1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tập phát triển cộng đồng

60 571 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUCông tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.Công tác xã hội hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế. Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hoà giữa cá nhân, nhóm và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội.Việc thực hành nghề nghiệp là một điều rất quan trọng đối với sinh viên, nó không chỉ giúp sinh viên áp dụng những kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn mà còn tạo cho sinh viên cơ hội được trải nghiệm, học hỏi và trau rồi kinh nghiệm từ những hoạt động thực tế. Trong đợt thực tập lần này, hoạt động thực hành nghề nghiệp của sinh viên chủ yếu hướng vào hai nội dung cơ bản sau:Một là, nâng cao năng lực, phát huy tiềm năng của cộng đồng thông qua việc thực hiện các dự án phát triển cộng đồng. Hai là, hỗ trợ cá nhân, nhóm thực hiện các chức năng, vai trò của họ một cách có hiệu quả để họ có thể giải quyết được các vấn đề của mình thông qua tiến trình công tác xã hội cá nhân và nhóm.Phát triển cộng đồng là một chuỗi các hoạt động tác động tích cực lên một cộng đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả năng tiến tới tự lực, tự vận động theo chiều hướng đi lên về chất lượng cuộc sống. Nói tới chất lượng cuộc sống của người dân là nói tới tất cả các mặt của đời sống từ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, tinh thần… Các dự án phát triển cộng đồng khi thực hiện tại các địa phương luôn hướng tới cải thiện, nâng cao cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, điện, nước, giúp người dân sử dụng nguồn đất đai, tài nguyên rừng, sông hồ, các khoáng sản, các tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, hay giúp họ nâng cao kĩ năng hiểu biết. Kỹ năng tay nghề, các công cụ sản xuất, giúp người dân trong cộng đồng được hưởng thụ các giá trị của đời sống tinh thần…để cuộc sống của họ được tốt đẹp hơn.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập tại xã Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ, tôi đãnhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và hướng dẫn sát sao của thầy côtrong khoa Tâm Lý – Giáo Dục , ngành Công tác xã hội Đặc biệt là sự quantâm, hỗ trợ và giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo xã Tứ Xã

Tôi không biết nói gì hơn, xin phép được gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo

xã – chủ tịch UBND xã, ban lãnh đạo các khu hành chính, cùng toàn thể ngườidân tại cộng đồng đã quan tâm, động viên tôi kịp thời Đồng thời, tôi cũng xinphép gửi lời cảm ơn đến gia đình cô Bùi Thị Thìn – khu 5 xã Tứ Xã đã tạo điềukiện cho tôi được gắn bó ăn, ở, sinh hoạt cùng gia đình và động viên chúng tôitrong suốt thời gian qua

Tôi cũng xin phép được gửi lời cảm ơn, tri ân sâu sắc tới tất cả thầy côtrong nhà trường, các thầy cô khoa Tâm Lý – Giáo Dục đã tạo điều kiện, quantâm, giúp đỡ tôi Đặc biệt là cô Nguyễn Thị Liên - giảng viên học phần Pháttriển cộng đồng và học phần Công tác xã hội cá nhân kiêm hướng dẫn nhómchúng tôi trong thời gian thực hành tại xã Tứ Xá, những người đã quan tâm sátsao chúng tôi, cung cấp cho chúng tôi kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghềnghiệp một cách khoa học nhất giúp tôi lấy đó là nền tảng, kiến thức để hoànthành đợt thực tập lần này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỞ ĐẦU

Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệpnhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhucầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội vềchính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng giảiquyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Công tác xã hội hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhómngười yếu thế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mốitương tác hài hoà giữa cá nhân, nhóm và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng

xã hội

Việc thực hành nghề nghiệp là một điều rất quan trọng đối với sinh viên,

nó không chỉ giúp sinh viên áp dụng những kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn màcòn tạo cho sinh viên cơ hội được trải nghiệm, học hỏi và trau rồi kinh nghiệm

từ những hoạt động thực tế Trong đợt thực tập lần này, hoạt động thực hànhnghề nghiệp của sinh viên chủ yếu hướng vào hai nội dung cơ bản sau:

Một là, nâng cao năng lực, phát huy tiềm năng của cộng đồng thông quaviệc thực hiện các dự án phát triển cộng đồng

Hai là, hỗ trợ cá nhân, nhóm thực hiện các chức năng, vai trò của họ mộtcách có hiệu quả để họ có thể giải quyết được các vấn đề của mình thông quatiến trình công tác xã hội cá nhân và nhóm

Phát triển cộng đồng là một chuỗi các hoạt động tác động tích cực lên mộtcộng đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, pháthuy khả năng tiến tới tự lực, tự vận động theo chiều hướng đi lên về chất lượngcuộc sống Nói tới chất lượng cuộc sống của người dân là nói tới tất cả các mặtcủa đời sống từ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, tinh thần… Các dự án pháttriển cộng đồng khi thực hiện tại các địa phương luôn hướng tới cải thiện, nângcao cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, điện, nước, giúp người dân sử dụng nguồn đất

Trang 3

đai, tài nguyên rừng, sông hồ, các khoáng sản, các tài nguyên thiên nhiên, nguồnlực con người, hay giúp họ nâng cao kĩ năng hiểu biết Kỹ năng tay nghề, cáccông cụ sản xuất, giúp người dân trong cộng đồng được hưởng thụ các giá trịcủa đời sống tinh thần…để cuộc sống của họ được tốt đẹp hơn.

Môn học phát triển cộng đồng đã mang lại cho tôi một kỳ thực tập vớinhiều kiến thức thực tế và những trải nghiệm thú vị tại cộng đồng xã Tứ Xã,huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tứ Xã là một đơn vị hành chính thuộc huyệnLâm Thao, tỉnh Phú Thọ Có diện tích là 8,55 km2, số dân năm 1999 là 9806người, mật độ dân số đạt 1147 người/ km2 Tứ Xã có 23 khu với số hộ dân từ

80- 100 hộ, gia đình sống đa phần là từ 2 thế hệ trở lên Sau nhiều năm tập

trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến nay diện mạo xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao

đã có nhiều thay đổi Đường làng, ngõ xóm khang trang, sạch đẹp, cuộc sốngcủa người dân được ổn định hơn

