1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG NHẬP MÔN XÃ HỘI HỌC

186 898 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một cuộc đình công chẳng hạn, chỉ là một cuộc đình công ; nhưng người nào suy nghĩ và khảo sát kỹ hơn thì có thể lý giải cuộc đình công ấy bằng những nhận định như : tổ chức lao động tồi

Trang 1

Xã hội học nhập môn

(giáo trình có bổ sung và cập nhật)

Trần Hữu Quang

Sài Gòn Tháng 2-2019

Trang 2

1

Mục lục

Trang

Mục lục 1

Chương 1 Xã hội học là gì ? 3

A Đối tượng của xã hội học 4

B Những nhà sáng lập 6

C Phương pháp xã hội học 14

D Những kỹ thuật nghiên cứu 20

E Xã hội học và thực tiễn xã hội 22

Chương 2 Xã hội và cá nhân Quá trình xã hội hóa 25

A Con người với tư cách là thành viên xã hội 25

B Quá trình xã hội hóa 28

C Một thí dụ : Nam giới và nữ giới trong xã hội 33

D Vài dòng kết luận 35

Chương 3 Nhóm cơ bản trong xã hội 38

A Khái niệm nhóm 39

B Chức năng của nhóm 41

C Những công trình nghiên cứu đầu tiên về nhóm 43

D Người thủ lãnh trong nhóm 55

E Truyền thông trong nhóm 59

F Mạng lưới xã hội 61

G Nhóm cơ bản và xã hội đại chúng 68

Chương 4 Ý kiến, thái độ và định kiến 71

A Định nghĩa ý kiến và thái độ 72

B Thang thái độ 74

C Thái độ, động cơ và niềm tin 77

D Cơ chế tri giác có chọn lọc 78

E Thái độ : có thể thay đổi 79

F Định kiến 80

G Ý kiến tập thể và thái độ tập thể 83

Chương 5 Vị trí, vai trò và vị thế xã hội 88

A Vị trí và vai trò 88

B Những kỳ vọng nơi vai trò, và sự cưỡng chế của xã hội 93

C Hai lý thuyết về vai trò 97

D Vị thế/địa vị xã hội 99

Chương 6 Sự điều tiết xã hội : giá trị, chuẩn mực và nghi thức 102

A Giá trị 102

B Chuẩn mực và quy tắc 104

C Sự tuân thủ và sự lệch lạc 109

D Nghi thức và biểu tượng 115

Chương 7 Định chế xã hội 120

A Khái niệm “định chế xã hội” 120

B Quá trình định chế hóa 124

C Những đặc điểm của định chế 128

Chương 8 Chức năng, cấu trúc và con người tác nhân 133

A Lý thuyết chức năng luận 133

Trang 3

B Phương pháp phân tích chức năng 137

C Quan hệ nhân quả và phương pháp phân tích nhân quả 140

D Phương pháp phân tích cấu trúc 142

E Xây dựng mô hình và lý thuyết 144

F Phương pháp giả lập 147

G Nhân tố con người và hành động của tác nhân 149

Chương 9 Giai cấp xã hội và sự phân tầng xã hội 156

A Bất bình đẳng xã hội Đẳng cấp và giai cấp xã hội 156

B Lý thuyết mác-xít về giai cấp 159

C Quan niệm của Max Weber 161

D Sự phân tầng xã hội 164

E Sự di động xã hội 166

F Từ mô hình kim tự tháp tới mô hình con quay 169

Chương 10 Sự chuyển biến xã hội 175

A Xung đột 175

B Canh tân 177

C Quảng bá 178

Tài liệu tham khảo 182

Trang 4

Một cuộc đình công chẳng hạn, chỉ là một cuộc đình công ; nhưng người nào suy nghĩ và khảo sát kỹ hơn thì có thể lý giải cuộc đình công ấy bằng những nhận định như : tổ chức lao động tồi, lương thấp, công nhân không gắn bó với nhà máy ; cũng như có thể tiến hành những phân tích về các nhóm hoặc phe phái trong nhà máy, các loại thái độ của người lao động

và của giới chủ nhân, mức độ chuyên quyền độc đoán của giám đốc, tính tích cực xã hội của công nhân v.v Và đằng sau những sự kiện có vẻ nhất thời ấy ở một nhà máy, người nghiên cứu còn có thể đi đến chỗ đặt vấn đề

và nhận định về cả một hệ thống sản xuất, hay thậm chí toàn bộ một hệ thống xã hội

Bất cứ một biến cố hay hiện tượng xã hội nào cũng đều là một kết quả phức hợp của rất nhiều nhân tố, từ những nhân tố mang tính chất kinh

tế, cho đến những nhân tố mang tính chất chính trị, lịch sử và văn hóa Chính tính chất phức tạp của các hiện tượng xã hội và các quá trình xã hội làm cho ngành xã hội học thường phải nghiên cứu liên ngành (và đôi khi cũng khó phân định ranh giới) với nhiều bộ môn khoa học xã hội khác như

sử học, nhân học, dân tộc học, tâm lý học xã hội, kinh tế học, và ngôn ngữ học Do đó, cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu xã hội học đã từng có thời bị đồng hóa vào triết học – với tư cách là ngành khoa học khái quát nhất về con người và vũ trụ

Thực ra, những suy nghĩ và biện giải về xã hội và về con người trong

xã hội đã xuất hiện từ lâu trong các thời cổ đại, từ những nhà hiền triết ở Trung Hoa cho đến những nhà hiền triết ở Hy Lạp mấy thế kỷ trước Công nguyên Nhưng ngành xã hội học với tư cách là một khoa học thực sự độc

lập chỉ ra đời vào thế kỷ XIX Thuật ngữ “xã hội học” (sociologie) đã được

Auguste Comte, một triết gia người Pháp, sử dụng lần đầu tiên vào năm

1838 – mặc dù ông hiểu xã hội học như một ngành “vật lý học xã hội”

(physique sociale) Từ sociologie (xã hội học) được ghép bởi từ socius (gốc

Trang 5

tiếng La Tinh), có nghĩa là người đồng hành, với từ logos (gốc tiếng Hy

Lạp), có nghĩa là môn học (về một lĩnh vực nào đó)

A Đối tượng của xã hội học

Những vấn đề mà ngành xã hội học nghiên cứu không phải là những vấn đề dành riêng cho xã hội học, trái lại, đấy cũng là những vấn đề mà nhiều ngành khác cũng nghiên cứu Chẳng hạn, vấn đề tự tử mà nhà xã hội học Pháp Émile Durkheim nghiên cứu đầu tiên, cũng có thể là đối tượng quan tâm của nhà tâm lý học Hay vấn đề tội phạm, nhà xã hội học, nhà tâm

lý học xã hội và nhà luật học đều cùng coi là thuộc phạm vi nghiên cứu của mình Vậy thì đối tượng của xã hội học là gì ? Nói cách khác, đâu là đặc trưng của cách tiếp cận xã hội học ? Trả lời cho những câu hỏi này không phải là chuyện dễ, nếu ta biết rằng các tác giả đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội học

Những nhà xã hội học đầu tiên trong thế kỷ XIX như C H Simon (1760-1825), Auguste Comte (1798-1857), và Herbert Spencer (1820-1903) đã từng có một cái nhìn rất lạc quan về ngành xã hội học, khi

Saint-họ cho rằng có thể lấy quan điểm thực chứng (positivism) làm nền tảng

khoa học cho việc nghiên cứu về xã hội Đối với họ, xã hội học có khả năng khám phá ra những định luật phổ biến và khách quan của sự chuyển động của xã hội, cũng giống y như những định luật đã được khám phá trong ngành vật lý học của Newton hay trong ngành sinh học của Darwin Do xuất phát từ quan niệm mang nặng tính chất máy móc (cơ học) về xã hội, nên tham vọng ấy đã không đứng vững

Đến cuối thế kỷ XIX, các nhà xã hội học đã đặt ra những mục tiêu hạn chế hơn cho ngành của mình Đối với Max Weber (1864-1920), xã hội học cần quan tâm đến ý nghĩa của hành động xã hội và tính chất duy nhất của các sự kiện lịch sử, hơn là đi tìm những quy luật tổng quát giống như trong khoa học tự nhiên Ngược lại, Émile Durkheim (1858-1917) vẫn cho rằng lãnh vực xã hội chịu sự chi phối của một số quy luật phổ quát, bằng chứng là có một số định chế luân lý và luật lệ cũng như một số tín ngưỡng tôn giáo đã từng tồn tại trong rất nhiều xã hội khác biệt nhau

Trong lúc các công trình của Durkheim nỗ lực chứng minh rằng xã hội học là một ngành khoa học độc lập và riêng biệt về các hiện tượng xã hội, thì cũng đã có nhiều người khác phản bác Họ cho rằng xã hội học không phải là một bộ môn riêng biệt, mà chỉ là một ngành tổng hợp kết quả

Trang 6

5

nghiên cứu của các ngành kinh tế học, chính trị học và tâm lý học, bởi lẽ sự kiện xã hội không phải là một sự kiện riêng biệt, mà là được cấu thành bởi

sự giao thoa giữa các lãnh vực kinh tế, chính trị, địa lý, lịch sử và tâm lý

Có loại ý kiến khác cho rằng : xã hội học là một lối tiếp cận vốn đặt các sự kiện và các cá nhân trong một bối cảnh xã hội rộng lớn hơn, và thực ra lối tiếp cận này không chỉ dành riêng cho nhà xã hội học, mà cũng được vận dụng bởi giới sử gia, kinh tế gia, nhà báo

Theo một số tác giả, sự ra đời của ngành xã hội học chính là để trả lời cho các vấn đề xã hội cụ thể đặt ra kể từ cuộc Cách mạng Pháp 1789, cũng như những vấn đề phát sinh trong sự chuyển tiếp từ xã hội cổ truyền sang xã hội công nghiệp nói chung ở châu Âu Vì thế, nó thường quan tâm phân tích những vấn đề như tình trạng nghèo khổ ở đô thị, sự bất ổn chính trị, tỷ lệ chết (tử suất), tội phạm, ly dị, tự tử, v.v Nhưng phần lớn mọi người đều phải nhìn nhận là đối tượng của xã hội học đã chịu những ảnh hưởng sâu xa của Saint-Simon, đặc biệt là của Karl Marx và Friedrich Engels qua các công trình phân tích về cấu trúc xã hội, về các giai cấp và về

sự chuyển biến xã hội

Đối tượng của môn kinh tế học là nghiên cứu về các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu thụ các sản phẩm vật chất Đối tượng của môn chính trị học là nghiên cứu về nhà nước, về quyền lực và những cách phân phối và sử dụng quyền lực trong tổ chức xã hội

Vậy đối tượng của môn xã hội học là gì ? Theo Raymond Aron, xã

hội học là bộ môn khoa học về “cái mang tính xã hội [le social] [ ], hoặc

xét trên bình diện sơ đẳng của các mối quan hệ liên cá nhân, hoặc xét trên bình diện vĩ mô của những tập hợp rộng lớn như các giai cấp, các quốc gia, các nền văn minh, tức là [ ] những xã hội tổng thể.”1

Nhưng chúng tôi cho rằng định nghĩa sau đây tỏ ra hợp lý và xác

đáng hơn : theo Alain Touraine, “xã hội học là môn khoa học về các mối quan hệ xã hội”.2 Guy Bajoit giải thích thêm về định nghĩa này như sau : đó

là “một môn khoa học về các mối quan hệ xã hội, nghĩa là một môn khoa học có đối tượng là hiểu và lý giải các ứng xử của con người – những điều

1

R Aron, Les étapes de la pensée sociologique (1967), Paris, Gallimard, 1993, tr

16 (chỗ nhấn mạnh là do R Aron)

2

Đây là câu mà A Touraine phát biểu vào năm 1971, dẫn lại bởi G Bajoit, La

maison du sociologue Pour une théorie sociologique générale,

Louvain-la-Neuve, Academia-L’Harmattan, 2015, tr 11

Trang 7

mà họ làm, nói, suy nghĩ hay cảm nhận – bằng cách phân tích những mối quan hệ mà họ duy trì giữa họ với nhau.”1

Như vậy, có thể hiểu xã hội học là môn khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ xã hội, nhằm mục đích tìm ra những lô-gíc, những cơ chế thường tàng ẩn trong sự vận động của các mối quan hệ xã hội Trong lúc tâm lý học quan tâm chủ yếu đến những hiện tượng tâm lý và ứng xử của cá nhân, thì xã hội học chú ý chủ yếu đến những ứng xử tập thể hay cộng đồng, đến cấu trúc xã hội và sự chuyển biến xã hội

