1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 2013)

239 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 24,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh tại Tây Nguyên; khẳng định mục tiêu của việc quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế không phải kinh doanh đơn thuần mà là góp phần quan t

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THÙY TRANG

QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ

GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH

Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 2013)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC

HUẾ, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THÙY TRANG

QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG – AN NINH

Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 2013)

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận án 5

6 Bố cục của luận án 5

Chương 1 6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh tế nói chung 6

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng của quân đội 12

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị quân đội thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên 19

1.2 NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

1.2.1 Những nội dung đã được các công trình nghiên cứu, giải quyết mà luận án kế thừa 24

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 26

Chương 2 28

QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 1998) 28

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Tây Nguyên 28

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

2.1.2 Tình hình an ninh - chính trị 34

Trang 4

2.1.3 Chủ trương của Đảng về quân đội xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh 37

2.1.3.1 Giai đoạn trước năm 1985 37 2.1.3.2 Giai đoạn 1985 - 2013 42

2.1.4 Kết qủa bước đầu của các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng ở Tây Nguyên (1973 - 1985) 49

2.1.4.1 Tiếp quản vùng giải phóng; vừa sản xuất, vừa chiến đấu 49 2.1.4.2 Bước đầu xây dựng kinh tế kết hợp với củng cố, giữ vững quốc phòng -

an ninh 52

2.2 BINH ĐOÀN 15 RA ĐỜI, BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG XÂY DỰNG KINH

TẾ KẾT HỢP QUỐC PHÒNG - AN NINH (1985 - 1998) 59 2.2.1 Sự thành lập Binh đoàn 15 59 2.2.2 Khắc phục khó khăn, ổn định bộ máy tổ chức, nhanh chóng đi vào sản xuất kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh 61

Chương 3 73 QUÂN ĐỘI ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH

TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1998 - 2013) 73

3.1 CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ - QUỐC PHÒNG PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC, MỞ RỘNG ĐỊA BÀN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ (1998 - 2005) 73 3.1.1 Các khu Kinh tế - Quốc phòng hình thành 73 3.1.2 Các đơn vị tăng cường phát triển kinh tế, ổn định địa bàn trong các khu Kinh tế - Quốc phòng 75 3.2 CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ - QUỐC PHÒNG ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN VẬN, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT (2005 - 2013) 85 3.2.1 Sự thay đổi về cơ chế quản lý và tổ chức của các đơn vị quân đội kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên 85 3.2.2 Tháo gỡ những vướng mắc để phát triển kinh tế, tiếp tục giữ vững quốc phòng - an ninh trên địa bàn 87 3.3 MỘT SỐ MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN 97 3.3.1 Mô hình Binh đoàn - Tổng Công ty 97

Trang 5

3.3.2 Mô hình khu Kinh tế - Quốc phòng Tây Nguyên 104

3.3.3 Mô hình “Gắn kết” 110

3.3.3.1 “Gắn kết đơn vị và chính quyền địa phương” 110

3.3.3.2 “Gắn kết tổ, đội sản xuất với thôn, buôn” 112

3.3.3.3 “Gắn kết hộ gia đình” 113

Chương 4 118

NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 118

4.1 NHẬN XÉT 118

4.1.1 Kết quả 118

4.1.2 Hạn chế 132

4.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 137

4.2.1 Nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kì mới 137

4.2.2 Tăng cường công tác dân vận, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản trong phát triển kinh tế gắn với củng cố hệ thống chính trị trên địa bàn 139

4.2.3 Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức quần chúng trên địa bàn để cùng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao 140

4.2.4 Chủ động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh để nâng cao hiệu quả tổng hợp kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội và quốc phòng an ninh 142

KẾT LUẬN 145

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quân đội Nhân dân Việt Nam ngay từ khi thành lập đã được Đảng và Lãnh

tụ Hồ Chí Minh xác định là “Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác, Đội quân sản xuất” - ba chức năng cơ bản, chủ yếu đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị Trong đó, quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là sự kế thừa và phát triển kế sách “dựng nước đi đôi với giữ nước”, “kinh tế kết hợp quốc phòng” đã hình thành từ rất sớm và tồn tại xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thực tiễn đã cho thấy, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, cùng với việc làm tốt nhiệm vụ bảo

vệ thành quả cách mạng, quân đội luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,

quân đội bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đã luôn nêu cao tinh thần

tự lực tự cường, tích cực tăng gia sản xuất cải thiện đời sống; tham gia xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, căn cứ hậu cần tại chỗ trên các vùng chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Sau ngày đất nước thống nhất, quân đội là lực lượng xung kích, tham gia khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh, đồng thời triển khai thực hiện các chương trình, dự án xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trên khắp mọi miền đất nước, chủ yếu là ở các địa bàn khó khăn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo Bước vào thời kì đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu quân đội còn được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược

Tây Nguyên với vị thế tự nhiên án ngữ ngã ba Đông Dương, luôn là địa bàn

có vị trí chiến lược hết sức quan trọng của đất nước Vùng đất này có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, là vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Đây từng là căn cứ địa vững chãi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng

là nơi ẩn náu, hoạt động của nhiều tổ chức phản động Đánh giá cao tầm quan

Trang 7

trọng của Tây Nguyên, Đảng, Nhà nước và quân đội đã có nhiều kế hoạch chiến lược xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, vững chắc về quốc phòng - an ninh Tuy nhiên, thực trạng kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều khó khăn so với các vùng, miền khác của cả nước Đây cũng là địa bàn rất nhạy cảm về chính trị, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng sự đói nghèo, vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động biểu tình, bạo loạn, đòi ly khai thành lập cái gọi là “Nhà nước Đề ga tự trị” Hoạt động tôn giáo trái pháp luật, di cư tự do trên địa bàn diễn biến phức tạp Trong bối cảnh đó, việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng

- an ninh trên địa bàn Tây Nguyên luôn được đặt ra một cách cấp thiết

Ngay từ năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được kí kết, vùng giải phóng hình thành ở Bắc Tây Nguyên, một số đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn này đã được lệnh bám trụ, ở lại làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng hậu phương tại chỗ, chi viện cho lực lượng chủ lực giải phóng miền Nam Từ đó đến nay trải qua hơn nửa thế kỷ lao động sản xuất, các đơn vị quân đội thực hiện phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở Tây Nguyên đã và đang mang cuộc sống no ấm cho hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số và nhân dân từ mọi miền đến đây lập nghiệp, hình thành nên hệ thống khu Kinh tế - Quốc phòng vững chãi dọc trên vành đai biên giới giáp Lào và Campuchia Sự hiện diện của lực lượng quân đội đảm nhận nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng

có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển mọi mặt của Tây Nguyên

Quá trình quân đội tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên đã để lại nhiều kinh nghiệm quý giá đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, từ việc nhận thức cho đến quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ

Trên ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Quân đội thực hiện nhiệm vụ

kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên (1985 - 2013)” làm đề tài

cho luận án tiến sĩ sử học của mình Đề tài vừa có giá trị khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học, tìm hiểu vấn đề này sẽ làm sáng tỏ những hoạt động

cũng như thành tựu, hạn chế trong quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ phát

Trang 8

triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh tại Tây Nguyên; khẳng định mục tiêu của việc quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế không phải kinh doanh đơn thuần mà là góp phần quan trọng củng cố vững chắc thế trận quốc phòng -

an ninh tại các địa bàn chiến lược

Về ý nghĩa thực tiễn, qua việc khảo cứu quá trình quân đội thực hiện phát

triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên sẽ đúc kết được một số mô hình tiêu biểu, những bài học kinh nghiệm thiết thực phục vụ hữu hiệu cho sự nghiệp xây dựng kinh tế và củng cố thế trận quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên nói riêng và các địa bàn trọng điểm, chiến lược khác trong cả nước hiện nay nói chung

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các đơn vị quân đội thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Địa bàn Tây Nguyên, bao gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng

- Về thời gian: Từ năm 1985 (khi Binh đoàn 15 chính thức được thành lập)

cho đến năm 2013 (khi mô hình quân đội thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên bước đầu hoàn thiện) Tuy nhiên, để đảm bảo tính logic của vấn đề, trong luận án có thể đề cập đến hoạt động của một số đơn vị quân đội chuyên xây dựng kinh tế tại địa bàn Tây Nguyên từ năm 1973

- Về nội dung: Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế có rất nhiều loại hình, song, phạm vi nội dung của luận án chỉ tập trung nghiên cứu các đơn

vị quân đội chuyên trách làm nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên như Binh đoàn 15, Binh đoàn 16 và một số đơn vị cấp quân khu, cấp tỉnh đội quản lý

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên (1985 - 2013), qua đó góp phần khẳng định tính đúng đắn của mô hình Cung cấp luận cứ khoa học góp

Trang 9

phần vào việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên nói riêng và các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng

xa, vùng khó khăn trong cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận án được xác định là:

- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên Khái quát chủ trương của Trung ương Đảng, chính sách của Nhà nước về quân đội tham gia phát triển kinh

tế kết hợp củng cố quốc phòng

- Tái hiện quá trình quân đội thực hiện phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên qua các giai đoạn phát triển từ năm 1985 đến năm 2013

- Nhận diện các mô hình phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh

tiêu biểu trên địa bàn

- Nhận xét, đánh giá kết quả đạt được và đúc kết một số bài học kinh nghiệm về quá trình quân đội thực hiện phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng

cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên (1985 - 2013)

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

- Văn kiện của Trung ương Đảng, chỉ thị của Bộ Quốc phòng, Đảng ủy

Quân sự Trung ương, Đảng uỷ Quân khu 5

- Các tác phẩm, bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội

- Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng, Quân khu 5, Phòng Chính trị Quân khu 7, Binh đoàn 15, Binh đoàn 16…

- Các cuốn lịch sử truyền thống của các đơn vị, địa phương

- Các luận án, luận văn liên quan đến đề tài

- Hồi ức của các nhân chứng lịch sử

- Kết quả khảo sát điền dã

Trang 10

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử

và phương pháp logic là chủ yếu Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, tổng hợp, khái quát, so sánh, phân tích trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu văn bản, thực địa và tiếp xúc nhân chứng lịch sử để chọn lọc, khai thác những thông tin có giá trị tin cậy