Tuy nhiên, địa phương cũng có những khó khăn nhất định trong việc pháttriển kinh tế xã hội, do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp đã ảnh hưởngđến sản xuất và đời sống của nhân dân Giá hàng hóa nông sản và sản phẩmchăn nuôi không ổn định Công tác chỉ đạo điều hành có lúc có nơi chưa đồng

bộ, một bộ phận nông dân còn bảo thủ, chậm đổi mới, chưa tuân thủ hướng dẫn

và áp dụng các tiến bộ KHKT đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Đó là lý dotôi tiến hành lựa chọn xã Tứ Xã để thực hiện dự án phát triển cộng đồng trongđợt thực tập này

Trong thời gian thực tập tại cộng đồng bên cạnh việc hoàn thành các dự

án chuyên môn của học phần phát triển cộng đồng, nhóm sinh viên cũng có cơhội tiếp cận và cọ xát lí thuyết công tác xã hội cá nhân và nhóm vào thực tếthông qua việc thực hành can thiệp, trợ giúp thân chủ tại cộng đồng Thông qua

sự giới thiệu của kiểm huấn viên cơ sở, tôi đã tiếp nhận được thân chủ của mình

Em là một cô gái có hoàn cảnh không được may mắn như bao đứa bạn cùngtrang lứa, bố mẹ mất sớm, em sống với bà ngoại; hoàn cảnh kinh tế khó khăn,lúc thì cuốc, khi thì gặt thuê để kiếm tiền đi học Chính vì vậy, tôi đã quyết định

Trang 4

chọn em làm thân chủ của mình với mong muốn mang một phần kiến thức, kinhnghiệm và lòng yêu thương em sẽ giúp cho em có một cuộc sống hạnh phúc, tốtđẹp hơn.

Trang 5

PHẦN 1: DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG Chương1: Khái quát chung về cộng đồng 1.1 Vị trí địa lý

Xã Tứ Xã nằm ở phía nam của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Với diệntích tự nhiên là 815,6 héc-ta; trong đó đất nông nghiệp có 612 héc-ta; đất thổ cư

và đất chuyên dùng có 203,6 héc-ta Toàn bộ diện tích đất của xã trải dài trên

4 km, chiều rộng từ tây sang đông 2,039 km, Tứ Xã có ranh giới phía Bắc giáp

xã Sơn Vi; phía Nam giáp các xã Vĩnh Lại, Bản Nguyên; phía Đông giáp xã CaoXá; phía Tây giáp xã Sơn Dương và xã Kinh Kệ; cách sông Hồng về phía Tâykhoảng 3 km, cách Đền Hùng về phía Đông Bắc 10 km Cách Việt Trì – trungtâm kinh tế - chính trị của tỉnh từ 7 – 8 km theo đường chim bay

1.2 Kinh tế

1.2.1 Về sản xuất nông nghiệp

a Về trồng trọt

Vụ chiêm xuân 2017 thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp,

bà con nhân dân gieo cấy hết diện tích, cây lúa phát triển nhanh, sâu bệnh ít hạitrên cây lúa, từ đó đã cho năng suất và sản lượng lương thực khá cao, năng suất

vụ chiêm đạt 63 tạ/ha; tuy nhiên trong sản xuất vụ mùa số hộ dân bỏ ruộng khánhiều, (có đến trên 100 ha ruộng không gieo cấy), mặt khác sâu bệnh, chuột pháhoại khá nặng nề dẫn đến mất mùa nặng, năng suất vụ mùa chỉ đạt 39,6 tạ/ha.Tổng diện tích gieo trồng trong năm là 1.052 ha, đạt 90,6% kế hoạch cảnăm, trong đó diện tích cấy lúa trong năm 2017 chỉ đạt 872 ha/ kế hoạch là 974

ha, năng suất lúa bình quân cả năm chỉ đạt 51,3 tạ/ha, sản lượng lương thực4.562 tấn đạt 76,2 so với kế hoạch (giảm 215 tấn so với cùng kỳ) Doanh thuước đạt 35,2 tỷ đồng;

Diện tích sản xuất cây rau màu là 40 ha, diện tích sản xuất cây vụ đông đạt

170 ha; giá trị sản xuất cây rau màu và cây vụ đông ước đạt ước đạt 12 tỷ đồng Doanh thu từ ngành trồng trọt trong năm đạt 47,2 tỷ đồng

Trang 6

b Về chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

* Về chăn nuôi

Do tác động của thị trường, giá cả giảm mạnh do vậy ngành chăn nuôitrong năm bị ảnh hưởng nhiều, nhất là đàn lợn (giảm cả quy mô và sản lượnglợn thương phẩm) Tình hình dịch bệnh tương đối ổn định, các đàn vật nuôi khác

có chiều hướng tăng về quy mô đầu con, tổng đàn trâu, bò có = 344 con, tăng

11 con so với cùng kỳ; đàn lợn hiện có = 4.388 con; đàn gia cầm có 73.800 con,tăng 760 con so với cùng kỳ; đàn rắn có 33 325 con, tăng 9.825 con so với cùng

kỳ, bước sang năm 2017 đàn rắn có triển vọng hơn so với cùng kỳ, giá trứnggiống và giá rắn thương phẩm có chiểu hướng gia tăng, đã động viên kích thíchngười chăn nuôi đầu tư mở rộng quy mô đàn nuôi

Tổng doanh thu từ ngành chăn nuôi trong năm đạt: 62,5 tỷ đồng

Tổng doanh thu từ ngành nông nghiệp đạt 115 tỷ đồng, giảm 4,9% so vớicùng kỳ và đạt 90 % so với kế hoạch

1.2.2 Hoạt động ngành nghề, sản xuất CN, TTCN, xây dựng; dịch vụ, thương mại.

Lĩnh vực ngành nghề, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xâydựng tiếp tục được phát triển mạnh, đã phát huy được thế mạnh và tiền năng củađịa phương, tổng số hộ tham gia các loại hình ngành nghề công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp và xây dựng tiếp tục được duy trì, mở rộng, thu hút 1.336 lao động

Trang 7

tham gia Giá trị làm ra từ các loại hình ngành nghề công nghiệp, xây dựngtrong năm đạt 116 tỷ đồng.

