đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người và cả xã hội loàingười.Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, nhưng trước khi tâm lý học ra đờivới tư cách mộ
Trang 1GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG à Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC
Thế giới tâm lý của con người vô cùng diệu kỳ và phong phú, được loài người quantâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại Từ những tư tưởngđầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, tâm lý học đã hình thành, phát triển không ngừng
và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nhóm các khoa học về con người Đây làmột khoa học có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội
I ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC
Là một khoa học, tâm lý có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu xácđịnh Song trước hết cần phải hiểu tâm lý là gì để từ đó bàn về khoa học tâm lý (tâm lýhọc)
1 Tâm lý học là gì?
Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người vẫn thường sử dụng từ tâm lý để nói vềcách cư xử của con người như: “Anh A rất tâm lý”, “chị B chuyện trò tâm tình, cởi mở”…Với ý nghĩa là ở anh A, chị B,… có hiểu biết về lòng người, về tâm tư, nguyện vọng, tínhtình… của con người Đó là cách hiểu “tâm lý” ở cấp độ nhận thức thông thường Đờisống tâm lý của con người bao hàm nhiều hiện tượng tâm lý phong phú, đa dạng, phứctạp từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đến tình cảm, ý chí, tính khí, nănglực, lý tưởng, niềm tin,
Trong tiếng Việt thuật ngữ “tâm lý”, ”tâm hồn” đã có từ lâu Từ điển Tiếng Việt(1988) định nghĩa một cách tổng quát: “tâm lý” là ý nghĩ, tình cảm,…làm thành đời sốngnội tâm, thế giới bên trong của con người
Theo nghĩa đời thường chữ “tâm” thường dùng với các cụm từ “nhân tâm”, “tâmđắc”, “tâm địa”, “tâm can”… thường có nghĩa như chữ “lòng”, thiên về tình cảm, còn chữ
“hồn” thường để diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức, ý chí… của con người “Tâm hồn”,tinh thần” luôn gắn với “thể xác”…
Trong lịch sử xa xưa của nhân loại, trong tiếng La tinh: “Psyche” là “linh hồn”, “tinhthần” và “logos” là học thuyết, là “khoa học”, vì thế “tâm lý học” (Psychologie) là khoahọc về tâm hồn Nói một cách khái quát chung nhất: tâm lý bao gồm tất cả những hiệntượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động,hoạt động của con người Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong
Chương 1 TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
Trang 2
đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người và cả xã hội loàingười.
Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, nhưng trước khi tâm lý học ra đờivới tư cách một khoa học độc lập, những tư tưởng tâm lý học đã có từ xa xưa gắn liềnvới lịch sử loài người Vì thế trước khi bàn về đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học, chúng
ta cần điểm qua vài nét lịch sử hình thành và phát triển lĩnh vực khoa học này
2 Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học
a Những tư tưởng tâm lý học thời cổ đại
– Loài người ra đời trên trái đất này mới được khoảng 10 vạn năm – con người cótrí khôn, có một cuộc sống có lý trí, tuy buổi đầu còn rất sơ khai, mông muội
Trong các di chỉ của người nguyên thủy đã thấy những bằng cứ chứng tỏ đã cóquan niệm về cuộc sống của “hồn”, “phách” sau cái chết của thể xác Trong các bản văn
tự đầu tiên từ thời cổ đại, trong các kinh ở Ấn Độ đã có những nhận xét về tính chất củahồn, đã có những ý tưởng tiền khoa học về tâm lý
– Khổng Tử (551 – 479 TCN) nói đến chữ “tâm” của con người là “nhân, trí, dũng”,
về sau học trò của Khổng Tử nêu thành “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”
– Nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại là Xôcrat (469 – 399 TCN) đã tuyên bố câu châmngôn nổi tiếng: “Hãy tự biết mình” Đây là một định hướng có giá trị to lớn cho tâm lýhọc: con người có thể và cần phải tự hiểu biết mình, tự nhận thức, tự ý thức về cái ta
– Người đầu tiên “bàn về tâm hồn” là Arixtốt (384 – 322 TCN) Ông là một trongnhững người có quan điểm duy vật về tâm hồn con người Arixtốt cho rằng: tâm hồn gắnliền với thể xác, tâm hồn có ba loạl:
+ Tâm hồn thực vật có chung ở người và động vật làm chức năng dinh dưỡng, (còngọi là “tâm hồn dinh dưỡng”)
+ Tâm hồn động vật có chung ở người và động vật làm chức năng cảm giác, vậnđộng (còn gọi là “tâm hồn cảm giác)
+ Tâm hồn trí tuệ chỉ có ở người (còn gọi là “tâm hồn suy nghĩ”)
Quan điểm của Arixtốt đối lập với quan điểm của nhà triết học duy tâm cổ đạiPlatông (428-348 TCN) cho rằng tâm hồn là cái có trước, thực tại có sau, tâm hồn dothượng đế sinh ra Tâm hồn trí tuệ nằm ở trong đầu, chỉ có ở giai cấp chủ nô; tâm hồndũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và
Trang 3chỉ có ở tầng lớp nô lệ.
– Đối lập với quan điểm duy tâm thời cổ đại về tâm hồn là quan điểm củạ các nhàtriết học duy tâm như: Talet (thế kỷ thứ VII – VI TCN) Anaximen (thế kỷ V TCN).Hêraclit (thế kỷ VI - V TCN) cho rằng tâm lý, tâm hồn cũng như vạn vật đều được cấutạo từ vật chất như: nước, lửa, không khí, đất Còn Đêmôcrit (460 – 370 TCN) cho rằngtâm hồn do nguyên tử cấu tạo thành, trong đó “nguyên tử lửa” là nhân lõi tạo nên tâm lý.Thuyết ngũ hành coi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo nên vạn vật, trong đó có cả tâm hồn
Các quan điểm duy vật và duy tâm luôn đấu tranh mãnh liệt xung quanh mối quan
hệ vật chất và tinh thần, tâm lý và vật chất
b Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước
– Thuyết nhị nguyên: R Đêcac (1596 – 1650) đại điện cho phái “nhị nguyên luận”
cho rằng vật chất và linh hồn là hai thực thể song song tồn tại Đêcac coi cơ thể conngười phản xạ như một chiếc máy Còn bản thể tinh thần, tâm lý của con người thì khôngthể biết được Song Đêcac cũng đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc tìm ra cơ chế phản xạtrong hoạt động tâm lý
– Sang thế kỷ XVIII, tâm lý học bắt đầu có tên gọi Nhà triết học Đức Vôn Phơ đãchia nhân chủng học (nhân học) ra thành hai thứ khoa học: một là khoa học về cơ thể; hai
là tâm lý học Năm 1732 ông xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm” Sau đó 2 năm(1734) ra đời cuốn “Tâm lý học lý trí” Thế là “Tâm lý học” ra đời từ đó
– Thế kỷ XVII – XVIII – XIX cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật xungquanh mối quan hệ giữa tâm và vật
+ Các nhà triết học duy tâm chủ quan như Beccơlix (1685 – 1753), E.Makhơ (1838– 1916) cho rằng thế giới không có thực, thế giới chỉ là “phức hợp các cảm giác chủquan” của con người Còn D.Hium (1711 – 1916) coi thế giới chỉ là những kinh nghiệmchủ quan” Nguồn gốc của kinh nghiệm là do đâu? Hium cho rằng con người không thểbiết Vì thế người ta vẫn coi Hium thuộc vào phái bất khả tri
Học thuyết duy tâm phát triển tới mức độ cao thể hiện ở “ý niệm tuyệt đối” củaHêghen
+ Thế kỷ XVII – XVIII – XIX các nhà triết học và tâm lý học phương Tây đã pháttriển chủ nghĩa duy vật lên một bước cao hơn: Spinôda (1632 – 1667) coi tất cả vật chấtđều có tư duy, Lametri (1709 – 1751) một trong các nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vậtPháp thừa nhận chỉ có cơ thể mới có cảm giác Còn Canbanic (1757 – 1808) cho rằng
Trang 4não tiết ra tư tưởng, giống như gan tiết ra mật.