Môn xã hội học quan tâm nghiên cứu những lãnh vực hết sức đa dạng trong đời sống xã hội Nhưng vì không ai có thể một mình bao quát được hết mọi lãnh vực, cho dù có kiến thức tổng quát và thâm sâu đến đâu chăng nữa, cho nên các nhà xã hội học thường chỉ tập trung vào một hai lãnh vực chuyên ngành nào đó mà thôi Chính do vậy mà chúng ta thấy xuất hiện những bộ môn chuyên ngành như xã hội học công nghiệp, xã hội học tôn giáo, xã hội học nông thôn, xã hội học chính trị, xã hội học kinh tế, xã hội học giáo dục, xã hội học truyền thông đại chúng, v.v.2

Chính là trong bối cảnh của trào lưu thực chứng luận trong các

ngành khoa học ở châu Âu vào hậu bán thế kỷ XIX mà trong cuốn Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1895),3 Durkheim quan niệm rằng xã hội

học là bộ môn nghiên cứu về các “sự kiện xã hội” (faits sociaux) và giải

thích chúng theo phương pháp xã hội học.4 Durkheim muốn chứng minh rằng xã hội học là một bộ môn khoa học thực sự khách quan, xứng đáng

Trang 8

7

sánh vai với các ngành khoa học thực nghiệm khác Ông cho rằng thực tại

xã hội có quy luật vận động riêng của nó, chứ không thể giản lược nó hay giải thích nó bằng những hành vi và động cơ của cá nhân, và rằng các cá nhân đều được uốn nắn và chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội của mình

Durkheim định nghĩa sự kiện xã hội như sau : “Sự kiện xã hội là bất

cứ phương cách hành động nào [ ] có khả năng tác động lên cá nhân một

sự cưỡng chế ngoại tại ; hoặc nữa, là bất cứ phương cách hành động nào mang tính phổ biến trong phạm vi của một xã hội nào đó, đồng thời lại có một tồn tại riêng, độc lập với các biểu hiện cá thể của nó.”1

Như vậy, theo Durkheim, sự kiện xã hội là sự kiện mang tính chất khách quan và tính chất cưỡng chế Nó khách quan là vì nó “tồn tại ở bên ngoài các ý thức cá nhân”.2 Và nó mang tính chất cưỡng chế (contrainte); ở

đây, từ “cưỡng chế” không được Durkheim hiểu theo nghĩa thông thường của từ này là cưỡng bách hay áp đặt, mà là một sự cưỡng chế tinh tế mà người bình thường không ý thức và không dễ nhận ra được Ông đưa ra nhiều thí dụ để minh họa cho ý tưởng về sự “cưỡng chế” này của xã hội, chẳng hạn thời trang y phục : trong một xã hội nhất định, mỗi người buộc phải ăn mặc theo một kiểu nào đó bởi vì mọi người đều ăn mặc như vậy.3Một thí dụ khác : “Tôi không bị buộc phải nói tiếng Pháp với những người đồng bào [của tôi], cũng không bị buộc phải sử dụng những đồng tiền hợp pháp ; nhưng tôi không thể nào làm khác đi được Nếu tôi thử tránh tính tất yếu ấy, toan tính của tôi sẽ thất bại một cách thảm hại.”4

Phương pháp mà Durkheim nhấn mạnh là quan sát, và coi các sự

kiện xã hội như những “sự vật” (choses)5 – nghĩa là cần làm sao hết sức tránh khỏi các định kiến có sẵn về đối tượng, và thực sự khảo sát các sự kiện xã hội đúng như chúng xảy ra Quan điểm xã hội học, theo Durkheim,

là làm sao nhìn ra trong vô số các sự kiện tản mạn một tổng thể xã hội Ông nhấn mạnh rằng một sự kiện xã hội này chỉ có thể được giải thích bằng một

sự kiện xã hội khác Ông viết : “Nguyên nhân quyết định của một sự kiện

xã hội phải được tìm trong các sự kiện xã hội trước đó, chứ không phải

Trang 9

trong các trạng thái ý thức cá nhân”,1 bởi lẽ đối với các sự kiện xã hội,

“không có lý do nào để người ta đi tìm ở bên ngoài chúng những lý do tồn tại của chúng.”2

Raymond Aron cho rằng điểm mấu chốt trong tư tưởng xã hội học của Durkheim là như sau : xã hội là một thực tại khác về bản chất so với các thực tại cá nhân ; bất cứ một sự kiện xã hội nào cũng đều có nguyên nhân là một sự kiện xã hội khác, chứ không bao giờ xuất phát từ nguyên nhân tâm lý cá nhân.3

Vấn đề quán xuyến toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu của Durkheim là

đi tìm những nguồn gốc của trật tự xã hội và của sự rối loạn xã hội Trong

công trình nghiên cứu về Tự tử (1897), Durkheim nhận định : những quyết

định tự tử, tưởng chừng như là những quyết định hoàn toàn mang tính chất

cá nhân, thực ra đều có thể được giải thích là chịu ảnh hưởng bởi những hình thái liên đới xã hội khác nhau trong các nhóm xã hội khác nhau Durkheim quan niệm rằng các chuẩn mực xã hội điều tiết hành vi của cá nhân thông qua những giá trị mà cá nhân đã nội tâm hóa, và đó chính là cơ

sở của trật tự xã hội và sự ổn định xã hội Còn sự “phi chuẩn mực”

(anomie), theo Durkheim, là tình trạng thiếu vắng hoặc tan rã của các chuẩn

mực xã hội ; sự “phi chuẩn mực” chính là khái niệm mà Durkheim ưu tiên

sử dụng để giải thích hiện tượng tự tử trong các xã hội hiện đại.4

Ông ta phân biệt bốn loại tự tử trên cơ sở phân tích các con số thống

kê về tự tử xảy ra nơi các cộng đồng xã hội khác nhau : tự tử ích kỷ (suicide égoiste), tự tử vị tha (suicide altruiste), tự tử định mệnh (suicide fataliste),

và tự tử “phi chuẩn mực” (suicide anomique) Loại tự tử vị tha là hiện

tượng xảy ra khi người ta “hy sinh” vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng của mình – nghĩa là khi người ta gắn bó sâu xa với mục tiêu và lẽ sống của tập thể, của cộng đồng Còn loại tự tử định mệnh, chẳng hạn nơi các nô lệ,

là hậu quả của tình trạng áp chế quá sức chịu đựng của con người Nhưng đáng chú ý là người ta thường gặp loại tự tử ích kỷ và loại tự tử “phi chuẩn mực” trong các xã hội hiện đại : loại tự tử ích kỷ xảy ra xuất phát từ tình trạng cô đơn hay bị cô lập ; còn loại tự tử “phi chuẩn mực” xảy ra khi cá nhân sống trong tình trạng xã hội không còn luật lệ, quy tắc, hoặc là trong

Trang 10

9

tình trạng một xã hội có những luật lệ, quy tắc xung khắc nhau Cả hai loại

tự tử này thường thấy khi xã hội cổ truyền tan vỡ để chuyển sang một trật tự

xã hội mới, hoặc là khi xảy ra khủng hoảng kinh tế Durkheim cho rằng hiện tượng tự tử là một hiện tượng “bình thường” vì nó xảy ra với một tỷ lệ nhất định nào đó trong bất cứ xã hội nào ; tuy nhiên, khi ở một xã hội hay một nhóm xã hội nào đó xuất hiện một tỷ lệ tự tử cao hơn một cách “bất thường” thì đây chính là dấu hiệu của một sự rối loạn xã hội, của một tình trạng “phi chuẩn mực”.1

Karl MARX (1818-1883) Nhà triết học, kinh tế học, xã hội học, và nhà hoạt động chính trị, người Đức Được coi như là một trong những nhà sáng lập ra ngành xã hội học Những công trình của Marx mà người ta cho

là có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội học là : Hệ tư tưởng Đức (1845, cùng tác giả với Friedrich Engels) ; Sự khốn cùng của triết học (1847) ; Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848, cùng tác giả với F Engels) ; Ngày

18 Sương mù của Louis Bonaparte (1852) ; Tư bản (1867, 1885, 1894) ; và hai bản thảo xuất bản sau khi ông qua đời là Bản thảo kinh tế và chính trị

1844 (1964), và Grundrisse (1973)

Nhiều công trình của Marx đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tư tưởng xã hội học Những khái niệm quan trọng về mặt xã hội của Marx mà người ta thường bàn luận đến là : (1) khái niệm tha hóa (hay vong thân), mà trước hết là sự tha hóa trong lao động ; (2) quan hệ giữa đời sống kinh tế và các định chế xã hội khác, quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội ; (3) cơ sở của sự phân hóa xã hội ra thành các giai cấp chính là các mối quan hệ sản xuất, những quan hệ sản xuất này hàm chứa những xung đột đối kháng ; (4) mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp là “động lực của lịch sử”,2 nhưng sự thay đổi của lịch sử không diễn ra một cách tự phát, tự động, mà là thông qua hành động tích cực của con người

Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, nếu Auguste Comte phân tích về xã

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), Karl Marx và Friedrich Engels

viết như sau : “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu

tranh giai cấp” (C Mác, Ph Ăng-ghen, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản [1848], trong C Mác, Ph Ăng-ghen, Tuyển tập, tập I, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1980, tr

540)

Trang 11

hội hiện đại dưới góc độ mà ông gọi là “xã hội công nghiệp”, thì Karl Marx lại đề cập tới cũng xã hội ấy nhưng dưới góc độ “xã hội tư bản chủ nghĩa”.1Với nhãn quan của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx được coi là một nhà lý thuyết xuất sắc về chủ nghĩa tư bản, qua các lý thuyết về giá trị lao động, về tích lũy tư bản… và khả năng tiêu vong của chủ nghĩa tư bản xuất phát từ những mâu thuẫn đối kháng nội tại của xã hội tư bản chủ nghĩa

Về vai trò tư tưởng của giai cấp thống trị trong một xã hội, Karl

Marx và Friedrich Engels nhấn mạnh như sau trong cuốn Hệ tư tưởng Đức

(1845-1846) : “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là

những tư tưởng thống trị, nói một cách khác, giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã

hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần.”2

Trong “Lời tựa” của cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị

(1859), K Marx đã tóm tắt toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử của mình

trong một đoạn ngắn sau đây : “[T]rong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cấu trúc kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có

những hình thái ý thức xã hội nhất định Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói

chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ ; trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ Tới một giai

đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội

sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay [ ] mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất

Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội Cơ sở kinh tế thay

đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh

Trang 12

11

chóng.”1

Max WEBER (1864-1920) Nhà xã hội học, và cũng là nhà triết học, luật học, kinh tế học và sử học, người Đức Được nhiều người coi như nhà sáng lập của nền xã hội học hiện đại

Đối với Weber, xã hội học phải là một bộ môn “xã hội học thấu

hiểu” (verstehende Soziologie) về các “hành động xã hội” Ông cho rằng chỉ

khi nào thấu hiểu được các hành động xã hội của các cá nhân, thấu hiểu được ý nghĩa mà các cá nhân gán cho hành động của họ, thì chúng ta mới

có thể giải thích được một cách thấu đáo các sự kiện xã hội hay các hiện tượng tập thể Theo Weber, hành động xã hội là hành động hướng đến ứng

xử của người khác Thí dụ vị giáo sư khi giảng bài thì nói tương đối chậm rãi để sinh viên có thể hiểu và ghi chép được ; còn nếu ông ta nói một mình

và nói rất nhanh, bất chấp có ai nghe được hay không, thì đó không phải là hành động xã hội, vì hành động này không hướng đến một cử tọa nào đó.2

Trong cuốn Kinh tế và xã hội (1921), Weber định nghĩa xã hội học là

“một môn khoa học nhằm thấu hiểu bằng cách lý giải hành động xã hội và nhờ đó giải thích một cách nhân quả sự diễn tiến và các tác động của nó.”3

Định nghĩa này bao gồm ba vế quan trọng trong lối tiếp cận của Weber :

thấu hiểu (verstehen), tức là nắm bắt được các ý nghĩa của hành động xã hội ; lý giải (deuten), tức là sắp xếp các ý nghĩa ấy (của chủ thể hành động) thành những khái niệm ; và giải thích (erklären), tức là làm sáng tỏ tính

chất đều đặn, lặp đi lặp lại của các ứng xử của con người.4

Nếu theo Émile Durkheim, nhà xã hội học cần tập trung chú ý tới các “sự kiện xã hội” khách quan ở bên ngoài, chứ không cần quan tâm tới những động cơ hay ý định chủ quan của các cá nhân, thì theo Max Weber, các sự kiện xã hội khác với các sự kiện vật lý, bởi lẽ chúng luôn luôn được kiến tạo “từ bên trong” bởi những tác nhân xã hội (tức mang ý nghĩa chủ

Trang 13

quan), và do vậy, nhà nghiên cứu cần hiểu được “ý nghĩa nội sinh” (sens endogène) của các hành động xã hội.1 Weber viết : “… trong việc lý giải hành động về mặt chủ quan trong công trình nghiên cứu xã hội học, những tập thể ấy2 phải được coi như chỉ là những hệ quả và những hình thái tổ

chức của những hành động đặc thù của những con người cá thể, bởi lẽ chính những con người cá thể này mới là những tác nhân trong một quá trình hành động [mà chúng ta] có thể hiểu được xét về mặt chủ quan.”3 Do