Hoạt động dịch vụ, thương mại được nhân dân quan tâm phát triển, từ đó

đã phục vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhândân trong và ngoài địa phương, đồng thời từ lĩnh vực dịch vụ thương mại đã gópphần giải quyết việc làm cho khá nhiều lao động trong địa phương và đem lạihiệu quả kinh tế lớn cho các hộ gia đình Số lao động tham gia hoạt động cácloại hình dịch vụ, thương mại duy trì ở mức 1.566 lao động Giá trị làm ra từhoạt động dịch vụ, thương mại ước đạt 151 tỷ đồng

1.2.3 Công tác quản lý đất đai, giao thông thủy lợi và xây dựng cơ bản

a Về công tác quản lý đất đai

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai tiếp tục được quan tâm, luôn chủđộng và giải quyết tốt các vụ việc tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân, đãtích cực triển khai việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chonhân dân, hạn chế dần tình trạng hồ sơ thủ tục để kéo dài gây bức xúc trongnhân dân Trong năm 2017 đã cấp mới được 102 giấy CN QSDĐ cho nhân dân

và là thủ tục cho tặng, chuyển nhượng QSDĐ được 55 hồ sơ Tích cực triển khai

và xúc tiến nhanh việc thu hồi, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựngkhu dân cư nông thôn mới, đã hoàn thành việc giải phóng mặt bằng bàn giao chotỉnh triển khai đấu thầu thi công xây dựng các công trình của dự án

Cùng với UBND huyện và các xã lân cận thống nhất vị trí mốc giới giápdanh giữa các xã với nhau, thống nhất giao nhận giữa các xã giáp danh vị trí đấtsen canh để thống nhất quản lý

b Về GTTL và xây dựng cơ bản

Chỉ đạo các HTX thường xuyên tu sửa, nâng cấp hệ thống giao thông nộiđồng, nạo vét kênh mương, xây dựng cống đõ phục vụ cho sản xuất và đi lại củanhân dân địa phương; cùng với ban quản lý dự án xây dựng khu dân cư nôngnông thôn mới thống nhất điều chỉnh hệ thống kênh mương tưới tiêu phục vụ

Trang 8

sản xuất và dân sinh của nhân dân ở các vùng thực hiện dự án Tổng kinh phícác HTX đã đầu tư cho xây dựng giao thông, thủy lợi nội đồng trong năm là99,5 triệu đồng Tuy nhiên do hệ thống tiêu thoát nước ở một số cụm dân cư dođường tiêu nhỏ hẹp, ách tắc, hệ thống bờ kênh T2 quá xuống cấp do vậy cơn bão

số 10 đã làm ngập úng cục bộ một cố cụm dân cư làm ảnh hưởng đến chuồngtrại chăn nuôi của nhân dân và tràn nước qua bờ kênh T2 vào đồng; gây ngậpúng thiệt hại đến một số diện tích rau màu của bà con nhân dân

Về xây dựng cơ bản trong năm tích cực triển khai xây dựng các công trìnhvăn hóa tâm linh của địa phương, kinh phí xây dựng do ông Nguyễn Văn NiênChủ tịch HĐQT CTy cổ phần tập đoàn sông Hồng thủ đô tài trợ như xây dựngđền Xa Lộc, đền thờ các anh hùng liệt sỹ, các chùa trong địa phương

Nhân dân tích cực xây dựng, chỉnh trang, tu sửa nhà ở dân cư tạo môitrường cảnh quan khu dân cư sạch đẹp; trong năm có 61 hộ gia đình xây dựngnhà ở

1.2.4 Về thu, chi ngân sách, tín dụng ngân hàng

Việc thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách được quan tâm, đảm bảo chohoạt động chung của địa phương, khai thác và tận dụng nguồn thu Tổng thungân sách trong năm là 11.381,31 triệu đồng, đạt 174,7% so với kế hoạch năm

và bằng 158,2% so với cùng kỳ, trong đó thu ngân sách trên địa bàn là 7.185,41triệu đồng, thu trợ cấp ngân sách là 4.195,9 triệu đồng, tỷ lệ tự cân đối ngân sáchđạt 13,2%

Việc quản lý, điều hành chi ngân sách được đảm bảo, đúng dự toán ngânsách đã được phân bổ, tổng chi ngân sách là 9.495,35 triệu đồng, đạt 145,7% sovới kế hoạch và bằng 151,1 % so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư xây dựng cơbản là 5.210,43 triệu đồng, chiếm 54,87% trong tổng chi ngân sách, chi hoạtđộng thường xuyên 4.284,92 triệu đồng, chiếm 45,13% trong tổng chi ngânsách

Trang 9

Hoạt động tín dụng ngân hàng tiếp tục được duy trì, đảm bảo phục vụ tốtnhu cầu vay vốn của nhân dân Tổng số vốn vay trong nhân dân tại thời điểm là

146 tỷ đồng, trên 1.651 hộ vay, trong đó vốn vay ngân hàng nông nghiệp là 64

tỷ đồng; vay vốn quỹ tín dụng nhân dân là 66 tỷ đồng; vốn vay ngân hàngCSXH là 16 tỷ đồng

1.2.5 Về hoạt động của tổ khuyến nông và các HTX trên địa bàn

Hoạt động của tổ khuyến nông

Luôn chủ động tham mưu cho UBND xã trong việc chỉ đạo sản xuất, xâydựng kế hoạch sản xuất hàng năm của địa phương, tăng cường khuyến cáo chonhân dân cách phát hiện, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và đàn vật nuôi;triển khai tốt công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng phòng dịch cho đàn vậtnuôi hạn chế thấp nhất tình hình dịch bệnh sảy ra trên địa bàn Trong năm tổkhuyến nông đã phối hợp với các đơn vị, các đoàn thể tổ chức mở 11 lớp tậphuấn KHKT với số lượng 780 lượt bà con xã viên tham gia để áp dụng vào sảnxuất; triển khai mô hình thí điểm cấy lúa lai chất lượng cao với 2 loại giống mới

GS 999 và GS 19 với quy mô thí điểm 2 ha gồm 33 hộ dân tham gia sản xuất

Hoạt động của các HTX:

2 HTX dịch vụ nông nghiệp và điện năng tiếp tục duy trì được các hoạtđộng của mình, các HTX luôn quan tâm chỉ đạo hoạt động tốt các khâu dịch vụ,cung ứng vật tư phục vụ sản xuất cho bà con xã viên Kết quả trong năm 2 HTX

đã cung ứng cho bà con xã viên được 17,5 tấn giống các loại, trị giá 263 triệuđồng; cung ứng được 15 tấn phân các loại, trị giá 70 triệu đồng Phối hợp vớiphòng nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện triển khai cho bà con xã viên thamgia sản xuất lúa chất lượng cao trong chương trình hỗ trợ giống của Nhà nước,trong năm 2 HTX đã triển khai cho 2.177 hộ xã viên tham gia gieo cấy lúa chấtlượng cao, với tổng diện tích gieo trong cả 2 vụ là 291ha, số tiền được Nhà nước

hỗ trợ giống là 262,2 triệu đồng

Trang 10

HTX rau an toàn sau 2 năm thành lập và đi vào hoạt động bước đầu đã đạtđược những kết quả nhất định, hiện nay HTX đã ký hợp đồng tiêu thụ được mộtphần sản lượng rau cho bà con xã viên với mức giá khá ổn định, tiếp nhận dự ántài trợ nhà sản xuất công nghệ cao với diện tích 1.000 m2, kinh phí đầu tư 1,3 tỷđồng cho 6 hộ gia đình trực tiếp tham gia sản xuất trong mô hình và đang triểnkhai để tiếp nhận dự án đầu tư xây dựng hệ thống tưới nước sạch tự động trongvùng sản xuất rau an toàn của HTX, với mức kinh phí đầu tư trên 3 tỷ đồng.