5 Đóng góp của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về quá trình quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên (1985 - 2013) Qua đó, góp phần khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả của mô hình này trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, nhận thức sâu sắc hơn

về truyền thống “Đội quân sản xuất” của Quân đội Nhân dân Việt Nam; đồng thời là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu về quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế trong thời bình

Luận án đúc kết được một số bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn, cung cấp dữ liệu có thể tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên hiện nay

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm có

4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Quân đội thực hiện phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc

phòng - an ninh ở Tây Nguyên (1985 - 1998)

Chương 3 Quân đội đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an

ninh ở Tây Nguyên (1998 - 2013)

Chương 4 Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Vấn đề quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng -

an ninh lâu nay đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà có không ít ý kiến cho rằng chức năng của quân đội là chiến đấu và huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quân đội không nên làm kinh tế… thì vấn đề này càng được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Ngay cả khi Binh đoàn 15 - đơn vị quân đội chuyên trách nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên ra đời, đạt được những thành tựu nhất định thì mô hình này cũng chưa phải đã tạo được sự đồng thuận ngay trong nhận thức của nhiều người

Chính vì vậy mà liên quan đến chủ đề này đã có khá nhiều công trình, bài viết được công bố; có thể khu trú vào một số nhóm cơ bản sau đây:

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh

Tại nhiều quốc gia phụ cận, có điều kiện và đặc thù chiến tranh nhân dân tương đồng với Việt Nam, vấn đề quân đội tham gia vào xây dựng kinh tế, củng

cố quốc phòng trong thời bình cũng đã sớm được quan tâm, nghiên cứu

Từ đầu thập niên 50 của thế kỉ XX, khi tình hình đất nước đi vào ổn định, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương với nhiệm vụ thúc đẩy, phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội và hòa hợp dân

Trang 12

tộc, cũng như củng cố phòng thủ vùng biên giới Năm 1985, Trung Quốc cho phép quân đội tham gia các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dân dụng dưới hình thức các doanh nghiệp nhà nước Những nội dung này đã được thể hiện trong

các công trình: Vai trò của Quân giải phóng nhân dân trong nền kinh tế và đối ngoại của Trung Quốc của Bondan O.Szuprowicz (Nxb Quân đội Nhân dân, 1977); Hoạt động kinh tế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc của

A.Abadop (Nxb Quân đội Nhân dân, 1998),… Bondan cho rằng: Quân đội Trung Quốc là tổ chức duy nhất trong các tổ chức quân sự trên thế giới, tham gia rộng khắp vào công cuộc phát triển kinh tế và có vai trò đảm bảo sức mạnh kinh tế cho đất nước Các công trình trên cũng cho biết quân đội Trung Quốc đã và đang tham gia phát triển kinh tế có hiệu quả ở nhiều ngành khác nhau như: giao thông vận tải, công nghiệp dược, kinh doanh khách sạn, xây dựng nhà ở, công nghiệp nhẹ, viễn thông,… lợi nhuận đóng góp lớn vào ngân quỹ của quân đội Trung Quốc Cũng nghiên cứu về quân đội xây dựng kinh tế, luận án Phát triển các doanh nghiệp quân đội nhân dân Lào trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Vongack Phanthavong (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010)

tập trung phân tích, làm rõ đặc điểm của các doanh nghiệp quân đội tại Lào

Vongack Phanthavong phân tích cụ thể sự giống nhau về bản chất của doanh nghiệp quân đội Lào và Việt Nam: đều hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Nhà nước và những quy định của Bộ Quốc phòng; kinh doanh phải đạt hiệu quả, nhiệm vụ quốc phòng phải đảm bảo; có loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp sản xuất quốc phòng Tuy nhiên, ở Lào còn có loại hình doanh nghiệp cho thuê và giao khoán chỉ tiêu ngân sách, không có loại hình doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng như Việt Nam; một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn hoặc liên doanh hợp tác với Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan,… Công trình cũng so sánh: Các doanh nghiệp quân đội ở Lào ra đời từ năm

1984, quá trình phát triển mặc dù đã đạt được một số thành tựu song với số lượng ít, quy mô, cơ cấu nhỏ, mô hình này chưa có nhiều đóng góp cho sự phát triển và hội nhập của đất nước; trong khi đó, các doanh nghiệp quân đội ở Việt Nam đã thực sự trở thành một lực lượng đáng kể và đóng vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc

dân Tác giả rút ra kết luận:“Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh và tập trung vào vấn đề gắn liền nhiệm vụ kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh

Trang 13

và đã tìm ra được giải pháp rất hiệu quả để thực hiện xuất sắc hai nhiệm vụ đó Hai giải pháp cơ bản là: Thứ nhất, giao cho một số đơn vị triển khai mô hình quân đội làm nhiệm vụ kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng trên những địa bàn chiến lược; Thứ hai, tập trung các nguồn lực của Nhà nước, quân đội và những lực lượng tại chỗ để xây dựng những khu Kinh tế - Quốc phòng” [180; tr.28]

Một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn đầu tư từ Việt Nam như Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh 20 - 1, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh dệt nhuộm Lào - Việt Nam,… Đặc biệt, Tổng Công ty phát triển nông lâm - công nghiệp toàn diện (miền Nam) đứng chân trên các tỉnh biên giới Chămpasac, Attapư, Xêkong, Xalavan, Savanakhet đã mở ra mối quan hệ hợp tác trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh với Việt Nam Hiện tượng quân đội tham gia phát triển kinh tế dưới các hình thức khác nhau khá phổ biến ở trên thế giới như tại Đức, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Đài Loan, Với những đóng góp đã được ghi nhận, quân đội không chỉ là lực lượng tích cực trong xây dựng kinh tế mà còn được xem là phương thức thực hiện chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu về kết hợp kinh tế với quốc phòng đã đề cập đến vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến

lược này, có thể kể đến: Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam (Nxb Quân đội Nhân dân, 1980) của Trần Xuân Trường và Nguyễn Anh Bắc; Mấy vấn

đề về bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 1986) của Nguyễn Đường và Nguyễn Anh Bắc; Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín

Nội dung cơ bản của những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích, luận giải tính khách quan của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh; tiến trình kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc cũng như các cách thức, đặc điểm của chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng ở Việt Nam Các công trình đều khẳng định tính tất yếu và đánh giá cao vai trò tích cực của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong tham gia phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, xây dựng tiềm lực đất nước

Trong đó, công trình Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay

(Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín đã làm rõ một số nội dung cụ

Trang 14

thể về vai trò, vị trí của quân đội tham gia xây dựng kinh tế đất nước

Dưới sự trực tiếp chỉ đạo cụ thể và chỉ đạo ngày càng quyết liệt của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động tham gia sản xuất của quân đội, trong suốt thời kì Cách mạng giải phóng dân tộc đến giai đoạn cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, không chỉ là phương thức thể hiện đúng đắn của chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, mà còn phải trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược này Vì vậy, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của quân đội Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này, quân đội

“phải tìm đúng thế mạnh, xây dựng những lực lượng kinh tế - quốc phòng như là

“những quả đấm chiến lược” ở những ngành kinh tế mũi nhọn, ở những vùng lãnh thổ chiến lược Nói chung, quân đội làm kinh tế là phải chọn việc, chọn nơi,

có phương hướng và quy chế rõ ràng, mang lại hiệu quả thiết thực” [154; tr.22]

Tác giả khái quát những kết quả mà lực lượng quân đội xây dựng kinh tế đã làm được qua 3 loại hình: doanh nghiệp quân đội, đoàn Kinh tế - Quốc phòng, đơn vị thường trực tham gia sản xuất Những thành tựu ấy đã góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh; giữ gìn năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho quân đội; tăng nguồn thu cho ngân sách, cải thiện đời sống bộ đội Quân đội đã trở thành cầu nối giữa Đảng với đồng bào các dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân vùng sâu, vùng xa vào đường lối chính sách của Đảng, tạo thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược và biên giới

Tác giả đề cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội: “trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, vẫn vững vàng bám trụ trên các địa bàn chiến lược, sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội”

[154; tr.124] Doanh nghiệp quân đội tham gia xây dựng nhiều lĩnh vực, ngành và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, tác động sâu sắc đến mọi mặt phát triển của đất nước, góp phần đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập kinh tế thế giới

Đối với đoàn Kinh tế - Quốc phòng, Trần Trung Tín cho rằng: “về thực chất đây là những đơn vị quân đội đứng chân trên các địa bàn chiến lược như vùng núi phía Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, làm nhiệm vụ xây dựng các khu Kinh tế - Quốc phòng, nòng cốt giúp dân xóa đói giảm nghèo Bản thân việc đứng chân và hoạt động của các đơn vị này trong việc tạo ra kết cấu hạ tầng cho các cụm dân cư, đã phát triển kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ giao lưu kinh tế - văn

Trang 15

hóa ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới Đây là một sự nghiệp mà Đảng và Nhà nước ta hiện nay đang rất quan tâm Đó cũng là đóng góp của quân đội cho

sự nghiệp công nghiệp hóa ở nông thôn nói riêng và trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của cả nước Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng thực sự

là lực lượng nòng cốt để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên các địa bàn chiến lược.” [154; tr.269]

Ngoài các công trình kể trên, có khá nhiều bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến hoạt động quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh

tế tại Việt Nam, tiêu biểu:

Trong bài viết “Kết hợp kinh tế với quốc phòng để xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới” trên Tạp chí Cộng sản, số 12 - 1992, Đoàn Khuê đã