đó, theo Weber, các nhà khoa học xã hội trước hết cần tiến hành việc quy giản những hiện tượng tập thể (nhìn bên ngoài tưởng chừng như là một thực tại độc lập) vào những hành động của những con người cá thể Ông viết tiếp : “… đối với ngành xã hội học, không hề có chuyện một nhân cách tập thể nào ‘hành động’ Khi một công trình xã hội học đề cập tới một ‘nhà nước’, một ‘dân tộc’, một ‘công ty’, một ‘gia đình’, hay một ‘lực lượng quân đội’, hay những tập thể tương tự, thì điều mà người ta muốn nói đến

là, trái lại, chỉ là một hình thức diễn tiến nào đó của những hành động xã

hội đã xảy ra hay có thể xảy ra của những con người cá thể.”4 Đây chính là

đặc trưng của “phương pháp luận [quy về] cá nhân” (methodological individualism) của Weber, tức là một lối tiếp cận được dùng để giải thích

các quá trình xã hội bằng cách xuất phát từ các cá nhân, đối lập với khuynh

hướng “phương pháp tổng thể luận” (holism).5

Nếu Karl Marx quan tâm phân tích những mâu thuẫn nội tại của xã hội tư bản chủ nghĩa xét về mặt kinh tế học chính trị, thì Max Weber chú ý phân tích quá trình lý tính hóa (hay duy lý hóa) toàn bộ đời sống xã hội trong quá trình chuyển từ xã hội cổ truyền sang xã hội tư bản chủ nghĩa ở châu Âu

Trong công trình nổi tiếng Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1904-1905),6 ông ta muốn hàm ý rằng nếu chỉ dựa trên sự

1

Xem P Pharo, “Problèmes empiriques de la sociologie compréhensive”, Revue

française de sociologie, XXVI, Janvier-Mars 1985, tr 121

Xem M Weber, Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản

(1904-1905), Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng và Trần Hữu Quang dịch, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2008

Trang 14

13

phân tích kinh tế hay kỹ thuật thì chưa thể giải thích được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu vào những thế kỷ XVII-XIX, bởi lẽ, theo ông, các tư tưởng tôn giáo đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình này, đặc biệt là nền đạo đức khắc kỷ của giáo phái Tin Lành Calvin Khác với truyền thống Công giáo, cuộc cải cách Tin Lành đã nhấn mạnh tới tính

tự chủ và độc lập của từng cá nhân : cá nhân nếu được cứu rỗi thì chủ yếu là

do nỗ lực của chính mình, chứ không phải nhờ Giáo hội hay nhờ vào các nghi lễ Theo giáo lý Tin Lành, do niềm tin vào tính chất tiền định của một đời sau được cứu rỗi hoặc bị đọa đầy, nên hầu như ai cũng bị ám ảnh và lo

âu về cái tương lai đời sau ấy Chính vì thế mà mọi tín đồ đều được khuyên bảo là cần hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình ở đời này, cần có lối sống khắc kỷ (tự mình kiềm chế các dục vọng), làm việc cật lực, và phục vụ cho cộng đồng – chính những hành động này sẽ đảm bảo cho sự cứu rỗi

Như vậy, theo Weber, nền đạo đức Tin Lành đã tạo ra môi trường tinh thần cần thiết và thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu, bao gồm : chủ nghĩa cá nhân ; động cơ làm việc thành công ; thái

độ lên án sự xa hoa phung phí cũng như của cải thừa kế ; sự nhìn nhận vai trò chính đáng của các nhà kinh doanh ; thái độ gắn bó với xã hội Hiểu theo nghĩa đó thì chính nền đạo đức Tin Lành cũng là một trong những luồng tư tưởng dẫn tới tính duy lý của xã hội tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, Weber cũng cho rằng : nếu nền đạo đức Tin Lành đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản, thì vai trò ấy không nhất thiết còn tồn tại khi chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập xong

Theo Raymond Aron, không ít người ngộ nhận rằng Max Weber đã tìm cách bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử của Karl Marx khi ông ta giải thích những nhân tố kinh tế bằng những nhân tố tôn giáo Aron cho rằng hoàn toàn không phải như vậy Trong công trình nêu trên, Weber chỉ muốn chứng minh rằng người ta chỉ có thể hiểu được các ứng xử của con người trong các xã hội khác nhau nếu đặt chúng trong khuôn khổ nhân sinh quan hay thế giới quan của họ, rằng những quan niệm tôn giáo thực sự là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đối với các lối ứng xử kinh tế, và do đó, là

một trong những nguyên nhân của những chuyển biến kinh tế của các xã

hội.1 Weber không hề có một quan điểm cực đoan và đơn-nguyên nhân

(monokausal) về mối liên hệ nhân quả khi giải thích thực tại xã hội, và ông

cũng chưa bao giờ nghĩ một cách giản đơn rằng chủ nghĩa tư bản chỉ là “sản

1

Xem R Aron, sách đã dẫn, tr 530

Trang 15

phẩm” của nền đạo đức Tin lành.1

Theo R Aron, Weber quan niệm các mối liên hệ nhân quả trong ngành xã hội học chỉ mang tính chất “cục bộ” và “có khả năng xảy ra”

(relations partielles et probables) Nói cách khác, một bộ phận này của

thực tại xã hội có thể là, hay không là, nguyên nhân của một bộ phận khác

của thực tại xã hội – chứ không bao giờ là nguyên nhân của toàn bộ thực tại

xã hội Và những mối liên hệ nhân quả này luôn luôn mang tính chất xác

suất, nghĩa là có thể xảy ra hay không xảy ra – chứ không bao giờ mang tính quyết định tất yếu Và chính tính chất bất định này trong thực tại xã hội

là điều mà các nhà nghiên cứu khoa học xã hội phải quan tâm, để có thể đi đến chỗ giải thích được rằng tại sao một hiện tượng xã hội lại xảy ra ở nơi này, trong xã hội này, chứ không xảy ra ở nơi khác, trong các xã hội khác.2

C Phương pháp xã hội học

Có thể nói xã hội học là một ngành khoa học thực nghiệm (hay thực chứng), theo nghĩa là đây không phải là một ngành khoa học quy phạm, như

đạo đức học hay luật học chẳng hạn Xã hội học không chỉ ra rằng phải làm

gì, cũng không phê phán cái gì tốt hay cái gì xấu căn cứ trên một hệ thống

giá trị nào đó Ngược lại, xã hội học xuất phát từ những sự kiện xã hội,

những ứng xử thực tế của con người, tìm cách mô tả và giải thích chúng một cách khách quan Dưới con mắt nhà xã hội học, một hành vi “đáng lên án” nào đó, chẳng hạn hành vi phạm pháp, cũng chỉ là một đối tượng nghiên cứu như bất cứ hành vi bình thường nào khác trong xã hội Trong xã hội học, việc xây dựng một khung lý thuyết để giải thích thực tại hoàn toàn không có nghĩa là nhằm đi đến một phán đoán giá trị về thực tại ấy.3 Còn việc phán đoán, việc đề ra giải pháp hoặc chọn lựa giải pháp nhằm tác động vào thực tại, thì đấy là công việc của nhà lãnh đạo thực tiễn hoặc nhà chính trị

Durkheim quan niệm rằng : xã hội học, với tư cách là một khoa học

thực nghiệm (science positive), cần coi các sự kiện xã hội như những “sự

vật” – nghĩa là nhà xã hội học phải có con mắt giống như con mắt của các

1

Xem M Weber, sách đã dẫn, tr 159-160

2

Xem R Aron, sách đã dẫn, tr 517-519 Có thể xem thêm bài “Lời giới thiệu”

của Trần Hữu Quang và Bùi Văn Nam Sơn, trong Max Weber, Nền đạo đức Tin

lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, sách đã dẫn, tr 11-46

3

Xem H Mendras, Éléments de sociologie, Paris, Armand Colin, nouvelle édition

refondue, 2003, tr 11

Trang 16

15

nhà khoa học tự nhiên khi họ quan sát các hiện tượng vật lý, hóa học hay sinh học Durkheim khẳng định rằng xã hội có những cơ chế và quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân, vì thế chỉ

có thể giải thích một sự kiện xã hội này bằng những sự kiện xã hội khác mà thôi, chứ không thể quy về những nguyên nhân tâm lý cá nhân như động cơ hay khát vọng Và các sự kiện xã hội chỉ trở thành đối tượng nghiên cứu một khi chúng được đưa vào phân tích trong khuôn khổ xã hội học

Nói cách khác, người ta không thể khảo sát thực tại xã hội nếu không xuất phát từ một khung lý thuyết tối thiểu ban đầu Người làm xã hội học, cũng giống như trong các ngành khoa học khác, xác định đối tượng nghiên cứu của mình dựa trên một số ý tưởng hay giả thuyết, dù đấy là những ý tưởng hay giả thuyết ban đầu của bản thân nhà nghiên cứu, hay là những giả thuyết xuất phát từ các công trình điều tra xã hội học khác

Tuy nhiên, xã hội học là một ngành khoa học không chỉ mang tính

chất thực nghiệm (hay thực chứng), mà còn mang tính chất tích lũy (une science cumulative) Ngày nay, các nhà xã hội học không còn mang những

tham vọng “tiên tri” quá lớn lao như các nhà tư tưởng vào thế kỷ XIX nữa, mặc dù họ vẫn luôn kính trọng những người “khổng lồ” của thời đại ấy Các nhà xã hội học hiện đại thường tỏ ra khiêm tốn hơn.1 Nói như nhà xã hội học Mỹ Robert K Merton (1910-2003), thông thường họ chỉ tự giới hạn vào việc tìm hiểu một nhóm sự kiện xã hội nào đó mang tính nhất quán, rồi

từ đó xây dựng một lý thuyết hạn hẹp, ở tầm trung mô mà thôi.2 Lý thuyết này sau đó có thể được trừu tượng hóa ở một cấp độ cao hơn, rồi được chuyển sang một lãnh vực khác để giải thích một nhóm sự kiện khác Hoặc

lý thuyết trung mô này cũng có thể được kết hợp với một lý thuyết trung mô khác, vốn được xây dựng trên một nhóm sự kiện khác, để cuối cùng hình thành nên một lý thuyết tương đối bao quát một chút Đó chính là ý nghĩa

của tính chất tích lũy của ngành xã hội học.3

Nhà xã hội học không phải là người lúc nào cũng muốn xóa sạch bàn

cờ để làm lại từ đầu ; ông ta không có tham vọng đặt lại toàn bộ một vấn đề

để bắt đầu từ con số không Để tìm hiểu những sự kiện xã hội nào đó và đi đến được những lập luận phân tích và lý giải những sự kiện ấy, nhà xã hội học luôn luôn phải bắt đầu bằng cách xem xét các kết luận của những người

Trang 17

đi trước vốn đã từng nghiên cứu về cũng những sự kiện tương tự, và dựa trên các kết luận đã có ấy, ông ta tìm cách tiến xa hơn bằng những công cụ phân tích mới hơn, tinh vi hơn.1

Ngày nay, ai muốn nghiên cứu về hiện tượng tự tử chẳng hạn, đều không thể không tham khảo lại những cuộc điều tra đã tiến hành trước đây, đặc biệt là công trình xã hội học đầu tiên của É Durkheim về vấn đề này.2Qua đó, xem lại coi người ta đã thu thập những dữ kiện nào, và cuộc điều tra đang dự định có thể tìm ra những dữ kiện gì mới ; xem xét lý thuyết mà Durkheim từng đưa ra để giải thích về hiện tượng tự tử có còn thích hợp để

lý giải được thực tế ngày nay hay không ; nếu không, thì nhà nghiên cứu phải bổ sung hoặc xây dựng lại thế nào cho một khung lý thuyết mới

“Lý thuyết” là một công cụ trí tuệ giúp ta hiểu một thực tại nào đó, giải thích một số sự kiện nhất định nào đó Hiểu theo nghĩa như vậy, khái

niệm “lý thuyết” (theory) hoàn toàn khác biệt với khái niệm “học thuyết” (doctrine) Một học thuyết là một hệ thống các tín điều và niềm tin, thường

mang tầm vóc tổng quát, toàn diện Ngược lại, một lý thuyết thường bao hàm một phạm vi hạn hẹp hơn, nhằm giải thích một hiện tượng xã hội nào

đó, và cũng thường bổ ích và thiết thực hơn là một học thuyết quá tổng quát Chẳng hạn, khi đề ra lý thuyết giải thích về hiện tượng tự tử,

Durkheim đã chế tạo ra khái niệm “anomie” (a = không, nomos = luật lệ ;

tạm dịch là tình trạng phi chuẩn mực) Ngày nay, khái niệm này đã trở thành một trong những khái niệm căn bản trong xã hội học hiện đại và được dùng rộng rãi để phân tích nhiều cơ chế vận động của xã hội không có liên quan gì đến hiện tượng tự tử.3