L Phơbach (1804 – 1872) nhà duy vật lỗi lạc bậc nhất trước khi chủ nghĩa Mác rađời, khẳng định: tinh thần, tâm lý không thể tách rời khỏi não người, nó là sản vật của thứvật chất phát triển tới mức độ cao là bộ não
Đến nửa đầu thế kỷ XIX có rất nhiều điều kiện để tâm lý học trưởng thành, tự tách
ra khỏi mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ của tâm lý học vào triết học với tư cách tâm lýhọc là một bộ phận, một chuyên ngành của triết học
c Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập
– Từ đầu thế kỷ XIX trở đi, nền sản xuất thế giới đã phát triển mạnh, thúc đẩy sựtiến bộ không ngừng của nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, tạo điều kiện cho tâm lý họctrở thành một khoa học độc lập Trong đó phải kể tới thành tựu của các ngành khoa học
có liên quan như: Thuyết tiến hóa của S.Đacuyn (1809–1882) nhà duy vật Anh; thuyếntâm sinh lý học giác quan của Hemhôn (1821 – 1894) người Đức; thuyết tâm vật lý họccủa Phecsne (1801 – 1887) và Vê-Be (1795 – 1878) cả hai đều là người Đức; tâm lýhọc phát sinh của Gantôn (1822 – 1911) người Anh và các công trình nghiên cứu về tâmthần học của bác sĩ Saccô (1875 – 1893) người Pháp…
– Thành tựu của chính khoa học tâm lý lúc bấy giờ, cùng với thành tựu của các lĩnhvực khoa học nói trên là điều kiện cần thiết giúp cho tâm lý học đã đến lúc trở thành khoahọc độc lập Đặc biệt trong lịch sử tâm lý học, một sự kiện không thể không nhắc tới vàonăm 1879 nhà Tâm lý học Đức V Vuntơ (1832 – 1920) đã sáng lập ra phòng thí nghiệmtâm lý học đầu tiên trên thế giới tại thành phố Laixic Và một năm sau nó trở thành việntâm lý học đầu trên của thế giới, xuất bản các tạp chí tâm lý học Từ vương quốc củachủ nghĩa duy tâm, coi ý thức chủ quan là đối tượng của tâm lý học và con đường nghiêncứu ý thức là các phương pháp nội quan, tự quan sát, Vuntơ đã bắt đầu chuyển sangnghiên cứu tâm lý ý thức một cách khách quan bằng quan sát, thực nghiệm, đo đạc…
– Để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, đầu thế kỷ XX các dòng phái tâm
lý học khách quan ra đời đó là: tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, phân tâm học.Trong thế kỷ XX còn có những dòng phái tâm lý học khác có vai trò nhất định trong lịch
sử phát triển khoa học tâm lý học hiện đại như: dòng phái tâm lý học nhân văn, tâm lýhọc nhận thức Và nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 thành công ở Nga, dòngphái tâm lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Xô Viết đã đem lại những bước ngoặtlịch sử đáng kể trong tâm lý học
3 Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại
Trang 5a Tâm lý học hành vi
Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý học Mỹ J Oatsơn (1878 – 1958) sáng lập.J.Oatsơn cho rằng tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉnghiên cứu hành vi của cơ thể Ở con người, cũng như ở động vật hành vi được hiểu làtổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó.Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh bằng công thức:
S – R(Stimulant – Reaction)Kích thích – Phản ứngVới công thức trên, J.Oatsơn đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học:coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu đượcmột cách khách quan Từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử – sai”.Nhưng chủ nghĩa hành vi đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đem đánhđồng hành vi của con người với hành vi của con vật, hành vi chỉ còn là những phản ứngmáy móc nhằm đáp ứng kích thích, giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường xungquanh Chủ nghĩa hành vi đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong, làm mất tínhchủ thể, tính xã hội của tâm lý con người, đồng nhất tâm lý con người với tâm lý độngvật, con người chỉ hành vi, phản ứng trong thế giới một cách cơ học, máy móc Đây làquan điểm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử và thực dụng
Về sau này các đại biểu của chủ nghĩa hành vi mới như: Tônmen, Hulơ, Skinơ,… đãđưa vào công thức S – R những “biến số” trung gian bao hàm một số yếu tố như: nhucầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành vi tạo tác “operant”nhằm đáp lại những kích thích có lợi cho cơ thể, thì về cơ bản chủ nghĩa hành vi mới vẫnmang tính máy móc, thực dụng của chủ nghĩa hành vi cổ điển Oatsơn
b Tâm lý học Gestalt (còn gọi là tâm lý học cấu trúc)
Dòng phái này ra đời ở Đức, gắn liền với tên tuổi các nhà tâm lý học: Vecthaimơ(1880–1943), Côlơ (1887 – 1967), Côpca (1886-1947) Họ đi sâu nghiên cứu các quyluật về tính ổn định và tính trọn vẹn của tri giác, quy luật “bừng sáng” của tư duy Trên cơ
sở thực nghiệm các nhà tâm lý học Gestalt khẳng định các quy luật của tri giác, tư duy
và tâm lý của con người do các cấu trúc tiền định của não quyết định Các nhà tâm lýhọc Gestalt ít chú ý đến vai trò của vốn kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử
c Phân tâm học
Trang 6Thuyết phân tâm do S.Phrơt (1859 – 1939) bác sĩ người Áo xây dựng nên Luậnđiểm cơ bản của Phrơt tách con người thành ba khối: cái ấy (cái vô thức), cái tôi và cáisiêu tôi Cái ấy bao gồm các bản năng vô thức: ăn uống, tình dục, tự vệ, trong đó bảnnăng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lý và hành vi của conngười, cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi Cái tôi – con người thườngngày, con người có ý thức, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực Cái tôi có ý thức theoPhrơt là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; cái siêu tôi
là cái siêu phàm, “cái tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyêntắc kiểm duyệt, chèn ép Như vậy phân tâm học đã đề cao quá đáng cái bản năng vôthức dẫn đến phủ nhận ý thức, phủ nhận bản chất xã hội, lịch sử của tâm lý con người,đồng nhất tâm lý của con người với tâm lý loài vật Học thuyết Phrơt là cơ sở ban đầucủa chủ nghĩa hiện sinh, thể hiện quan điểm sinh vật hóa tâm lý con người
Tóm lại, ba dòng phái tâm lý học nói trên ra đời ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXgóp phần tấn công vào dòng phái chủ quan trong tâm lý học, đưa tâm lý học đi theohướng khách quan Nhưng do những giới hạn lịch sử, ở họ có những hạn chế nhất địnhnhư: thể hiện xu thế cơ học hóa, sinh vật hóa tâm lý con người, bỏ qua bản chất xã hộilịch sử và tính chủ thể của đời sống tâm lý con người
d Tâm lý học nhân văn
Dòng phái tâm lý học nhân văn do C Rôgiơ (1902 – 1987) và H Maxlâu sáng lập.Các nhà tâm lý học nhân văn quan niệm rằng: bản chất con người vốn tốt đẹp, con người
có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu
Maxlâu đã nêu lên 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp thứ tự từ thấp đếncao:
– Nhu cầu sinh lý cơ bản
– Nhu cầu an toàn
– Nhu cầu về quan hệ xã hội
– Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ…
– Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt
C Rôgiơ cho rằng con người ta cần phải đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở,biết lắng nghe và chờ đợi, cảm thông với nhau Tâm lý học cần phải giúp cho con ngườitìm được bản ngã đích thực của mình, để có thể sống một cách thoải mái, cởi mở, hồnnhiên và sáng tạo Tuy nhiên, tâm lý học nhân văn đề cao những điều cảm nghiệm, thể
Trang 7nghiệm chủ quan của bản thân mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội,chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong con người, vì thế thiếu vắng con người tronghoạt động thực tiễn.
e Tâm lý học nhận thức
Hai đại biểu nổi tiếng của tâm lý học nhận thức là G.Piagiê (Thụy Sĩ) và Brunơ(trước ở Mỹ, sau đó ở Anh) Tâm lý học nhận thức coi hoạt động nhận thức là đối tượngnghiên cứu của mình Đặc điểm tiến bộ nổi bật của dòng phái tâm lý học này là nghiêncứu tâm lý con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với
cơ thể và với não bộ Vì thế họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị trongcác vấn đề tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ… làm cho các lĩnh vực nghiên cứu nói trênđạt tới một trình độ mới Đồng thời họ cũng đã xây dựng được nhiều phương phápnghiên cứu cụ thể đóng góp cho khoa học tâm lý ở những năm 50 – 60 của thế kỷ XXnày Tuy nhiên dòng phái này cũng có những hạn chế: họ coi nhận thức của con ngườinhư là sự nỗ lực của ý chí, để đưa đến sự thay đổi vốn kinh nghiệm, vốn tri thức của chủthể nhằm thích nghi, cân bằng với thế giới, chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩa thựctiễn của hoạt động nhận thức
Tất cả những dòng phái tâm lý học nói trên đều có những đóng góp nhất định cho
sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lý Song do những hạn chế lịch sử, họ vẫnchưa có quan điểm đầy đủ và đúng đắn về con người, về hoạt động tâm lý của conngười do thiếu một cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng Sự ra đời của tâm lýhọc Macxit hay còn gọi là tâm lý học hoạt động đã góp phần đáng kể vào việc khắc phụchạn chế nói trên và tiếp tục đưa tâm lý học lên đỉnh cao của sự phát triển
g Tâm lý học hoạt động
Dòng phái tâm lý học này do các nhà tâm lý học Xô Viết sáng lập như L.X.Vưgôtxki (1896–1934) X.L Rubinstêin (1902–1960) A N Lêônchiev (1903– 1979).A.R Luria (1902 – 1977)… Dòng phái tâm lý học này lấy triết học Mác–Lênin làm cơ sở
lý luận và phương pháp luận, xây dựng nền tâm lý học lịch sử người: coi tâm lý học là sựphản ánh thế giới khách quan vào não, thông qua hoạt động Tâm lý người mang tính chủthể, có bản chất xã hội, tâm lý người được hình thành phát triển và thể hiện trong hoạtđộng và trong các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội Chính vì thế tâm lýhọc macxit được gọi là “tâm lý học hoạt động”
4 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học
a Đối tượng của tâm lý học
Trang 8Trong tác phẩm “Phép biện chứng của tự nhiên” F.Ănghen đã chỉ rõ thế giới luônluôn vận động, mỗi một khoa học nghiên cứu một dạng vận động của thế giới Các khoahọc phân tích các dạng vận động của thế giới tự nhiên thuộc nhóm khoa học tự nhiên.Các khoa học phân tích các dạng vận động của xã hội thuộc nhóm các khoa học xã hội.Các khoa học nghiên cứu các dạng vận động chuyển tiếp trung gian từ dạng vận độngnày sang dạng vận động kia được gọi là các khoa học trung gian, chẳng hạn lý sinh học,hóa sinh học, tâm lý học… Trong đó tâm lý học nghiên cứu dạng vận động chuyển tiếp từvận động sinh vật sang vận động xã hội, từ thế giới khách quan vào mỗi con người sinh
ra hiện tượng tâm lý – với tư cách một hiện tượng tinh thần
Như vậy đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý vớl tư cách là một hiệntượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung làcác hoạt động tâm lý Tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển củahoạt động tâm lý
b Nhiệm vụ của tâm lý học
* Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học là nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lý, cácquy luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật về mốiquan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, cụ thể là nghiên cứu:
+ Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lý người
+ Cơ chế hình thành, biểu hiện của hoạt động tâm lý
+ Tâm lý của con người hoạt động như thế nào
+ Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người
* Có thể nêu lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học như sau:
+ Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý cả về mặt số lượng và chất lượng.+ Phát hiện các quy luật hình thành phát triển tâm lý
+ Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lý
Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hữu hiệucho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng tâm lý trong nhân tố con người có hiệuquả nhất Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, tâm lý học phải liên kết, phối hợp chặt chẽvới nhiều khoa học khác
II BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ
1 Bản chất của tâm lý người
Trang 9Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tâm lý người là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất xã hội – lịch sử.
a Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể
* Tâm lý ngườl không phải do thượng đế, do trời sinh ra, cũng không phải do nãotiết ra như gan tiết ra mật, tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan và não conngười thông qua “lăng kinh chủ quan”
* Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vậnđộng Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sư vật, hiện tượng đang vận động Nói mộtcách chung nhất: phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống này và hệ thốngkhác, kết quả để lại dấu vết (hình ảnh), tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu
* Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt:
+ Đó là sự tác động của hiện thực khách quan vào con người, vào hệ thần kinh, bộnão người – tổ chức cao nhất của vật chất Chỉ có hệ thần kinh và bộ não người mới cókhả năng nhận tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trên não hình ảnh tinh thần(tâm lý) chứa đựng trong vết vật chất, đó là các quá trình sinh lý, sinh hóa ở trong hệthần kinh và não bộ C.Mác nói: tinh thần, tư tưởng, tâm lý chẳng qua là vật chất đượcchuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có
+ Phán ánh tâm lý tạo ra “hình ảnh tâm lý” (bản “sao chép”, “bản chụp”) về thế giới.Hình ảnh tâm lý là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào não Songhình ảnh tâm lý khác về chất so với các hình ảnh cơ, vật lý, sinh vật ở chỗ:
Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo, thí dụ: hình ảnh tâm lý về cuốn sáchtrong đầu một con người biết chữ, khác xa về chất với hình ảnh vật lý có tính chất “chếtcứng”, hình ảnh vật chất của chính cuốn sách đó có ở trong gương
Trang 10Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân (hay nhóm người)mang hình ảnh tâm lý đó, hay nói cách khác, hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về hiệnthực khách quan Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý thể hiện ở chỗ: mỗi chủ thể trong khitạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, đưa cái riêngcủa mình (về nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực)… vào trong hình ảnh đó làm cho nómang đậm màu sắc chủ quan.