đưa ra một số vấn đề cần lưu ý đối với lực lượng quân đội xây dựng kinh tế Với mục tiêu tăng cường năng lực quốc phòng, hoạt động xây dựng kinh tế của quân đội “không được để ảnh hưởng đến sức chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân đội, tiềm lực quốc phòng của đất nước; không được ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam” [114; tr.9] Đoàn Khuê nhấn mạnh “quân đội tham gia xây dựng kinh tế phải đạt kết quả và hiệu quả cao Kết quả và hiệu quả này phải được xem xét một cách tổng hợp vì lợi ích kinh tế và lợi ích quốc phòng an ninh và xã hội” [114; tr.9], trong đó, “ở những đơn vị quân đội làm kinh tế đứng chân trên những địa bàn chiến lược, hiệu quả không thể tính theo lỗ lãi đơn thuần, mà phải xem trọng việc tạo nên thế bố trí chiến lược của đất nước về quốc phòng - an ninh và xã hội” [114; tr.9] Mặt khác, bài

viết đặt ra yêu cầu phải có những cơ chế phù hợp, chính sách cụ thể cho mỗi loại hình xây dựng kinh tế khác nhau của quân đội để có thể phát huy được tiềm năng, thế mạnh, không đi chệch mục tiêu

Bài viết “Sản xuất, xây dựng kinh tế quân đội không tách rời đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng” của Đồng Sĩ Nguyên trên tạp chí Kinh tế quốc phòng, số 4 - 2012, đã khái quát quá trình ra đời, phát triển, tổng kết một số

đóng góp tiêu biểu của lực lượng sản xuất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kì

Từ những ngày đầu kháng chiến - kiến quốc, quân đội đã vừa chiến đấu vừa tăng gia sản xuất để đảm bảo một phần đời sống cho bộ đội đánh giặc

Trang 16

Miền Bắc hòa bình, Bộ Quốc phòng đã điều chuyển một lực lượng cán bộ chiến sĩ sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế Một số sư đoàn, trung đoàn tham gia

xây dựng các sơ sở kinh tế lớn và 29 nông trường khắp miền Bắc Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (khóa II), một số đơn vị quân đội đã vào xây dựng hậu

phương tại chỗ ở Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ Đến giai đoạn cuối của kháng chiến chống Mỹ, có 15 trung đoàn kinh tế đứng chân tại Tây Nguyên, 5 trung đoàn làm nhiệm vụ ở Bãi Cát Tiên (Đông Nam Bộ), là những căn

cứ hậu cần cho chiến trường vừa là lực lượng tiếp quản khi miền Nam giải phóng Sau khi đất nước thống nhất, lực lượng quân đội xây dựng kinh tế được biên chế thành 6 binh đoàn và 12 trung đoàn, đóng quân chủ yếu là vùng miền núi, biên giới, ven biển trong cả nước, cùng nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh đồng thời bước đầu thực hiện các chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng Chiến tranh biên giới bùng nổ, đây là những đơn vị tiên phong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Bước vào công cuộc Đổi mới, lực lượng quân đội sản xuất, xây dựng kinh

tế tiếp tục có sự thay đổi về quy mô, phạm vi và phương thức hoạt động, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước, góp phần giữ gìn bình yên Tổ quốc

Các công trình và bài viết nêu trên đã giải quyết được nhiều vấn đề mang tính lý luận về quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế tại Việt Nam: Đây vừa là chủ trương vừa là giải pháp để thực hiện chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng ở hiện tại và tương lai; dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, quân đội hoàn toàn có khả năng phát huy thế mạnh, tiềm năng của mình

để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực phòng thủ của đất nước; thông qua nhiều loại hình xây dựng kinh tế, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp cho thấy vai trò tích cực, vị trí quan trọng của mình, bước đầu khẳng định sự đúng đắn về chủ trương của Đảng khi để quân đội tham gia triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh

Tuy nhiên, các công trình chưa đề cập nhiều đến hoạt động quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh tại các địa bàn chiến lược, biên giới Đối với đơn vị quân đội Kinh tế - Quốc phòng đứng chân tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, các tác giả mới chỉ dừng ở mức nhìn nhận và đánh giá tổng quan, trong khi chính những đơn vị này đã và đang tạo ra

Trang 17

nhiều thành tựu có ý nghĩa, xây dựng các mô hình thực hiện ngày càng hiệu quả hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược mà Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao phó

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng của quân đội

Bước vào thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trước những thành quả đạt được của lực lượng quân đội xây dựng kinh tế, các nhà nghiên cứu

đã có nhiều công trình khai thác vấn đề này, đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng và các khu Kinh tế - Quốc phòng

Doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng là dạng đặc thù của doanh nghiệp quân đội Loại hình này đã được làm rõ trong một số công trình nghiên cứu sau:

Vũ Thanh Chế trong luận án Quân đội Nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước trong tình hình hiện nay (Học viện Chính

trị, 1998) đã đề ra khái niệm doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng 1: Đây là các đơn vị ở nhiều mức độ khác nhau, có tính đặc thù vừa sản xuất kinh doanh, vừa làm nhiệm vụ quốc phòng - an ninh tại vị trí địa lý chiến lược

Dựa trên những tiêu chí cụ thể, tác giả đã đánh giá tích cực hoạt động của các đơn vị này trong tổ chức sắp xếp dân cư, bố trí lực lượng sản xuất khi đứng chân tại các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa trong cả nước Các doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng vừa tận dụng hiệu quả tài nguyên để góp phần giải quyết khó khăn về kinh tế của địa phương và đất nước, vừa là lực lượng vũ trang vững mạnh tại chỗ, trở thành nòng cốt trong việc xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh, nâng cao dân trí và sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn chiến lược

“Nền móng vật chất, văn hóa ở các khu kinh tế - xã hội mới do các doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng tạo nên đã góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về di dân xây dựng kinh tế mới” [72; tr.75] Nguyễn Xuân Phúc trong luận án Quản lý nhà nước đối với các Doanh nghiệp Kinh tế quốc phòng (Đại học Kinh tế quốc dân, 2012) đã khẳng định: “Sứ

1 Vũ Thanh Chế chia các hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam thành 4 nhóm cơ bản: quân

sự thuần túy, công tác, sản xuất quân sự và sản xuất xây dựng kinh tế Các doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng là một hình thức thuộc nhóm hoạt động sản xuất tham gia xây dựng kinh tế

Trang 18

mệnh hiện nay của doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng Việt Nam là phục vụ quốc phòng - an ninh và sản xuất kinh doanh có hiệu quả” [130; tr.45]

Tác giả góp phần làm rõ hơn khái niệm doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng: là doanh nghiệp nhà nước kết hợp thực hiện 2 nhiệm vụ quốc phòng và kinh tế vừa có chức năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công phục vụ quốc phòng, vừa có chức năng sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận kinh tế

Tác giả đã nêu lên smột số đặc điểm của doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng: vừa phục vụ quốc phòng - an ninh, vừa kinh doanh có lợi nhuận; không được lựa chọn địa bàn hoạt động và ngành nghề kinh doanh; phải cạnh tranh theo cơ chế thị trường với danh mục sản phẩm vừa do doanh nghiệp tự đề ra vừa

do Nhà nước quy định; có thể tổ chức theo mô hình công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên hoặc công ty Cổ phần; chịu sự chi phối của quy luật kinh tế thị trường và quy luật quân sự (là lực lượng dự bị của quân đội, đóng quân trên các địa bàn chiến lược gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, phải tham gia giải quyết các vấn đề xã hội dù không mang lại hiệu quả kinh tế)

Luận án đánh giá một cách khách quan năng lực cạnh tranh và những đóng góp về kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng của các doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng; chỉ ra những bất cập cũng như khẳng định vai trò to lớn và tác động trực tiếp của cơ chế quản lý Nhà nước đối với loại hình này

Tác giả cũng nhận xét riêng về một số doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng

ở Tây Nguyên: “Tổng công ty 15, Công ty 16 là những điển hình của doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng có những đóng góp đáng kể trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội, tạo được nhiều việc làm cho người lao động và giúp dân vượt qua khó khăn, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đóng góp đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình thương, giúp đỡ các vùng bị thiên tai khắc phục hậu quả” [130; tr.78]

Bên cạnh các doanh nghiệp, các khu Kinh tế - Quốc phòng sau khi ra đời

đã trở thành đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý

Năm 2007, Viện khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự - Bộ Quốc phòng đã

công bố công trình khoa học Quân đội tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội

ở các khu Kinh tế - Quốc phòng Đề tài đề cập khá chi tiết về khái niệm khu

Kinh tế - Quốc phòng và hoạt động của đoàn Kinh tế - Quốc phòng

Trang 19

Khu Kinh tế - Quốc phòng là một đơn vị kinh tế, một đơn vị quốc phòng, không phải là một đơn vị hành chính của Nhà nước Mục tiêu của khu Kinh tế

- Quốc phòng là đem lại lợi ích cho đồng bào sinh sống ở khu Kinh tế - Quốc phòng trong mối quan hệ với lợi ích của địa phương và cả nước

Đoàn Kinh tế - Quốc phòng là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng khu

Kinh tế - Quốc phòng, chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động trong khu Kinh tế

- Quốc phòng Với hoạt động xây dựng cơ sở chính trị - xã hội tại khu Kinh tế - Quốc phòng, mặc dù có nhiều lực lượng tham gia, chính quyền địa phương giữ vai trò trung tâm, nhưng đoàn Kinh tế - Quốc phòng phải là lực lượng nòng cốt Đoàn Kinh tế - Quốc phòng phải xây dựng quan hệ hợp đồng chiến đấu với các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng cùng đóng quân trên địa bàn có khu Kinh tế - quốc phòng để giữ gìn trật tự an ninh vùng biên giới, hải đảo, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia

Tập trung vào đặc trưng kinh tế của khu Kinh tế - Quốc phòng, luận án Đầu

tư phát triển các khu Kinh tế - Quốc phòng ở Việt Nam hiện nay của Trần Mạnh

Hùng (Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) cho rằng: Đây là một bộ phận trong chủ trương xóa đói giảm nghèo và giải quyết vấn đề việc làm thuộc chương trình Mục tiêu quốc gia của Nhà nước Khu Kinh tế - Quốc phòng không có vị trí địa

lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi như khu Kinh tế mở, khu Kinh tế cửa khẩu, khu Chế xuất,

