 18/8/2002 tại cộng hòa liên bang Đức, lũ lớn về trên sông Enbo làm 7 đập ngăn bị vỡ Nước tràn vào thành phố làm cho 40.000 người phải sơ tán khẩn cấp, 45 người thiệt mạng

- Trong đêm 11/2/2005 tại tỉnh Belutgistan thuộc Pakitstan do mưa lớn đột ngột làm vỡ 150m đập thủy điện Pasnhi dẫn đến 135 người thiệt mạng

Trang 28

- Ngày 17/8/2009 xảy ra sự cố tại nhà máy thủy điện Sayano- Shushens khi đang tiến hành sửa chữa tổ máy số 02, do áp lực nước va tăng đột ngột làm toàn bộ buồng xoắn của máy bị phá hỏng, các thiết bị nặng khoảng 900 tấn bị đập nát và hất văng Nước tràn vào nhà máy phá hỏng 3 tổ máy khác

Sự cố làm 75 người thiệt mạng

1.2.4.2 Về tình hình sự cố công trình thủy lợi, thủy điện tại Việt Nam: Tại Việt Nam tính đến năm 2009, cả nước đã xây dựng hơn 2100 hồ chứa có dung tích mỗi hồ từ 0,5 triệu m3 trở lên với tổng dung tích trữ nước gần 41 tỷ m3

, khai thác được trên 8000 MW điện, chiếm gần 40% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia; bảo đảm nước tưới cho trên 50 vạn hécta, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và năng lượng cho Đất nước Hiện đang xây dựng khoảng gần 240 hồ, tổng dung tích hơn 21 tỷ m3

, công suất lắp máy gần 9.000 MW và trên 500 hồ đã có quy hoạch sẽ được xây dựng trong vài năm tới , tổng dung tích gần 4 tỷ m3, công suất lắp máy hơn 4.200 MW[3]

Trong các loại hình đập tạo hồ thì đại đa số là đập đất (đối với các công trình thủy lợi vừa và nhỏ), một số ít đập đá và đập bê tông, bê tông đầm lăn (đối vơi các công trình thủy lợi, thủy điện lớn: Hòa Bình, Định Bình, Sơn La, Cửa Đạt )

Các hồ chứa chủ yếu tập trung ở miền Trung và Tây nguyên khoảng 80% còn lại là ở miền núi và trung du Bắc Bộ Trong lịch sử xây dựng các hồ chứa nước ở nước ta thì những sự cố xảy ra đa số xảy ra ở những hồ chứa vừa

và nhỏ và với đập dâng nước là đập đất, còn các hồ lớn thì sự cố xảy ra ít hơn Vấn đề thời sự hiện nay là sự cố thấm nước qua đập bê tông trọng lực, công nghệ bê tông đầm lăn thủy điện sông Tranh II là vấn đề nóng trên các diễn đàn và đối với nhân dân tỉnh Quảng Nam Sự việc trên cho thấy vấn đề quản

lý chất lượng, giám sát và hệ thống Tiêu chuẩn áp dụng đối với việc thiết kế, thi công và nghiệm thu bê tông đầm lăn của Quốc gia còn chưa theo kịp nhu cầu phát triển công nghệ Bảng 1-2 dưới đây sẽ cho ta thấy thống kê sơ bộ

Trang 29

chưa đầy đủ các sự cố công trình thủy lợi, thủy điện tại Việt nam từ khi xây dựng đến nay:

Bảng 1-2 Thống kê sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện Việt Nam

TT Tên công trình Năm Hình thức sự cố Địa Điểm

1 Đập Đáy 1940 Kẹt cửa van không đóng mở được Hà Nội

2 Đập Suối Trầu

1977-1983

Vỡ đập đất dâng nước Khánh Hòa

3 Đập Sông Mực 1980 Sạt mái kênh dẫn vào đập tràn;

