Mục đích chủ yếu của tôi khi viết và chỉnh lý quyển sách này là nhằm đưa ra một bản giới thiệu cập nhật về lịch sử y học. Mặc dù tài liệu lúc đầu vốn là “một trợ giảng” trong khóa học tổng quan kéo dài một học kỳ của tôi, nhưng tôi hy vọng rằng ấn bản mới này cũng sẽ nhận được sự quan tâm từ nhiều đối tượng độc giả, cũng như từ các thầy giáo có ý muốn bổ sung các nội dung lịch sử môn học cho các môn khoa học hoặc bổ sung nội dung khoa học vào các môn lịch sử của mình. Cũng như ấn bản trước, tôi cố gắng hướng sự chú ý của người đọc đến các chủ đề chính trong lịch sử y học, sự tiến hóa của các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu, cũng như các quan điểm và giả định khác nhau nhờ đó các thầy thuốc và bệnh nhân hiểu được sức khỏe, bệnh tật và sự lành bệnh. Có nhiều đổi thay đã xuất hiện trong lịch sử y học kể từ thập niên 1940 khi Henry E. Sigerist (18911957) hô hào cần phải có một hướng đi mới trong lĩnh vực này, chuyển từ việc nghiên cứu về các thầy thuốc lớn và các tài liệu của họ sang một quan niệm mới xem lịch sử y học như là lịch sử xã hội và văn hóa. Từ chỗ hầu như chỉ xoáy vào sự tiến hóa của các lý thuyết y học hiện đại, các học giả bắt đầu nhắm vào các vấn đề mới liên quan đến bối cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trong đó thầy thuốc và bệnh nhân đều có vai trò. Do chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi các quan niệm và kỹ thuật mượn từ ngành xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học và dân số học, các sử gia mới chuyên về các khía cạnh xã hội và văn hóa trong y học nhấn mạnh đến các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, giới tính, cũng như các gắn kết thuộc về định chế và nghề nghiệp. Vẫn còn một số tranh luận về bản chất của lĩnh vực này, nhưng thảy đều nhất trí rằng lịch sử y học không chỉ đơn giản là một câu chuyện kể lại lộ trình đi từ thời tối tăm đến sự khai sáng của khoa học hiện đại. Căn cứ vào tính sinh động và đa dạng của lĩnh vực này hiện nay, việc tìm ra cách thức thỏa đáng để trình bày một đánh giá ở mức sơ đẳng về lịch sử y học càng ngày càng trở nên khó khăn. Vì thế, cách tiếp cận có chọn lọc, tức là cách dựa trên sự cân nhắc các nhu cầu và sự quan tâm của độc giả là những người lần đầu tiếp cận với lĩnh vực này dường như là phù hợp. Vì thế, tôi đã chọn những ví dụ đặc thù về các lý thuyết, các chứng bệnh, nghề nghiệp, các thầy thuốc, và các nhà khoa học, và cố gắng sử dụng các ví dụ này để làm sáng tỏ những chủ đề liên quan đến các vấn đề cơ bản về sức khỏe, bệnh tật, và lịch sử. Về đại thể, nội dung quyển sách được sắp xếp theo trình tự thời gian, nhưng chủ yếu dựa trên chủ đề. Các lý luận và thực tiễn trong y học có thể đưa ra một công cụ nhạy để thăm dò hệ thống chặt chẽ các tương tác xã hội, cũng như các dấu vết của sự du nhập, phát tán và cải biến của những ý tưởng và kỹ thuật mới hoặc lạ lẫm. Các vấn đề y học đều liên quan đến những khía cạnh cơ bản và hiển hiện nhất của mọi xã hội sức khỏe và bệnh tật, sung túc và nghèo đói, sự ra đời, quá trình lão hóa, tàn tật, khổ ải và chết chóc. Bất kỳ ai trong mọi thời kỳ của lịch sử cũng đều phải đối phó với vấn đề sinh đẻ, bệnh tật, chấn thương, và sự đau đớn. Vì thế, những