Khu Kinh tế - Quốc phòng được đánh giá phát triển bền vững khi đáp ứng các nội dung: kinh tế phải tăng trưởng, có hiệu quả và ổn định; giải quyết được các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, củng cố năng lực quốc phòng; đảm bảo vấn đề môi trường, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, sự đa dạng và thích nghi sinh học Thông qua quá trình khảo sát, luận án đánh giá chi tiết thực trạng đầu tư vốn vào khu Kinh tế - Quốc phòng, từ đó đề ra giải pháp cho những bất cập trong vấn đề này để tiếp tục phát triển các khu Kinh tế - Quốc phòng Việt Nam Trực tiếp nghiên cứu về một mặt hoạt động của đoàn Kinh tế - Quốc phòng,

Nguyễn Xuân Đại trong luận án Đoàn Kinh tế quốc phòng thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay (Học viện Chính trị, 2017) đã đưa ra

Trang 20

một số quan điểm về chức năng, bộ máy và tổ chức quân sự - kinh tế của đoàn Kinh tế - Quốc phòng Cụ thể:

Đây là một mô hình tổ chức đặc thù của quân đội, cùng lúc thực hiện 3 chức năng chiến đấu, công tác và lao động sản xuất Ba chức năng này đều là cơ bản và quan trọng đối với đoàn Kinh tế - Quốc phòng, không thể xem nhẹ chức năng nào, luôn hòa quyện, hỗ trợ cho nhau để đạt mục tiêu kinh tế và quốc phòng Song, tùy vào tình hình cụ thể, thời điểm cụ thể và đặc điểm, tính chất địa bàn hoạt động mà việc thực hiện chức năng của đoàn Kinh tế - Quốc phòng được thể hiện với mức độ khác nhau, nhưng xét ở phương vị chung thì chức năng công tác và lao động sản xuất nổi lên thường xuyên và phổ biến

Bộ máy của đoàn Kinh tế - Quốc phòng được tổ chức theo mô hình ba cấp (Đoàn, Công ty, lâm trường, đội sản xuất) hoặc hai cấp (Đoàn, đội sản xuất) Biên chế quân sự của đoàn Kinh tế - Quốc phòng tùy theo điều kiện cụ thể

có thể sắp xếp từ cấp tiểu đoàn đến binh đoàn Trong 20 đoàn Kinh tế - Quốc phòng của cả nước có 2 đơn vị cấp binh đoàn trực thuộc Bộ Quốc phòng; 5 đơn

vị sư đoàn trực thuộc các Quân khu; 5 đơn vị cấp lữ đoàn, 8 đơn vị cấp trung đoàn trực thuộc các Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh

Trong đó, một số đơn vị Kinh tế - Quốc phòng có pháp nhân kinh tế (Tổng Công ty, Công ty) là các doanh nghiệp quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý Các đơn vị này sử dụng tên quân sự khi giải quyết các vấn đề quốc phòng và hoạt động quân sự Khi giải quyết các vấn đề kinh tế (chủ yếu phục vụ xây dựng dự

án khu Kinh tế - Quốc phòng do cấp trên có thẩm quyền giao), đơn vị sử dụng địa vị pháp lý và quyền hạn của một doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ công ích theo quy định của pháp luật

Luận án khẳng định đoàn Kinh tế - Quốc phòng và khu Kinh tế - Quốc phòng cùng tồn tại, phát triển, phụ thuộc vào nhau; không có đoàn Kinh tế - Quốc phòng thực hiện dự án thì không thể gọi là khu Kinh tế - Quốc phòng

Do nhiệm vụ nghiên cứu, luận án còn phân tích cụ thể, rút ra được đặc điểm của vấn đề dân tộc, tôn giáo tại các khu Kinh tế - Quốc phòng là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược, biên giới; cũng như trình bày khá

tỉ mỉ những thành tựu, hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà

Trang 21

nước hiện nay của các đoàn Kinh tế - Quốc phòng, trong đó có các đơn vị đứng chân trên địa bàn Tây Nguyên

Mặc dù góp phần làm sáng tỏ hơn về khái niệm đoàn Kinh tế - Quốc phòng, loại hình xây dựng kinh tế hết sức mới mẻ của quân đội, song quan điểm cho rằng các đơn vị phụ trách các khu Kinh tế - Quốc phòng trong cả nước đều được gọi là đoàn Kinh tế - Quốc phòng của Nguyễn Xuân Đại chưa thật chính xác Luận án chưa thấy được quy mô, mô hình tổ chức có nhiều điểm khác biệt của các đơn vị quân đội đảm nhận xây dựng khu Kinh tế - Quốc phòng ở Tây Nguyên Mặt khác, luận án chưa đề cập đến vai trò của yếu tố kinh tế trong việc giải quyết mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo tại địa bàn các khu Kinh tế - Quốc phòng

Có thể thấy, các công trình nêu trên tiếp tục khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước khi giao cho quân đội nhiệm vụ tham gia xây dựng, phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới Các công trình đều đã trực tiếp đề cập, làm sáng tỏ các nội dung về doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng, khu Kinh tế - Quốc phòng, đoàn Kinh tế - Quốc phòng như khái niệm, đặc điểm, đặc trưng, chức năng, nhiệm

vụ, mục tiêu,… Không chỉ vậy, có những công trình đã trình bày khá cụ thể thực trạng một số mặt hoạt động của các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng trong cả nước với tư cách là một dạng đặc thù của quân đội xây dựng kinh tế; đánh giá tích cực, đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả của các loại hình này

Do lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu, các công trình trên chưa đề cập một cách cụ thể phương thức thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, đặc biệt là cách giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa yếu tố kinh tế với yếu tố quốc phòng và ngược lại của quân đội nói chung, ở một số đơn vị Kinh tế - Quốc phòng nói riêng Mặt khác, do chưa nghiên cứu rõ thực tiễn nên các công trình không thấy được sự linh hoạt của mô hình quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng ở các địa bàn chiến lược biên giới, từ đó chưa đánh giá một cách khách quan và toàn diện hiệu quả tổng thể kinh tế, chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh mà những đơn vị quân đội này đã mang lại, mà còn nặng về yếu tố kinh tế hoặc chính trị Ngoài các công trình kể trên, có nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng góp phần cung cấp thêm một số nhận định, đánh giá, bài học kinh nghiệm về hoạt động xây dựng khu Kinh tế - Quốc phòng trên các địa bàn chiến lược của quân đội, điển hình như:

Trang 22

Đăng trên số 12 - 2004 của Tạp chí Lịch sử quân sự, bài viết “Khu Kinh tế - Quốc phòng, một nguồn nội lực của đất nước, nòng cốt giải quyết các vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trên địa bàn chiến lược” của Hồ Sĩ Hậu khẳng định tính

chiến lược và tính ưu việt của các dự án xây dựng khu Kinh tế - Quốc phòng

Sự bố trí và xây dựng hệ thống khu Kinh tế - Quốc phòng đảm bảo cho việc thống nhất giữa lợi ích phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng Các khu Kinh tế

- Quốc phòng tạo ra bộ mặt mới cho các khu vực biên giới, tiêu biểu: “Khu Kinh

tế - Quốc phòng Binh đoàn 15 đã trở thành hình mẫu tiêu biểu và cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn nhất để Đảng nhân rộng mô hình khu Kinh tế - Quốc phòng với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong vùng dự án nhằm tạo điều kiện cho việc quy hoạch dân cư thành những làng bản, thị tứ, thị trấn ổn định đời sống, kinh tế phát triển” [103; tr 9]

Bài viết cũng nêu rõ một số khó khăn trong vấn đề phát triển các khu Kinh

tế - Quốc phòng; một số kinh nghiệm cụ thể về phối hợp, gắn kết với chính quyền địa phương và các tổ chức quần chúng Đặc biệt, bài viết còn lưu ý phải đặt lên hàng đầu vấn đề giải quyết đất đai của các khu Kinh tế - Quốc phòng

Bài viết “Bàn về tính đặc thù của khu Kinh tế - Quốc phòng” của Đỗ Mạnh Hùng và Tạ Minh Tuấn trên số 2 - 2011, Tạp chí Kinh tế quốc phòng, đã chỉ ra

một số nét khác biệt về mục tiêu đầu tư, nguồn vốn và khả năng thu hồi vốn giữa khu Kinh tế - Quốc phòng và các khu Kinh tế khác

Đầu tư vào các khu Kinh tế - Quốc phòng thực chất là đầu tư vào dự án phát

triển tổng thể, nhằm“nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa, tạo điều kiện để đưa các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, quốc phòng an ninh” [109; tr.12] Trong các mục tiêu phát triển dự án, thì mục tiêu kinh tế phải

được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng - an ninh

Do đặc thù địa bàn chủ yếu thực hiện ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo (các xã đặc biệt khó khăn), dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp, huy động vốn tại chỗ rất khó, nên nguồn vốn đầu tư cho các khu Kinh tế - Quốc phòng chủ yếu là từ ngân sách nhà nước Nguồn vốn này dung để tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thủy lợi, nông nghiệp, đời

Trang 23

sống cộng đồng Do vị trí địa lý, việc vận chuyển nguyên vật liệu, máy móc vào các vùng dự án khó khăn và tốn kém, làm tăng thời gian và chi phí đầu tư nên vốn đầu tư vào các khu Kinh tế - Quốc phòng thường lớn hơn so với đầu tư vào các khu vực khác và khả năng thu hồi vốn rất thấp, nếu có thì phải trong thời gian dài

Trên Tạp chí Kinh tế Quốc phòng, số 3 - 2010, Phạm Toàn Thắng đã có bài

“Trao đổi về mô hình kết hợp giữa doanh nghiệp quân đội với đoàn Kinh tế - Quốc phòng” đề xuất một số vấn đề để có thể kết hợp giữa doanh nghiệp quân đội và

đoàn Kinh tế - Quốc phòng nhằm khắc phục những hạn chế, tạo ra sự phát triển bền vững, ổn định và hiệu quả lâu dài của khu Kinh tế - Quốc phòng

Hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp quân đội với đoàn Kinh tế - Quốc phòng có thể thực hiện được trên các lĩnh vực: trồng, khai thác, chế biến và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp (cao su, cà phê, điều,…); kinh doanh dịch vụ du lịch Doanh nghiệp quân đội có thể đầu tư vốn trực tiếp vào một số khu Kinh tế - Quốc phòng có lợi thế (đất đai, nhân lực, vùng có sản phẩm đặc thù,…) và tham gia vào cung cấp dịch vụ 2 đầu cho người dân trong khu Kinh tế - Quốc phòng; mặt khác, tạo điều kiện để thành lập các xí nghiệp sản xuất - xây dựng - dịch vụ của các đoàn Kinh tế - Quốc phòng; tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng dự án