Vỡ đập trong khi thi công

1982 Đặt cánh phai ngược chiều chịu

lực khi thi công

Quảng Ninh

6 Hồ thủy điện Phú

Ninh

1984 Đập đất bị sủi; cửa cống bị kẹt Quảng Nam

7 Đập Dầu Tiếng 1986 Hỏng gối đỡ cửa van cung Tây Ninh

8 Đập Suối Hành 1986 Vỡ đập đất dâng nước Khánh Hòa

9 Đập Vực Tròn

1986-1994

Xói lở đập tràn sự cố; thấm nước qua đập đất

Trang 30

Ngoài ra các công trình thủy lợi khác như: Đê sông; đê biển; các trạm bơm; các cống ngăn mặn, lấy nước, điều tiết cũng thường xảy ra sự cố:

- Trên hệ thống Bắc Hưng Hải: Cống Báo Đáp, cống Cầu Xe, cống Kênh Cầu bị xói lở đáy hạ lưu từ 1 đến 4 m do vận hành sai quy trình trong quản lý, khai thác

- Trên hệ thống đê sông: Những sự cố sạt mái trong đê; nứt dọc thân đê; sạt kè chắn sóng, kè mỏ hàn…

- Trên hệ thống thủy lợi nội đồng: các sự cố công trình như trạm bơm, cống lấy nước, cầu máng, các kênh tưới của các trạm bơm lớn cũng thường xảy ra nhưng mức độ thiệt hại không lớn

1.2.4.3.Giới thiệu tóm tắt một số sự cố hư hỏng của công trình thủy lợi[4]

:

a) Đập Đáy: Là công trình phân lũ sông Hồng vào sông Đáy, nằm tại dòng chính sông Đáy thuộc huyện Đan phượng tỉnh Hà Tây (Hà Nội ngày nay) Công trình do người Pháp thiết kế và xây dựng từ năm 1929 đến 1937 thì hoàn thành Công trình có nhiệm vụ phân lũ sông Hồng vào sông Đáy bảo

vệ Thủ Đô Hà Nội và các tỉnh hạ du Lưu lượng phân lũ thiết kế từ (2.200

÷3.800) m3/s Đập đáy gồm 7 khoang, mỗi khoang rộng 33,75m Cửa van đập dạng hình mái nhà có 2 mái, mái trước ngắn và mái sau dài

Từ khi xây dựng đến năm 1947 đã phân lũ thử nghiệm 3 lần và phân lũ thật 3 lần Trong 3 lần phân lũ chính thức thì cửa đập Đáy hoặc là không đóng được, hoặc là bị oằn do không đủ cường độ chịu lực Dẫn đến xói lở phần tiêu năng hạ lưu đập

b) Đập hồ Suối Trầu:

Hồ chứa nước Suối Trầu được xây dựng trên Suối Trầu Đầu mối công trình đặt tại xã Ninh Xuân, huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa Hệ thống công trình thủy lợi Suối Trầu gồm: 1 đập dâng chính, phụ bằng đập đất đồng chất;

Trang 31

một tràn xả lũ; một cống lấy nước; và hệ thống kênh tưới chính 10 km tưới cho 1.000 ha

Sự cố lần 1: xảy ra lúc 2 giờ ngày 12/11/1977 Đầu tiên xuất hiện lỗ rò nhỏ nước đục ở cạnh mang cống hạ lưu Sau xuất hiện thành dòng đường kính

2 mét ở 2 bên mang cống, nước chảy bắn xa hàng chục mét và cuối cùng đỉnh đập bị sập và đập vỡ