án của UBND huyện Lâm Thao

1.5 Y tế và các hoạt động văn hóa xã hội

1.5.1 Y tế

Luôn quan tâm việc duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí về chuẩn quốcgia y tế xã Công tác phối hợp tổ chức khám, phát hiện bệnh và tư vấn sức khỏe

Trang 11

cho nhân dân được triển khai thực hiện tốt, trong năm trạm y tế đã phối hợp vớibệnh viên tâm thần tỉnh Phú Thọ tổ chức khám, tư vấn miễn phí cho bệnh nhântâm thần, phối hợp với bệnh viện huyết học Trung ương khám miễn phí cácbệnh trực tràng, hậu môn cho nhân dân địa phương Tổng số lượt khám và điềutrị tại trạm trong năm là: 6.734 lượt người, trong đó điều trị nội trú là 10 người,điều trị đông y là 1.145 lượt người, khám BHYT tại trạm là 1.743lượt người,chiến 26% trên tổng số bệnh nhận đến khám, điều trị tại trạm

Triển khai và thực hiện tốt việc tiêm chủng định kỳ cho trẻ em trong độtuổi, phụ nữ mang thai và thanh niên vị thành niên Tổng số tiêm chủng trongnăm là 504 người, trong đó tiêm chủng định kỳ cho trẻ em là 174 trẻ, phụ nữmang thai là 190 người, thanh niên vị thành niên là 140 người Ngoài ra trạm y

tế luôn tích cực tuyên truyền để mọi người dân tham gia tiêm phòng để phòngchống các dịch bệnh

Công tác tuyên truyền, giám sát, kiểm tra về đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm được quan tâm, ngành y tế đã tham mưu cho UBND xã xây dựng và banhành nhiều văn bản chỉ đạo về lĩnh vực ATTP trong năm và cả giai đoạn 2017 –

2020, hạn chế tình trạng các vụ ngộ độc thực phẩm sảy ra trên địa bàn

Việc tuyên truyền vận động người dân tham gia các loại hình BHYT đượcquan tâm, tỷ lệ người dân trên địa bàn tham gia các loại hình BHYT năm 2017đạt 85,5%

1.5.2 Các hoạt động văn hóa xã hội

Việc triển khai thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa và cuộc vận đồng Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới đô thị văn minh đạt những kết quả nhất định, các quy ước, hương ước văn hóa được nhân dân từng bước tự giác thực hiện, kết quả việc bình xét gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa năm 2017 đạt tỷ lệ cao

Tổ chức tốt lễ đón nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia lễ hội TròTrám, tích cực tham gia chương trình văn nghệ, hoạt động lễ hội đường phốtrong dịp giỗ Tổ Hùng Vương lễ hội Đền Hùng năm 2017

Trang 12

Phong trào văn hóa văn nghệ được phát triển mạnh ớ các khu dân cư, cáccâu lạc bộ, các đoàn thể như CLB thơ ca hội người cao tuổi thường xuyên tổchức sinh hoạt giao lưu thơ ca và kỷ niệm 15 năm ngày thành lập; Đoàn TN, hộiPhụ nữ tổ chức liên hoàn văn nghệ nhân ngày quốc khánh và ngày thành lập hội;nhiều khu dân cư tổ chức đêm liên hoan văn nghệ nhân ngày hội đại đoàn kếttoàn dân tộc, qua đó đã động viên được tinh thần đối với hội viên và các tầnglớp nhân dân

Việc xây dựng các công trình tâm linh, cơ sở tôn giáo được triển khai tíchcực, đã hoàn thiện việc xin mở rộng và đã được cấp phép xây dựng chùa PhúcTrung, đền Xa Lộc

1.6 Nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của cộng đồng

Thông qua việc sử dụng những kĩ thuật như: điều tra khảo sát, quan sát,dùng bảng hỏi, phỏng vấn, lắng nghe người dân, tổ chức các buổi họp dân chúng tôi đã lập được bảng nhu cầu cộng đồng và sắp xếp thứ tự ưu tiên nhu cầucộng đồng như sau:

Nhu cầu của cộng đồng Mức độ cần thiết Thứ tự ưu tiên

Phát triển lễ hội Trò Trám (may

trang phục diễn, áo rước kiệu,

Bảng 1.1 Nhu cầu của cộng đồng

Như vậy, có thể thấy qua khảo sát, nhóm SVTT đã xác định được các (vấnđề) nhu cầu của cộng đồng Đa số các nhu cầu đều liên quan đến hoàn thành cơ

sở hạ tầng, tu sửa lại các công trình chung trên địa bàn xã và phát triển lễ hộitruyền thống tại quê hương, đòi hỏi hoàn thiện với nguồn kinh phí tương đối lớn,cần đến sự phối hợp chặt chẽ, liên hệ với các nguồn lực để hoàn thành dự án

Trang 13

Tuy nhiên, các dự án cũng có những nguồn lực sẵn có như : sự quan tâm củaban lãnh đạo xã Tứ Xã, người đại diện cộng đồng có kiến thức, kỹ năng, luônủng hộ, động viên nhiệt tình khi nhóm SVTT thực hiện dự án,…

1.7 Các tổ chức có sẵn trong cộng đồng và mối quan hệ giữa các tổ chức

1.7.1 Các tổ chức chính thức

- UBND xã Tứ Xã

- Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở tại xã.

- Hội phụ nữ.