Đoàn Kinh tế - Quốc phòng phải trở thành trung tâm gắn kết giữa doanh nghiệp quân đội với người dân, và doanh nghiệp quân đội cần xác định đây là nhiệm vụ chính trị bên cạnh mục tiêu lợi nhuận Ngoài ra, để tạo ra sự thành công của mối quan hệ này còn phải được chính quyền địa phương thống nhất trong việc giao đất thực hiện dự án, cần có cơ chế ưu đãi của Nhà nước đối với việc đầu tư vào khu Kinh tế - Quốc phòng

Phần lớn các bài viết đã đi sâu, làm rõ vấn đề về ưu điểm, hạn chế về quá trình xây dựng khu Kinh tế - Quốc phòng; bước đầu đã cung cấp một số kinh nghiệm đúc kết thực tiễn hoạt động quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế trên địa bàn chiến lược, biên giới Trong phạm vi của mình, các bài viết vẫn chưa chỉ ra được hết những thách thức, khó khăn mà các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng gặp phải khi triển khai hoạt động trên những địa bàn được coi là điểm nóng về chính trị; một số nội dung còn chưa sát với thực tế nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng của quân đội

Trang 24

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị quân đội thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên

Với vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt, Tây Nguyên là khu vực được Đảng, Nhà nước xác định cần có những chính sách đặc thù để phát triển bền vững, củng cố quốc phòng - an ninh Trong đó, quân đội là lực lượng quan trọng vừa tham gia phát triển kinh tế vừa xây dựng cơ sở chính trị, củng cố địa bàn,

bảo đảm quốc phòng - an ninh Trong quá trình tồn tại và phá triển, các đơn vị

quân đội đãcùng với Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên đạt được những kết quả khả quan trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng

Đề cập trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của luận án, có một số công trình đã được xuất bản, do các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên tổ chức biên soạn

Từ năm 2008, Binh đoàn 16, đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng chủ lực của Bộ Quốc phòng, đứng chân trên địa bàn Nam Tây Nguyên,

lần lượt biên soạn 3 công trình: Binh đoàn 16 - 10 năm xây dựng và trưởng thành (1998 - 2008) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008), Biên niên sự kiện Binh đoàn 16 (1998 - 2013) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2013), Lịch sử Đảng bộ Binh đoàn 16 (1999 - 2019) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2018) Trong đó, công trình Lịch sử Đảng bộ Binh đoàn 16 (1999 - 2019) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2018)

chủ yếu nêu bật quá trình hình thành và phát triển về tổ chức và hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Binh đoàn 16 giai đoạn 1999 - 2019 Công trình cũng làm rõ được một số chủ trương, biện pháp nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Binh đoàn đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng và xây dựng Binh đoàn trong sạch, vững mạnh toàn diện Các công trình này tái hiện chặng đường thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh của Binh đoàn qua những mốc lịch sử của quan trọng Đặc biệt, các công trình đã cung cấp nguồn tư liệu khá đầy đủ về quá trình các trung đoàn đứng chân trên địa bàn Tây Nguyên vượt qua khó khăn, thách thức để bám trụ, ổn định địa bàn và bước đầu đi vào xây dựng các khu Kinh tế - Quốc phòng ở một trong những vùng sâu vùng xa, vùng biên giới nhạy cảm nhất của đất nước Năm 2011, Ban giám đốc Công ty Cà phê 15 đã tổ chức biên soạn cuốn

Công ty Cà phê 15 - Mười lăm năm, một chặng đường (1996 - 2011) Công trình

Trang 25

đã cung cấp một số tư liệu về các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế thuộc Quân khu 5 tại Đắk Lắk giai đoạn 1985 - 1988, và những thành tựu mà Công ty Cà phê

15 đạt được giai đoạn 2005 - 2011 (sau khi tách khỏi Binh đoàn 15)

Năm 2012, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng cho ra đời cuốn Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lâm Đồng (1945 - 2010) (Nxb Quân đội Nhân

dân, 2012) Cuốn sách có đề cập đến một số đơn vị quân đội xây dựng kinh tế địa phương cũng như đóng góp của các đơn vị này trong việc xây dựng các khu dân

cư mới, tham gia các chương trình xóa đói giảm nghèo, huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ tại đây

Một số đơn vị xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trên địa bàn Bắc Tây

Nguyên cũng tổ chức biên soạn các công trình, như: Lịch sử Công ty 72 (1973 - 2013) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2013); Công ty TNHHMTV 732 - 40 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển (1973 - 2013) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2013); Lịch sử Công ty 74 (1975 - 2015) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2015) Đây là các

đơn vị được xem là tổ chức tiền thân của Binh đoàn 15, ra đời và thực hiện nhiệm

vụ trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chính vì vậy,

đã cung cấp khá nhiều tư liệu về hoạt động xây dựng kinh tế của lực lượng quân đội đứng chân trên địa bàn Bắc Tây Nguyên sau năm 1973 đến trước khi Binh đoàn 15 thành lập Mặt khác, các công trình này trình bày quá trình hình thành và phát triển của những đơn vị đang hoạt động có hiệu quả nhất của Binh đoàn 15 nên thông qua đó có thể tiếp cận cụ thể hơn trong việc triển khai xây dựng một số

mô hình và chính sách dân vận đặc thù theo địa bàn

Cuốn Lịch sử Binh đoàn 15 (1985 - 2015), (Nxb Quân đội Nhân dân, 2015) là

công trình có tính hệ thống nhất, phục dựng quá trình hình thành và phát triển của Binh đoàn 15 tại Bắc Tây Nguyên Công trình nêu lên các chủ trương, phương châm, biện pháp của Binh đoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác dân

vận qua các giai đoạn Quá trình đó “hiện thực hóa mô hình nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng an ninh trên địa bàn” [67; tr.422] Công trình

cũng tổng kết những thành tựu về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh mà Binh đoàn đạt được, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Binh đoàn trong nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng ở địa bàn Tây Nguyên

Năm 2015, đề tài độc lập cấp Bộ Quốc Phòng Nghiên cứu kết hợp hoạt

Trang 26

động kinh tế với quốc phòng của binh đoàn kinh tế trên địa bàn Tây Nguyên do

Dương Chí Diễn chủ nhiệm được công bố Công trình đã đánh giá khái quát kết qủa thực hiện nhiệm vụ Kinh tế - Quốc phòng của một số đơn vị quân đội chuyên trách trên địa bàn Tây Nguyên, đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế hoạt động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củng cố quốc phòng của các đơn vị quân đội nói chung trên địa bàn Tây Nguyên Các công trình kể trên đã khái quát tương đối có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của một số đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên Tuy nhiên, những công trình này đều được trình bày dưới dạng thông sử, chủ yếu là thống kê thành tích, khái quát quá trình phát triển về mặt tổ chức; chưa thấy được những mặt hạn chế cũng như sự khác nhau của các dự án xây dựng khu Kinh tế - Quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên vì vậy chưa làm rõ tính linh hoạt của mô hình này

Nghiên cứu tổng quan nhất về vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây

Nguyên cho đến nay là công trình Kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng ở Tây Nguyên giai đoạn 1996 - 2010 của Lê Nhị Hòa (Nxb Chính trị

Quốc gia, 2013)

Công trình đã hệ thống lại những quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng cũng như quá trình Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên triển khai thực hiện chiến lược kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên thời kì 1996 - 2010 Từ đó, đưa ra những đánh giá về thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước; rút ra một số kinh nghiệm bước đầu về kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên

Trong công trình, Lê Nhị Hoà đã phân tích khá rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên theo 3 phương diện: địa - kinh tế, địa - chính trị, địa - quân sự cùng với

những lợi thế mà thiên nhiên ưu đãi cho Tây Nguyên, là “tiền đề quan trọng để Tây Nguyên phát triển toàn diện, bền vững, thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước” [100;

tr.45] Đồng thời, công trình cũng nêu lên một số nhân tố tác động đến việc kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng ở Tây Nguyên, bao gồm: vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, vấn đề đạo Tin lành và “Tin lành Đềga”, trình độ dân

Trang 27

trí và năng lực đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, sự chống phá nhiều mặt của các thế lực thù địch, phản động

Công trình đánh giá cao vai trò của khu Kinh tế - Quốc phòng ở Tây

Nguyên “thực sự đã tạo ra những “điểm sáng” về phát triển kinh tế, văn hóa, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên vành đai biên giới Tây Nguyên, tăng thêm niềm tin của đồng bào đối với Đảng, tô thắm hình ảnh “Bộ đội cụ Hồ” trong lòng đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa biên giới Tổ quốc Việc tổ chức triển khai các khu Kinh tế - Quốc phòng là một trong những nội dung quan trọng thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với yêu cầu bảo đảm

và tăng cường khả năng quốc phòng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Tây Nguyên” [100; tr.182 - 183]

Về cơ bản, công trình đã trình bày khá đầy đủ về những thế mạnh, tiềm năng là nhân tố tác động sâu sắc đến việc thực hiện chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng ở Tây Nguyên Tuy nhiên, công trình chưa chỉ ra được những khó khăn, thách thức mà Tây Nguyên phải đối mặt để phát triển một cách toàn diện,

bền vững về kinh tế, ổn định về quốc phòng - an ninh, nhất là vấn đề đời sống

nhân dân ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, các căn cứ kháng chiến cũ; chưa thấy được sự chênh lệch về nhiều mặt giữa các bộ phân dân cư ở Tây Nguyên, thực trạng di dân tự do là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế

sự phát triển chung của vùng, là yếu tố mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo biến Tây Nguyên luôn là điểm nóng về chính trị - an ninh của cả nước Làm rõ các vấn đề này sẽ thấy được sự cần thiết phải thực hiện phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng ở Tây Nguyên, cũng như giải thích lý do tại sao Đảng sớm có chủ trương đưa một số đơn vị quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế vào Tây Nguyên