Sự cố lần 2: xảy ra từ ngày 2/11÷3/11/1978 mưa lớn do cơn bão số 14 gây ra Mực nước trong hồ lên cao hơn MNLTK là 0,54(m) trong 2 ngày Sáng ngày 4/11/1978 xuất hiện lỗ rò từ thượng lưu về hạ lưu kéo theo bùn cát chảy khá mạnh Đến 7 giờ 30 phút ngày 4/11/1978 xuất hiện thêm một lỗ rò bên trái tháp cống Đến 12 giờ 30 phút xuất hiện thêm một lỗ rò sát tháp cống Đến 4 giờ 15 phút ngày 5/11/1978 đỉnh đập bị sập sau 1 tiếng nổ lớn

Sự cố lần 3: ngày 18/11/1979 sau trận mưa 400 mm, đến 4 giờ ngày 19/11/1979 xuất hiện một lỗ rò trên mái đập hạ lưu và phát triển mạnh thành

lỗ đường kính khoảng 100 cm

Sự cố lần thứ 4: xảy ra vỡ đập phụ vào năm 1982

c) Hồ chứa nước Suối Hành: nằm tại xã Cam Phước, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa

Hệ thống công trình đầu mối gồm: Đập đất dài L=440m, cao

Hmax=24m; Một cống lấy nước dưới đập khẩu độ Bx H = 1 x 1,25 (m); Một tràn xả mặt không cửa rộng 30 m

Từ ngày 1/12/1986 ÷ 2/12/1986 có trận mưa với cường độ 468 mm làm nước trong hồ tăng lên 7,2 m trong vòng 12 tiếng đồng hồ Vào lúc 2 giờ 15 phút đêm 3/12/1986 sau tiếng nổ lớn, đập bị vỡ một đoạn sát cống lấy nước Ngoài ra còn phát hiện 3 hang ngầm ở vai phải của đập đường kính 20÷ 30(cm) từ hạ lưu ăn sâu vào thân đập

Trang 32

Nguyên nhân do vật liệu đắp đập không đúng, mưa lớn làm mực nước trong hồ tăng nhanh (1m/1,5 giờ) làm áp lực tăng đột ngột, chân khay chống thấm thiết kế và thi công không đạt yêu cầu và đến năm 1987 đập lại bị vỡ tại lòng khe bờ tả

d) Hệ thống Nam Thạch Hãn: Hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn (Quảng Trị) gồm 1 đập đất dâng nước, một đập tràn xả lũ bằng bê tông cốt thép, một cống lấy nước, 1 âu thuyền và 7 đập phụ Nhiệm vụ chính là cấp nước tưới cho 17.000 ha

Một số sự cố xảy ra: Nước trong cống rò rỉ qua cửa van ( 2 m3

đ) Hồ chứa nước sông Mực:

Đầu mối hồ chứa nước Sông Mực xây dựng trên sông Mực thuộc xã Hải Vân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa Hồ có nhiệm vụ tưới cho 11.500

ha, cắt lũ giảm úng lụt cho 4.500 ha, phát điện với công suất 1.500 Kw Công trình gồm 1 đập đất đồng chất cao 38m; tràn xả lũ kiểu tự do chiều rộng B=10m; cống lấy nước có khẩu độ Bx H=2,5 x 2,5 (m); Cao trình ngưỡng tràn bằng MNDBT = +33,0(m)

Công trình bị sự cố vỡ đập trong thời gian thi công, sạt lở nghiêm trọng

ở mái kênh dẫn vào tràn và ngưỡng tràn xả lũ

Nguyên nhân là do kênh dẫn dòng nhỏ, nên lũ đạt tới cao trình +22,7 (m) đã vượt quá cao trình đỉnh đập đắp đợt 1 Thứ hai sạt lở mái kênh dẫn vào đập tràn là do khảo sát không kỹ, thiết kế mái m=1 ÷ 1,5 không phù hợp với địa chất

e) Hồ Chứa nước Yên Lập:

Trang 33

Hồ Yên Lập được xây dựng tại huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh có nhiệm vụ cấp nước cho 10.067 ha và từ 10 ÷ 11 triệu m3 nước/ năm cho dân sinh và công nghiệp