- Hội Cựu chiến binh

- Đoàn Thanh niên

- Bưu điện xã Tứ Xã…

1.7.2 Các tổ chức phi chính thức

- Công ty TNHN Thông Đạt Phú Thọ: Khu1- xã Tứ Xã- Huyện Lâm

Thao-Tỉnh Phú Thọ

- Công ty cổ phần HDT 666: Khu 8- Xã Tứ X- Huyện Lâm Thao- Tỉnh

Phú Thọ Công Ty TNHN xăng dầu cầu đá: Khu 7- Tứ Xã- Lâm Phú Thọ

Thao Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Mạnh Toàn: Khu 10Thao Tứ XãThao

Xã-Lâm Thao- Phú Thọ

1.7.3 Mối quan hệ giữa các tổ chức

Các tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau trong các hoạtđộng nhằm giúp cho xã phát triển đồng thời nâng cao đời sống của nhân dân,từng bước tiến lên phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội

Chương 2: kết quả thực hiện dự án phát triển cộng đồng

Trang 14

2.1 Các thông tin của dự án

2.1.1 Khảo sát thực trạng và xác định dự án tại xã Tứ Xã

Xã Tứ Xã nằm ở phía nam của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Với diệntích tự nhiên là 815,6 héc-ta; trong đó đất nông nghiệp có 612 héc-ta; đất thổ cư

và đất chuyên dùng có 203,6 héc-ta Toàn bộ diện tích đất của xã trải dài trên

4 km, chiều rộng từ tây sang đông 2,039 km, Tứ Xã có ranh giới phía Bắc giáp

xã Sơn Vi; phía Nam giáp các xã Vĩnh Lại, Bản Nguyên; phía Đông giáp xã CaoXá; phía Tây giáp xã Sơn Dương và xã Kinh Kệ; cách sông Hồng về phía Tâykhoảng 3 km, cách Đền Hùng về phía Đông Bắc 10 km Cách Việt Trì – trungtâm kinh tế - chính trị của tỉnh từ 7 – 8 km theo đường chim bay

Để nắm bắt được cụ thể về cộng đồng, hiểu rõ chi tiết về cộng đồng, từ đónêu ra các nhu cầu và xác định được dự án, nhóm SVTT đã tiến hành khảo sát

và xây dựng được SĐCĐ như sau:

Sơ đồ cộng đồng xã Tứ Xã

Trang 15

Trên đây là sơ đồ cộng đồng xã Tứ Xã – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ.Nhìn vào sơ đồ ta nhận thấy:

Về dân cư: Tập trung chủ yếu ở hai bên trục đường chính của xã, mật độ

dân cư rất đông đúc

Văn hóa, chính trị và giáo dục: Các trường học nằm ven đường, thuận lợi

cho đi lại cho học sinh 100% trẻ đều được đến trường, hệ thống trường họckhang trang Thêm vào đó UBND xã nằm ở trung tâm xã thuận lợi cho việccung cấp thông tin cho người dân

Về y tế: Trạm y tế cũng nằm tại trung tâm xã, các quầy thuốc đả bảo nhu

cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân

Về giao thông: Trục đường liên xã được đổ nhựa với chất lượng cao, các

ngả đường đã được bê tông hóa, phục vụ nhu cầu đi lại, trao đổi, buôn bán chongười dân

Về truyền thông: Hệ thống truyền thông phát triển, có loa phát thanh, áp

phích, nhà văn hóa cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời người dân

Để đánh giá được hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên, đánh giá được thuậnlợi, khó khăn của cộng đồng, nhóm SVTT tiến hành vẽ sơ đồ lát cắt của cộngđồng như sau:

Sơ đồ mặt cắt xã Tứ Xã

Trang 16

Nhóm sinh viên thực tập tổ chức khảo sát theo chiều ngang của xã Tứ Xã(Bắt đầu từ khu vực đồng ruộng và kết thúc là khu vực đó) có cái nhìn cụ thể vềcộng đồng như sau:

Với chiều ngang này, mở đầu là khu vực đồng ruộng với đất phù sa màu

mỡ, đặc biệt thuận lợi cho canh tác cây nông nghiệp (đặc biệt là các loại cây hoamàu như: lúa, ngô, dưa )

Tiếp theo là khu dân cư: dân cư đông đúc, thuận lợi cho buôn bán, giaolưu kinh tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế Hơn nữa, đất thổ canh thổ cư (đất đỏ,đất thịt…) thuận lợi cho trồng cây ăn quả, canh tác hoa màu, chăn nuôi…

Nằm giữa là trục đường chính – đường liên xã tạo điều kiện giao lưu pháttriển kinh tế trong xã cũng như các khu vực khác

Để biết được tình hình thông tin của cộng đồng, nhóm sinh viên đã xâydựng sơ đồ mạng lưới thông tin như sau:

Sơ đồ mạng lưới thông tin xã Tứ Xã

Trang 17

Nhìn vào sơ đồ, có thể thấy: mạng lưới thông tin của xã khá phát triển,người dân tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau:

Các trưởng thôn là những người cung cấp thông tin cho người dân trướctiên Bởi họ gần gũi nhất với người dân, độ chính xác rất cao

UBND xã Tứ Xã nằm tại trung tâm xã, có loa phát thanh thông báo chongười dân khi có thông tin về các chính sách, những thay đổi người dân cần biết

Mạng lưới internet khá phát triển, bao phủ mạng trong toàn xã

Ngoài ra, người dân còn tiếp nhận được thông tin từ các nguồn như: trạm

y tế, trường học, bưu điện, các ban ngành, đoàn thể

Như vậy, mạng lưới thông tin gần như được hoàn thiện, cung cấp đầy đủthông tin cho người dân

2.1.2 Thông tin dự án

- Tên dự án: “Phát triển lễ hội Trò Trám” và “Trồng cây tại các công sở, ditích lịch sử văn hóa”

- Tổng kinh phí dự án: 22.500.000vnđ.

- Thời gian thực hiện dự án: 4 tuần

- Đánh giá mặt huận lợi và hạn chế của dự án:

Thuận lợi: cán bộ địa phương tích cực ủng hộ dự án, kiểm huấn viên cơ sởnhiệt tình chỉ bảo, trợ giúp Thêm vào đó là sự chào đón cũng như ủng hộ nhiệttình từ ban lãnh đạo xã Tứ Xã, cùng với sự đồng tình của bà con nhân dân vàcác doanh nghiệp đóng trên địa bàn

Tuy nhiên, dự án cũng gặp một số khó khăn như: Nguồn vốn lớn, phảihuy động được vốn mới có thể hoàn thành Hơn nữa, nhân dân chủ yếu đi làm

về muộn nên thường phải đi huy động vốn vào buổi tối khi mọi người đã đi làmvề

2.2 Kết quả thực hiện dự án phát triển cộng đồng

Sau một tháng thực tập tại xã Tứ Xã, nhóm sinh viên cùng người dân tạiđịa phương đã hoàn thành suất xắc hai dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám” và

“Trồng cây tại các công sở, di tích lịch sử văn hóa” Các dự án được hoàn thành

Trang 18

đúng tiến độ và có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần xây dựng, phát triển và bảotồn các giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương.