Công trình mới giới thiệu sơ lược về các đơn vị quân đội thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên, chủ yếu nêu một số thành tựu về chính trị

- xã hội của Binh đoàn 15 ở Gia Lai, chưa nhìn thấy sức mạnh, vị trí quan trọng của lực lượng quân đội xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên, vốn là tiền đề để Đảng, Nhà nước nhân rộng mô hình này trong cả nước; từ đó chưa đánh giá đúng những tác động tổng thể kinh tế - xã hội, an ninh - chính trị mà mô hình quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng mang lại cho Tây Nguyên

Trang 28

Ngoài ra, cũng có rất nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đến các đơn vị quân đội kinh tế kết hợp quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên

Đăng trên tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2 - 2009, bài viết “Xây dựng khu Kinh tế quốc phòng nhìn từ Binh đoàn 16” của Mẫn Hà Anh chỉ ra một số vấn đề

thực tế cần phải giải quyết để khắc phục khó khăn cho các đơn vị Kinh tế - Quốc

phòng đóng quân trên địa bàn chiến lược Tác giả nhấn mạnh “đánh giá hiệu quả kinh tế của các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng, không nên quá chú trọng số liệu về

lỗ, lãi đơn thuần mà cần nhìn nhận một cách toàn diện hơn, thậm chí phải đề cao ý nghĩa chính trị, xã hội, văn hóa, đến mục tiêu xóa đói, giảm nghèo” [2; tr.40] Nguyên Tư lệnh của Binh đoàn 16 - Hà Thiệu với bài viết “Để khu Kinh tế quốc phòng Binh đoàn 16 phát triển ổn định, vững chắc”, trên tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9 - 2010 không chỉ nêu lên những thành tựu mà Binh đoàn

16 đã đạt được về xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư, phát triển sản xuất mà còn vạch ra một số hạn chế trong kinh doanh như khai thác không hiệu quả một

số vườn cây, tranh chấp đất đai trong vùng dự án… từ đó đưa ra những biện pháp đồng bộ để đảm bảo sự phát triển của Binh đoàn, ổn định và tiếp tục hoàn thiện các dự án khu Kinh tế - Quốc phòng địa bàn Nam Tây Nguyên

Nguyễn Xuân Sang, nguyên Tư lệnh của Binh đoàn 15, đã có hàng loạt bài

viết trên các tạp chí chuyên ngành như “Binh đoàn 15 đoàn kết, gắn bó mật thiết với đồng bào Tây Nguyên, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, góp phần xây dựng

và bảo vệ tổ quốc”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 6 - 2004; “Khu Kinh tế quốc phòng trên địa bàn chiến lược - những vấn đề cơ bản qua 20 năm thực hiện ở Binh đoàn 15”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 8 - 2005,… với nội dung chủ yếu là

tổng kết các thành tựu cơ bản, miêu tả một số hoạt động dân vận nổi bật Nội dung

bài “Tổng Công ty 15 vượt lên khó khăn, phát triển bền vững” đăng trên tạp chí Kinh tế Quốc phòng, số 3 - 2011, Nguyễn Xuân Sang cho biết những chủ trương,

biện pháp mà Binh đoàn đã áp dụng để tháo gỡ khó khăn do thị trường cao su nói riêng và tình hình kinh tế cả nước nói chung chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới Trong đó, chủ trương mang tính định hướng chung của Binh đoàn là tập trung mọi nguồn lực cho sản xuất kinh doanh; chủ động tăng cường bảo vệ an ninh địa bàn; đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa với những biện pháp dân vận đi vào chiều sâu,

Trang 29

hiệu quả thiết thực Nhờ những chủ trương, giải pháp đúng hướng mà Binh đoàn 15 tiếp tục đạt được những mục tiêu cơ bản được giao, đảm bảo an ninh địa bàn đứng

chân và “đang ngày càng phát huy hiệu quả tích cực, tạo ra những giá trị phong phú, toàn diện, bền vững về cả chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh Qua

đó, sự gắn bó giữa quân đội và nhân trong thời kì mới đã được tăng cường, tiềm năng, thế mạnh của địa bàn ngày càng được phát huy, tạo tiền đề cho quá trình mở rộng sản xuất đi đôi với bố trí dân cư, xây dựng toàn diện, góp phần phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược trọng yếu của đất nước” [140; tr.17]

Bài viết “Hiệu quả công tác dân vận trên địa bàn Tây Nguyên từ mô hình

“Gắn kết hộ”, trên tạp chí Kinh tế quốc phòng, số 4 - 2014 của Nguyễn Xuân

Đại tập trung đánh giá hiệu quả và ý nghĩa của mô hình “Gắn kết hộ” gia đình trong quá trình phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tây Nguyên và đề xuất một số nội dung để mô hình này tiếp tục phát huy hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề về dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên

Các bài viết trên đây cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về hoạt động của các đơn vị quân đội Kinh tế - Quốc phòng ở Tây Nguyên Tuy nhiên,

do phạm vi, giới hạn của bài viết bởi vậy chưa thật sự nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo hiệu quả của các hoạt động đó; nhất là vấn đề vận dụng, triển khai rộng các biện pháp dân vận có hiệu quả, phù hợp với các đơn vị kinh tế kết hợp quốc phòng ở Tây Nguyên cũng như các địa bàn chiến lược khác

1.2 NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những nội dung đã được các công trình nghiên cứu, giải quyết mà luận án kế thừa

Nhìn chung, các công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề quân đội thực hiện chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng là khá đa dạng, phong phú Những công trình đó đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản sau:

Về mặt lý luận, các công trình đã khảo cứu nhiều vấn đề mang tính lý luận

về chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng và vai trò của quân đội trong chiến lược này, nhất là đã đưa ra và lý giải các khái niệm “Kinh tế kết hợp quốc phòng”, “doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng”, “khu Kinh tế - Quốc phòng”,

“đoàn Kinh tế - Quốc phòng”,… Các công trình đều khẳng định tính khách quan

Trang 30

của nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc; làm rõ tính tất yếu của việc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia nhiệm vụ này, đặc biệt là tại những địa bàn biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa Các công trình cũng đưa ra một số đánh giá khái quát về tình hình kết hợp kinh tế với quốc phòng trong cả nước chủ yếu là từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới đến nay; ghi nhận những kết quả quan trọng mà quân đội đạt được trong xây dựng kinh tế; giới thiệu một số mô hình đặc thù như khu Kinh tế - Quốc phòng

và doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng mà quân đội triển khai tại các các địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo

Về mặt thực tiễn, một số công trình đã nghiên cứu cụ thể các hoạt động như sản

xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh để nhìn nhận rõ hơn những thành quả mà các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng tại các địa bàn chiến lược, biên giới đạt được; mặt khác cũng đã bước đầu nêu lên một số bất cập của các mô hình này Các công trình đã đưa ra được những đề xuất có giá trị để có thể tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm ở các mặt cụ thể của lực lượng quân đội xây dựng kinh tế

Có nhiều công trình đã phân tích, luận giải, làm rõ một số nhân tố tác động quá trình quân đội thực hiện chiến lược phát triển kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên như vị trí chiến lược, điều kiện tự nhiên, vấn đề tôn giáo, dân tộc Đồng thời, nhiều công trình cũng đã phục dựng quá trình hình thành, phát triển, hoạt động của một số đơn vị quân đội cụ thể, trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng ở Tây Nguyên Những thành tựu, bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình đó đã khẳng định được sự cần thiết, đúng đắn của việc triển khai chủ trương phát triển kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng ở đây

Nhìn chung, các công trình, bài viết liên quan đến đề tài luận án đã cung cấp nguồn tư liệu quý cũng như những nhận xét đánh giá đa chiều giúp ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu mang tính chuyên khảo, cho thấy về vai trò, vị trí của quân đội trong việc thực hiện chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về những đơn vị đang đóng quân ở các địa bàn chiến lược biên giới, hải đảo Do sự chi phối của đối tượng, phạm vi nghiên cứu nên cho

Trang 31

đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống

về các đơn vị quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đã công

bố, luận án sẽ tiếp tục làm rõ các vấn đề sau:

- Tái hiện một cách hệ thống quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên qua từng giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2013 theo các vấn đề khoa học của khái niệm “kinh tế kết hợp với quốc phòng, quốc phòng kết hợp kinh tế” mà Đảng và Nhà nước đã đề

ra Chỉ rõ cách thức các đơn vị này vượt qua những khó khăn và đặc thù của địa bàn để tồn tại, phát triển

- Từ việc tái hiện toàn cảnh quá trình quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên trong thời gian qua, tiếp tục làm

rõ bản chất các khái niệm “kinh tế kết hợp quốc phòng”, “doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng”, “khu Kinh tế - Quốc phòng”, “đoàn Kinh tế - Quốc phòng”,…

- Làm rõ mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, có tác động qua lại giữa phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trong việc giải quyết những thách thức mang tính thời sự tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên Từ đó, đánh giá một cách khách quan về quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh về cả chủ trương và quá trình triển khai ở Tây Nguyên từ năm 1985 đến năm 2013

- Khẳng định những mô hình có hiệu quả, đem lại những thành tựu to lớn cho các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên bao gồm các mô hình do chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng xác định và các mô hình sáng tạo của các đơn vị quân đội xây dựng kinh

tế kết hợp quốc phòng tại địa phương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, làm rõ nội dung và ý nghĩa của các mô hình đó

- Giải quyết được các vấn đề trên, luận án sẽ không chỉ khái quát được những thành tựu mà còn chỉ rõ những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương quân đội tham gia, sản xuất kinh tế trên địa bàn Tây Nguyên Mặt khác, đúc kết những bài học kinh nghiệm, cung cấp một số dữ liệu có thể

Trang 32

tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế gắn với củng

cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược trong cả nước nói chung, Tây Nguyên nói riêng

Trang 33

Chương 2 QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 1998)

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Tây Nguyên

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tây Nguyên là vùng lãnh thổ nằm ở phía Tây miền Trung Việt Nam, bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng nằm trải dài theo phía Nam của dãy Trường Sơn, giáp với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Lào và Campuchia Đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa - xã hội