Cụm công trình đầu mối gồm đập đất cao 37m, chiều dài đỉnh đập 270m; cống lấy nước kết hợp dẫn dòng thi công 2 khoang kích thước: n x B

xH = 2 x 6,5 x 6,5 (m);

Tràn xả lũ có 3 cửa van kích thước mỗi cửa là 8 x 6 (m); Hai đập phụ

là đập Nghĩa Lộ và đập Dân Chủ

Sự cố xảy ra như sau:

Ngày 9/10/1982 khi hồ đang tích nước ở cao trình +27,8 (m) thấp hơn MNDBT 1,7(m) thì xảy ra sự cố cống lấy nước kết hợp dẫn dòng thi công Các phai chắn cửa vào cống dẫn dòng bị gãy đột ngột và nghe một tiếng nổ lớn làm sụt mái gia cố thượng lưu, nứt tháp cống, hỏng khớp nối cống, đuôi cống bị xói, kênh hỏng

Nguyên nhân do lắp đặt cánh phai ngược chiều chịu lực khi thi công lắp ráp ( do khi lắp đặt cán bộ công trường không truyền đạt rõ ý cho công nhân thực hiện mặc dù đã đánh dấu “T” là mặt trước, “S” là mặt sau) Phai có

5 thanh Ø30 cần đặt về phía hạ lưu theo thiết kế, thi công, nhưng khi thi công lắp đặt lại đặt về phía thượng lưu

f) Đập Cà Giây:

Đầu mối hồ cà Giây được xây dựng tại huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận Công trình gồm đập đất cao H=25,4m, dài L= 790,5 m Tràn xả lũ kiểu tự do với B=25m, một cống hộp lấy nước có kích thước Bx H= 1,8 x 2,0 (m) Hồ có nhiệm vụ cấp nước cho 3.965 ha

Sự cố xảy ra lức 8 giờ ngày 15/10/1998 ( đang trong giai đoạn thi công) Khi MNTL ở cao trình +72,9 (m) thấp hơn MNDBT là 1,8(m), chân mái hạ lưu tại cọc B26 nối tiếp giáp với địa hình tự nhiên có 3 lỗ rò với lưu

Trang 34

lượng từ 5 ÷ 7 ( lít/phút) Cống tràn đã thi công xong, đập đã xong cơ bản Mỗi lúc nước rò càng lớn kéo trôi theo bùn đất dẫn đến vỡ đập

Nguyên nhân do sập nền, lún nền, thẩm lậu qua mặt tiếp giáp giữa các đợt thi công khác nhau Mặt khác lũ thực tế ( với mưa 412mmm, tương ứng với lượng lũ lớn nhất là 1.350m3

/s xảy ra vào ngày 28/10/1952) đã lớn hơn lưu lượng lũ thiết kế P=1% là 847 m3

/s

g) Hồ Dầu Tiếng: Hồ Dầu xây dựng trên sông Sài Gòn thuộc tỉnh Tây Ninh Hồ có nhiệm vụ tưới nước cho 172.000 ha, ngăn lũ về mùa mưa, bổ sung nước về mùa kiệt cho sông Sài Gòn cải tạo môi trường khí hậu Hệ thống công trình đầu mối gồm đập chính bằng đất cao 30m, dài 1.100 m; đập phụ cao từ 6 ÷ 8 (m), dài 29.054 m; tràn xả lũ có 6 cửa kích thước B x H = 10

x 6 (m), cửa van cung bằng thép; có 2 cống lấy nước

Sự cố xảy ra như sau: Vào 0 giờ 50 phút ngày 9/1/1986, khi MNTL đang ở cao trình +23,38(m), tai van gối đỡ số 3,4 bị đứt rời khỏi khung càng néo, khối đỡ bê tông của trụ pin phía sau gối bị cắt đứt khỏi trụ và bị đứt văng

về hạ lưu Đoạn cầu công tác ở khoang số 3,4 cũng bị sập đẩy trôi về hạ lưu Nước hồ xả xuống sông Sài Gòn với lưu lượng 500 (m3/s) Sự cố trên làm thiệt hại 3.452 ha lúa mùa, 1.144 ha lúa đông xuân, 1.197 ha hoa màu, 871 vườn cây ăn trái, 3.114 ngôi nhà