2.3 Lượng giá dự án

Lượng giá là hoạt động mang tính tổng quát cho từng giai đoạn quantrọng của dự án, những gì đã làm được và những gì chưa làm được, đặc biệt làsau khi kết thúc dự án

2.3.1 Lượng giá dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám”

Lễ hội Trò Trám có lẽ là lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn thực, đềcao tính dục của người dân đồng bằng Bắc bộ, nơi vốn mang đậm tín ngưỡngcủa nền văn hóa lúa nước, với những lễ đầu xuân cầu cho mưa thuận gió hòa,mùa màng tươi tốt…Hội Trám được người dân xã Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọbảo tồn từ bao đời nay với đặc trưng riêng của mình

Sau khi khảo sát thực trạng về lễ hội Trò Trám tại xã Tứ Xã, huyện LâmThao, tỉnh Phú Thọ, chúng tôi nhận thấy đây là một lễ hội có giá trị văn hóa cao,

đã và đang được người dân nơi đây bảo tồn và phát triển Song lễ hội tại địaphương mới được khôi phục vẫn còn mặt hạn chế như: trang phục và đạo cụdành cho lễ hội chưa đáp ứng được nhu cầu để phục vụ cho lễ hội; sự quảng bá,giới thiệu về lễ hội còn hạn chế Trên cơ sở đó, sinh viên đã tiên hành họp dân,xác định nhu cầu của địa phương, và nhận thấy nhu cầu cấp thiết nhất là maymới trang phục và đạo cụ cho lễ hội Chính vì vậy, chúng tôi đã thực hiện dự án

“Phát triển lễ hội Trò Trám” với nội dung mua trang phục biểu diễn, cờ hội,

đạo cụ, áo rước kiệu…

Mặt đã làm được:

Hoàn thành dự án đúng thời gian quy định, đạt tiêu chuẩn, đảm bảo chấtlượng: Đã mua đủ số lượng trang phục, đạo cụ, cờ rước… phục vụ cho lễ hội

Việc thực hiện tốt dự án đã góp phần xây dựng được sự đồng tình, ủng

hộ, đánh giá cao từ người dân địa phương Điều đó, giúp sinh viên có thêm độnglực, sự quyết tâm để hoàn thành tốt các dự án, cũng như các đợt thực tập tiếptheo

Trang 19

Sinh viên bàn giao trang phục lễ hội Trò Trám

Sinh viên bàn giao trang phục lễ hội Trò Trám

Trang 20

2.3.2 Lượng giá dự án “Trồng cây tại các công sở, di tích lịch sử văn hóa”

Đền Xa Lộc, xã Tứ Xã là một trong những ngôi đền tiêu biểu có ảnhhưởng sâu sắc tới đời sống của người dân huyện Lâm Thao

Đền Xa Lộc thuộc địa phận khu 1 xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao Ngôi đềnđang trong quá trình tu sửa, cải tạo cảnh quan Sau khi khảo sát thực trạng tạiđền nhóm sinh viên thực tập đã tiến hành họp dân nhằm xác định nhu cầu Trên

cơ sở đó, nhóm sinh viên đã xác định được dự án “Trồng cây trong khuôn viên

Đền Xa Lộc”

Sau khi xác định được nhu cầu, nhóm sinh viên đã liên kết huy động các

nguồn lực để thực hiện dự án Trong quá trình huy động nhóm sinh viên đã nhậnđược sự quan tâm và ủng hộ từ người dân và chính quyền dịa phương

Trang 21

Sinh viên huy động nguồn lực từ địa phương

Nhóm sinh viên đã huy động được nguồn kinh phí cho dự án và tiến hànhtrồng cây trong khuôn viên đền Xa Lộc (30 cây Lác)

Nhóm sinh viên tiến hành trồng cây tại Đền Xa Lộc

Trang 22

Sinh viên hoàn thành dự án trồng cây tại đền Sa Lộc

2.3.3 Những hoạt độngtình nguyện, trải nghiệm tại cộng đồng

Trong thời gian thực tập, nhóm sinh viên đã tham gia một số hoạt độngkhác tại địa phương như: Tham gia hoạt động tình nguyện rọn vệ sinh tạiUBND, trạm y tế, 23 khu dân cư và một số địa điểm khác; phối hợp với Đoànthanh niên của xã tổ chức ngày hội rửa tay an toàn cho học sinh tiểu học; sơnsửa lại dụng cụ của lễ hội Trò Trám… Những hoạt động đó đã giúp sinh viêngần gũi, gắn bó hơn với người dân tại địa phương, đồng thời giúp chiếm đượcnhiều thiện cảm từ người dân trong cộng đồng

Trang 23

Sinh viên dọn vệ sinh tại khu dân cư

Sinh viên cùng đoàn thanh niên tổ chức ngày hội rửa tay an toàn

Trang 24

Sinh viên sơn sửa lại dụng cụ của lễ hội Trò Trám

2.4 Bàn giao, kết thúc dự án và duy trì dự án phát triển cộng đồng

Sau khi hoàn thành 2 dự án “Phát triển lễ hội Trò Trám” và “Trồng câytại các công sở, di tích lịch sử văn hóa” nhóm sinh viên tiến hành bàn giao lạicho địa phương quản lý Tiến hành buổi họp với ban lãnh đạo xã Tứ Xã, bàngiao bằng biên bản bao gồm cả dự án và các nội dung của dự án, tổ chức, xâydựng và duy trì nhóm lãnh đạo nòng cốt để tiếp quản Biên bản được lập thành

02 bản, mỗi bên giữ 01 bản

2.5 Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án phát triển cộng đồng

2.5.1 Những cảm nghĩ của sinh viên

Có lẽ, với bất kỳ sinh viên nào trên giảng đường đại học cũng sẽ trải quacác hoạt động thực hành - họat động giúp cho sinh viên vận dụng kiến thức, kỹnăng tiếp thu được trên lớp vào thực tế, tạo nền tảng cho công việc sau này

Trang 25

Ngày đầu đến với Tứ Xã, ai cũng rất háo hức và mong đợi, thêm vào đó làbăn khoăn chưa biết bản thân phải làm gì Vào xã trước tiên được sự tiếp đónnồng hậu của ban lãnh đạo xã Tứ Xã, đây quả là sự ủng hộ tinh thần tuyệt vờicho những sinh viên còn đang bước chập chững bước vào nghề, tạo hứng khởicho từng thành viên.