Địa hình Tây Nguyên tương đối phức tạp Chiếm đến 90% diện tích là đồi núi Núi và cao nguyên tạo thành những khối phân cắt, cao thấp liền kề nhau làm cho địa bàn sinh sống của cư dân khá phức tạp, đặc biệt các xã vùng sâu, vùng

xa, vùng biên giới bị chia cắt, biệt lập, dẫn đến tình trạng dân cư phân bố thưa thớt, phân tán; vấn đề xây dựng hệ thống giao thông vận tải cũng vấp phải nhiều khó khăn Phần còn lại là những thung lũng nhỏ nằm xen kẽ đồi núi và cao nguyên, rộng nhất là thung lung Ayun Pa (Gia Lai) có diện tích 4.000km², tuy hẹp nhưng có phù sa bồi đắp hàng năm nên khá màu mỡ, thuận tiện để phát triển nông nghiệp và phục vụ đời sống nhân dân

Khí hậu ở Tây Nguyên thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên với nền nhiệt thấp, quanh năm mát mẻ và phân thành mùa khô và mùa mưa rõ rệt Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng; mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85 - 90% lượng nước của cả năm gây cho sản xuất, đi lại nhiều khó khăn Khí hậu Tây Nguyên hình thành 3 tiểu vùng: Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai), Trung Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên dù thấp hơn về địa hình lại có nền nhiệt cao hơn so với phía Bắc và phía Nam, là nơi thường xuyên xảy ra hạn hán Những năm gần đây, do rừng bị tàn phá, khí hậu Tây Nguyên thay đổi theo hướng xấu đi, hạn hán trở thành rào

Trang 34

cản rất lớn đối với việc phát triển nông nghiệp, nhất là cây cà phê, tác động tiêu cực đến đời sống của nhân dân

Tây Nguyên có 4 hệ thống sông chính với chế độ dòng chảy chịu tác động của khí hậu: sông Ba, Srêpok, Xê Xan và Đồng Nai Sông suối ở Tây Nguyên thường dốc, mùa mưa nước dâng cao, chảy xiết tạo ra nhiều ghềnh thác hùng vĩ,

là tiềm năng thủy điện lớn cũng là điều kiện để phát triển du lịch sinh thái Ngoài

ra, Tây Nguyên còn có nhiều hồ nhân tạo, tự nhiên rải khắp, tổng lưu lượng nước mặt là 50 tỷ m3 vừa có giá trị về thủy lợi vừa là những cảnh quan nổi tiếng Nguồn nước ngầm ở đây tương đối lớn nhưng nằm sâu, giếng khoan trên 100m Tài nguyên đất đai của vùng hết sức phong phú Nổi bật là đất đỏ Bazan, trải rộng từ Tây Kon Tum đến các cao nguyên Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Đồng, là yếu tố chủ đạo để Tây Nguyên trở thành một vùng có ưu thế lớn trong phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng với sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu, Một số diện tích đất phù sa ven sông thích hợp để trồng cây lương thực Tuy nhiên, tài nguyên đất ở đây đang bị thoái hoá nghiêm trọng chiếm tới 20% (đất bazan thoái hoá tới 71,7%), diện tích trống đồi núi trọc cũng chiếm tới 1,4 triệu ha

Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại với những cây dược liệu quý giá và hệ thống động vật hoang dã phong phú Là mái nhà của miền Trung, rừng Tây Nguyên có chức năng phòng hộ rất lớn, là tài nguyên quý giá của quốc gia Nạn phá rừng bừa bãi tại đây đang dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng, thay đổi môi trường sinh thái và biến đổi khí hậu không chỉ ở Tây Nguyên mà còn ảnh hưởng đến vùng duyên hải miền Trung

Đây là khu vực có trữ lượng khoáng sản lớn mặc dù ít chủng loại, đáng kể nhất là quặng bôxit với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn, chiếm 90% trữ lượng bôxit cả nước, nhưng việc khai thác quặng không hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu đến việc phát triển nông - lâm nghiệp của vùng

Có thể thấy, đặc trưng chung của toàn bộ địa bàn Tây Nguyên là địa hình phức tạp với thế sông núi trùng điệp Đất đai phù hợp để phát triển cây công nghiệp, đặc biệt là các loại cây có giá trị cao Điều kiện tự nhiên hiểm trở, nhiều đồi núi, sông suối là thách thức lớn đối với phát triển kinh tế, phân bố dân cư, những nỗ lực để cải thiện đời sống nhân dân và kiểm soát địa bàn của chính quyền các cấp ở Tây Nguyên Diện tích các xã, buôn, thôn… rộng, mật độ dân cư thưa thớt, xen lẫn

Trang 35

những vườn cây, vườn đồi, kể cả ở các xã thôn ven đô thị Đường sá đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa, làm hạn chế việc nắm bắt tình hình địa bàn của cơ quan chức năng các cấp Mặt khác, là địa bàn có biên giới tiếp giáp Lào và Campuchia, các phần tử xấu, phản động, thế lực thù địch thường lợi dụng Tây Nguyên để tập trung hoạt động bất hợp pháp chống phá chế độ, Nhà nước

Giải quyết những tác động phức tạp của điều kiện tự nhiên là bài toán khó đối với việc khai thác tiềm năng phát triển kinh tế một cách hiệu quả nhưng vẫn phải bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời với xây dựng thế trận phòng thủ, an ninh nhân dân vùng biên giới của Tây Nguyên

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Cư dân bản địa Tây Nguyên bao gồm những nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Á (Ba na, Xơ đăng, Cơ ho, M’nông, Mạ, Giẻ Triêng…) và ngữ hệ Nam Đảo (J’rai, Ê

đê, Chu ru, Raglei) Họ đã sinh sống lâu dài trên mảnh đất này với những truyền thống lịch sử ngàn năm, là một nhân tố quan trọng tác động đến việc thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở vùng đất này

Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo với phương thức canh tác du canh du cư lạc hậu, dẫn đến tổ chức xã hội nhỏ hẹp, phân tán, uy hiếp đến sự sinh tồn của cư dân bản địa và làm phá hoại môi trường sống Chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là nuôi trâu Săn bắn, hái lượm vẫn giữ một vai trò nhất định trong đời sống hàng ngày của các cư dân ở Tây Nguyên

Thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp, không đủ sức tự cung tự cấp Hoạt động trao đổi hàng hóa còn nhiều hạn chế, chủ yếu bó hẹp trong các khu vực nhất định, chưa tạo ra một tầng lớp thương nhân thực thụ

Tập quán sản xuất theo kiểu truyền thống, thiếu chuyên môn hóa, trình độ canh tác lạc hậu, chậm tiếp nhận tri thức sản xuất mới, làm lãng phí lao động là biểu hiện chung của cư dân Tây Nguyên

Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của cư dân bản địa Tây Nguyên là làng (Plei, Kon Đăng, Bôn…) - tổ chức xã hội nhỏ nhất, vận hành theo cơ chế tự quản, mang đậm dấu ấn “công xã nông thôn” Chịu trách nhiệm quản lý ở mỗi làng

là tập thể già làng do già làng, có uy tín nhất trong cộng đồng đứng đầu Già làng được chọn từ những người cao tuổi, có kinh nghiệm trong cuộc sống, có đạo đức và

uy tín trong cộng đồng Mọi thành viên trong làng đều chịu sự điều khiển của luật

Trang 36

tục Ở một số nơi, chế độ mẫu hệ còn giữ một địa vị chủ chốt trong gia đình

Đời sống văn hóa của cư dân bản địa Tây Nguyên hết sức phong phú với tín ngưỡng đa thần hữu linh Tập tục của đồng bào các dân tộc được hình thành qua quá trình sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, tồn tại bén rễ sâu trong lịch sử phát triển của các dân tộc, trong đó nhiều tập tục cổ hủ mang yếu tố tự ti, biệt lập, khép kín của các công xã thị tộc có giá trị như luật pháp của từng buôn làng vẫn tồn tại, kìm hãm trí tuệ con người, làm cho con người chấp nhận thực tại, sợ thay đổi, thiếu ý chí vươn lên

Mặc dù đất nước đã đổi mới hơn 30 năm nhưng phương thức sản xuất mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp phụ thuộc vào nguồn tài nguyên có sẵn ở Tây

Nguyên vẫn duy trì “Trải qua bao nhiêu thăng trầm và biến cố của lịch sử, song quan hệ xã hội cơ bản của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyễn còn mang đậm tính truyền thống và tính cộng đồng bền chặt cùng những mối quan hệ xã hội cổ truyền tốt đẹp được hình thành qua các thời kì lịch sử lâu dài” [145; tr.10]

Hiểu biết và vận dụng những đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội cổ truyền của cư dân Tây Nguyên là cơ sở để thực hiện hiệu quả công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị địa phương trong thời kì Chiến tranh cách mạng, cũng như giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh đó, một số dân tộc từ nhiều địa phương do những lý do khác nhau, trong tiến trình lịch sử đã đến đây cùng với đồng bào bản địa khai phá, xây dựng vùng đất này

Trong các thành phần di dân đến Tây Nguyên, số lượng người Kinh đông nhất Từ giữa thế kỷ XVII, người Kinh đã có mặt ở Tây Nguyên Đến thế kỷ XIX, số người Kinh di cư tăng nhanh, trong đó chủ yếu là giáo dân Thiên chúa giáo từ Huế, Quãng Ngãi, Bình Định tránh sự truy nã của triều đình nhà Nguyễn Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa thời kì thực dân Pháp thống trị, sau

là chính quyền Sài Gòn, cũng làm gia tăng mạnh các cuộc chuyển cư của người Kinh đến Tây Nguyên định cư lâu dài Người Kinh thường sống tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn, các trục đường giao thông, các xí nghiệp công, nông, lâm nghiệp Cũng có những làng người Kinh cận kề các làng của cư dân bản địa và một bộ phận nhỏ người Kinh sống xen kẽ ở các làng dân tộc địa phương Ngoài ra, một bộ phận di dân vào Tây Nguyên không kém phần đông