Hay nói khác đi, con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lý thông qua “lăngkính chủ quan” của mình
* Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ:
– Cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện thực khách quan, nhưng ởnhững chủ thể khác nhau cho ra những hình ảnh tâm lý với những mức độ sắc thái khácnhau
– Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động đến một chủ thể duy nhấtnhưng vào những thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau, với trạng thái cơthể, trạng thái tinh thần khác nhau, có thể cho ta thấy mức độ biểu hiện và các sắc tháitâm lý khác nhau ở chủ thể ấy
– Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện
nó rõ nhất Cuối cùng thông qua các mức độ và sắc thái tâm lý khác nhau mà một chủthể tỏ thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực
Do đâu mà tâm lý người này khác tâm lý người kia về thế giới?
Điều đó do nhiều yếu tố chi phối, trước hết, do mỗi con người có những đặc điểmriêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ Mỗi người có hoàn cảnh sống khácnhau, điều kiện giáo dục không như nhau và đặc biệt là mỗi cá nhân thể hiện mức độ tíchcực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống Vì thế tâm lý người nàykhác tâm lý người kia
Từ luận điểm nói trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận thực tiễn:
– Tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan, vì thế khi nghiên cứu, cũng như khihình thành, cải tạo tâm lý người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống vàhoạt động
– Tâm lý người mang tính chủ thể, vì thế trong dạy học giáo dục cũng như trongquan hệ ứng xử phải chú ý nguyen tắc sát đối tượng, (chú ý đến cái riêng trong tâm lýmỗi người)
Trang 11– Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động vàcác quan hệ giao tiếp để nghiên cứu hình thành và phát triển tâm lý con người.
b Bản chất xã hội của tâm lý người
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não, là kinhnghiệm xã hội lịch sử biến thành cái riêng của một người Tâm lý con người khác xa vớitâm lý của một số loài động vật cao cấp ở chỗ: tâm lý người có bản chất xã hội và mangtính lịch sử
* Bản chất xã hội và tính lịch sử của tâm lý người thể hiện như sau:
+ Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội,trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định (quyết định luận xã hội) Ngay cả phần tựnhiên trong thế giới cũng được xã hội hóa Phần xã hội hóa thế giới quyết định tâm lýngười thể hiện qua: các quan hệ kinh tế xã hội, các mối quan hệ đạo đức, pháp quyền,các mối quan hệ con người – con người từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, khuphố cho đến các quan hệ nhóm, các quan hệ cộng đồng,… Các mối quan hệ trên quyếtđịnh bản chất tâm lý người (bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội).Trên thực tế, con người thoát ly khỏi các quan hệ xã hội, quan hệ người – người, đềulàm cho tâm lý người mất bản tính người (những trường hợp trẻ con người do động vậtnuôi từ bé, tâm lý của các trẻ này không hơn hẳn tâm lý loài vật):
+ Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong cácmối quan hệ xã hội Con người là một thực thể tự nhiên và điều chủ yếu là một thực thể
xã hội Phần tự nhiên ở con người (như đặc điểm cơ thể, giác quan, thần kinh, bộ não)được xã hội hóa ở mức cao nhất Là một thực thể xã hội, con người là chủ thể của nhậnthức, chủ thể của hoạt động, giao tiếp với tư cách một chủ thể tích cực, chủ động sángtạo, tâm lý của con người là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội, vì thếtâm lý người mang đầy đủ dấu ấn xã hội lịch sử của con người
+ Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội tiếp thu vốn kinh nghiệm
xã hội, nền văn hóa xã hội, thông qua hoạt động và giao tiếp (hoạt động vui chơi, học tập,lao động công tác xã hội), trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của conngười và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội, có tính quyết định
+ Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự pháttriển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng Tâm lý của mỗi con người chịu
sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và của cộng đồng
Trang 12Tóm lại, tâm lý người có nguồn gốc xã hội, vì thế phải nghiên cứu môi trường xãhội, nền văn hóa xã hội, các quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động Cầnphải tổ chức có hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục, cũng như các hoạt độngchủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau để hình thành, phát triển tâm lý con người…
2 Chức năng của tâm lý
Hiện thực khách quan quyết định tâm lý con người, nhưng chính tâm lý con ngườilại tác động trở lại hiện thực bằng tính năng động sáng tạo của nó thông qua hoạt động,hành động, hành vi Mỗi hành động, hoạt động của con người đều do “cái tâm lý” điềuhành Sự điều hành ấy biểu hiện qua những mặt sau:
– Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động, ở đây muốn nói tới vaitrò động cơ, mục đích của hoạt động Động cơ có thể là một nhu cầu được nhận thức,hứng thú, lý tưởng, niềm tin, lương tâm, danh vọng…
– Tâm lý là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khókhăn vươn tới mục đích đã đề ra
– Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch,phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động, làm cho hoạt động của con người trởnên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định
– Cuối cùng, tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu
đã xác định, đồng thời phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép
Nhờ có các chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nói trên mà tâm lý giúpcon người không chỉ thích ứng với hoàn cảnh khách quan, mà còn nhận thức, cải tạo vàsáng tạo ra thế giới, và chính trong quá trình đó con người nhận thức, cải tạo chính bảnthân mình
Nhờ chức năng điều hành nói trên mà nhân tố tâm lý giữ vai trò cơ bản, có tínhquyết định trong hoạt động của con người
3 Phân loại hiện tượng tâm lý
Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý:
a Cách phân loại phổ biến trong các tài liệu tâm lý học là việc phân loại các hiệntượng tâm lý theo thời gian tồ tại của chúng và vị trí tương đối của chúng trong nhâncách Theo cách chia này, các hiện tượng tâm lý có ba loại chính:
– Các quá trình tâm lý
Trang 13Có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý bằng sơ đồ sau:
b Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý thành:
– Các hiện tượng tâm lý có ý thức
– Các hiện tượng tâm lý chưa được ý thức
Chúng ta có nhiều nhận biết về các hiện tượng tâm lý có ý thức (được nhận thức, hay tựgiác) Còn những hiện tượng tâm lý chưa được ý thức vẫn luôn diễn ra, nhưng ta không
ý thức về nó, hoặc dưới ý thức, chưa kịp ý thức Một số tác giả nước ngoài còn chia ýthức thành hai mức: “vô thức” là những lĩnh vực nằm ngoài ý thức, “khó lọt vào” lĩnh vực
ý thức (một số bản năng vô thức, một số hành động lỡ lời, lỡ chân tay, ngủ mơ, mộngdu,…) và mức độ “tiềm thức” là những hiện tượng bình thường nằm sâu trong ý thức,thỉnh thoảng trong những hoàn cảnh nhất định có thể được ý thức “chiếu rọi” tới
Trang 14c Người ta còn phân biệt hiện tượng tâm lý thành:
– Hiện tượng tâm lý sống động: thể hiện trong hành vi hoạt động
– Hiện tượng tâm lý tiềm tàng: tích đọng trong sản phẩm của hoạt động
d Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm lý xãhội (phong tục, tập quán, định hình xã hội, tin đồn, dư luận xã hội, tâm trạng xã hội,
“mốt”…)
Như vậy, thế giới tâm lý của con người vô cùng đa dạng và phức tạp Các hiệntượng tâm lý có nhiều mức độ, cấp độ khác nhau, có quan hệ đan xen vào nhau, chuyểnhóa cho nhau
III CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ
1 Các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học khoa học
a Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng
Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động và
bộ não con người thông qua “lăng kính chủ quan” của con người Tâm lý định hướng,điều khiển, điều chỉnh hoạt động hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đócác quyết định xã hội là quan trọng nhất Do đó khi nghiên cứu tâm lý người cần thấmnhuần nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng
b Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động
Hoạt động là phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức, nhâncách Đồng thời tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động Vì thế chúng thốngnhất với nhau Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển.Cần phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó Nghiên cứu tâm lý qua sự diễnbiến, cũng như qua sản phẩm của hoạt động
c Phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và
trong mối liên hệ giữa chúng với các loại hiện tượng khác: các hiện tượng tâm lý khôngtồn tại một cách biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau,chuyển hóa cho nhau Đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của các hiệntượng khác
d Phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ thể,
chứ không nghiên cứu tâm lý một cách chung chung, nghiên cứu tâm lý ở một con ngườitrừu tượng, một cộng đồng trừu tượng
Trang 152 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý
Có nhiều phương pháp nghiên cứu tâm lý: quan sát, thực nghiệm, trắc nghiệm, tròchuyện, điều tra, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phân tích tiểu sử,…
a Phương pháp quan sát
Quan sát được dùng trong nhiều khoa học, trong đó có tâm lý học
– Quan sát là loại tri giác có chủ định, nhằm xác định các đặc điểm của đối tượngqua những biểu hiện như hành động, cử chỉ, cách nói năng…
– Quan sát có nhiều hình thức: quan sát toàn diện hay quan sát bộ phận, quan sát
có trọng điểm, quan sát trực tiếp hay gián tiếp…
– Phương pháp quan sát cho phép chúng ta thu thập được các tài liệu cụ thể,khách quan trong các điều kiện tự nhiên của con người Do đó nó có nhiều ưu điểm Bêncạnh các ưu điểm nó cũng có những hạn chế sau: mất thời gian, tốn nhiều công sức…
– Trong tâm lý học, cùng với việc quan sát khách quan, có khi cần tiến hành tựquan sát (tự thể nghiệm, tự mô tả diễn biến tâm lý của bản thân nhưng phải tuân theonhững yêu cầu khách quan, tránh suy diễn chủ quan theo kiểu “suy bụng ta ra bụngngười”) Muốn quan sát đạt kết quả cao cần chú ý các yêu cầu sau:
+ Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát
+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt
+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận và có hệ thống
+ Ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực…
b Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp có nhiều hiệu quả trong nghiên cứu tâm lý:
– Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động, trongnhững điều kiện đã được khống chế, để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan hệnhân quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và đođạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu
– Người ta thường nói tới hai loại thực nghiệm cơ bản là thực nghiệm trong phòngthí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên:
+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: phương pháp thực nghiệm trong phòng thí
nghiệm được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng
Trang 16bên ngoài, người làm thí nghiệm tự tạo ra những điều kiện để làm nảy sinh hay phát triểnmột nội dung tâm lý cần nghiên cứu, do đó có thể tiến hành nghiên cứu tương đối chủđộng hơn so với quan sát và thực nghiệm tự nhiên.