Một trong những phương pháp thường được sử dụng trong xã hội

học là phương pháp so sánh Người ta thường dùng phương pháp này khi

phân tích những nhân tố thuộc về định chế hoặc thuộc về cấp xã hội vĩ mô trong những xã hội khác biệt nhau, hay khi phân tích những hiện tượng cụ thể nào đó trong các xã hội hay các nhóm khác nhau Phương pháp này khá hấp dẫn vì nó có nhiều triển vọng đem lại kết quả Tuy nhiên kèm theo nó cũng có nhiều cạm bẫy, vì vấn đề được đặt ra là : liệu những đơn vị được so sánh (các xã hội, các định chế, các tôn giáo, các nhóm, v.v.) và những chỉ tiêu được chọn để so sánh, có phải là những cái có thể so sánh được hay

Trang 18

17

không Dù vậy, đối với nhà xã hội học, do không thể sử dụng biện pháp thí nghiệm như trong khoa học tự nhiên hay khoa học kỹ thuật, nên phương pháp so sánh vẫn thường là một công cụ hữu ích.1

Một phương pháp khác là : xây dựng những mẫu hình (model), hay những “điển hình ý thể” (tạm dịch từ thuật ngữ ideal type).2 Đây cũng là phương pháp được các nhà xã hội học chú trọng kể từ khi Max Weber sử dụng cụm từ này Weber đã ứng dụng phương pháp xây dựng “điển hình ý

thể” này trong công trình nổi tiếng Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1904-1905) Căn cứ trên giáo huấn đạo đức của giáo phái

Tin lành theo Calvin, Weber đã xây dựng một mô hình ứng xử “điển hình ý thể” của người theo giáo phái này, và ông nhận xét là mô hình này trùng khớp hay tương hợp với mô hình ứng xử “điển hình ý thể” của nhà kinh doanh tư bản chủ nghĩa Điều này dẫn Weber đi đến chỗ kết luận rằng nền đạo đức Tin lành đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu

Một điển hình ý thể, theo Weber, không phải là một mẫu điển hình bao gồm những đặc điểm chung nhất hoặc thường gặp nhất trong thực tại, cũng không phải là một mẫu hình lý tưởng mà người ta cần đạt tới.3 Việc xây dựng các điển hình ý thể chính là nỗ lực của mọi ngành khoa học nhằm làm cho đối tượng nghiên cứu trở nên khả niệm4 bằng cách tìm ra tính duy

lý nội tại (rationalité interne) của đối tượng nghiên cứu, tức là cái nội dung

mang tính chất cốt lõi nhất của nó Và xã hội học, theo Weber, chính là nỗ lực trình bầy lại những cuộc sống con người vốn vô cùng lộn xộn, rối ren và khó hiểu, nhằm làm cho chúng trở nên khả niệm, tức là có thể hiểu được và

lý giải được.5

Trong cuốn Kinh tế và xã hội (1921), Max Weber cho rằng các điển

hình ý thể chỉ là những “công cụ phương pháp luận” để hiểu được và lý giải

3

Xem J Scott, G Marshall (Eds.), A Dictionary of Sociology, 3rd edition revised,

New York, Oxford University Press, 2009, tr 329-330

Trang 19

được các hiện tượng xã hội Ông viết : “Việc xây dựng một nội dung thuần túy duy lý của hành động [ ] giúp cho nhà xã hội học có được một điển hình [tức điển hình ý thể] [ ] Bằng cách so sánh với điển hình này, chúng

ta có thể hiểu được những cách thức mà trong đó hành động thực tế bị ảnh hưởng bởi những nhân tố phi duy lý thuộc đủ mọi kiểu [ ], và những trường hợp mà chúng [tức những nhân tố phi duy lý] gây ra hiện tượng đi trệch khỏi lối ứng xử vốn được kỳ vọng trên cơ sở giả thuyết là hành động mang tính thuần túy duy lý.”1

Một vấn đề phương pháp luận nữa cũng khá căn bản, đó là : xã hội

học có thể tìm ra những quy luật (hay định luật, laws) như các ngành khoa

học tự nhiên đã làm hay không ? Trong thế kỷ XIX, trong trào lưu phấn chấn trước các khám phá và phát minh trong các lãnh vực khoa học và kỹ thuật và trong niềm tự tin về đà tiến bộ của nhân loại, nhiều nhà xã hội học cho rằng thực sự có những quy luật xã hội Nhưng kể từ hậu bán thế kỷ XX cho tới nay, sau nhiều thất bại trong các giải thích và dự đoán, phần lớn các nhà xã hội học đều thận trọng hơn, cân nhắc hơn về điểm này Tuy không hoàn toàn phủ nhận khả năng có thể có những quy luật xã hội, nhưng người

ta vẫn không dám đi đến kết luận vội vã, mà thường chỉ ghi nhận những

hiện tượng lặp đi lặp lại (regularities): nếu trong thực tế, qua kinh nghiệm

bản thân, người ta luôn luôn bắt gặp hiện tượng A đi kèm với hiện tượng B, thì điều này chưa hẳn có nghĩa là A là nguyên nhân của B, mà cũng chưa chắc là A luôn luôn đi liền với B Hiện tượng A có thể là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc xuất hiện B, hoặc cũng có thể cả A lẫn B đều là kết quả chung của một nhân tố nào khác còn tiềm ẩn Tuy vậy, việc nghiên cứu những hiện tượng lặp đi lặp lại này cho phép ta thực hiện trong chừng mực nào đấy những dự báo, chẳng hạn theo kiểu : nếu ngày mai ta thấy hiện tượng A, thì có nhiều khả năng là sẽ xảy ra hiện tượng B Đây chính là

sự khác biệt căn bản giữa sự dự báo và sự tiên tri.2

Một thí dụ Ở phương Tây, sự phát triển nhanh chóng của xã hội công nghiệp đòi hỏi người lao động phải di chuyển, thay đổi chỗ làm nhiều hơn, được đào tạo chuyên sâu hơn và nhanh hơn Do đó, kết quả là mô hình gia đình nhiều thế hệ theo kiểu truyền thống, trong đó cặp vợ chồng trẻ vẫn sống chung với cha mẹ, và người con có cùng địa vị xã hội như người cha, không thể phù hợp với một nền công nghiệp đang tăng trưởng Mặt khác, thanh niên bây giờ không chọn vợ chọn chồng theo kiểu “môn đăng

1

M Weber, The Theory of Social and Economic Organization (1947), A M

Henderson và T Parsons dịch, New York, The Free Press, 1964, tr 92

2

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 12-13

Trang 20

19

hộ đối” hay “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” nữa ; họ chọn theo những tiêu chuẩn cá nhân của mình, mà về mặt cá nhân thì hiển nhiên là khía cạnh tình cảm trở thành động cơ chủ yếu dẫn đến hôn nhân Nếu thanh niên lấy nhau

vì tình yêu, và nếu họ chọn một nghề nghiệp mà họ đã được học ở trường, thì các cặp vợ chồng trẻ sẽ không có lý do gì để phải ở chung với cha mẹ như thời xưa nữa Họ ra ở riêng, tìm việc làm, thăng tiến dần Như vậy, nhìn chung lại, ta thấy có lẽ có một mối liên hệ hàm số giữa hai hiện tượng thoạt nhìn tưởng chừng như chẳng dính dáng gì với nhau : “tiếng sét ái tình” và sự phát triển kinh tế của xã hội công nghiệp

Nhưng mối liên hệ ấy không nhất thiết là liên hệ nhân quả, và lại càng không chắc là quy luật, nếu ta nhìn vào các xã hội Á Đông như Nhật Bản chẳng hạn Hơn nữa, khó mà khẳng định được cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả, khi mà các hiện tượng xã hội thường xuất hiện đan xen với nhau, tác động lẫn nhau một cách vô cùng chằng chịt Tính nhân quả trong xã hội hầu như luôn luôn diễn ra dưới dạng vòng tròn, tức là các hiện tượng thường tác động lẫn nhau, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau.1

Xét về mặt phương pháp luận, nhìn chung, người ta thấy có hai lối tiếp cận đối lập nhau trong ngành xã hội học, đó là lối tiếp cận tổng thể luận

(holism), và lối tiếp cận phương pháp luận [quy về] cá nhân (methodological individualism) Một cách đại thể, có thể nói lối tiếp cận

tổng thể luận cho rằng toàn bộ sự vận hành của xã hội đều xuất phát từ xã hội, vốn có những cấu trúc và những định chế của nó, áp đặt lên trên mọi cá nhân thành viên Lý thuyết mác-xít và khoa kinh tế học cổ điển đều nằm trong lối tiếp cận này, và ngay nền xã hội học ở Pháp cũng chủ yếu đi theo khuynh hướng này trong những thập niên 1950 và 1960 Nhưng kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra từ năm 1975 trở đi, giới khoa học xã hội ở Pháp bắt đầu đặt lại vấn đề về lối tiếp cận này, nhất là khi mà nhà xã hội

học Alain Touraine (1925-) đưa ra ý tưởng về “sự trở lại của tác nhân” (le retour de l’acteur) Lúc này, người ta bắt đầu chú ý hon tới những chiến

lược cá nhân cũng như sự tích hợp của những chiến lược cá nhân, đến mức

mà dần dà lối tiếp cận phương pháp luận [quy về] cá nhân của nhà xã hội học Raymond Boudon (1934-2013) trở nên thống soái trong nền xã hội học Pháp, cùng với trào lưu của trường phái Chicago và trào lưu phương pháp

luận thường nhân (ethnomethodology) Tuy nhiên, giữa hai lối tiếp cận đối

lập nhau nêu trên, người ta chứng kiến ngày càng có nhiều công trình xã hội học (tôn giáo, tổ chức, nông thôn, chính trị ) tìm cách vượt qua sự đối lập

1

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 13

Trang 21

này, và trong chừng mực nào đó, phối hợp cả hai lối tiếp cận ấy.1

D Những kỹ thuật nghiên cứu

Vấn đề đầu tiên của một đề tài nghiên cứu xã hội học là làm sao chuyển từ những khái niệm trừu tượng (trong khung lý thuyết của đề tài) thành những sự vật và những sự kiện cụ thể trong đời sống hàng ngày, để từ

đó ta có thể khảo sát và đo lường được chúng trong những cuộc khảo sát

thực nghiệm Nói cách khác, đây là vấn đề thao tác hóa các khái niệm, tức

là biến những khái niệm trừu tượng thành những chỉ báo cụ thể, có thể được định lượng hóa Nếu chúng ta muốn vận dụng khái niệm “phi chuẩn mực”

(anomie) của Durkheim chẳng hạn vào công trình nghiên cứu của mình, thì

ta cần phải thao tác hóa khái niệm trừu tượng này thành những chỉ báo cụ thể, có thể khảo sát và đo lường được, nhằm đi đến chỗ lượng giá được mức

độ phi chuẩn mực của một xã hội hay một nhóm xã hội nào đó Những chỉ báo này cho phép ta đo lường được những thành tố khác nhau của tình trạng phi chuẩn mực Mặt khác, ta còn phải xác định được những biến số nào tác động tới tình trạng phi chuẩn mực, và khảo sát mối liên hệ tương quan giữa những biến số này, v.v Đấy đều là những khía cạnh thiết yếu đòi hỏi nhà xã hội học phải hết sức thận trọng và tinh tế trong việc thao tác hóa các khái niệm lý thuyết trong một công trình nghiên cứu.2

Trong nhiều trường hợp, khi đứng trước một vấn đề nghiên cứu mới, nhà xã hội học chưa xây dựng được ngay những giả thuyết hay khung lý thuyết thích hợp, thậm chí cũng chưa hình dung được đối tượng nghiên cứu

ra sao Trong những trường hợp này, rõ ràng việc đầu tiên phải làm là mô tả (description) Cũng tương tự như trong bất cứ ngành khoa học nào khác,

việc mô tả phải hết sức chi tiết, cụ thể, càng chính xác càng tốt Nhưng do lúc ban đầu thường chưa thể biết rõ những gì cần thu thập và những gì không cần, nên người nghiên cứu dễ sa đà vào việc mô tả vô số sự kiện không có ý nghĩa, đồng thời lại dễ bỏ quên những điểm then chốt Dĩ nhiên,

độ dày của kinh nghiệm nghiên cứu cũng như tầm hiểu biết vấn đề sẽ giúp cho công việc mô tả đỡ vất vả hơn mà lại sắc sảo hơn.3