Thật không thể quên những ngày tháng ấy Chia nhóm làm việc: nhóm ởlại cơ sở làm việc, nhóm đi huy động vốn, nhóm đi liên hệ vật liệu,…mọi ngườicùng làm việc hăng say, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân Tất cảtạo nên một cảm xúc thật tuyệt vời mà không ai có thể cảm nhận được nếukhông tham gia hoạt động thực tập

Qua mỗi lần thực hành như vậy, bản thân tôi cũng như những sinh viênkhác được học hỏi rất nhiều Vừa có cơ hội đến những cộng đồng khác để hiểunếp sống, hoàn cảnh của họ, vừa thực hiện các dự án thúc đẩy cộng đồng pháttriển, đồng thời là vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực hành Cụ thể làlần thực tập này Chúng tôi cùng người dân làm việc, cùng ăn cùng ở với họ,lắng nghe, thấu hiểu được họ, được lòng họ dù chỉ là từ những câu từ xưng hôtrong giao tiếp, từ sự nhiệt tình, trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ Mỗi lần thựchành là mỗi lần thêm kinh nghiệm, là học hỏi được những điều lớn lao Trở vềtrường tiếp tục hoạt động học tập của mình nhưng vẫn nhớ đến Tứ Xã, nhớ đếnnhững gì đã học tập thêm được, nhớ rằng bản thân cũng có thể vượt qua đượcnhững trở ngại, khó khăn, và tiếp theo đó là chuẩn bị tinh thần cho đợt thực tậptiếp theo với đầy những khó khăn thử thách trước mắt, nhưng cũng tràn ngập sựhứng khởi để sẵn sàng tiếp thu những kinh nghiệm mới

2.5.2 Cảm nhận về quá trình làm việc tại cộng đồng

Qua quá trình sinh viên tiếp cận, tìm hiểu và “Cùng ăn,cùng ở, cùng làm”

với bà con nhân dân tại địa phương tuy chưa dài, nhưng với một tháng đó, bảnthân chúng em có một vài cảm nhận, suy nghĩ sau:

Về cộng đồng: Đây là một xã còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng tuy đã

được đầu tư xây dựng khá hoàn chỉnh song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,

Trang 26

lao động sản xuất của người dân trong cộng đồng Người dân địa phương đoànkết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng làm ăn, xoá đói, giảm nghèo và tin tưởng vàođường lối lãnh đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương Người dân mếnkhách, chăm chỉ, cần cù Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những nhóm nhỏ các hộgia đình gặp khó khăn trong cuộc sống mà cộng đồng chưa có biện pháp hỗ trợthiết thực

Về quá trình làm việc tại cộng đồng: Quá trình tiếp cận, tìm hiểu thông tin,

làm việc với cộng đồng diễn ra rất thuận lợi do lãnh đạo và người dân trongcộng đồng rất mến khách Hơn nữa sự tương đồng về các nét văn hoá đặc trưngtrong tính cách, giọng nói, nếp sống, nếp nghĩ,…với người dân trong cộng đồng

đã là một lợi thế rất lớn giúp bản thân em cũng như toàn nhóm thực tậptiếp cận

và làm việc với người dân ở đây dễ dàng, khai thác được nhiều thông tin bổ ích.Lúc đầu bản thân em cũng như cả nhóm rất lo lắng vì nhiều lí do Trước hết làmình chưa có bất cứ thông tin nào về cộng đồng trước khi đến làm việc tại cộngđồng Bên cạnh đó, lo lắng trong quá trình làm việc phải tiếp cận với các vị lãnhđạo địa phương dày dặn kinh nghiệm, lo lắng phải tiếp cận với một cộng đồngnhiều vấn đề, nhiều nhu cầu khác nhau, Nhưng khi bước vào những ngày làmviệc thực tế với lãnh đạo địa phương, tiếp cận với người dân trong cộng đồng thìdần dần những lo lắng đó đã biến mất và thay vào đó là sự tự tin, mạnh dạn hơnkhi tiếp xúc với lãnh đạo địa phương cũng như người dân trong cộng đồng Quanhững buổi đi đến các thôn, trò chuyện với bà con nhân dân, với đoàn viên, hộiviên địa phương, Chúng em đã nghe thấy, nhìn thấy tận mắt những điều hếtsức thú vị và bổ ích mà có lẽ chỉ khi xâm nhập thực tế như vậy chúng ta mới cóthể biết được

2.5.3 Những điều đã học được qua đợt thực hành

Qua quá trình làm việc, cọ xát với thực tế trong công việc tại dự án cũngnhư trong việc tiếp cận, hoà nhập với cộng đồng, chúng em đã rút ra được một

số bài học bổ ích sau:

Trang 27

Cộng đồng chỉ có thể giải quyết được vấn đề khó khăn của mình một

cách bền vững khi nó thực sự có sự tham gia một cách tích cực, chủ động củangười dân Chính quyền và người dân biết cách tận dụng, khơi dậy và phát huytiềm năng của cộng đồng mà nguồn lực quan trọng nhất chính là nguồn lực conngười sẽ giúp cộng đồng vượt ra khỏi hoàn cảnh hiện tại, hướng tới một tươnglai tốt đẹp hơn đối với mỗi người dân trong cộng đồng nói riêng cũng như cảcộng đồng nói chung Chính điều đó sẽ giúp cộng đồng từ yếu kém thành cộngđồng tự lực, phát triển bền vững

Để tiến hành một dự án phát triển cộng đồng thì điều quan trọng nhất làphải thực sự xuất phát từ nhu cầu của người dân trong cộng đồng và nhu cầu đó

là do người dân trong cộng đồng, đặc biệt là những người nghèo, những ngườigặp khó khăn trong cuộc sống tự nói lên Suy cho cùng, mọi thứ đều gắn với lợiích và do lợi ích quyết định Chỉ khi người dân trong cộng đồng thấy rằng họthực sự có lợi ích khi triển khai dự án nào đó thì họ mới tham gia tích cực, gắn

bó và có trách nhiệm với dự án, và do đó dự án mới mang lại hiệu quả thực

sự cho cộng đồng

Khi hỗ trợ cộng đồng dù bằng tiền, gạo hay vật nuôi, hàng hoá cụ thể nào

đó thì tổ chức, cơ quan, cá nhân hỗ trợ đó phải có kiểm tra chất lượng sản phẩm

hỗ trợ, tính hiệu quả, cách thức phân phối, sử dụng, khai thác của người dântrong cộng đồng như thế nào Hạn chế tình trạng cấp bò cho người dân màkhông cho họ nơi để chăn bò, cấp gạo cho dân mà không biết người dân dùnggạo đó để ăn hay để làm gì…Nói đến đây, chúng ta lại nhớ đến một phươngchâm chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình can thiệp của người nhân viên xã hộigiúp cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng giải quyết khó khăn là“Cho cần câu

chứ không cho con cá” Điều này có nghĩa là người tác viên PTCĐ chỉ có thể trợ giúp người dân trong cộng đồng tăng năng lực bằng cách hướng dẫn bà con cách

thức làm như thế nào để họ có thể tồn tại và vươn lên có cuộc sống tốt đẹphơn chứ không giải quyết vấn đề thay cho họ Và với cách làm đó, người tácviên PTCĐ giúp cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi nhóm và cả cộng đồng