+ Thực nghiệm tự nhiên: được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống và
hoạt động Trong quá trình quan sát, nhà nghiên cứu chỉ thay đổi những yếu tố riêng rẽcủa hoàn cảnh, còn trong thực nghiệm tự nhiên nhà nghiên cứu có thể chủ động gây racác biểu hiện và diễn biến tâm lý bằng cách khống chế một số nhân tố không cần thiếtcho việc nghiên cứu, làm nổi bật những yếu tố cần thiết có khả năng giúp cho việc khaithác, tìm hiểu các nội dung cần thực nghiệm Tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
mà người ta phân biệt các thực nghiệm tự nhiên nhận định và thực nghiệm hình thành:
* Thực nghiệm nhận định: chủ yếu nêu lên thực trạng của vấn đề nghiên cứu ở một
thời điểm cụ thể
* Thực nghiện hình thành: (còn gọi là thực nghiệm giáo dục) Trong đó tiến hành
các tác động giáo dục, rèn luyện nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ởnghiệm thể (bị thực nghiệm)
Tuy nhiên dù thực nghiệm tiến hành trong phòng thí nghiệm hoặc trong hoàn cảnh
tự nhiên cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan củangười bị thực nghiệm, vì thế phải tiến hành thực nghiệm một số lần và phối hợp đồng bộvới nhiều phương pháp khác
+ Test trí tuệ của Binê–ximông
+ Test trí tuệ của Oatslơ (Uytxơ và Oaixơ)
Trang 17+ Test trí tuệ của Ravơn
+ Test nhân cách của Ayzen, Rosat, Murây…
– Ưu điểm cơ bản của test là:
+ Test có khả năng làm cho hiện tượng tâm lý cân đo được trực tiếp bộc lộ quahành động giải bài tập test
+ Có khả năng tiến hành nhanh, tương đối đơn giản bằng giấy, bút, tranh, vẽ
+ Có khả năng lượng hóa, chuẩn hóa chỉ tiêu tâm lý cần đo
– Tuy nhiên test cũng có những khó khăn, hạn chế
+ Khó soạn thảo một bộ test đảm bảo tính chuẩn hóa
+ Test chủ yếu cho ta biết kết quả, ít bộc lộ quá trình suy nghĩ của nghiệm thể để
đi đến kết quả
Cần sử dụng phương pháp test như là một trong các cách chẩn đoán tâm lý conngười ở một thời điểm nhất định
d Phương pháp đàm thoại (trò chuyện)
Đó là cách đặt ra các câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ để trao đổi,hỏi them, nhằm thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu:
Có thể đàm thoại trực tiếp hoặc gián tiếp tùy sự liên quan của đối tượng với điều tacần biết Có thể hỏi thẳng hay hỏi đường vòng
Muốn đàm thoại thu được tài liệu tốt, nên:
– Xác định rõ mục đích yêu cầu (vấn đề cần tìm hiểu)
– Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng đàm thoại với một số đặc điểm của họ.– Có một kế hoạch trước để “lái hướng” câu chuyện
– Rất nên linh hoạt trong việc “lái hướng” này để câu chuyện vừa giữ được lôgiccủa nó, vừa đáp ứng yêu cầu của người nghiên cứu
e Phương pháp điều tra
Là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lớn đối tượngnghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó Có thể trả lờiviết (thường là như vậy), nhưng cũng có thể trả lời miệng và có người ghi lại
Có thể điều tra thăm dò chung hoặc điều tra chuyên đề để đi sâu vào một số khía
Trang 18cạnh Câu hỏi dùng để điều tra có thể là câu hỏi đóng, tức là có nhiều đáp án sẵn để đốitượng chọn một hay hai, cũng có thể là câu hỏi mở, để họ tự do trả lời.
Dùng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thu thập được một số ýkiến của rất nhiều người nhưng là ý kiến chủ quan Để có tài liệu tương đối chính xác,cần soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên (người sẽ phổ biến bản câu hỏi điều tra chocác đối tượng) vì nếu những người này phổ biến một cách tùy tiện thì kết quả sẽ rất saikhác nhau và mất hết giá trị khoa học
g Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
Đó là phương pháp dựa vào kết quả, sản phẩm (vật chất, tinh thần) của hoạt động
do con người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của con người đó bởi vì trongsản phẩm do con người làm ra có chứa đựng “dấu vết” tâm lý, ý thức, nhân cách củacon người Cần chú ý rằng: các kết quả hoạt động phải được xem xét trong mối liên hệvới những điều kiện tiến hành hoạt động Trong tâm lý học có bộ phận chuyên ngành
“phát kiến học” (Ơritxtic) nghiên cứu quy luật về cơ chế tâm lý của tư duy sáng tạo trongkhám phá, phát minh
h Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân
Phương pháp này xuất phát từ chỗ có thể nhận ra các đặc điểm tâm lý cá nhânthông qua việc phân tích tiểu sử cuộc sống của cá nhân đó, góp phần cung cấp một sốtài liệu cho việc chẩn đoán tâm lý
Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu Lâm lý người khá phong phú Mỗi phươngpháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Muốn nghiên cứu một chức năng tâm
lý một cách khoa học, khách quan, chính xác, cần phải:
– Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề nghiên cứu
– Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quảkhách quan toàn diện
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu tâm lý học?
2 Bản chất, hiện tượng tâm lý người?
3 Trình bày những nét cơ bản trong lịch sử hình thành và phát triển khoa học tâmlý?
Created by AM Word2CHM
Trang 19Created by AM Word2CHM
Trang 20GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG à Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC
Con người là một thực thể sinh vật – xã hội và văn hóa Cần nghiên cứu, tiếp cậncon người trên cả ba mặt: sinh vật – tâm lý – xã hộl Muốn giải thích đời sống tâm lý củacon người một cách khoa học và duy vật cần phải hiểu biết cơ sở tự nhiên (cơ sở vậtchất, cơ sở sinh lý) và cơ sở xã hội của nó
A CƠ SỞ TỰ NHIÊN CỦA TÂM LÝ CON NGƯỜI
Bàn về cơ sở tự nhiên của tâm lý con người có nhiều vấn đề cần nghiên cứu Ởđây chúng ta chủ yếu chỉ giới hạn ở một số mối quan hệ giữa di truyền, bộ não phản xạ
có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ hai với tâm lý người
I DI TRUYỀN VÀ TÂM LÝ
Các đặc điểm giải phẫu sinh lý, di truyền và tư chất có liên quan đáng kể đến tâm lýcon người Chúng có vai trò nhất định trong sự hình thành và phát triển tâm lý con người
Theo sinh vật hiện đại thì:
– Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, đảm bảo sự tái tạo ở thế hệmới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với trước, đảm bảo năng lực đáp ứngnhững đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn
– Đặc điểm giải phẫu sinh lý của cá thể bao gồm những yếu tố di truyền tạo nên và
cả những yếu tố riêng tự tạo ra trong đời sống cá thể của sinh vật, những yếu tố như thếđối với con người có ngay từ trong bào thai của người mẹ
– Tư chất là một tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu vừa là những đặcđiểm chức năng tâm - sinh lý mà cá thể đã đạt trong giai đoạn phát triển nhất định dướiảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động, đó là các đặc điểm của giác quan, của hệthần kinh và tạo nên tiền đề vật chất cho việc phát triển năng lực của con người
Đối với con người, mỗi một cá thể sinh ra đã nhận được theo con đường di truyền
từ các thế hệ trước một số đặc điểm về cấu tạo, chức năng của cơ thể, trong đó cónhững đặc điểm về cấu tạo và chức năng của các giác quan và não Song vai trò của diquyền như thế nào trong sự phát triển tâm lý của con người thì có nhiều quan điểm khácnhau:
* Một số nhà tâm lý tư sản thừa nhận những đặc điểm tâm lý là những cấu tạo bẩmsinh, do tiềm năng sinh vật gây ra, mọi đặc điểm tâm lý đều do tiền định, đều có sẵn
Chương 2 CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI
Trang 21
trong các cấu trúc sinh vật Sự phát triển là quá trình trưởng thành, chín muồi của cácthuộc tính đã sẵn trong gen và được quyết định bằng con đường di truyền Trong thờigian gần đây người ta nói đến “mức độ bẩm sinh của sự trang bị gen” về những thuộctính nhân cách của năng lực được chương trình hóa, mã hóa trong gen, đồng thời cũng
có chú ý tới yếu tố môi trường Chẳng hạn, nhà di truyền người Anh S.Auerbac cho rằng
“… những phẩm chất của cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại giữa yếu tố ditruyền và yếu tố môi trường” (S.Auerbac: Di truyền học – Dịch từ tiếng Anh, M NxbNguyên Tử, 1961) Một số nhà tâm lý học Mỹ sử dụng quan điểm của E.Toodai có từnhững năm 20–30 của thế kỷ 20 đã nói đến vai trò của giáo dục trong sự phát triển tâm