Trang 37

đảo là đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc chủ yếu từ năm 1954 Sau ngày giải phóng, Đảng và Nhà nước thực hiện chủ trương chuyển một

bộ phận dân cư và lao động từ các vùng đông dân của đất nước đến xây dựng kinh

tế mới tại Tây Nguyên Bộ phận dân cư này trở thành nguồn động lực để cung cấp nguồn lao động có chất lượng cho sự phát triển kinh tế Tây Nguyên Dân số Tây Nguyên tăng với tốc độ nhanh gây ảnh hưởng lớn đến cơ cấu dân cư của vùng, nhất là luồng di dân tự do ồ ạt đến Tây Nguyên từ năm 1979, gây ra nhiều xáo trộn về xã hội ở đây như vấn đề tranh chấp đất đai, nạn phá rừng, huỷ hoại môi trường sinh thái, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên Điều này tác động trực tiếp đến việc tổ chức hoạt động cũng như phương thức thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng suốt nhiều thời kì

Cư dân ở Tây Nguyên đều là những người lao động cần cù, tính tình chất phác, với truyền thống giàu lòng yêu quê hương đất nước từ ngàn xưa Ý thức bảo

vệ cộng đồng dân tộc sâu sắc được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác đã tạo nên truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường trên mảnh đất Tây Nguyên Ngay từ khi thực dân Pháp đặt ách thống trị, cùng nhân dân cả nước, đồng bào Tây Nguyên đã đứng lên đấu tranh Trong những năm 1895 - 1896, nhân dân

An Khê đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng hưởng ứng phong trào Cần Vương cứu nước Đồng bào Ba Na, Xê Đăng ở Kon Tum đã sát cánh cùng nghĩa quân Bình Định, Quảng Ngãi đánh thực dân Pháp Tiếp đó, đồng bào

Xê Đăng ở Kon Tum liên tục nổi dậy (trong các năm 1901, 1909 và 1914); cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân An Khê, Cheo Reo; nổi bật là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mơ Nông do Nơ Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài 23 năm (1912

- 1935) Đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, bằng tinh thần quật khởi, nhân dân Tây Nguyên đã nổi dậy giành được chính quyền dù chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của cở sở Việt Minh và tổ chức Đảng

Tháng 11 - 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Tây Nguyên Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều buôn làng Tây Nguyên đã trở thành những “làng kháng chiến”, căn cứ du kích chiến đấu kiên cường, là nơi sản sinh nhiều anh hùng dân tộc như Đinh Núp, xã đội trưởng Vừu, Niềm tin vào cách mạng của nhân dân Tây Nguyên đã làm cơ sở cho tổ chức Đảng nhanh chóng ăn sâu, bén

rễ vững chắc tại miền đất này Từ tháng 7 - 1953, bộ đội chủ lực đã có mặt ở Tây

Trang 38

Nguyên, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị vũ trang địa phương và nhân dân tiến hành hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, mở một số chiến dịch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá huỷ vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng Đặc biệt, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên (26 - 1 đến 20 - 7 - 1954) đã góp phần làm nên thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp

Theo Hiệp định Geneve, tháng 9 - 1954, chính quyền Sài Gòn tiếp quản Tây Nguyên, nhân dân Tây Nguyên phải đối mặt với sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới Chính quyền Sài Gòn đã thi hành những chính sách hết sức phản động để lập các pháo đài “chống cộng”, xây dựng bộ máy chính quyền, lực lượng bảo an, hệ thống tề điệp đến tận từng buôn làng Quân dân Tây Nguyên đã đoàn kết sát cánh bên nhau vùng lên quật khởi đánh bại các nỗ lực chiến tranh của địch, tích cực củng cố lực lượng, mở rộng vùng giải phóng Ngày 10 - 3 - 1975, quân dân Tây Nguyên cùng các đơn vị chủ lực tiến công địch ở Buôn Mê Thuột, mở đầu cho Đại thắng mùa Xuân 1975 Đất nước thống nhất, đồng bào Tây Nguyên bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội Bước vào thời kì Đổi mới, do vị trí chiến lược và đặc thù ở Tây Nguyên nên Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên nhằm từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở đây Mặc dù vậy, nền kinh tế chưa thật sự ổn định, tình hình xã hội Tây Nguyên vẫn còn nhiều vấn đề chưa thể giải quyết

Dân trí thấp vẫn là tình trạng chung, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đây là một trong những trở ngại chính đối với việc phát triển bền vững Tây Nguyên Đồng bào sống chủ yếu theo lối tự cung tự cấp, cuộc sống thiếu thốn Đời sống vật chất của bộ phận dân cư ở các vùng kinh tế mới, di dân tự do

và đồng bào các dân tộc tại chỗ ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn

cứ kháng chiến cũ còn nhiều khó khăn cũng là thách thức lớn về kinh tế - chính trị Ở những vùng cao, do địa hình phức tạp, rừng núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, có nơi tách biệt hẳn với các trung tâm nên việc cung cấp hàng hóa bị hạn chế, hiệu quả của các chương trình xóa đói giảm nghèo chưa cao Cùng với bản chất thật thà, chất phác nên ý thức xã hội và trình độ nhận thức của một bộ phận dân cư còn nhiều hạn chế, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá

Trang 39

Tình trạng di dân tự do ở Tây Nguyên diễn biến hết sức phức tạp, gây ra khó khăn trong việc quản lý an ninh - chính trị và đặt ra vấn đề giải quyết việc làm để người dân có thể bám trụ lại lâu dài với miền đất này

Có thể thấy, “sự chênh lệch mức sống, trình độ dân trí và điều kiện hưởng thụ văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bào các tộc người tại chỗ và các nhóm dân cư khác không những không thu hẹp mà ngày càng cách xa hơn, đã và đang trở thành vấn đề thách thức trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện bình đẳng giữa tộc đa

số với các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên cả trước mắt và lâu dài” [81; tr.15]

xã hội tại đây vẫn gặp vô vàn khó khăn

Đáng chú ý nhất là các hoạt động chống phá của tổ chức Fulro 2 Hoạt động của chúng diễn ra hết sức phức tạp, chúng tổ chức lôi kéo, cưỡng bức hàng ngàn thanh niên Chăm, Ê đê, Ja rai, K ho; gây nhiều khó khăn trong xây dựng, củng

cố cơ sở chính quyền ở vùng đồng bào dân tộc tại các tỉnh Tây Nguyên

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã có những chủ trương vừa mềm dẻo vừa cứng rắn nhằm tiêu diệt Fulro Đầu năm 1976, phần lớn lực lượng Fulro bị bắt, tập trung cải tạo tại Gia Lai, sau đó trở về sum họp

với gia đình Đầu năm 1977, Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 04/CT-TW Đẩy mạnh việc giải quyết vấn đề Fulro, nhiều lãnh đạo cao cấp Fulro bị bắt Tuy

nhiên, khoảng hơn 2.000 tàn quân Fulro đã chạy sang Campuchia, được Chính

Trang 40

phủ Campuchia dân chủ tiếp nhận nuôi dưỡng, sau khi chỉnh đốn lực lượng đã quay lại chống phá vùng biên giới Việt Nam Sự đe dọa của Fulro làm tình hình các huyện biên giới như Chư Sê, Đức Cơ, Chư Prông, Sa Thầy (Gia Lai - Kon Tum 3), Ea Súp (Đắk Lắk) luôn tiềm ẩn sự bất ổn

Ở Đắk Lắk, sự kiện thảm sát kinh hoàng nhất mà Fulro gây ra ngày 9 - 2 -

1977 tại buôn Puôr, buôn Cuôr Ta Ra (Buôn Mê Thuột) làm quần chúng nhân dân hoang mang, gây bất ổn định an ninh - chính trị ở Tây Nguyên Trong hai năm 1977 - 1978, chúng tổ chức hàng trăm vụ tập kích, phục kích, làm chết 376 người, bị thương 318 người, phá hủy, đốt phá nhiều xe cộ, kho hàng, trụ sở Fulro còn mở rộng hoạt động ra các địa bàn vùng núi phụ cận thuộc tỉnh Phú Khánh (nay là Phú Yên, Khánh Hoà), Đồng Nai, Sông Bé (nay là Bình Phước), Khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, được sự giúp đỡ trực tiếp của Pôn Pốt, Fulro đưa gần 200 quân (chủ yếu là số cầm đầu, chỉ huy) sang lập căn

cứ tại biên giới Campuchia, âm mưu thiết lập hành lang Tây Nguyên - Campuchia Khoảng 1.500 quân Fulro về lại Việt Nam hoạt động, lập thành các toán du kích, đột nhập trung tâm thành phố, thị xã các tỉnh Tây Nguyên để khủng bố, ám sát cán bộ rồi rút sang bên kia biên giới Chúng tiếp tục các hoạt động lôi kéo kết hợp bắt, cưỡng bức đồng bào thiểu số đi theo chúng

Tuy nhiên, lực lượng vũ trang các tỉnh Tây Nguyên đã phối kết hợp, đấu tranh làm tan rã hàng chục nhóm Fulro, đưa họ trở về hòa nhập với cộng đồng Năm 1992, trong tiến trình sử dụng giải pháp chính trị để giải quyết vấn đề Campuchia, tàn quân Fulro mất hết chỗ dựa, phần lớn sang nước ngoài định cư Đến năm 2000, Fulro lại ngóc đầu dậy ở Tây Nguyên, trở thành một tổ chức cực đoan, hoạt động bằng hình thức kích động, lợi dụng sự ngây thơ của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, lợi dụng vấn đề tôn giáo để tiến hành chống phá Nhà nước Việt Nam Chúng sử dụng “Tin lành Đề ga” làm cơ sở

chính trị, kêu gọi thành lập “Nhà nước Đề ga độc lập”, mà thực chất là một hình thức tồn tại mới của Fulo để tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam Các cuộc biểu tình, bạo loạn chính trị do chúng gây ra ở Tây Nguyên năm 2001,

2004 cho thấy tính chất nguy hiểm và phức tạp của tổ chức này

3 Tên một tỉnh cũ tại Tây Nguyên, dùng trong các giai đoạn tháng 4 - 1950 đến tháng 9 - 1954 và tháng 2 - 1976 đến tháng 10 - 1991 khi chính quyền sát nhập 2 tỉnh Gia Lai với Kon Tum hiện nay

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w