Đối với nhà xã hội học, cũng như đối với các nhà khoa học xã hội

khác, vấn đề căn bản là vấn đề khoảng cách giữa người quan sát và đối

Trang 22

21

tượng được quan sát Nhà thiên văn học có kính viễn vọng để nhìn ngắm

các ngôi sao trên trời, nhà sinh học có kính hiển vi để đi vào thế giới các tế bào, còn nhà xã hội học thì lại vẫn dùng những giác quan thông thường của mình và trí tuệ của mình để khảo sát đối tượng Do nhà xã hội học cũng là một thành viên của xã hội mình đang sống, cũng mang trong mình những tâm thức và tình cảm của xã hội ấy, cũng sử dụng cùng những ngôn từ và thuật ngữ thông thường của xã hội ấy, nên khi nghiên cứu, ông ta/bà ta rất

dễ rơi vào những lối suy nghĩ rập khuôn hay những cái nhìn thành kiến của

xã hội mà mình đang sống Chính vì thế, điều cực kỳ quan trọng đối với một nhà xã hội học là trang bị cho mình hệ thống các kiến thức và các khái niệm khoa học, cũng như xây dựng những công cụ nghiên cứu chuyên biệt (như bản câu hỏi, bản hướng dẫn phỏng vấn, bản quan sát ) để “nhìn” đối tượng (khảo sát và thu thập dữ kiện) một cách khách quan nhất có thể được – nhằm vượt ra khỏi cái chủ quan có thể có của người nghiên cứu.1

Mô tả, trước hết có nghĩa là đo đếm Công việc đo lường hiện tượng

và đếm các sự kiện có thể cho phép chúng ta giữ một khoảng cách nhất định với đối tượng nghiên cứu Bởi lẽ các bảng biểu số liệu bản thân chúng có những yêu cầu khách quan mà ta phải tuân theo Tuy nhiên, điều quan trọng

hơn trong xã hội học là hiểu, mà để hiểu, thì rõ ràng là đếm thôi chưa đủ

Nhà xã hội học tôn giáo chẳng hạn có thể đếm được số người đi nhà thờ, nhưng con số này chưa có ý nghĩa bao nhiêu, vì điều mà người ta muốn biết

là số các tín đồ, tức là những người có lòng tin – mà việc đi nhà thờ chưa phải là tiêu chuẩn cho phép đo lường lòng tin thực sự của các tín đồ.2

Như vậy, chúng ta thấy rõ là ngay việc mô tả ban đầu cũng đã đòi hỏi một nỗ lực phân tích định tính về đối tượng nghiên cứu, cũng như một

nỗ lực thao tác hóa các khái niệm của đề tài nghiên cứu, nhằm làm sao vạch

ra được tương đối đầy đủ các chỉ tiêu cần thu thập

Một kỹ thuật nghiên cứu khác cũng thường được dùng trong xã hội

học là chuyên khảo hay đặc tả (monograph) Đây là việc khảo sát chuyên

sâu về một tập hợp xã hội nào đó (một cộng đồng làng, một gia đình, một tổ chức ) hoặc một hiện tượng (thí dụ tự tử), nhằm tìm hiểu tất cả mọi khía cạnh, lãnh vực và cơ chế vận động của tập hợp xã hội ấy hoặc của hiện tượng ấy.3

Trang 23

Sở dĩ ngành xã hội học tiến bộ được là nhờ vào hai công cụ chính

này : chuyên khảo và thống kê Phương pháp chuyên khảo giúp ta khám phá

và hình dung ra hiện tượng cần nghiên cứu, và đặt hiện tượng này vào trong mối liên quan với các hiện tượng khác hay các vấn đề khác Còn phương pháp thống kê thì giúp ta đo lường quy mô của hiện tượng và tầm vóc của

nó trong tổng thể xã hội hoặc cộng đồng mà ta đang nghiên cứu Tuy nhiên,

kể cả những nước công nghiệp phát triển, các số liệu thống kê chính thức đều được thu thập phần lớn nhằm phục vụ cho giới quản lý xã hội và giới kinh tế học, chứ hiếm khi phục vụ cho nhu cầu của các nhà xã hội học Vì thế, nhà xã hội học thường phải tự mình đi thu thập số liệu : tự mình thiết

kế công cụ khảo sát (như bản câu hỏi, bản hướng dẫn phỏng vấn ), tự mình chọn ra mẫu khảo sát và tự mình tiến hành những cuộc thăm dò nhằm phục vụ cho công trình nghiên cứu của mình.1

E Xã hội học và thực tiễn xã hội

Như đã nói, tư duy xã hội học thường phát triển trong những thời kỳ khủng hoảng hoặc có nhiều biến động xã hội Cũng chính vì thế mà các nhà hoạt động thực tiễn thường mong chờ nhà xã hội học đưa ra những giải pháp cho những vấn đề cụ thể trước mắt Chẳng hạn, người kỹ sư nông nghiệp thắc mắc tại sao nông dân vẫn không chịu áp dụng giống lúa mới, dù ông ta đã cố hết sức thuyết phục về các lợi ích của giống lúa mới như năng suất cao, chịu được phèn, kháng được sâu rầy Nhà sư phạm không hiểu vì sao tình trạng bỏ bê học hành và hư hỏng trong thanh thiếu niên ngày một gia tăng Còn vị giám đốc nhà máy thì đặt vấn đề làm sao khuyến khích công nhân làm việc hăng hái hơn, và làm cách nào chiêu dụ được nhiều khách hàng hơn mua sản phẩm của nhà máy mình Nói chung, những người làm việc thực tiễn luôn luôn muốn nhà xã hội học đưa ra được cho họ những “toa thuốc”

Thực ra, nhà xã hội học không phải là một “thầy thuốc”, lại càng không phải là nhà “tiên tri” Dù công việc mô tả và phân tích của nhà xã hội học có sâu sắc và xác đáng đến đâu đi nữa, thì điều đó vẫn không phải là cơ

sở để cho phép ông ta “báo trước” tương lai, hay tìm ra được biện pháp gì hữu hiệu tác động vào tương lai

Một thí dụ Những cuộc thăm dò dư luận trước các cuộc bầu cử tổng

1

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 15

Trang 24

23

thống ở Mỹ chỉ cho người ta biết là : vào thời điểm điều tra T, có 30% (chẳng hạn) người dân Mỹ đồng ý bầu cho ông Trump, 40% cho bà Clinton, v.v ; nhưng qua đó, vẫn không thể biết trước là đến ngày bầu cử T ’, sẽ có bao nhiêu phần trăm bầu cho người này hay người khác Bởi lẽ từ thời điểm

T tới T ’ (một tuần, một tháng hoặc một năm), sẽ còn diễn ra nhiều biến cố khác có thể làm đảo lộn tình hình ; hơn nữa, bản thân việc công bố kết quả điều tra cũng đã có thể tác động tới sự chọn lựa của cử tri

Mô tả không phải là dự báo ; tuy nhiên, trong chừng mực nhất định, nhà xã hội học vẫn có thể căn cứ trên kết quả mô tả để nói rằng : sự kiện A

có nhiều khả năng xảy ra trong những điều kiện B, C, D nhất định

Cũng có nhiều trường hợp mà phương pháp xã hội học được sử dụng

để phục vụ trực tiếp cho thực tiễn, đặc biệt là trong việc điều tra về nhu cầu

và thị hiếu của khách hàng, hay về tác dụng của việc quảng cáo cho một sản phẩm chẳng hạn Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, trong không quân Mỹ, người ta đã sử dụng kết quả của những cuộc trắc nghiệm xã hội học để cấu tạo thành phần các đội bay, nhằm mục đích là làm sao cho mọi người trong mỗi đội bay có thể “ăn giơ” được với nhau, nhưng đồng thời cũng phải làm sao để những người này đừng quá thân thiện với nhau đến nỗi chỉ lo vui chơi mà quên đi nhiệm vụ chiến đấu

Để giải quyết một số vấn đề tác nghiệp cụ thể, ngành xã hội học có thể đóng vai trò rất hữu hiệu, kết quả có thể thấy ngay trong thực tiễn Nhưng còn những vấn đề lớn và phức tạp hơn của xã hội (thí dụ sự chuyển biến trong ứng xử của nông dân ; vấn đề ma túy ), thì cho đến nay vẫn luôn luôn là thách đố đối với các nhà xã hội học Ngay việc giải thích những hiện tượng ấy cũng đã từng gây ra biết bao nhiêu cuộc tranh luận giữa những nhà xã hội học nhiều khi có quan điểm hoàn toàn đối lập nhau

Đó là chưa nói đến việc dự báo hoặc đề ra giải pháp cho tương lai của vấn

đề thì lại càng khó khăn hơn bội phần

Với tư cách là công dân trong một xã hội, nhà xã hội học hẳn nhiên cũng có thể có những chính kiến và lập trường riêng của mình, những thao thức và hoài bão phục vụ lý tưởng của mình Nhưng với tư cách là nhà khoa học, thì do tính chất thường hết sức phức tạp của đối tượng nghiên cứu, nhà

xã hội học luôn phải tôn trọng tính khách quan trong nghiên cứu, và thận trọng trong việc phân tích và nhận định Mỗi hiện tượng xã hội vốn được cấu tạo bởi vô số những mối quan hệ xã hội chằng chịt và phức tạp, nhiệm

vụ của nhà xã hội học, nói một cách nôm na, là làm sao gỡ ra, lần ra được

Trang 25

những đầu dây mối nhợ chính yếu : mô tả và lý giải một hiện tượng xã hội, nhằm mục đích giúp cho người ta hiểu được thực chất của hiện tượng ấy Còn làm cách nào để phát huy hay hạn chế hiện tượng ấy, thì đấy không còn là lãnh vực của xã hội học, mà là thuộc về phạm vi cân nhắc và quyết định của nhà hoạt động thực tiễn hay nhà quản lý xã hội

Trang 26

25

Chương 2

Xã hội và cá nhân Quá trình xã hội hóa

Con người từ tấm bé hầu như ai cũng trải qua thời kỳ được cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ Rồi sau đó, đứa trẻ phải cắp sách đến trường, như người

ta thường nói trong dân gian Việt Nam, “Không thầy đố mày làm nên”, nhưng đồng thời người ta cũng nói “Học thầy không tầy học bạn” Nói chung, từ nhỏ tới lớn, mỗi người đều học tập (hay nói cách khác là chịu ảnh hưởng) từ cha mẹ, ông bà, anh chị em trong gia đình, bạn bè chòm xóm, thầy cô, sách vở, báo chí, phát thanh, truyền hình và các môi trường xã hội khác Đấy chính là những quá trình xã hội hóa

A Con người với tư cách là thành viên xã hội

Từ ngàn xưa, người ta đã tranh luận với nhau rằng : trong mỗi con người, có những mặt nào là do trời phú bẩm sinh, và những mặt nào là do gia đình và xã hội giáo dục và rèn luyện mà “nên người” ? Mặt nào mang tính chất quyết định, mặt bẩm sinh hay mặt giáo dục ? Thực ra đấy là một vấn đề thuộc lãnh vực triết lý, và cũng có thể của cả tâm lý học, nhưng lại nằm ngoài mối quan tâm của xã hội học Nhà xã hội học không đặt ra câu hỏi đó, và chỉ chú tâm nghiên cứu những cơ chế theo đó xã hội tác động đến cá nhân, chứ không bận tâm đến sự phân biệt giữa cái bẩm sinh và cái tiếp thụ được từ xã hội nơi từng con người Nhà xã hội học cũng không tự hỏi xem giữa cá nhân với xã hội, cái nào quyết định cái nào ; bởi lẽ đối với ông ta, không có xã hội nào mà không bao gồm các cá nhân trong đó, và cũng không có những cá nhân nào tách biệt với xã hội của mình.1

Mối quan tâm của nhà xã hội học là tìm hiểu về những khía cạnh mang tính xã hội nơi các cá nhân, và nhờ đâu và trong chừng mực nào mà các cá nhân thuộc một xã hội hay cộng đồng nào đó lại cùng có chung một

số đặc điểm về nhân cách và ứng xử

Dưới con mắt của nhà xã hội học, dĩ nhiên “con người” không thể được định nghĩa như một đơn vị sinh học – đây là đối tượng của khoa sinh học hay y học Cũng không phải chỉ là một đơn vị tâm lý vốn có ý thức, tiềm thức và vô thức, những đam mê và dục vọng mà ngành tâm lý học

1

Xem H Mendras, Éléments de sociologie, Paris, Armand Colin, nouvelle édition

refondue, 2003, tr 19

Trang 27

hay phân tâm học quan tâm nghiên cứu Và cũng không phải chỉ là một

“sinh vật có lý trí”, biết làm điều thiện tránh điều ác mà các nhà triết học hay đạo đức học thường định nghĩa Tuy không phủ nhận tất cả những khía cạnh trên, nhưng ngành xã hội học quan tâm đến con người trước hết với tư cách là một sinh vật xã hội, một con người xã hội Xã hội học không quan tâm đến con người với tư cách như một cá thể đơn lẻ, mà là con người trong mối tương quan với người khác, con người với tư cách là thành viên của một xã hội, một cộng đồng hay một tập thể nào đó