lý người, nhưng vẫn khẳng định rằng tiềm năng sinh vật bẩm sinh đã quy định trước giớihạn của sự phát triển tâm lý: ”tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất định, giáo dụccần phải làm bộc lộ vốn đó là cái gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất” (E.Toocdai: Những nguyên tắc giảng dạy trên cơ sở tâm lý học – Dịch từ tiếng Anh, 1929)
* Một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học tư sản tiến hành trên nhữngtrẻ sinh đôi từ một trứng, nhằm cố chứng minh vai trò quyết định của tính di truyền trong
sự hình thành các phẩm chất tâm lý Nhằm chống lại quan điểm tư sản nói trên, nhữngthí nghiệm trên trẻ sinh đôi từ một trứng do V.N.cônbanovxki, A.R.Luria, A.N.Mirenovatiến hành ở Liên Xô trước đây đã chỉ rõ: Với cơ sở bẩm sinh giống nhau, tùy thuộc vàocác phương pháp giảng dạy, các trẻ sinh đôi từ một trứng thu được những kết quả khácnhau trong một số hoạt động sáng tạo khác nhau Những kết quả nghiên cứu tương tựcủa nhà tâm lý học Pháp R.Razjô trên trẻ sinh đôi từ một trứng đã giáng một đòn quyếtđịnh vào lý luận về tính bẩm sinh của các đặc điểm tâm lý
* Khoa sinh vật học hiện đại chứng minh rằng bản thân di truyền cũng bị biến đổidưới tác động của môi trường và của hoạt động cá thể Mặt khác, cơ thể sống càng ởbậc cao của sự tiến hóa thì tính biến dị đảm bảo cho sự thích ứng của nó đối với điềukiện sống và kinh nghiệm cá thể càng đóng vai trò lớn hơn Ngoài ra riêng đối với conngười, điều kiện xã hội và kinh nghiệm xã hội đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển tâmlý
* Tóm lại, di truyền đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát triển tâm lýcon người, bởi vì chính di truyền tham gia vào sự tạo thành những đặc điểm giải phẫu vàsinh lý của cơ thể, trong đó có những đặc điểm giải phẫu và sinh lý của hệ thần kinh – cơ
sở vật chất của các hiện tượng tâm lý Song lý thuyết di truyền học hiện đại và các côngtrình nghiên cứu thực nghiệm chỉ cho phép ta khẳng định vài trò tiền đề của di truyềntrong sự phát triển của cá nhân
Trang 22II NÃO VÀ TÂM LÝ
Mối liên hệ giữa não và lâm lý là một trong những vấn đề cơ bản trong việc lý giải
cơ sở tự nhiên, cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý người
Song xung quanh mối liên hệ giữa tâm lý và não cũng có nhiều quan điểm khácnhau:
– Quan điểm tâm lý – vật lý song song: Ngay từ thời R.Đêcac với quan điểm nhị
nguyên, các đại biểu của tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa coi các quá trình sinh lý vàtâm lý thường song song diễn ra trong não người, không phụ thuộc vào nhau, trong đótâm lý được coi là hiện tượng phụ
– Quan điểm đồng nhất tâm lý với sinh lý: Đại biểu chủ nghĩa duy vật tầm thường
Đức (Búcsơnei phôtxtơ, Môlêsôt) cho rằng: tư tưởng do não tiết ra giống như như mật
do gan tiết ra
– Quan điểm duy vật: coi tâm lý và sinh lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lý có
cơ sở vật chất là hoạt động của bộ não, nhưng tâm lý không song song hay không đồngnhất với sinh lý
Phơbách (1804-1872) nhà triết học duy vật trước Các Mác đã khẳng định: tinhthần, ý thức không thể tách rời ra khỏi não người, nó là sản vật của vật chất đã đượcphát triển tới mức cao nhất là bộ não V.I.Leenin đã chỉ ra rằng: “Tâm lý là cơ năng củacái phần nhỏ đặc biệt phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não của con người(V.l.Lênin: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Nxb ST, 1960) Tấtnhiên tâm lý và sinh lý không đồng nhất với nhau: F.Ănghen cũng đã từng viết: “Chắc hẳnđến một lúc nào đó qua con đường thực nghiệm, chúng ta “sẽ quy” được tư duy thànhnhững vận động phân tử và hóa học ở trong óc, nhưng điều đó liệu có bao quát đượcbản chất của tư duy chăng?” (F.Ănghen: Biện chứng của tự nhiên – Nxb Sự thật, 1971)
Các nhà tâm lý học khoa học đã chỉ ra rằng, tâm lý là chức năng của não: bộ nãonhận tác động của thế giới dưới các dạng xung động thần kinh cùng những biến đổi lýhóa ở từng nơron, từng xinap, các trung khu thần kinh ở bộ phận dưới vỏ não và vỏ nãolàm cho não bộ trở nên hoạt động theo quy luật thần kinh, tạo nên hiện tượng tâm lý nàyhay hiện tượng tâm lý kia theo cơ chế phản xạ (nội dung là tâm lý, nhưng có cơ chế phản
xạ sinh lý của não) Như vậy tâm lý là kết quả của hệ thống chức năng những hoạt độngphản xạ của não Khi nảy sinh trên bộ não, cùng với quá trình sinh lý não, hiện tượng tâm
lý thực hiện chức năng định hướng, điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người Xungquanh vấn đề mối quan hệ giữa não và tâm lý có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, chẳng
Trang 23– Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não
– Phản xạ có điều kiện và tâm lý
– Quy luật hoạt động của não và tâm lý
– Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lý
III VẤN ĐỀ ĐỊNH KHU CHỨC NĂNG TÂM LÝ TRONG NÃO
Khi nói đến cơ sở tự nhiên của tâm lý, người ta thường đặt vấn đề định khu chứcnăng tâm lý trong não Song có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này:
* Thế kỷ thứ V, trước công nguyên có quan niệm cho rằng lý trí khu trú ở trong đầu(não bộ), tình cảm ở ngực (tim), long đam mê ở bụng (gan)
* Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số nhà thần kinh học cho ràng: mỗi chức năngtâm lý được định khu ở một vùng trong não: có vùng trí nhớ, vùng tưởng tượng, vùng tưduy Thậm chí có người còn nói trong não có các mấu “tư tưởng”, mấu “yêu đương”…Chẳng hạn học thuyết não tướng học của nhà bác học Đức Ph.Galơ cho rằng: tâm lýgắn chặt với một khu nhất định trên não, tạo nên các vùng: “kín đáo”, “tế nhị”, “hunghăng”, “tự ái” “thận trọng” “khéo tay”, “yêu đời”…
Thực ra trên vỏ não có các miền (hay còn gọi là vùng, hoặc thùy) (hình 1) Mỗimiền này là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng Một miền có thể thamgia vào nhiều hiện tượng tâm lý Các miền phục vụ cho một hiện tượng tâm lý tập hợpthành một hệ thống chức năng Hệ thống chức năng này hoạt động một cách cơ động,tùy thuộc vào yêu cầu của chủ thể, vào đặc điểm không gian, thời gian và không có tínhbất di bắt dịch Trong não có sự “phân công” rất chặt chẽ giữa các vùng của vỏ não,như: vùng chẩm gọi là vùng thị giác, vùng thái dương gọi là vùng thính giác, vùng đỉnh gọi
là vùng vận động, vùng trung gian giữa thái dương và vùng đỉnh là vùng định hướngkhông gian, thời gian Ở người còn có các vùng chuyên biệt như: vùng nói (Brôca), vùngnghe hiểu tiếng nói (Vecnicke), vùng nhìn hiểu chữ viết (Đêjêrin), vùng viết ngôn ngữ.Nguyên tắc “phân công” kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc “liên kết rất nhịp nhàng, tạo nên
hệ thống chức năng cơ động nói trên trong từng chức năng tâm lý Các hệ thống chứcnăng này được thực hiện bằng nhiều tế bào não từ các vùng, các khối của toàn bộ nãotham gia: khối năng lượng bảo đảm trương lực; khối thong tin bảo đảm việc thu nhận, xử
lí và gìn giữ thông tin; khối điều khiển bảo đảm việc chương trình hóa, điều khiển, điềuchỉnh, kiểm tra Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham gia thực hiện hoạt
Trang 24IV PHẢN XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN VÀ TÂM LÝ
* Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ Thế kỷ thứ XVII R.Đêcac làngười đầu tiên nêu ra khái niệm “phản xạ” và dùng phản xạ để giải thích hoạt động tâm ý.Nhưng Đêcac chỉ mới nói đến hoạt động vô thức gắn với phản xạ
* I.M.Xêtrênov nhà sinh lý học Nga đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộhoạt động của não Năm 1863 ông đã viết: “Tất cả các hiện tượng tâm lý, kể cả có ýthức lẫn vô thức, về nguồn gốc đều là phản xạ Theo ông phản xạ có 3 khâu chủ yếu:
+ Khâu đầu tiên là quá trình nhận kích thích bên ngoài, biến thành hưng phấn theođường hướng tâm dẫn truyền vào não
+ Khâu giữa là quá trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lý
+ Khâu kết thúc dẫn truyền thần kinh từ trung ương theo đường ly tâm (dẫn ra) gâynên phản ứng của cơ thể
* I.P.Pavlov kế tục sự nghiệp của l.M.Xêtrênov, qua nhiều năm thực nghiệm đãsáng lập ra học thuyết phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý
Đặc điểm của phản xạ có điều kiện:
a Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống từng cá thể để thích ứngvới môi trường luôn luôn thay đổi, là cơ sở sinh lý của hoạt động tâm lý
b Cơ sở giải phẫu sinh lý của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bình
Trang 25thường của vỏ não.
c Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên hệthần kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện của trung khutrực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện
d Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kỳ, đặc biệt ở người tiếng nói làmột loại kích thích đặc biệt có thể lập bất cứ một phản xạ có điều kiện nào
e Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác độngvào cơ thể
Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở sinh lý là phản xạ có điều kiện Hoạtđộng có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi
V QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO VÀ TÂM LÝ
Sự hình thành và thể hiện tâm lý chịu sự chi phối chặt chẽ của các quy luật hoạtđộng thần kinh cấp cao Dưới đây là một số quy luật cơ bản đó
1 Quy luật hoạt động theo hệ thống
Trong điều kiện tự nhiên của đời sống, các kích thích không tác động một cáchriêng lẻ, chúng thường tạo thành một tổ hợp kích thích đồng thời hoặc nối tiếp đến cơthể Mặt khác, cơ thể cũng không phản ứng một cách riêng lẻ mà phản ứng một cách tổhợp với các kích thích đó Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất nhữngkích thích riêng lẻ hay không riêng lẻ thành một hệ thống Đó là quy luật hoạt động theo
hệ thống của vỏ não Các hoạt động phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo một thứ tựnhất định tạo nên một hệ thống định hình động lực của vỏ não, làm cho trong não khi cómột phản xạ nào đó xảy ra thì kéo theo các phản xạ khác cũng xảy ra Đó chính là cơ sởsinh lý thần kinh của xúc cảm, tình cảm, thói quen…
2 Quy luật lan tỏa và tập trung
Hưng phấn và ức chế là hai trạng thái cơ bản của hệ thần kinh Khi trên vỏ não cómột điểm (vùng) hưng phấn hoặc ức chế nào đó, thì quá trình hưng phấn ức chế đó sẽkhông dừng lại ở điểm ấy, nó sẽ lan tỏa ra xung quanh Sau đó trong những điều kiệnbình thường chúng tập trung vào một nơi nhất định Hai quá trình lan tỏa và tập trung xảy
ra kế tiếp nhau trong một trung khu thần kinh Nhờ đó mà hình thành một hệ thống chứcnăng các phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý
3 Quy luật cảm ứng qua lại
Trang 26Khi quá trình thần kinh cơ bản có ảnh hưởng qua lại với nhau, tạo nên quy luật cảmứng qua lại Có bốn dạng cảm ứng qua lại cơ bản: đồng thời, tiếp diễn, dương tính và
4 Quy luật phụ thuộc vào cường độ của kích thích
Trong trạng thái tỉnh táo, khỏe mạnh, bình thường của vỏ não nói chung thì độ lớncủa phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ của kích thích Ở người, sự phụ thuộc này mangtính chất tương đối vì phản ứng của con người không chỉ phụ thuộc vào kích thích màcòn phụ thuộc vào chủ thể mỗi người Mặt khác, trong trường hợp vỏ não chuyển từtrạng thái hưng phấn sang ức chế thì sự phản ứng còn tùy thuộc vào mức độ ức chế sâuhay nông của vỏ não
Tóm lại, các quy luật cơ bản nói trên của hoạt động thần kinh cấp cao có quan hệvới nhau, cùng chi phối sự hình thành, diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lý của conngười
VI HỆ THỐNG TÍN HIỆU THỨ HAI VÀ TÂM LÝ
Học thuyết về hai hệ thống tín hiệu là một bộ phận rất quan trọng trong học thuyết
về hoạt động thần kinh cấp cao Ở động vật chỉ có tín hiệu thứ nhất, bao gồm những tínhiệu do các sự vật, hiện tượng khách quan và các thuộc tính của chúng, kể cả các hìnhảnh do các tín hiệu đó tác động vào não gây ra Hệ thống tín hiệu này là cơ sở sinh lýcủa hoạt động cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể và các xúc cảm cơ thể ở cả động vật
và người Hệ thống tín hiệu thứ hai chỉ có ở người, đó là các tín hiệu ngôn ngữ (tiếng nói,chữ viết)- tín hiệu của các tín hiệu Hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở sinh lý của tư duyngôn ngữ, ý thức, tình cảm và các chức năng tâm lý cấp cao của con người
Hai hệ thống tín hiệu có quan hệ chặt chẽ với nhau Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ
sở của hệ thống tín hiệu thứ hai và hệ thống tín hiệu thứ hai có tác động trở lại, nhiều khi
Trang 27có những tác động rất lớn đến hệ thống tín hiệu thứ nhất.
Trên đây là một số vấn đề cơ bản xung quanh vấn đề cơ sở tự nhiên của tâm lýcon người Con người cũng như tâm lý con người có bản chất xã hội, lịch sử Tâm lýngười có cơ sở xã hội
B CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ CON NGƯỜI
Sự phát triển của con người, cũng như sự hình thành phát triển tâm lý người khôngchỉ bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của thế giới, mà chủ yếu là chịu sự chế ước, quyđịnh bởi những quy luật xã hội – lịch sử, trong đó có các mối quan hệ xã hội, nền văn hóa
xã hội, các phương thức hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội
I QUAN HỆ XÃ HỘI, NỀN VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TÂM LÝ CON NGƯỜI
Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khẳng định: tâm lý người có bảnchất xã hội và mang tính lịch sử Tuy nhiên cũng có những quan điểm trái ngược với quanđiểm nói trên, chẳng hạn:
* Thuyết tiến hóa thực chứng luận của G.Spenxơ (1820–1903) nhà triết học xã hội
và tâm lý học thực chứng cho rằng: con người không chỉ tồn tại trong môi trường tựnhiên mà còn tồn tại trong môi trường xã hội, sau khi chuyển lên người, các quy luật và
cơ chế thích nghi của động vật, kể cả cơ chế tự tạo kinh nghiệm cá thể cũng không thayđổi, có chăng là cơ chế đó phức tạp hơn ở người E.R.Gtri (đại biểu của phái hành vimới ở Mỹ) khẳng định việc tự tạo kinh nghiệm cá thể của người và động vật là giống nhưnhau, còn B.F.Skinơ thì cho rằng cái khác là ở chỗ việc học tập ở người diễn ra trongphạm vi ngôn ngữ
* Quan điểm xã hội học, trước hết là các nhà xã hội học Pháp Đuychkhêm,
Kanvac… coi xã hội tạo ra bản chất người, “xã hội là nguyên lý giải thích cá thể”, conngười là một tồn tại “giao lưu chứ không phải là một tồn tại xã hội hành động, quá trình
“xã hội hóa” cá thể là quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này vớingười khác, để lĩnh hội các “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói… tạo ra “hành vi xãhội” J.Piagiê coi sự phát triển tâm lý là sản phẩm của sự phát triển các quan hệ của cáthể với những người xung quanh, với xã hội, là quá trình cải tổ, chuyển hóa các cấu trúccủa các quá trình nhận thức vốn có của trẻ em đưa đến sự thích nghi, thích ứng Trongcác nhà tâm lý học phương Tây, hai nhà tâm lý học Pháp là H.Valông (1879–1962).G.Pôlide (1903– 1942) đã coi cái xã hội trong con người không phải là cái gì trừu tượng,
mà là sản phẩm hoạt động và giao lưu của các quan hệ xã hội Những quan điểm nói trên
là những quan điểm tiến bộ
Trang 28* Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
+ Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người.C.Mác đã chỉ rõ luận điểm này trong Luận cương về Phơbach:)… bản chất của conngười không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Quan hệ xã hộitrước hết là quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, chế độ xã hội chính trị, quan hệ conngười – con người, quan hệ đạo đức pháp quyền… quy luật cơ bản chi phối sự pháttriển xã hội loài người là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất,chứ không phải quy luật chọn lọc tự nhiên Hoạt động tâm lý của con người chịu sự tácđộng của quy luật xã hội Trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất Chỉ
có sống và hoạt động trong xã hội, con người mới thực hiện được chức năng phản ánhtâm lý
+ Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lý con người là cơ chế lĩnh hội nền văn hóa
xã hội Đặc điểm cơ bản của quá trình lĩnh hội là nó tạo ra ở con người những chức năngtâm lý mới, những năng lực mới Quá trình lĩnh hội là quá trình tái tạo những thuộc tính,những năng lực của loài người thành những thuộc tính, năng lực của cá thể mỗi người,hay nói khác đi thông qua cơ chế lĩnh hội mà con người tổng hòa các quan hệ xã hội, nềnvăn hóa xã hội thành bản chất người, tâm lý con người
II HOẠT ĐỘNG VÀ TÂM LÝ
Cuộc sống của con người là một chuỗi những hoạt động giao lưu kế tiếp nhau, đanxen vào nhau Con người muốn sống, muốn tồn tại phải hoạt động Vậy là hoạt động gì?Hoạt động có vai trò như thế nào đối với sự hình thành phát triển tâm lý?
1 Khái niệm chung về hoạt động
a Hoạt động là gì?