biện pháp được phát triển để chữa lành tâm thần và thể xác sẽ là tâm điểm đáng giá để khảo sát các nền văn hóa và hoàn cảnh khác nhau. Có thể sự thâm nhập vào lịch sử y học sẽ mang lại cho ta một sự gần gũi với người bệnh và người chữa bệnh trong quá khứ và hiện tại, một ý thức khiêm tốn khi đứng trước bệnh tật và thiên nhiên và một cách tiếp cận có cân nhắc đối với các vấn đề y học hiện nay của chúng ta. Lịch sử y học có thể rọi sáng các quy luật biến đổi của y tế và bệnh tật, cũng như những vấn đề về hành nghề y, sự chuyên nghiệp hóa, các định chế, việc đào tạo, chi phí y tế, chẩn đoán và điều trị. Kể từ cuối thế kỷ 19, các ngành y sinh học đã phát triển mạnh mẽ khi đi theo cái gọi là “tín điều về từng bệnh nguyên học cụ thể” tức là, cái quan niệm cho rằng nếu chúng ta hiểu được tác nhân gây bệnh của một chứng bệnh, hoặc là các biến cố phân tử chuyên biệt của một tiến trình bệnh lý, thì chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được và khống chế được bệnh đó. Quan điểm này bỏ qua không nhắc đến những khía cạnh xã hội, đạo đức, kinh tế và địa lýchính trị phức tạp của bệnh tật trong một thế giới càng ngày càng trở nên gần gũi nhiều hơn nhờ các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại, nhưng đồng thời cũng bị chia tách ngày càng rộng hơn vì những khác biệt giữa sự giàu có và nghèo đói.
Trang 2Có nhiều đổi thay đã xuất hiện trong lịch sử y học kể từ thập niên 1940khi Henry E Sigerist (1891-1957) hô hào cần phải có một hướng đi mớitrong lĩnh vực này, chuyển từ việc nghiên cứu về các thầy thuốc lớn và cáctài liệu của họ sang một quan niệm mới xem lịch sử y học như là lịch sử xãhội và văn hóa Từ chỗ hầu như chỉ xoáy vào sự tiến hóa của các lý thuyết
y học hiện đại, các học giả bắt đầu nhắm vào các vấn đề mới liên quan đếnbối cảnh xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trong đó thầy thuốc và bệnhnhân đều có vai trò Do chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi các quan niệm và kỹthuật mượn từ ngành xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học và dân số học,các sử gia mới chuyên về các khía cạnh xã hội và văn hóa trong y học nhấnmạnh đến các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, giới tính, cũng như các gắnkết thuộc về định chế và nghề nghiệp Vẫn còn một số tranh luận về bảnchất của lĩnh vực này, nhưng thảy đều nhất trí rằng lịch sử y học không chỉđơn giản là một câu chuyện kể lại lộ trình đi từ thời tối tăm đến sự khaisáng của khoa học hiện đại
Căn cứ vào tính sinh động và đa dạng của lĩnh vực này hiện nay, việc tìm
ra cách thức thỏa đáng để trình bày một đánh giá ở mức sơ đẳng về lịch sử
y học càng ngày càng trở nên khó khăn Vì thế, cách tiếp cận có chọn lọc,tức là cách dựa trên sự cân nhắc các nhu cầu và sự quan tâm của độc giả lànhững người lần đầu tiếp cận với lĩnh vực này dường như là phù hợp Vìthế, tôi đã chọn những ví dụ đặc thù về các lý thuyết, các chứng bệnh, nghề
Trang 3nghiệp, các thầy thuốc, và các nhà khoa học, và cố gắng sử dụng các ví dụnày để làm sáng tỏ những chủ đề liên quan đến các vấn đề cơ bản về sứckhỏe, bệnh tật, và lịch sử Về đại thể, nội dung quyển sách được sắp xếptheo trình tự thời gian, nhưng chủ yếu dựa trên chủ đề.