Thí dụ sau đây mượn từ ngành nhân học sẽ giúp ta hình dung rõ hơn chuyện này Ruth Benedict (1887-1948), nhà nhân học người Mỹ, trong

cuốn Patterns of Culture (Những khuôn mẫu văn hóa, 1934) đã nghiên cứu

một số xã hội Anh-điêng ở Bắc Mỹ và quần đảo Thái Bình Dương, trong đó đặc biệt có hai xã hội có nhiều đặc tính đối lập nhau, là xã hội người Zuni

và xã hội người Kwakiutl.1

Người Zuni (tộc người bản địa sống ở bang New Mexico, Hoa Kỳ)

là những người “hiền lành”, họ cho rằng hoạt động cơ bản của con người là

sự chiêm ngưỡng, bởi vì điều quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, và vì thế họ coi khinh những hành động chiến đấu và cạnh tranh Ngược lại, người Kwakiutl (tộc người bản địa sống ở vùng tây bắc của Hoa Kỳ) lại quan niệm rằng con người chỉ xứng đáng là con người khi dám chống chọi lại người khác, khuất phục người khác và chiến thắng thiên nhiên

Giả sử nếu ta đưa một người Zuni sang sinh sống trong xã hội Kwakiutl, chắc chắn người này sẽ bị coi như một trường hợp bệnh hoạn Ngay cả một người Zuni tương đối “hiếu chiến” nhất cũng vẫn sẽ bị xã hội Kwakiutl coi như người nhu nhược, quá ư hiền lành, thiếu tính chiến đấu Ngược lại, một người Kwakiutl trung bình không đến nỗi “hiếu chiến” lắm nếu đến sống trong xã hội Zuni sẽ là một trường hợp kỳ quặc và sẽ bị coi là điên Như vậy, điều vốn dĩ bình thường đối với xã hội Zuni có thể trở thành điều bệnh hoạn “trái tai gai mắt” đối với xã hội Kwakiutl, và ngược lại cũng như vậy

Rõ ràng con người là sản phẩm của các định chế và văn hóa của xã hội mà trong đó mình sinh trưởng Nhân cách cá nhân được hun đúc chủ yếu theo một mẫu mực nào đó mà xã hội đã hình thành Hệ quả là những lối

1

Dẫn lại theo H Mendras, sách đã dẫn, tr 20

Trang 28

đã được mặc nhiên quy định trong khuôn khổ một cộng đồng hay một xã hội nhất định Và đây cũng chính là một trong những giả thuyết nền tảng của xã hội học Nhà xã hội học quan niệm rằng hệ thống giáo dục đóng vai trò quyết định trong việc truyền đạt hệ thống các giá trị, chuẩn mực và những khuôn mẫu nhân cách của một nhóm xã hội hay cộng đồng, và như vậy tức là làm cho nhóm xã hội hay cộng đồng ấy duy trì sự tồn tại của mình Xã hội tái sản xuất chính mình thông qua sự dạy dỗ, giáo dục

Một giả thuyết quan trọng của nhà xã hội học là : trong hoàn cảnh bình thường, con người bình thường ứng xử theo cách ứng xử bình thường

mà họ đã được dạy dỗ Vì thế, nhà xã hội học quan tâm trước hết đến khía cạnh xã hội này mà con người đã “học” được Chính nhờ các thành viên có được những lối ứng xử chung như vậy mà một xã hội mới có thể hoạt động bình thường và kéo dài sự tồn tại của mình

Ngay những hành vi thông thường nhất trong cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, ở, cử chỉ, lối đi đứng, chào hỏi cũng đều mang dấu ấn của cộng đồng hay xã hội mà đương sự là thành viên Các nhà dân tộc học đã

1

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 20

Trang 29

cho thấy là cách ứng xử của con người trong các hoạt động sinh học, trong lúc bệnh tật, lúc đến tuổi dậy thì, lúc lập gia đình, lúc sinh con và dạy con, cũng như lúc qua đời đều rất khác nhau giữa xã hội này với xã hội khác trên thế giới Chúng ta thường gọi đấy là tập quán, là truyền thống, hay nói rộng ra, là văn hóa

Lấy một thí dụ Trong xã hội Pháp, người ta hay nói tới sự khủng hoảng của tuổi dậy thì, và coi đây như một biểu hiện sinh học “bình thường”, bởi lẽ khi tới tuổi dậy thì, đám thanh thiếu niên Pháp thường tỏ ra nổi loạn chống lại quyền lực Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các nhà dân tộc học lại khám phá ra rằng ở nhiều xã hội khác, lại không có hiện tượng này Nơi tộc người da đỏ Cheyenne ở Bắc Mỹ chẳng hạn, ngay từ nhỏ, những đứa con trai đã được dạy dỗ làm sao cho chúng giống với cha chúng nhất Người ta làm cho chúng những cây cung nhỏ xíu, và khuyến khích chúng bắn những động vật nào dễ bắn nhất ; nếu bắn trúng, chúng sẽ được người lớn khen ngợi Toàn bộ quá trình được dạy dỗ và lớn lên của những đứa trẻ này là một quá trình học cách làm giống y như người lớn, chứ chúng không hề có ý định “nổi loạn” hay tự khẳng định để chống lại cha mẹ của mình Như vậy, tuổi dậy thì của thanh thiếu niên thuộc tộc người Cheyenne chính là một giai đoạn bắt chước, thích nghi và tuân thủ theo các quy tắc xã hội, chứ không phải “nổi loạn” giống như thanh thiếu niên ở Pháp.1

B Quá trình xã hội hóa

Khái niệm “xã hội hóa” (socialization) được các nhà xã hội học dùng

để chỉ quá trình theo đó con người học cách thích ứng với xã hội, tiếp thu các giá trị của xã hội, và tuân thủ các quy tắc xã hội – quá trình này cho phép xã hội tồn tại và luân chuyển nền văn hóa của mình từ thế hệ này sang thế hệ khác Và quá trình này thường được xem như diễn ra hầu như trong suốt cuộc đời mỗi người

Theo nhà xã hội học Mỹ gốc Áo Peter Berger (1929-2017) và nhà xã hội học Mỹ-Áo Thomas Luckmann (1927-2016), lúc sinh ra đời, cá nhân chưa phải là con người, hiểu theo nghĩa là thành viên của một xã hội : “ cá nhân không chào đời là một thành viên của xã hội Anh ta chào đời với một

bẩm tính thiên về xã hội tính [sociality], và rồi anh ta trở thành một thành

1

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 23-24

Trang 30

29

viên của xã hội.”1 Chính là nhờ quá trình xã hội hóa mà cá nhân trở thành một thành viên của xã hội : xã hội hóa là “quá trình dẫn dắt một cá nhân một cách toàn diện và bền bỉ bước vào trong thế giới khách quan của một

xã hội hay một khu vực của xã hội.”2

Berger và Luckmann là những nhà xã hội học đầu tiên đưa ra phân biệt giữa xã hội hóa cơ bản (hay sơ cấp) và xã hội hóa thứ cấp (hay thứ

yếu) Xã hội hóa cơ bản (primary socialization) là “quá trình xã hội hóa đầu

tiên mà mỗi cá nhân trải qua trong thời thơ ấu, nhờ đó anh ta trở thành một

thành viên của xã hội.” Còn xã hội hóa thứ cấp (secondary socialization) là

“bất cứ quá trình tiếp theo nào dẫn dắt một cá nhân đã-được-xã-hội-hóa bước vào những khu vực mới của thế giới khách quan của xã hội của anh ta.”3

Cũng tương tự như trên, người ta thường còn phân biệt ba giai đoạn

xã hội hóa nơi cuộc sống con người

1 Giai đoạn xã hội hóa ban đầu nơi đứa trẻ trong gia đình : đây là môi trường mà, lần đầu tiên trong cuộc đời mình, đứa trẻ có được những kinh nghiệm về quan hệ giữa người với người Theo Berger và Luckmann, đây là giai đoạn quan trọng nhất đối với mỗi cá nhân.4 Người ta dạy cho nó cách ăn nói với người khác, cách chào hỏi Nó học được thế nào là “lễ phép”, là “ngoan” cũng như phải biết được cái gì là điều xấu phải tránh Qua quan sát, nó cũng học được những cách ứng xử giữa cha với mẹ nó, giữa cha mẹ nó với con cái tức là anh chị em của nó Nói tóm lại, đứa trẻ ở giai đoạn này học biết được thế nào là một gia đình, và quan hệ giữa những người thân thuộc diễn ra thế nào

2 Sau đó là giai đoạn xã hội hóa diễn ra nơi nhà trường (có thể bắt đầu từ nhà trẻ hoặc mẫu giáo) : ở môi trường này, lần đầu tiên đứa trẻ tiếp xúc với những người không phải thân thuộc của mình, với thế giới nằm bên ngoài khuôn khổ gia đình Lần đầu tiên, đứa trẻ phải ra khỏi môi trường nhóm cơ bản (gia đình) để bước vào làm quen với những nhóm thứ cấp của

xã hội Nó được học cách giao tiếp và ứng xử với người lạ Nó đồng thời

1

P Berger, T Luckmann, Sự kiến tạo xã hội về thực tại Khảo luận về xã hội học

nhận thức (1966), Trần Hữu Quang chủ biên dịch thuật, giới thiệu và chú giải,

Trang 31

cũng bắt đầu học đánh vần, học viết, tập làm toán, cũng như dần dà học những kiến thức và kỹ năng khác cần thiết cho cuộc sống trưởng thành của

nó sau này

3 Và sau cùng là giai đoạn xã hội hóa khi mà con người trưởng thành bước vào đời, thực sự đảm nhận những vai trò mà hai giai đoạn trước chưa thể chuẩn bị đầy đủ (như làm chồng hay làm vợ, làm cha mẹ, làm một nhân viên nơi sở làm )

Thí nghiệm về phản xạ có điều kiện của Pavlov cho thấy là nếu ta lặp đi lặp lại nhiều lần một kích thích nơi một con vật, thì dần dà ta sẽ tạo được nơi con vật ấy một thứ phản xạ tự động Cũng tương tự như vậy, quá trình giáo dục xã hội, với những biện pháp chế tài của nó (kể cả khen thưởng và trừng phạt hoặc chê trách), dẫn đến kết quả là tạo nên nơi đứa trẻ một số phản xạ và ứng xử mà xã hội mong muốn khi nó đứng trước những tình huống nhất định Thí dụ như mỗi lần vâng lời cha mẹ, hoặc tỏ thái độ kính cẩn khi gặp người già, giúp đỡ người tàn tật thì được khen ngợi, khuyến khích ; còn khi ăn vụng, đi đánh lộn, hoặc ăn trộm ăn cắp thì bị phạt, bị chê cười

Mặc dù có tính chất ít nhiều cưỡng chế, nhưng đặc trưng cơ bản mà

ta có thể nhận xét trong các quá trình xã hội hóa, đó là việc các cá nhân thường dần dần tự giác “nhập tâm” những giá trị và quy tắc mà xã hội đã đề

ra, để biến chúng thành những giá trị và quy tắc của chính mình Một trong những cơ chế quan trọng nhất của quá trình xã hội hóa ban đầu nơi trẻ em là bắt chước Trẻ em 4-5 tuổi thường hay chơi với nhau bằng cách chia nhau

ra đóng những vai trò người lớn, đứa thì đóng vai cô giáo, đứa đóng vai người cha, vai bác sĩ – diễn tập lại những vai trò mà chúng đã từng chứng kiến Chúng bắt chước người lớn trong trò chơi : thực ra là chúng đang học bước vào thế giới người lớn Nói về mặt chữ nghĩa thì nghe có vẻ nghịch lý, nhưng quả thực quá trình xã hội hóa được thực hiện chủ yếu thông qua quá

trình “cá nhân hóa”, hay nói cách khác là “nội tâm hóa” (internalization)

các giá trị đạo lý và xã hội, các quy tắc ứng xử

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát quá trình một đứa trẻ học một trò chơi mới Thí dụ chơi lò cò, hoặc chơi rượt bắt Lúc đầu, vì còn quá nhỏ, nên đứa trẻ không được nhóm bạn lớn tuổi hơn cho tham gia trò chơi, viện cớ là “nó không biết chơi” Dần dà, sau một thời gian đứng “chầu rìa” để quan sát, đứa trẻ cũng hiểu ra ít nhiều cách chơi, và đến một lúc nào đó, nó được chấp nhận cho chơi thử Hẳn nhiên, mọi việc

Trang 32

Trước đây, khi nghiên cứu về khái niệm xã hội hóa, nhiều nhà xã hội học thường dừng lại ở cấp độ vĩ mô và quan niệm rằng đây là một quá trình quyết định hoàn toàn nhân cách cá nhân Nhưng về sau, người ta có xu hướng chú ý hơn đến góc độ vi mô, và cho rằng xã hội hóa là một quá trình còn mang tính chất tương tác và thương lượng giữa cá nhân với xã hội, chứ không diễn ra một cách máy móc hay rập khuôn