Có nhiêu cách định nghĩa khác nhau về hoạt động
* Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thân kinh và cơbắp của con người tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn những nhu cầucủa mình
* Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phươngthức tồn tại của con người trong thế giới
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể)
để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới cả về phía con người (chủ thể)
Trang 29Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau,thống nhất với nhau:
+ Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa trong đó chủ thể chuyển năng lực
của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý của con người (của chủthể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm
Quá trình đối tượng hóa (khách thể hoá) còn gọi là quá trình xuất tâm
+ Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động con người
chuyển từ phía khách thể và bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới tạo nêntâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới
Quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình nhập tâm
Như vậy là trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới vừatạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ và hìnhthành trong hoạt động
b Những đặc điểm của hoạt động
– Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng”: đối tượng của hoạt động làcái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ Động cơ luôn thúc đẩy conngười hoạt động nhằm tác động vào khách thể để thay đổi nó biến thành sản phẩm hoặctiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình tạo nên một cấu tạo tâm lý mới, một năng lựcmới…
– Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thể hoạtđộng có thể là một hoặc nhiều người
– Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biếnđổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tính đốitượng Tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội
– Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động, con người “giántiếp” tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, gián tiếp qua việc sử dụngcông cụ lao động và sử dụng phương tiện ngôn ngữ Như vậy công cụ tâm lý, ngôn ngữ
và công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể, tạo ra tính giántiếp của hoạt động
2 Các loại hoạt động
Có nhiều cách phân loại hoạt động
Trang 30a Xét về phương diện cá thể, ta thấy ở con người có bốn loại hoạt động: vui chơi,
học tập, lao động và hoạt động xã hội
b Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần), người ta chia thành hai
c Còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành bốn loại:
– Hoạt động biến đổi
–Hoạt động nhận thức
– Hoạt động định hướng giá trị
– Hoạt động giao lưu
3 Cấu trúc của hoạt động
– Chủ nghĩa hành vi cho rằng: hoạt động của con người và động vật có cấu trúcchung là: kịch thích – phản ứng (S–R)
– Trong tâm lý học có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tốdiễn ra ở phía con người (chủ thể) thuộc các thành tố đơn vị thao tác của hoạt động.Hoạt động có cấu trúc như sau: hoạt động – hành động- thao tác
– Quan điểm của A.N Leonchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động: trên cơ sởnghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm Nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng A.N.Leonchiev đã nêu lên cấu trúc vĩ mô của hoạt động, bao gồm 6 thành tố và mối quan hệgiữa 6 thành tố này
Khi tiến hành hoạt động: về phía chủ thể bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa 3thành tố này, đó là: hoạt động – hành động – thao tác Ba thành tố này thuộc vào đơn vịthao tác (mặt kỹ thuật) của hoạt động; còn về phía khách thể (về phía đối tượng hoạtđộng) bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau, đó là: động cơ – mụcđích – phương tiện Ba thành tố này tạo nên “nội dung đối tượng” của hoạt động (mặttâm lý) Cụ thể là: hoạt động hợp bởi các hành động Các hành động diễn ra bằng cácthao tác Hoạt động luôn luôn hướng vào động cơ (nằm trong đối tượng) đó là mục đíchchung, mục đích cuối cùng của hoạt động, mục đích chung này (động cơ) được cụ thể
Trang 31bằng những mục đích cụ thể, mục đích bộ phận mà từng hoạt động hướng vào Để đạtmục đích, con người phải sử dụng các phương tiện Tùy theo các điều kiện, phương tiện
mà con người thực hiện các thao tác để tiến hành hành động đạt mục đích, hay nói khác
đi, hành động thực hiện nhờ các thao tác Sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể,giữa đơn vị thao tác và nội dung đối tượng của hoạt động, tạo ra sản phẩm của hoạtđộng (cả về phía chủ thể, cả về phía khách thể - “sản phẩm kép”) Có thể khái quát cấutrúc chung của hoạt động như sau:
III GIAO TIẾP VÀ TÂM LÝ
Sống trong xã hội, con người không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật hiện tượngbằng hoạt động có đối tượng, mà còn có quan hệ giữa con người với con người, giữacon người và xã hội – đó là quan hệ giao tiếp
1 Giao tiếp là gì?
Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người traođổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau ảnh hưởng tác động qua lại vớinhau Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiệnthực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác:
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thứckhác nhau:
– Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân
– Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
– Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng…
2 Các loại giao tiếp
Có nhiều cách phân loại giao tiếp
Trang 32a Theo phương tiện giao tiếp, có thể có 3 loại giao tiếp sau:
– Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với tập thể
– Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nétmặt…
– Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): đây là hình thức giao tiếp đặctrưng của con người, xác lập và vận hành mối quan hệ người – người trong xã hội
b Theo khoảng cách, có thể có hai loại giao tiếp cơ bản:
– Giao tiếp trực tiếp: giao tiếp mặt đối mặt, các chủ thể trực tiếp phát và nhận tínhiệu với nhau
– Giao tiếp gián tiếp: qua thư từ, có khi qua ngoại cảm, thần giao cách cảm…
c Theo quy cách, người ta chia giao tiếp thành hai loại:
– Giao tiếp chính thức: giao tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách,quy định, thể chế:
– Giao tiếp không chính thức: là giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau,không câu nệ vào thể thức, mà theo kiểu thân tình nhằm mục đích chính là thông cảm,đồng cảm với nhau
Các loại giao tiếp nói trên luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mốiquan hệ giao tiếp của con người vô cùng đa dạng và phong phú
3 Quan hệ giao tiếp và hoạt động
* Nhiều nhà tâm lý học cho rằng giao tiếp như một dạng đặc biệt của hoạt động:giao tiếp cũng diễn ra bằng các hành động và có cả các thao tác cụ thể, sử dụng cácphương tiện khác nhau, nhằm đạt những mục đích xác định, thỏa mãn các nhu cầu cụthể, tức là được thúc đẩy bởi động cơ
* Một số nhà tâm lý học khác cho rằng giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù đồngđẳng, có quan hệ qua lại với nhau trong cuộc sống (lối sống) của con người:
+ Có trường hợp giao tiếp là điều kiện của một hoạt động khác, vi dụ trong laođộng sản xuất thì giao tiếp là điều kiện để con người phối hợp với nhau, quan hệ với nhau
để tiến hành làm ra sản phẩm chung
+ Có trường hợp hoạt động là điều kiện để thực hiện một quan hệ giao tiếp giữacon người với con người, chẳng hạn: người diễn viên múa làm động tác kịch câm… trên
Trang 33sân khấu thì các hành động chân tay, điệu bộ, cử chỉ… là điều kiện để thực hiện một mốiquan hệ giao tiếp giữa anh ta và khán giả.
Vì thế có thể nói cả giao tiếp và hoạt động đều là hai mặt không thể thiếu của lốisống, của hoạt động cùng nhau giữa con người với con người trong thực tiễn
4 Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định: tâm lý con người có nguồn gốc từbên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào trong não mỗi người Trong thế giới thìquan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội là cái quyết định tâm lý người
Tâm lý của con người là kinh nghiệm xã hội – lịch sử chuyển thành kinh nghiệm củabản thân, thông qua hoạt động và giao tiếp Trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo Tâm
lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp Hoạt động và giao tiếp, mối quan hệ giữachúng là quy luật tổng quát hình thành và biểu lộ tâm lý người
Có thể tóm tắt sơ đồ tổng quát về sự hình thành và phát triển tâm lý người nhưsau:
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Cơ sở tự nhiên của tâm lý người là gì? Phân tích từng yếu tố trong cơ sở đó
2 Cơ sở xã hội của tâm lý người là gì? Phân tích từng yếu tố trong cơ sở đó
Created by AM Word2CHM
Trang 34GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG à Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC
Vấn đề nguồn gốc nảy sinh, hình thành, phát triển tâm lý, ý thức xét cá về phươngdiện loài người (phát triển chủng loại) và cả phương diện riêng của từng người (phát triển
cá thể) là một trong những vấn đề cơ bản của tâm lý học Tâm lý, ý thức là kết quả của
sự phát triển lâu dài của vật chất Sự sống ra đời cách đây khoảng 2500 triệu năm Sựnảy sinh, phát triển tâm lý, ý thức gắn liền với sự sống Xét về mặt tiến hóa chủng loại thìtâm lý, ý thức nảy sinh và phát triển qua 3 giai đoạn lớn:
– Từ vật chất chưa có sự sống (vô sinh) phát triển thành vật chất có sự sống (hữusinh)
– Từ sinh vật chưa có cảm giác phát triển sinh vật có cảm giác và các hiện tượngtâm lý khác, không có ý thức
– Từ động vật cấp cao không có ý thức phát triển thành người,
thành chủ thể có ý thức
A SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
I SỰ NẢY SINH VÀ HÌNH THÀNH TÂM LÝ VỀ PHƯƠNG DIỆN LOÀI NGƯỜI
1 Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý
Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý, hay nói cách khác, phản ánh tâm lý đầu tiênnảy sinh dưới hình thái tính nhạy cảm (hay còn gọi là tính cảm ứng)
Trước khi xuất hiện tính cảm ứng, ở những loài sinh vật dưới mức côn trùng (chẳnghạn loài nguyên sinh, bọt biển), chưa có tế bào thần kinh hoặc mới có mạng thần kinhphân tán khắp cơ thể chỉ mới có tính chịu kích thích
– Tính chịu kích thích là khả năng đáp lại các tác động của ngoại giới có ảnh hướngtrực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của cơ thể Đây là cơ sở đầu tiên cho tính cảmứng, nhạy cảm xuất hiện
– Trên cơ sở tính chịu kích thích, ở các loài côn trùng (giun, ong…) bắt đầu xuấthiện hệ thần kinh mấu (hạch, các yếu tố thần kinh đã tập trung thành những bộ phậntương đối độc lập giúp cơ thể có khả năng đáp lại những kích thích có ảnh hưởng trựctiếp lẫn các kích thích có ảnh hưởng gián tiếp đối với sự tồn tại của cơ thể tính cảm ứng(nhạy cảm xuất hiện) Tính nhạy cảm được coi là mầm mống đầu tiên của tâm lý, xuấthiện cách đây khoảng 600 triệu năm Từ hiện tượng tâm lý đơn giản nhất này (cảm giác)
Chương 3 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC
Trang 35
dần dần phát triển lên thành các hiện tượng tâm lý khác phức tạp hơn.