Trang 28

vươn lên trở thành những cá nhân, những gia đình, những nhóm, những cộngđồng tự lực bằng việc họ tự phát huy, khơi dậy tiềm năng, nội lực vốn có củachính mình, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của những người khác.

Khi tiến hành tiếp cận, tìm hiểu thông tin từ lãnh đạo và người dân trongcộng đồng bản thân cần thể hiện sự tôn trọng của mình đối với đối tác, tránh thái

độ chế giễu, xem thường

Phải biết lắng nghe cộng đồng, không áp đặt suy nghĩ và hành động chủquan của người tác viên PTCĐ cho người dân trong cộng đồng Người tác viênPTCĐ phải thực sự xuất phát từ vấn đề, nhu cầu của cộng đồng chứ không đượcphép áp đặt suy nghĩ của cá nhân mình lên cộng đồng

Đối với bản thân, chúng em tự rút ra cho mình một bài học quan trọng đó

là để có được những hiểu biết sâu sắc và toàn diện về cộng đồng, mình cầnphải có phương pháp thiết lập mối quan hệ gần gũi với lãnh đạo cộngđồng, người tác viên PTCĐ phải thực sự gần gũi với người dân và những người

có uy tín trong cộng đồng Đặc biệt cần phải biết quan sát một cách toàn diện,trong đó lưu ý quan sát có trọng điểm Khi phát hiện ra điều gì khác lạ mìnhphải tìm hiểu ngay và phải tìm hiểu thông qua nhiều nguồn thông tin khác nhau.Không nên sử dụng thông tin từ một nguồn mà phải biết kết hợp nhiều nguồnthông tin khác nhau từ hồ sơ, tài liệu, từ phỏng vấn lãnh đạo cộng đồng đếnphỏng vấn người dân, từ quan sát đến nói chuyện lân la với người dân,…

2.5.4 So sánh giữa lí thuyết và thực tiễn thực hành

Sự cách biệt giữa lí thuyết và thực tiễn luôn là một khoảng cách lớn Cóthể bản thân nắm lí thuyết rất tốt nhưng nếu không biết cách vận dụng hợp lí,

nhuần nhuyễn và kết hợp giữa các yếu tố kiến thức, kĩ năng và thái độ thì quá

trình thực tập sẽ không đạt được kết quả mong muốn Tuy nhiên, nếu khôngnắm vững lí thuyết thì chúng ta sẽ không có được những kiến thức cơ bảnnhất Nhận thức được điều đó, trong quá trình thực tập, bên cạnhnhững giờ làmviệc ban ngày thì những lúc ngoài giờ bản thân chúng em đã đọc thêm tài liệu,giáo trình để vừa bổ sung kiến thức cho mình vừa có thể vận dụng vào thực tiễn

Trang 29

Lí thuyết được học ở trường thì có hạn còn trên thực tế, những nhu cầu,vấn đề của cộng đồng luôn luôn đa dạng, phong phú, muôn màu muôn vẻ và đó

là khó khăn chung mà mỗi người nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vựcPTCĐ đều gặp phải trong quá trình làm việc với cộng đồng Để tiếp cận vớicộng đồng, sinh viên phải có kiến thức tổng hợp, toàn diện về tất cả các lĩnh vựccủa đời sống Bên cạnh đó phải tạo dựng được mối quan hệ tốt với các cấp chínhquyền và người dân trong cộng đồng Mà những điều đó sinh viên chỉ có đượckhi va chạm thực tế nhiều, trải nghiệm nhiều chứ không có trong sách vở Ngay

cả những phương pháp, công cụ, kĩ năng được trang bị trong quá trình học tạitrường khi vận dụng cũng không thể áp dụng một cách máy móc mà người sửdụng phải biết linh hoạt vận dụng tuỳ trường hợp và hoàn cảnh cụ thể

Trang 30

PHẦN 2 CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN Chương 1 Khái quát phương pháp công tác xã hội cá nhân

1.1 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Nhiều học giả, nhà khoa học trong nước và nước ngoài đưa ra khái niệm

và định nghĩa về công tác xã hội cá nhân Có khái niệm xác định công tác xã hội

cá nhân theo khuynh hướng đặt trọng tâm vào khẳng định công tác xã hội cánhân là phương pháp công tác xã hội chuyên nghiệp, sử dụng nền tảng khoa họctâm lí học, xã hội học và các ngành khoa học xã hội khác Có khái niệm nhấnmạnh đến cách thức tiếp cận và giúp đỡ chuyên sâu về nhân cách cá nhân Sauđây là một số khái niệm công tác xã hội cá nhân:

Theo Farley và các tác giả khác (2000), công tác xã hội cá nhân là “Hệthống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng,

ở các khái niệm về tâm lí xã hộ, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kĩnăng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề về nội tâm, quan hệ giữacác cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ mặt đốimặt”

Virgina P Robinson đưa ra quan điể khá tương đồng với Farley, tuy nhiênnhấn mạnh hơn đến việc phát triển các kĩ năng giải quyết vấn đề: “Công tác xãhội cá nhân là một phương pháp thực hành, có hệ thống giá trị được các nhânviên công tác xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó những khái niệm tâm lí xãhội, hành vi và hệ thống được chuyển thành những kĩ năng để giúp các cá nhân

và gia đình giải quyết những vấn đề nội tâm, mối quan hệ giữa người và người,vấn đề kinh tế xã hội và vấn đề môi trường thông qua nhũng mối quan hệ trựctieeos mặt đối mặt”

Theo tác giả Grace Mathew (1992), đã nhấn mạnh công tác xã hội cá nhânhướng đến việc giúp đỡ con người giải quyết những khó khăn về chức năng xãhội của họ trên cơ sở mối quan hệ nghề nghiệp một – một Theo tác giả “Công

Ngày đăng: 06/03/2019, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w