Henri Mendras cho rằng quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân bao

gồm ba yếu tố then chốt : (a) yếu tố sinh học của cá nhân (có một số đặc

trưng xuất phát từ di truyền, chẳng hạn có sức khỏe tốt hoặc yếu ớt, mập hay ốm, cơ thể có tật hay lành lặn – đây là những điều kiện ảnh hưởng ít

nhiều đáng kể đến quá trình hình thành nhân cách của cá nhân); (b) sự dạy

dỗ của xã hội (xã hội truyền đạt những quy tắc ứng xử cho đứa trẻ thông qua một số cá nhân và một số định chế) ; và (c) tiểu sử cuộc đời của chính

cá nhân.1

Về yếu tố thứ nhất : yếu tố sinh học Đề cập tới tầng nền sinh học của mỗi con người, cũng như mối liên hệ giữa con người với thân thể của mình trong quá trình xã hội hóa, Berger và Luckmann cho rằng “thú tính của con người được chuyển hóa trong quá trình xã hội hóa, nhưng nó không

bị triệt tiêu.”2 Ngay từ thời thơ ấu, đứa trẻ không phải là không gặp những khó khăn trong quá trình xã hội hóa, do chính những đặc trưng của cơ thể sinh học của nó : “Phải nói là con thú bé nhỏ [tức đứa trẻ] luôn chống trả lại Định mệnh của nó là phải thua cuộc trong cuộc chiến này – nhưng thực

tế này vẫn không hề loại trừ sự kháng cự của thú tính của nó trước cái lực

Trang 33

ảnh hưởng càng lúc càng sâu đậm hơn của thế giới xã hội Thí dụ, đứa trẻ sẽ chống cự lại việc áp đặt cái cấu trúc thời gian của xã hội lên thời gian tính

tự nhiên của cơ thể của nó Nó không chịu ăn và ngủ theo giờ khắc của cái đồng hồ, chứ không phải theo những nhu cầu sinh học nhất định của cơ thể của nó Sức kháng cự sẽ từng bước bị bẻ gãy trong suốt tiến trình xã hội hóa, nhưng nó sẽ vẫn còn đó mãi như một sự ấm ức mỗi lần mà xã hội cấm không cho nó ăn khi nó đói và cấm không cho nó lên giường khi nó buồn ngủ.”1

Về yếu tố thứ hai : sự dạy dỗ của xã hội trong quá trình xã hội hóa Berger và Luckmann cho rằng “[b]ất cứ cá nhân nào cũng đều được sinh ra trong lòng một cấu trúc xã hội khách quan mà trong đó anh ta bắt gặp

những người thân [significant others] vốn là những người đảm trách việc xã

hội hóa cho anh ta.”2 Thông thường, “những người thân” này chính là cha

mẹ của đứa trẻ, họ đóng vai trò “làm trung giới để chuyển thế giới này” đến với đứa trẻ Cha mẹ của đứa trẻ sẽ “lựa chọn những khía cạnh nào đó của thế giới tùy theo địa điểm của bản thân họ trong cấu trúc xã hội, và cũng tùy theo các đặc điểm phong cách cá nhân bắt nguồn từ tiểu sử cuộc đời của họ

Thế giới xã hội được ‘lọc lại’ [filtered] để đến với cá nhân xuyên qua hai bộ

lọc ấy Như vậy, đứa trẻ thuộc tầng lớp dưới không chỉ hấp thụ một nhãn quan của tầng lớp dưới về thế giới xã hội, mà nó còn hấp thụ nhãn quan ấy theo sắc màu đặc trưng mà cha mẹ nó [ ] gán vào đấy.”3

Trong quá trình xã hội hóa, nhân cách của mỗi cá nhân được hình

thành qua quá trình tiếp nhận và nội tâm hóa những giá trị và quy tắc mà các định chế xã hội như gia đình, trường học truyền đạt lại : nếu đứa trẻ tuân thủ theo cách xử sự mà mọi người chấp nhận, nó sẽ được người ta khen thưởng, ngược lại, nếu nó không tuân thủ, nó sẽ bị mọi người chê trách, uốn nắn Tầm quan trọng của nhân tố xã hội trong việc hình thành nhân cách là điều không ai bàn cãi ; trường hợp đứa bé-sói là một trường hợp cực đoan nhưng minh họa rõ nét cho chuyện này Người ta kể rằng, ở một ngôi làng tại Ấn Độ, có một đứa bé sơ sinh được một bầy sói cứu sống

và nuôi nấng như một con sói con, nhưng sau đó vài năm, khi người ta tìm thấy và đưa đứa bé này trở lại xã hội con người, nó không thể trở thành người được nữa

Trang 34

33

Về yếu tố thứ ba : tiểu sử cuộc đời của cá nhân Nhân cách của một đứa trẻ không chỉ phụ thuộc vào môi trường xã hội của đứa trẻ, mà còn tùy thuộc vào lịch sử cuộc sống của bản thân đứa trẻ – nó lớn lên thế nào, học giỏi hay kém, đã trải qua những biến cố gì trong cuộc sống gia đình Đứa trẻ không biết đến một “tha nhân” hay một “xã hội” trừu tượng và mơ hồ,

mà là biết cha nó, mẹ nó, bè bạn xóm giềng cụ thể của nó Như vậy cũng

có nghĩa là “tha nhân” hay xã hội không tác động đến mọi đứa trẻ một cách trừu tượng hay đồng loạt như nhau, mà điều đó còn tùy thuộc vào những đặc điểm của từng hoàn cảnh gia đình, từng cộng đồng, vào tính nết của người cha, người mẹ, vào môi trường khu xóm, vào hoàn cảnh ra đời và trưởng thành của đứa trẻ

Ba yếu tố chủ yếu nói trên (yếu tố sinh học, giáo dục xã hội, và tiểu

sử cá nhân) làm cho mỗi cá nhân, xét về phương diện nào đó, là một cá nhân độc nhất vô nhị, nhưng xét theo một phương diện khác, mỗi cá nhân cũng có thể được coi như là một bản mẫu, một trường hợp điển hình cho một xã hội hay một cộng đồng nào đó Khía cạnh cá nhân và duy nhất của mỗi một con người có thể là đối tượng quan tâm nghiên cứu của một nhà tâm lý học, hoặc của một nhà văn Còn nhà xã hội học thì lại chú ý khảo sát những cơ chế tác động của sự dạy dỗ và giáo dục của xã hội đối với cá nhân, cũng như tầm mức của tác động này đối với các tầng lớp cư dân khác nhau trong một xã hội nào đó

C Một thí dụ : Nam giới và nữ giới trong xã hội

Một trong những thí dụ minh họa có thể giúp chúng ta thấy rõ thêm tầm mức tác động của quá trình xã hội hóa lên trên mỗi cá nhân, đó là quá trình xã hội hóa về vai trò giới Nếu chú ý quan sát, ta sẽ thấy là ngay từ thời thơ ấu, người ta thường dạy dỗ những đứa bé trai và những đứa bé gái một cách rất khác biệt nhau Đứa bé trai thường được khuyến khích chơi những trò chơi dùng nhiều đến thể lực như đá banh, rượt bắt , còn đứa bé gái thì lại thường thiên về những trò chơi gần gũi với bếp núc, nuôi con (chẳng hạn, thường không ai mua búp bê cho con trai) Cha mẹ cũng thường thiên về khuynh hướng giao một số công việc nhà nhất định như quét nhà, rửa chén, phụ bếp cho con gái, chứ không giao cho con trai Nội dung dạy dỗ (nói năng, la mắng, khuyên răn ) đối với con trai cũng thường rất khác so với con gái Kể cả những định hướng nghề nghiệp cho con cái sau này khi chúng đã lớn Tất cả những cung cách ấy trong việc dạy dỗ con cái nghiễm nhiên đã nhuốm màu một quan niệm nhất định về vai trò của nam giới và nữ giới trong xã hội người lớn vào một thời kỳ nhất định nào

Trang 35

đó

Các kết quả khảo sát dân tộc học đã cho thấy một thực tế là trong mọi xã hội mà người ta quan sát được, nam giới và nữ giới không bao giờ đảm nhiệm những công việc như nhau và chu toàn những bổn phận giống nhau Không có nghề nghiệp nào hay công việc nào là thuần túy của đàn ông hay thuần túy của đàn bà : trong một xã hội này, người ta thấy nghề gốm, nghề đan lát và nghề may quần áo là nghề của phụ nữ, nhưng ở một

xã hội khác, những nghề này lại được giao cho đàn ông Nông nghiệp có thể hoàn toàn là công việc của nữ giới trong một xã hội này, nhưng hoàn toàn là công việc của nam giới trong một xã hội khác Đối với công việc buôn bán

và thương mại thì cũng tương tự như thế Ngay trong lãnh vực tín ngưỡng, việc giao tiếp với các đấng thần linh có thể được đảm nhiệm bởi nam giới hoặc bởi nữ giới, hoặc bởi cả hai, tùy theo từng xã hội đặc thù Những tập tục trong hôn nhân cũng có thể rất khác nhau tùy theo từng xã hội, có nơi thì nam giới phải là người chủ động đi hỏi vợ, nhưng cũng có nơi thì nữ giới lại là người chủ động trong chuyện này.1

Trong một công trình khá độc đáo về lịch sử Việt Nam, nhà sử học người Hàn Quốc Insun Yu đã so sánh chủ yếu bộ luật nhà Lê của Việt Nam với bộ luật nhà Đường của Trung Quốc để tìm ra sự khác biệt về cấu trúc gia đình cũng như về địa vị của người phụ nữ giữa Việt Nam với Trung Quốc trong các thế kỷ XVII và XVIII Công trình của ông đã đi đến chỗ khẳng định được sự khác biệt như sau : “Gia đình Trung Quốc được biểu thị bởi uy quyền của người cha đối với mọi thành viên khác trong gia đình, còn gia đình Việt Nam có đặc trưng là người vợ đã thật sự bình đẳng với người chồng và tính cá thể hóa của các thành viên trong gia đình.”2

Insun Yu đã chứng minh được vai trò của người phụ nữ trong hai kiểu gia đình khác nhau ở Việt Nam thời xưa : “Kiểu gia đình nhỏ [chủ yếu gồm vợ chồng và con cái] có đặc trưng là địa vị người vợ gần như bình đẳng với chồng, và con cái có khuynh hướng cá nhân ; kiểu gia đình lớn [tức bao gồm cả ông bà, chú bác, cô dì ] có xu hướng gia trưởng với uy quyền tập trung trong tay người chủ gia đình là nam giới Gia đình nhỏ chiếm ưu thế hơn trong khối dân chúng ở tầng lớp dưới, họ còn cắm rễ sâu chặt trong các truyền thống được kính chuộng lâu đời ở Việt Nam ; trong khi đó, loại gia đình lớn lại được tầng lớp cầm quyền ưu ái hơn, hình thành

1

Xem H Mendras, sách đã dẫn, tr 32

2

Insun Yu, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, Nguyễn Quang Ngọc tổ

chức dịch và hiệu đính, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 1994, tr 13

Trang 36

‘Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa’ đã minh họa cho thấy người phụ nữ làm việc vất vả trên đồng lúa, cày bừa, cấy lúa và gặt hái mùa màng.”2

Theo Insun Yu, ngay cả về mặt phân chia tài sản gia đình chẳng hạn, trong lúc “những người con gái Trung Quốc thường bị loại ra khỏi việc phân chia gia sản mà chỉ được một món hồi môn nhỏ khi về nhà chồng”, thì

ở Việt Nam, “[đ]iều đặc biệt đáng lưu ý là trong gia đình có sự chia đều tài sản của cha mẹ, động sản cũng như bất động sản, không phân biệt con gái hay con trai Con gái cũng có thể thừa kế của hương hỏa để chăm lo việc thờ cúng tổ tiên.”3

D Vài dòng kết luận

Trong quá trình xã hội hoá, chính phương pháp dạy dỗ và giáo dục, trong gia đình và ở nhà trường, là nơi thể hiện tập trung những nhân sinh quan đặc trưng của một mô hình xã hội hoặc mô hình cộng đồng nào đó Chẳng hạn có những xã hội vốn coi trọng việc kinh doanh cũng như những tính toán thương mại, quan niệm là cần phải cho trẻ con giữ tiền riêng để chúng biết cách tiêu xài ngay từ nhỏ ; ngược lại, có những xã hội khác lại bác bỏ hoàn toàn lối dạy dỗ ấy, vì cho rằng đồng tiền “làm hư” con người Thống kê của một số nước ở vùng Trung Đông cho thấy tỷ lệ nữ học sinh thấp hơn rất nhiều so với nam học sinh, vì tại đó theo truyền thống cũ, người ta quan niệm các vai trò hoạt động xã hội bên ngoài (đi làm, buôn bán thậm chí cả việc lái xe hơi) là thuộc về đàn ông, còn chức năng chủ yếu của người phụ nữ là nội trợ (làm vợ, làm mẹ) mà thôi Như vậy, có thể nói lãnh vực giáo dục là nơi tập trung nhất để chúng ta có thể hiểu được các lô-gíc và nhân sinh quan của một xã hội hay một cộng đồng Tuy vậy, khi nghiên cứu về các mối tác động của xã hội đối với cá nhân, chúng ta vẫn phải khảo sát cả nhiều yếu tố xã hội khác nữa, chẳng hạn như các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, phát thanh, báo chí), cũng như các