2 Các thời kỳ phát triển của tâm lý
Khi nghiên cứu các thời kỳ phát triển tâm lý của loài người có thể xét theo haiphương diện:
– Xét theo mức độ phản ánh thì tâm lý của loài người đã trải qua 3 thời kỳ sau:cảm giác, tri giác, tư duy (bằng tay và ngôn ngữ)
– Xét theo nguồn gốc nảy sinh của hành vi thì tâm lý trải qua 3 thời kỳ: bản năng,
kỹ xảo, trí tuệ
a Cảm giác, tri giác, tư duy
* Thời kỳ cảm giác: đây là thời kỳ đầu tiên trong phản ánh tâm lý có ở động vật
không xương sống, ở thời kỳ này con vật mới có khả năng trả lời từng kích thích riêng lẻ.Các động vật ở các bậc thang tiến hóa cao hơn và ở loài người đều có thời kỳ cảm giác,nhưng cảm giác ở con người khác xa về chất so với cảm giác của loài vật Trên cơ sởcảm giác mà xuất hiện các thời kỳ phản ánh tâm lý cao hơn là tri giác và tư duy
* Thời kỳ tri giác: thời kỳ tri giác bắt đầu xuất hiện ở loài cá Hệ thần kinh hình ống
với tủy sống và vỏ não giúp động vật (từ loài cá trở đi) có khả năng đáp lại một tổ hợpcác kích thích ngoại giới chứ không đáp lại từng kích thích riêng lẻ Khả năng phản ánhmới này gọi là tri giác Từ loài lưỡng cư, bò sát, loài chim đến động vật có vú tri giác đạttới mức độ khá hoàn chỉnh Đến mức ở cấp độ người thì tri giác hoàn toàn mang mộtchất độ mới (con mắt, cái mũi, lỗ tai, người có “hồn”, có “thần”)
* Thời kỳ tư duy:
+ Tư duy bằng tay: Ở loài người vượn Oxtralopitec, cách đây khoảng 10 triệu năm,
vỏ não phát triển trùm lên các phần khác của não, con vật đã biết dùng hai “bàn tay” để
sờ mó, lắp ráp giải quyết các tình huống cụ thể trước mặt, có nghĩa là con vật đã có tưduy bằng tay, tư duy cụ thể
+ Tư duy bằng ngôn ngữ: Đây là loại tư duy có một chất lượng hoàn toàn mới nảysinh khi loài người xuất hiện và chỉ có ở người, giúp con người nhận thức được bản chất,quy luật của thế giới Nhờ tư duy ngôn ngữ mà hoạt động của con người có tính mụcđích, tính kế hoạch cao nhất, hoàn chỉnh nhất, giúp con người không chỉ nhận thức, cảitạo thế giới mà còn nhận thức và sáng tạo ra chính bản thân mình
Bảng tổng kết về sự phát triển tâm lý trong quá trình tiến hóa động vật
Trang 36Thời gian xuất
hiện và sinh
sống (1)
Cấp động vật (2)
Tổ chức thần kinh (3) Trình độ phát triển tâm
lý (4)
Chưa có tế bào thần kinh hoặc có mạng thần kinh phân tán khắp cơ thể
Tính chịu kích thích
Từ 600–500 triệu
Tính nhạy cảm (xuất hiện cảm giác)
Bán cầu não lớn phát triển, vỏ não
Khoảng 10 triệu
năm trước
Họ khỉ người vượn
Vùng não mới phát triển các nếp nhăn, khúc cuộn não phát triển mạnh, xuất hiện hệ thống tín hiệu thứ hai…
Tư duy ngôn ngữ, ý thức, tự ý thức
3 Bản năng, kỹ xảo, hành vi trí tuệ
a Thời kỳ bản năng
Từ loài côn trùng trở đi bắt đầu có bản năng Bản năng là hành vi bẩm sinh, mangtính di truyền có cơ sở là những phản xạ không điều kiện (ví dụ vịt con mới nở ra đã biếtbơi) Bản năng nhằm thỏa mãn các nhu cầu có tính thuần túy cơ thể Ở các động vật cóxương sống và người cũng có bản năng: bản năng dinh dưỡng, bản năng tự vệ, bảnnăng sinh dục Những bản năng của người khác xa về bản chất so với bản năng của convật: “bản năng của con người là bản năng có ý thức” (C.Mác), bản năng của con người
có sự tham gia của tư duy, lý trí, mang tính xã hội và mang đặc điểm lịch sử loài người
b Thời kỳ kỹ xảo
Xuất phát sau bản năng, trên cơ sở luyện tập, kỹ xảo là một hành vi mới do cánhân tự tạo Hành vi kỹ xảo được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành định hình trong nãođộng vật nhưng so với bản năng, hành vi kỹ xảo có tính mềm dẻo và khả năng biến đổilớn
c Thời kỳ hành vi trí tuệ
Trang 37Hành vi trí tuệ là kết quả của luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống của nó.Hành vi trí tuệ ở Vượn người chủ yếu nhằm vào giải quyết các tình huống cụ thể có liênquan tới việc thỏa mãn các yêu cầu sinh vật của cơ thể Hành vi trí tuệ của con ngườisinh ra trong hoạt động, nhằm nhận thức bản chất, các mối quan hệ có tính quy luậtnhằm thích ứng và cải tạo thực tế khách quan Hành vi trí tuệ của con người gắn liền vớingôn ngữ, là hành vi có ý thức.
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ VỀ PHƯƠNG DIỆN CÁ THỂ
1 Thế nào là phát triển tâm lý (về phương diện cá thể của con người)
* Tuân theo nguyên lí chung của mọi sự phát triển trong thế giới, sự phát triển tâm
lý của con người từ lúc sinh ra đến khi qua đời trải qua nhiều giai đoạn (gọi là những giaiđoạn lứa tuổi) Việc xác định chính xác các giai đoạn phát triển lâm lý, tìm ra quy luậtđặc thù của sự phát triển tâm lý trong từng giai đoạn cũng như quy luật và cơ chếchuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang giai đoạn lứa tuổi khác có ý nghĩa to lớn về mặt lýluận và thực tiễn Sự phát triển tâm lý con người về phương diện cá thể là một quá trìnhchuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác Ở mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triểntâm lý đạt tới một chất lượng mới và diễn ra theo các quy luật đặc thù
* L.X.Vưgôtxki (nhà tâm lý học Liên Xô (cũ)) đã căn cứ vào những thời điểm mà sựphát triển tâm lý có những đột biến để xác định thời kỳ phát triển tâm lý
* A.N.Lêônchiev chỉ ra rằng sự phát triển tâm lý của con người gắn liền với sự pháttriển hoạt động của con người trong thực tiễn đời sống của nó, trong một số hoạt độngđóng vai trò chính (chủ đạo) trong sự phát triển, một số hoạt động khác giữ vai trò phụ
Sự phát triển tâm lý của con người phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chủ đạo Các nhàtâm lý học đã chỉ rõ:
+ Hoạt động chủ đạo ở tuổi sơ sinh (từ 0–1 tuổi) là hoạt động giao lưu cảm xúctrực tiếp với người lớn, trước hết là với cha mẹ
+ Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo (từ 3–6 tuổi)
+ Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh
+ Hoạt động lao động và hoạt động xã hội là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi thanhniên và người trưởng thành
Các hoạt động chủ đạo có tác dụng quyết định chủ yếu nhất đối với sự hình thànhnhững nét căn bản và đặc trưng cho giai đoạn hoặc thời kỳ lứa tuổi, đồng thời quy định
Trang 38tính chất của các hoạt động khác.
2 Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi
a Giai đoạn tuổi sơ sinh và hài nhi
– Thời kỳ 0 đến 2 tháng đầu (sơ sinh)
– Thời kỳ 2 đến 12 tháng (hài nhi)
b Giai đoạn trước tuổi học
– Thời kỳ vườn trẻ (từ 1 đến 3 tuổi)
– Thời kỳ mẫu giáo (từ 3 đến 6 tuổi)
c Giai đoạn tuổi đi học
– Thời kỳ đầu tuổi học (nhi đồng hoặc học sinh tiểu học): từ 6 đến 1 1 tuổi
– Thời kỳ giữa tuổi học (thiếu niên hoặc học sinh phổ thông trung học cơ sở): từ 12đến 15 tuổi
– Thời kỳ cuối tuổi học (hay tuổi thanh niên, hoặc học sinh phổ thông trung học): từ
15 bến 18 tuổi
– Thời kỳ sinh viên: từ 18 đến 23, 24 tuổi
d Giai đoạn tuổi trưởng thành: 24, 25 tuổi trở đi
e Giai đoạn người già:
Từ sau tuổi về hưu, 55 – 60 tuổi trở đi Về đặc điểm của sự phát triển tâm lý ởtừng giai đoạn, ở từng thời kỳ lứa tuổi sẽ được nghiên cứu ở phần tâm lý học lứa tuổi
Vậy ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phảnánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức (hiểu biết) mà conngười đã tiếp thu được (Là tri thức về trí thức, phản ánh của phản ánh)
Trang 39Có thể ví ý thức như “cặp mắt thứ hai” soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do
“cặp mắt thứ nhất” (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc,…) mang lại Với ý nghĩa
đó ta có thể nói: ý thức là tồn tại được nhận thức
2 Các thuộc tính cơ bản của ý thức
a Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới
– Nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ
– Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó làm cho hành vi mang tính có chủđịnh
b Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới
Ý thức không chỉ nhận thức sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với nó.C.Mác và F.Ănghen đã viết: “ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào đó đối với
sự vật này hay sự vật khác, động vật không biết “tỏ thái độ” đối với sự vật nào cả…”(C.Mác, F.Ănghen Toàn tập, Tập III)
c Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người
Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý thức điềukhiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra Vì thế ý thức có khảnăng sáng tạo V.l Lênin nói “ý thức của con người không chỉ: phản ánh hiện thực kháchquan mà còn sáng tạo ra nó” (V.l.Lênin Toàn tập, tập 29)
d Khả năng tự ý thức
Con người không chỉ ý thức về thế giới, mà ở mức độ cao hơn con người có khảnăng tự ý thức, có nghĩa là khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối vớibản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình
3 Cấu trúc của ý thức
Ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm nhiều mặt, là một chỉnh thể manglại cho thế giới tâm hồn của con người một chất lượng mới Trong ý thức có ba mặtthống nhất hữu cơ với nhau, điều khiển hoạt động có ý thức của con người
Trang 40lại cho con người những hiểu biết bản thân khái quát về thực tại khách quan Đây là nộidung rất cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức, giúp con người hình dung ra trướckết quả của hoạt động và hoạch định kế hoạch hành vi.
và phát triển trong hoạt động Cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức Vìthế nhu cầu, hứng thú, động cơ, ý chí… đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức
II SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC
1 Sự hình thành ý thức của con người (về phương diện loài người)
Các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: trước hết là lao động, sau laođộng và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến bộ nãocon vượn thành bộ óc con người Đây cũng chính là hai yếu tố tạo nên sự hình thành ýthức của con người
a Vai trò của lao động đi với sự hình thành ý thức
– Điều khác biệt giữa con người và con vật (người kiến trúc sư với con ong, ngườithợ dệt với con nhện) là con người trước khi lao động làm ra một sản phẩm nào đó, conngười phải hình dung ra trước mô hình của cái cần làm ra và cách làm ra cái đó Trên cơ
sở huy động toàn bộ vốn hiểu biết, năng lực tri tuệ của mình vào đó Con người có ýthức về cái mà mình sẽ làm ra
– Trong lao động con người phải chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, tiếnhành các thao tác và hành động lao động (cách để làm ra cái) tác động vào đối tượnglao động để làm ra sản phẩm Ý thức của con người được hình thành và thể hiện trongquá trình lao động
– Kết thúc quá trình lao động, con người có ý thức đối chiếu sản phẩm làm ra với
mô hình tâm lý của sản phẩm mà mình đã hình dung ra trước, để hoàn thiện, đánh giásản phẩm đó Như vậy có thể nói ý thức được hình thành và biểu hiện trong suốt quátrình lao động của con người, thống nhất với quá trình lao động và sản phẩm lao động do