Nguyên nhân chính là do sai sót thiết kế gối đỡ, trụ pin và thi công kém chất lượng

h) Hồ Cửa Đạt: được xây dựng tại xã Xuân Mỹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá Hồ có nhiệm vụ:

- Giảm lũ với tần suất P=0,6%, đảm bảo mực nước tại Xuân Khánh không vượt quá +13,71 m

- Cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt với lưu lượng Q= 7,715 m3

/s

Trang 35

- Tạo nguồn nước tưới ổn định cho 86.862 ha đất canh tác vùng Nam sông Chu và Bắc sông Chu

- Kết hợp phát điện với công suất máy 97 MW Đồng thời, công trình còn có nhiệm vụ là bổ sung nước mùa kiệt cho hạ lưu sông Mã để đẩy mặn, cải tạo môi trường sinh thái với lưu lượng Q=30,42 m3

/s

Công trình đầu mối thủy điện Cửa Đạt gồm các hạng mục: Đập chính, Tràn xả lũ, Tuy nen TN2, Đập phụ Hón Can và đập phụ Dốc Cáy Khu đập chính có Đập chính, Tràn xả lũ và Tuy nen TN2 Đập chính công trình đầu mối thuỷ lợi Cửa Đạt có chiều cao 115,3 m, dài khoảng 1 km, chiều rộng mặt đập B=10m, được thiết kế, thi công theo công nghệ đập đá đổ đầm nện, chống thấm bằng bê tông bản mặt Tràn xả lũ kết cấu bê tông cốt thép, với hình thức

xả mặt, tiêu năng mũi phun, lưu lượng xả lớn nhất ứng với tần suất P= 0,1% là: 8.200 m3/s Kết cấu tràn có 5 khoang kích thước mỗi khoang là (11 x 17) m; kiểu cửa bằng van cung thép, đóng mở bằng xi lanh thuỷ lực; phai sửa chữa bằng thép, nâng hạ bằng cầu trục có sức nâng 30 tấn Ngoài Đập chính

và Tràn xả lũ, Khu Đập chính còn có Tuy nen TN2, một hạng mục cũng hết sức quan trọng để phục vụ thi công Tuy nen dài 820 m, mặt cắt ngang điển hình đường kính 9m, có kênh dẫn thượng lưu, cửa vào và tháp vận hành rất hợp lý Tuy nen TN2 có nhiệm vụ chủ yếu là: Trong quá trình thi công đảm bảo cấp nước cho hạ du với lưu lượng bằng hoặc lớn hơn 50 (m3

/s) và làm nhiệm vụ dẫn dòng

Sự cố xảy ra trong lúc thi công như sau: Sau nhiều ngày mưa lớn trên khu vực tỉnh Thanh Hóa, ngày 5/10/2007 nước lũ đổ về trên dòng sông Chu quá lớn làm vỡ đoạn đập chính với chiều dài 50 m ở cao trình +50(m) Thiệt hại vỡ đoạn đập chính làm 3 người thiệt mạng và 30 người phải bám cây kêu cứu suốt đêm và làm ngập lụt toàn bộ hạ du; về kinh phí ước tính khoảng 200

tỷ đồng

Trang 36

i)Sự cố đập thủy điện Thác Mơ: Nhà máy thủy điện Thác Mơ được xây dựng trên sông Bé thuộc xã Đức Hạnh, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước

Hồ chứa có nhiệm vụ cấp nước tưới, kiểm soát lũ ở hạ lưu và phát điện với công suất 600kwh Hồ có đập dâng cao 50m, chiều rộng đỉnh đập 7m, đập tràn xả lũ dài 44m