Các lý luận và thực tiễn trong y học có thể đưa ra một công cụ nhạy đểthăm dò hệ thống chặt chẽ các tương tác xã hội, cũng như các dấu vết của
sự du nhập, phát tán và cải biến của những ý tưởng và kỹ thuật mới hoặc lạlẫm Các vấn đề y học đều liên quan đến những khía cạnh cơ bản và hiểnhiện nhất của mọi xã hội - sức khỏe và bệnh tật, sung túc và nghèo đói, sự
ra đời, quá trình lão hóa, tàn tật, khổ ải và chết chóc Bất kỳ ai trong mọithời kỳ của lịch sử cũng đều phải đối phó với vấn đề sinh đẻ, bệnh tật, chấnthương, và sự đau đớn Vì thế, những biện pháp được phát triển để chữalành tâm thần và thể xác sẽ là tâm điểm đáng giá để khảo sát các nền vănhóa và hoàn cảnh khác nhau Có thể sự thâm nhập vào lịch sử y học sẽmang lại cho ta một sự gần gũi với người bệnh và người chữa bệnh trongquá khứ và hiện tại, một ý thức khiêm tốn khi đứng trước bệnh tật và thiênnhiên và một cách tiếp cận có cân nhắc đối với các vấn đề y học hiện naycủa chúng ta
Lịch sử y học có thể rọi sáng các quy luật biến đổi của y tế và bệnh tật,cũng như những vấn đề về hành nghề y, sự chuyên nghiệp hóa, các địnhchế, việc đào tạo, chi phí y tế, chẩn đoán và điều trị Kể từ cuối thế kỷ 19,các ngành y sinh học đã phát triển mạnh mẽ khi đi theo cái gọi là “tín điều
về từng bệnh nguyên học cụ thể” - tức là, cái quan niệm cho rằng nếu chúng
ta hiểu được tác nhân gây bệnh của một chứng bệnh, hoặc là các biến cốphân tử chuyên biệt của một tiến trình bệnh lý, thì chúng ta hoàn toàn có thểhiểu được và khống chế được bệnh đó Quan điểm này bỏ qua không nhắcđến những khía cạnh xã hội, đạo đức, kinh tế và địa lý-chính trị phức tạpcủa bệnh tật trong một thế giới càng ngày càng trở nên gần gũi nhiều hơnnhờ các phương tiện giao thông và liên lạc hiện đại, nhưng đồng thời cũng
bị chia tách ngày càng rộng hơn vì những khác biệt giữa sự giàu có vànghèo đói
Các cuộc tranh luận công khai về y học ngày nay dường như hiếm khi đềcập đến những chủ đề cơ bản về nghệ thuật và khoa học của y học; thayvào đó, là những vấn đề được đem ra mổ xẻ dằng dai nhất lại liên quan đếnchi phí chăm sóc y tế, có hay không có các dịch vụ, khả năng tiếp cận cácdịch vụ đó, tính công bằng và trách nhiệm Những so sánh giữa các hệthống y tế của nhiều quốc gia khác nhau cho thấy rằng mặc dù có sự khác
Trang 4nguồn lực ít ỏi hoặc hạn hẹp Các viên chức chính phủ, các nhà phân tíchchính sách và những người làm công tác chuyên môn trong ngành y ngàycàng tập trung công sức và mối quan tâm của mình nhiều hơn vào các biệnpháp kìm hãm chi phí Hiếm khi có ai thử đặt lại vấn đề là ngành y nóichung như thế nào xét về các chủ đề được các nhà dân số học, dịch tễ học
và sử gia nêu ra cũng như về giá trị tương đối của nền y học hiện đại vànhững cải cách có cơ sở rộng lớn hơn về mặt môi trường và hành vi có thểảnh hưởng mạnh mẽ lên các mô thức mắc bệnh và tử vong