Trang 37

nhóm, các đoàn thể hoặc tôn giáo mà cá nhân là thành viên

Nói đến mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, theo Peter Berger, lâu nay người ta thường có một quan niệm sai lạc coi cá nhân và xã hội như hai thực thể biệt lập và đối diện nhau, xã hội được nhìn như một thực tại bên ngoài cá nhân và có sức mạnh áp đặt và cưỡng chế lên trên cá nhân.1Norbert Elias (1897-1990), nhà xã hội học Đức gốc Do Thái, cũng cho rằng người ta thường lầm tưởng cá nhân và xã hội là “hai sự vật khác nhau, tựa như một cái bàn và một cái ghế, hay một cái nồi và một cái chảo”, làm như thể “có thể có những cá nhân mà không có xã hội, và có thể có những xã hội mà không có cá nhân”.2 N Elias viết : “Các xã hội được tạo thành bởi các cá nhân, và những cá nhân này chỉ thủ đắc được tính chất con người đặc thù của mình – tức là những khả năng nói năng, suy nghĩ, và yêu thương – phụ thuộc vào mối quan hệ của họ với những người khác, nghĩa là trong ‘xã hội’.”3

Thực ra, chính Karl Marx cũng đã từng cảnh giác về quan niệm coi

xã hội như đối lập với cá nhân, và nhấn mạnh đến mối quan hệ tương tác và

phụ thuộc lẫn nhau giữa con người cá nhân với xã hội Ông viết trong Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844 : “[B]ản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó [tức con người] cũng sản xuất

ra xã hội như thế Hoạt động và sự hưởng dụng những thành quả của hoạt động, xét theo nội dung của nó cũng như xét theo phương thức tồn tại, đều mang tính chất xã hội [ ] Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người đối với con người và

tự nhiên mới trở thành con người đối với con người [ ] Trước hết cần phải tránh không được lại lần nữa đem ‘xã hội’ với tính cách là một sự trừu tượng4 đối lập với cá nhân Cá nhân là thực thể xã hội [ ] Cho nên, nếu con người là một cá nhân đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể xã hội cá thể hiện thực, thì trong mức độ như thế, nó [tức con người] cũng là một tổng thể, một tổng

1

Xem P Berger, Lời mời đến với xã hội học : một góc nhìn nhân văn (1963),

Phạm Văn Bích dịch, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2016, tr 171 Xem thêm Trần Hữu

Quang, “Xã hội và con người theo Peter Berger”, Tạp chí Khoa học xã hội

(TP.HCM), số 3 (151), 2011, tr 72-80

2

Xem N Elias, Qu’est-ce que la sociologie ? (1970), traduit de l’allemand par Y

Hoffmann, La Tour d’Aigues, Éd de l’Aube, 1991, tr 115, 134

Trang 38

“Xã hội là một sản phẩm của con người Xã hội là một thực tại khách quan Con người là một sản phẩm của xã hội.”3 Và vào giữa thập niên 1960, hai tác giả này còn nói thêm rằng giới xã hội học Mỹ có xu hướng bỏ quên mệnh đề đầu tiên trong mối quan hệ biện chứng giữa con người cá nhân với

Trần Hữu Quang, “Sự biện chứng của xã hội theo P Berger và T Luckmann và

trào lưu kiến tạo luận xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội (TP.HCM), số 6 (202),

2015, tr 77-88

Trang 39

Chương 3

Nhóm cơ bản trong xã hội

Có thể nói lĩnh vực nghiên cứu về nhóm là một trong những lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của các ngành khoa học xã hội.1

Xét về mặt lịch sử, việc nghiên cứu về các nhóm nhỏ thực ra đã bắt đầu từ những nhà xã hội học quan tâm đến những vấn đề xã hội như vấn đề nhà ở hay sự thích nghi của người nhập cư, trong đó điển hình là những công trình khảo sát của trường phái Chicago, hay kể cả các nhà nhân học

mà điển hình là Malinowski khi ông nghiên cứu về những cộng đồng ở quần đảo Trobriand (Papua New Guinea) phía tây nam Thái Bình Dương Cách tiếp cận nghiên cứu của những nhà xã hội học và nhân học này là không nghiên cứu xã hội “từ xa”, mà là áp dụng phương pháp “quan sát tham dự”, nghĩa là phải hiểu được những người mà họ quan sát, nói được phương ngữ của họ, lý giải được các hành vi và cử chỉ của họ, nói vắn tắt là hiểu được “cuộc sống nhóm” của họ

Nói như Raymond Boudon, đối với nhà xã hội học và nhà nhân học,

“sự kiện xã hội đầu tiên, đó chính là nhóm”.2

Trong số những người đầu tiên nghiên cứu về nhóm, chúng ta phải

kể đến William G Sumner (1840-1910) khi ông khảo sát về cách thức hình

thành những nhóm sở thuộc (tức nhóm mà cá nhân là thành viên, in-groups)

và những nhóm bên ngoài (out-groups), hay Charles Horton Cooley 1929) với sự phân biệt giữa nhóm cơ bản (primary group) và nhóm thứ cấp (secondary group) Việc nghiên cứu về những cách thức tổ chức và tương

(1864-giao trong nội bộ nhóm là một trong những lĩnh vực trọng tâm của nhiều nhà khoa học xã hội Lĩnh vực này thường được gọi là “động lực học

nhóm” (group dynamics), bao gồm những chủ đề như cấu trúc quyền lực

trong nhóm, những kiểu loại gắn kết của cá nhân vào nhóm, những mức độ

ý thức nhóm, những loại hình lãnh đạo, những mối quan hệ thứ bậc giữa

1

Phần lớn nội dung của chương này đã được in trong cuốn Xã hội học, Bùi Quang

Dũng (chủ biên), giáo trình sau đại học, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 2013, Chương IV, tr 105-142

2

R Boudon, F Bourricaud, Dictionnaire critique de la sociologie, Paris, PUF, 2e

édition revue et augmentée, 1986, tr 271

Trang 40

là một số ít người có mối tương giao giữa người này với người khác và

cùng có một căn cước chung [identity].”2 Theo André Akoun và Pierre Ansart, nhóm là một “tập hợp lớn hoặc nhỏ bao gồm những người có những đặc trưng chung (ý kiến, thị hiếu, hoạt động).”3 Jean Baechler thì đưa ra một định nghĩa trừu tượng hơn : nhóm là “một đơn vị hoạt động bao gồm các tiểu đơn vị”.4

Trước hết, nhóm thường được hình dung như là một nhóm nhỏ, với

số lượng người có giới hạn, nghĩa là chỉ bao gồm một số ít người Nhưng ít

là bao nhiêu, thì người ta thường không xác định được ; chỉ biết rằng có ít nhất từ hai người trở lên Chính vì bao gồm ít người nên trong tiếng Anh,

người ta thường gọi đây là primary group (groupe primaire hay groupe élémentaire trong tiếng Pháp) mà chúng ta có thể dịch ra tiếng Việt là

“nhóm cơ bản” (hay “nhóm sơ cấp”)

Những người tình cờ cùng ngồi với nhau trên một chuyến xe buýt, hay những người cùng ngồi xem một bộ phim trong rạp hát, đều không được coi là những nhóm xã hội, vì không có những mối liên hệ tương giao đáng chú ý Người ta chỉ có thể bắt đầu nói đến “nhóm” nếu bác tài xế xe buýt quen biết những vị khách ngày nào cũng đi cùng chặng đường và thường chào hỏi hoặc trao đổi với nhau dăm ba câu gì đó Nói cách khác, nhóm chỉ hình thành khi thiết lập được những mối tương giao trực tiếp nào

đó với nhau Tuy nhiên, một nhân viên ngân hàng nói chuyện với khách hàng đến gởi tiền, một người bán vé xem phim nói với người đứng xếp

“Un groupe est une unité d'activités composée de sous-unités” (J Baechler,

“Groupes et sociabilité”, trong R Boudon, Dir., Traité de sociologie, Paris,

PUF, 1992, tr 58)

Ngày đăng: 06/03/2019, 19:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abercrombie, Nicholas, Stephen Hill, and Bryan S. Turner, The Penguin Dictionary of Sociology, 2nd edition, London, Penguin Books, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Penguin Dictionary of Sociology
Tác giả: Nicholas Abercrombie, Stephen Hill, Bryan S. Turner
Nhà XB: Penguin Books
Năm: 1988
2. Akoun, André, et Pierre Ansart (Dir.), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert, Seuil, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionnaire de sociologie
Tác giả: Akoun, André, Pierre Ansart
Nhà XB: Le Robert
Năm: 1999
3. Aron, Raymond, Les étapes de la pensée sociologique (1967), Paris, Gallimard, Collection Tel, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les étapes de la pensée sociologique
Tác giả: Aron, Raymond, Les étapes de la pensée sociologique
Năm: 1967
4. Bajoit, Guy, La maison du sociologue. Pour une théorie sociologique générale, Louvain-la-Neuve, Academia-L’Harmattan, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La maison du sociologue. Pour une théorie sociologique générale
5. Barnes, John A., “Class and Committees in a Norwegian Island Parish”, Human Relations, Vol. 7, No. 1, Feb. 1954, pp. 39-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Class and Committees in a Norwegian Island Parish”, "Human Relations
6. Berger, Peter L., Invitation to Sociology – A Humanistic Perspective, New York, Anchor Books, Doubleday, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Invitation to Sociology – A Humanistic Perspective
7. Berger, Peter L., Lời mời đến với xã hội học : một góc nhìn nhân văn (1963), Phạm Văn Bích dịch, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời mời đến với xã hội học : một góc nhìn nhân văn
Tác giả: Peter L. Berger
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2016
8. Berger, Peter L., và Thomas Luckmann, Sự kiến tạo xã hội về thực tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiến tạo xã hội về thực tại
Tác giả: Peter L. Berger, Thomas Luckmann
9. Bloch H., É. Dépret, A. Gallo, et al. (Dir.), Dictionnaire fondamental de la psychologie. A-K, Paris, Larousse, Coll. In Extenso, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionnaire fondamental de la psychologie. A-K
Tác giả: H. Bloch, É. Dépret, A. Gallo
Nhà XB: Larousse
Năm: 2002
10. Boudon, Raymond (Dir.), Traité de sociologie, Paris, Presses universitaires de France, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Traité de sociologie
Tác giả: Boudon, Raymond
Nhà XB: Presses universitaires de France
Năm: 1992
11. Boudon, Raymond, et Franỗois Bourricaud, Dictionnaire critique de la sociologie, Paris, Presses universitaires de France, 2e édition revue et augmentée, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionnaire critique de la sociologie
12. Bùi Quang Dũng (chủ biên), Xã hội học, giáo trình sau đại học, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học, giáo trình sau đại học
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
13. Bùi Thế Cường, “Đến với các lý thuyết xã hội học : Quan điểm tiến hóa”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (84), 2003, tr. 75-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với các lý thuyết xã hội học : Quan điểm tiến hóa
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2003
14. Bùi Thế Cường, “Các lý thuyết về hành động xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội (TP.HCM), số 6 (94), 2006, tr. 57-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết về hành động xã hội
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội (TP.HCM)
Năm: 2006
15. Bùi Thế Cường, “Phân tích chức năng trong nghiên cứu xã hội”, trong Bùi Thế Cường (chủ biên), Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử, Hà Nội, Nxb Từ điển Bách khoa, 2010, tr. 162-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
16. Bùi Thế Cường (chủ biên), Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử, Hà Nội, Nxb Từ điển Bách khoa, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội và lịch sử
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
17. Calhoun, Craig (Ed.), Dictionary of the Social Sciences, New York, Oxford University Press, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dictionary of the Social Sciences
18. Cao Huy Thuần, “Định chế : cái ‘đã’ và cái ‘đang’”, Tạp chí Thời đại (Paris), số 5, 2001, tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế : cái ‘đã’ và cái ‘đang’”, Tạp chí "Thời đại
20. Durand, Jean-Pierre, et Robert Weil (Dir.), Sociologie contemporaine, Paris, Ed. Vigot, 3e édition revue et augmentée, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sociologie contemporaine
21. Durkheim, Émile, Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1895), Đinh Hồng Phúc dịch, với Lời giới thiệu của Trần Hữu Quang, Hà Nội, Nxb Tri thức, Tủ sách Tinh hoa, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học
Nhà XB: Nxb Tri thức

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w