Sự cố xảy ra lúc 7 giờ sáng ngày 16/10/2010 làm vỡ đập Nguyên Nhân

là do đập được xây dựng đã lâu bị xuống cấp nghiêm trọng

J) Hồ chứa thủy điện Hố Hô: Hệ thống máy phát điện nằm trên địa phận xã Hương Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình, còn diện tích mặt nước thuộc địa phận huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh Công trình được khởi công xây dựng từ năm 2004 và đến tháng 4-2010 đã đưa vào vận hành một tổ máy

Sự cố xảy ra vào ngày 3/10/2010 khi có mưa lớn xảy ra, làm kẹt cửa van xả lũ dẫn đến mực nước trong hồ dâng cao ( Tăng lên 6 m trong vòng 2 giờ) và làm cho nước tràn qua đỉnh đập làm hư hỏng toàn bộ nhà máy thủy điện Lũ dâng cao làm thiệt mạng 3 người và nhiều nhà bị ngập lụt và nhiều

người dân phải đi sơ tán Về kinh tế ước tính khoảng 20 tỷ đồng

k) Đập thủy điện sông Tranh 2: Được xây dựng tại xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam Nhiệm vụ chính của thủy điện sông Tranh II là phát điện với công suất lắp máy 190 MW Ngoài ra thuỷ điện Sông Tranh 2 sẽ góp phần làm tăng lưu lượng nước đang thiếu về mùa kiệt cho hạ du, đáp ứng nhu cầu cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; tham gia cắt lũ cho

hạ lưu sông Thu Bồn Đập dâng nước là đập bê tông trọng lực, công nghệ bê tông đầm lăn có chiều cao 96m, chiều dài 640m được chia thành các khoang rộng 20m, ngăn cách nhau bằng các khe nhiệt ( Toàn bộ đập có 30 khe nhiệt)

Sự cố xảy ra như sau: Hồ Sông Tranh 2 đã tích nước đến mức nước dâng bình thường (+ 175m) theo thiết kế vào ngày 3/11/2011 Hiện tại, đập dâng vẫn đang được thi công hoàn thiện Đến đầu tháng 2/2012, khi thấy xuất

Trang 37

hiện thấm nước trong các hành lang thu nước và thấm ra hạ lưu đập, các đơn

vị thi công trên công trường đã tiến hành xử lý thấm nhưng chưa có hiệu quả Hiện tại theo các chuyên gia do đạc nước vẫn còn chảy ra hạ lưu đập với lưu lượng 75 lít/ giây Hiện nay các tổ chức, nhà khoa học, hội đập lớn Việt Nam đang tiến hành kiểm định đánh giá chất lượng công trình và tìm ra nguyên nhân sự cố để có biện pháp xử lí kịp thời

l) Theo cục giám định Nhà nước: Sự cố vỡ đập ngăn nước tưới của hai

xã Hợp Tiến, Hợp Lý của huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa vào hồi 1 giờ 30 phút ngày 26/09/2009 làm 2 người chết gây sạt lở đất và hư hỏng 700 ha cây

vụ Đông Kè đê biển tại Quảng Nam xây dựng trên 2 xã Duy Hải và Duy Nghĩa ngày 30/09/2009 bị sóng đánh vỡ có đoạn sập xuống thành sâu từ 1 đến

1,5m Hồ chứa nước đập Z20 xây dựng tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh

Sự cố xảy ra lúc 4 giờ ngày 05/06/2009 vỡ đập chắn nước làm hư hỏng cống thoát nước của đường sắt Bắc Nam gây ắch tắc giao thông

1.3 Nguyên nhân gây ra sự cố công trình thủy lợi, thủy điện

Hệ thống công trình thủy lợi, thủy điện gồm nhiều hạng mục hợp thành Trong thi công, một công trình có thể sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau

để xây dựng lên công trình, cụ thể được chia ra làm 3 loại cơ bản: Thi công công trình xây lát và bê tông, bê tông cốt thép; Thi công công trình đất; Thi công lắp đặt các máy móc thiết bị

Có nhiều nguyên nhân gây ra sự cố công trình thủy lợi như: Khảo sát; nguyên nhân thiết kế; nguyên nhân do thi công; nguyên nhân do quy trình bảo trì, vận hành sử dụng khai thác

Nội dung nguyên nhân xảy ra sự cố các công trình thủy lợi, thủy điện

có rất nhiều và với mỗi loại công trình lại có những nguyên nhân khác nhau Trong khuôn khổ đề tài em tập trung phân tích, làm rõ nguyên nhân dẫn đến

sự cố trong thi công xây dựng công trình đất

Trang 38

1.3.1 Nguyên nhân do khảo sát

1.3.1.1 Nguyên nhân do khảo sát địa chất công trình

- Đánh giá sai các chỉ tiêu cơ lý của đất đắp đập;

- Có sai sót nghiêm trọng trong việc đánh giá địa chất nền đập, dẫn đến khi thi công không xử lý dẫn đến gây thấm lớn, tạo nứt gãy cho đập;

- Trong quá trình thi công khảo sát không thực hiện nghiêm túc các quy trình, quy chuẩn, quy phạm thi công và nghiệm thu ví dụ: Về lưới các hố khoan, đào; chiều sâu hố khoan không đủ; quy cách lấy mẫu không đúng

- Khi khảo sát các mỏ đất: Không đánh giá chính xác trữ lượng đất của từng mỏ; tính chất cơ lý của từng vùng đất trong mỏ dẫn đến thiết kế đắp đập sai, quy về đập đồng chất

- Do khảo sát và thí nghiệm không đúng đề cương và quy phạm dẫn đến không phân loại được đất Từ đó xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất không đại diện cho mỏ đất đắp đê, đập Đặc biệt đối với đất đắp đập ở miền Trung việc thí nghiệm xác định ba chỉ tiêu quan trọng của đất là độ tan rã, độ lún ướt

và độ trương nở rất quan trọng để xác định được tính Hoàng thổ của các bãi đất để xác định chất lượng đất đắp đập và dung trọng khô thiết kế

1.3.1.2 Do khảo sát địa chất thủy văn công trình

- Khi thu thập tài liệu thủy văn chưa đầy đủ, đại diện cho lưu vực của lòng hồ;

- Không điều tra kỹ các trận lũ lịch sử từ thời xa xưa không có sử sách ghi lại

- Khảo sát các núi đá nằm trong lòng hồ chưa đánh giá hết khả năng chịu tải khi nó ngâm trong nước ( Ví dụ như việc núi đá đổ xuống lòng hồ tạo cột sóng cao tới hàng 100 m làm nước tràn quan đỉnh đập…);

- Khảo sát mực nước ngầm trong đất, đá; và ảnh hưởng của mực nước ngầm dâng cao khi hồ tích nước…;

Trang 39

1.3.1.3 Do khảo sát địa hình

- Không khảo sát chi tiết các vị trí thay đổi đột ngột của địa hình (sườn đồi, vách núi; các vị trí lòng sông, ao hồ, đầm…)

- Xác định vị trí tim tuyến công trình chưa chính xác

1.3.2 Nguyên nhân do thiết kế

- Không kiểm tra, xác minh lại các tài liệu khảo sát do đơn vị khảo sát bàn giao cung cấp (chủ quan) do vậy khi thiết kế không phù hợp với thực tế;

- Chọn sai dung trọng khô thiết kế đắp đập;