Những người hoài nghi nói rằng, dường như chúng ta đã đánh đổi các bệnhdịch của một thế hệ này để lấy dịch bệnh của một thế hệ khác Ít nhất, tạinhững nơi giàu có, công nghiệp hóa nhiều hơn trên thế giới, mô hình bệnhtật phổ biến đã chuyển từ một dạng trong đó nguyên nhân tử vong là cácbệnh truyền nhiễm sang một dạng khác với các bệnh thoái hóa và mạn tínhchiếm đa số, kết hợp với một sự chuyển đổi nhân khẩu học của một thời đại
có tỷ lệ tử vong ở trẻ còn bú cao sang một thời đại mà tuổi thọ tăng và mộtdân số ngày càng già cỗi Kể từ cuối thế kỷ 19, chúng ta thấy có một sựchuyển đổi rõ rệt từ một thời kỳ trong đó việc dự phòng khá tốn kém
(chẳng hạn như việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải) và việc điều trị về cơbản là không tốn kém (ví dụ như trích huyết và xổ ruột) sang một thời kỳtrong đó chi phí điều trị rất cao (ví dụ các thủ thuật bắt cầu mạch vành) và
dự phòng ít tốn kém (như tập thể dục và chế độ ăn ít cholesterol) Sau
nhiều năm tán dương các thành quả thấy được của ngành khoa học y sinh,điển hình là những đóng góp như vaccine, kỹ thuật gây mê/gây tê, thuốcinsulin, ghép tạng, và niềm hy vọng rằng các bệnh dịch sẽ theo chân bệnhđậu mùa đi vào quên lãng, thì nay những vấn đề nhức nhối và sâu xa lạiđược nêu ra về sự cách biệt giữa các chi phí của nền y học hiện đại và vaitrò mà y học quyết định các kiểu mắc bệnh và tử vong về mặt lịch sử vàtoàn cầu Khi phân tích cẩn thận vai trò của y học, các yếu tố môi trường và
xã hội trong việc quyết định sức khỏe của người dân, người ta thấy rằng kỹthuật y học không phải là bài thuốc bá bệnh cho bệnh cấp tính gây dịchhoặc bệnh mạn tính và bệnh địa phương
Một mô tả khái quát về lịch sử y học sẽ củng cố nguyên tắc cơ bản là nếuchỉ riêng một mình y học thì sẽ không bao giờ là giải pháp cho những điềubất hạnh của cá nhân hoặc những điều bất hạnh của xã hội, nhưng con
Trang 5người chưa bao giờ từ bỏ việc trông chờ vào các nghệ thuật chữa bệnh đểtập trung vào những cách điều trị, an ủi, cải thiện, giảm nhẹ bệnh tật, vàphục hồi Có lẽ khi hiểu rõ hơn các quan niệm trước đây về sức khỏe, sựlành bệnh và bệnh tật sẽ giúp cho ta nhận ra nguồn gốc các vấn đề hiện tạivới những giới hạn và trở ngại cố hữu của các quan niệm hiện hành.
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng cảm kích sâu sắc đối với JohnParascandola và Ann Carmichael qua những lời góp ý, phê bình vô giá và
sự khích lệ của họ trong khi chuẩn bị bản in lần thứ nhất của quyển sáchnày Dĩ nhiên, tất cả những sai sót còn lại do thiếu sót và vấp váp đều là củatôi Tôi cũng xin hết sức cám ơn các sinh viên dự khóa học, đọc các sách dotôi viết, và báo cho tôi biết phần nào rõ ràng và phần nào còn tối nghĩa Tôicũng xin cám ơn Bộ phận Lịch sử Y học thuộc Thư viện Quốc gia (Hoa Kỳ)
về Y học đã cung cấp các tài liệu minh họa sử dụng trong sách này và cám
ơn Tổ chức Y tế Thế giới về bức ảnh ca bệnh đậu mùa cuối cùng tại tiểu lụcđịa Ấn Độ Tôi cũng xin cám ơn công ty Marcel Dekker, Inc đã mời tôi
chuẩn bị ấn bản lần thứ hai của quyển Lịch sử Y học.