- Việc đơn giản hóa trong thiết kế, không tính toán đầy đủ các trường hợp xảy ra, quy đồng vào cùng một loại (ví dụ có nhiều mỏ đất có thông số kỹ thuật khác nhau, trữ lượng khác nhau lại quy về cùng một loại đất Lẽ ra trong thiết kế đắp đê, đập theo kiểu nhiều khối nhưng lại đưa về đồng chất để giảm khối lượng tính toán;

- Không có biện pháp thiết kế xử lý độ ẩm thích hợp cho đất đắp đê, đập vì có nhiều loại đất có độ ẩm khác nhau, bản thân độ ẩm lại thay đổi theo thời tiết, nên nếu người thiết kế không đưa ra giải pháp sử lý độ ẩm thích hợp

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầm nén và dung trọng của đất Điều này

dẫn đến kết quả trong thân đập còn tồn tại nhiều dung trọng khô khác nhau

- Một số đơn vị tư vấn thiết kế hiện nay đặc biệt là các công ty TNHH không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng Thiết kế chỉ chạy theo số lượng

và giá trị kinh tế thu về trước mắt

- Công tác giám sát quyền tác giả của các đơn vị tư vấn thiết kế còn hạn chế, không thường xuyên liên tục

1.3.3 Nguyên nhân do thi công

- Không kiểm tra, tính toán lại các chỉ tiêu cơ lý, độ ẩm của đất đắp đập trước khi tiến hành thi công để từ đó kiến nghị với Chủ đầu tư, Tư vấn thiết

kế biện pháp thi công phù hợp đảm bảo kinh tế, kỹ thuật

Trang 40

- Đơn vị thi công không xây dựng quy trình tự quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISOO-9001

- Bóc bỏ lớp đất thảo mộc không hết theo thiết kế Chiều dày lớp rải không đúng tiêu chuẩn theo thí nghiệm hiện trường; xử lí tiếp giáp 2 lớp đất với nhau còn xem nhẹ nên tạo khe thi công dẫn đến thấm nước qua đập

- Biện pháp xử lí độ ẩm không đảm bảo yêu cầu chất lượng

- Xử lí nối tiếp đập với bờ (vai đập); nối tiếp công trình bê tông (Cống lấy nước, tràn xả lũ…) chưa đúng quy trình, quy phạm, dưới tác dụng của áp lực nước sinh biến dạng không đều trong thân đập sinh các khe nứt dần dần chuyển thành những dòng xói phá hoại toàn bộ thân đập

- Do chất lượng công tác thi công đắp đập Khối đất đắp bị phân tách từng lớp, có các lớp kẹp, độ ẩm đất không đều, độ chặt kém và không đồng đều, các chỉ tiêu đạt thấp so với yêu cầu thiết kế

- Thi công mở móng không đúng yêu cầu thiết kế (để giảm bớt khối lượng thi công đào đắp…) dẫn đến khi đắp không đảm bảo yêu cầu

- Đầm đất không đảm bảo dung trọng khô thiết kế; trong thi công thực hiện không đúng quy trình quản lí chất lượng (không lấy mẫu kiểm tra thí nghiệm tại hiện trường thường xuyên; không hoàn thiện hồ sơ hoàn công theo thực tế thi công; biên bản nghiệm thu không thực hiện tại hiện trường…)

- Thi công 2 khối đập cách nhau quá xa, xử lí tiếp giáp hai khối đập không tốt dẫn đến lún không đều, xuất hiện vết nứt giữa hai khối

1.3.4 Do công tác quản lí chất lượng

- Khi giao thầu, đấu thầu: năng lực về tài chính, kinh nghiệm thi công, máy móc thiết bị của nhiều nhà thầu còn nhiều bất cập không đáp ứng yêu cầu công nghệ của dự án Việc tổ chức đấu thầu, giao thầu còn phụ thuộc nhiều vào mệnh lệnh hành chính, vào sự can dự không bằng chứng của các cá nhân,

tổ chức có quyền lực

Ngày đăng: 15/03/2019, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w