Lois N Magner
Trang 6Bệnh lý họ c và Y học cổ sinh
DẪN NHẬP
Một trong những huyền thoại lôi cuốn và vương vấn chúng ta nhất là huyềnthoại thời Hoàng kim, thời đại trước khi phát hiện cái tốt và cái xấu, khi cáichết và bệnh tật chưa ra đời Thế nhưng, bằng chứng khoa học - tuy ít ỏi,manh mún, và dù nhiều khi còn mang tính thách đố - lại chứng minh rằngbệnh tật xuất hiện trước loài người từ lâu và không phải là hiếm hoi đối vớicác loài khác Thật vậy, những nghiên cứu trên các hóa thạch cổ, các bộxương của các bộ sưu tập trong viện bảo tàng, động vật trong sở thú và ởngoài hoang dã cho thấy rằng chứng viêm khớp khá phổ biến đối với
những loài động vật có vú trung bình và lớn, kể cả con lợn đất (aardvarks)chuyên ăn kiến, và linh dương gazel Bằng chứng nhiễm trùng được tìmthấy trong xương của các động vật thời tiền sử, và trong mô mềm của cácxác ướp Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại phát hiện được bằngchứng u bướu trong các hài cốt hóa thạch Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứuchụp CT hộp sọ của một con khủng long bạo chúa (gorgosaurus) 72 triệunăm đã phát hiện một u não có khả năng làm cho con vật mất thăng bằng
và chuyển dịch khó khăn Những bất thường khác trên mẫu nghiên cứu chothấy con vật bị gãy xương đùi, xương ống chân và xương vai
Như vậy, việc hiểu được kiểu thức bệnh tật tấn công các bậc tổ tiên tiền sửcủa chúng ta đòi hỏi ta phải có cách nhìn của các nhà bệnh lý học cổ sinh(paleopathologist) Marc Armand Ruffer (1859-1917), một trong nhữngngười sáng lập môn bệnh lý học cổ sinh, đã định nghĩa đây là khoa học vềnhững bệnh có thể chứng minh qua hài cốt động vật thời cổ đại Môn bệnhhọc cổ sinh cung cấp các thông tin về sức khỏe, bệnh tật, tử vong, môi
trường và văn hóa của các quần thể cổ đại
Để tìm hiểu vấn đề bệnh giữa những con người thời cổ đại, chúng ta cầnkhảo sát một số mặt về sự tiến hóa con người, về mặt sinh học lẫn văn hóa
Trong quyển sách Sự Xuất hiện của Con người và sự Chọn lọc dựa theo quan hệ giới tính (Descent of Man and Selection in Relation to Sex (1871)),
Charles Darwin cho rằng con người cũng giống như các loài khác, đều phát
Trang 7vượn Nam Phi (Australopithecus africanus) Những phát hiện hứng thú
nhất trong thế kỷ 20 sau đó về tổ tiên con người cổ đại có liên quan đếncông trình của vợ chồng Louis và Mary Leakey và của Donald Johanson.Làm việc chủ yếu tại các địa điểm thuộc hẻm núi Olduvai và Laetoli tạiTanzania, Mary và Louis Leakey tìm thấy nhiều hóa thạch hominid (vượn
(chimpanzee)
Ngành nhân loại học cổ sinh là một lĩnh vực trong đó các phát hiện mớichắc chắn sẽ dẫn tới việc rà soát lại những phát hiện trước đó cùng với nhiềutranh luận kịch liệt về nguồn gốc và phân loại của mấy mẫu răng và xươngnhỏ xíu Những phát hiện mới hơn chắc chắn sẽ bổ sung nhiều kiến thức vềlịch sử tiến hóa con người và cũng làm nổ ra nhiều tranh cãi giữa các nhànhân loại học cổ sinh Các nhà khoa học cũng thừa nhận rằng các bệnh thuộcbệnh học cổ sinh giả cũng có thể làm cho người ta hiểu nhầm và diễn giải saibởi vì tuy chúng rất giống với những thương tổn do bệnh, nhưng thực ra đóchỉ là những quá trình sau khi chết Lấy ví dụ, do các thành phần muối cơ
Trang 8đi chất calcium sẽ khiến cho xương bị thay đổi giống như tổn thương doloãng xương Mặc dù lắm điểm còn mơ hồ trong các hài cốt cổ xưa, nhưngcác phương pháp bệnh học cổ sinh có thể phát hiện ra dấu hiệu của bệnh vàchấn thương trên những hài cốt này
Các kiến thức từ nhiều ngành học khác nhau, như khảo cổ, địa lý học lịch
sử, hình thái học, giải phẫu học so sánh, phân loại học, di truyền học vàsinh học phân tử đều giúp cho chúng ta hiểu nhiều hơn về sự tiến hóa củacon người Những thay đổi trong DNA, kho lưu trữ các tài liệu về phả hệcon người, đã được sử dụng để xây dựng lại cây phả hệ, gia đình và cáckiểu di dân thời xa xưa Một số gene có thể làm rõ sự khác biệt quan trọnggiữa con người và các loài linh trưởng khác, chẳng hạn như khả năng diễnđạt ngôn ngữ thành lời
Về mặt giải phẫu học mà nói thì con người chỉ mới xuất hiện khoảng
130.000 năm trước đây, nhưng con người hiện đại đúng nghĩa, có được cáchoạt động phức tạp, chẳng hạn như chế tạo ra các công cụ phức tạp, các tácphẩm nghệ thuật, giao thương đường dài, dường như chỉ mới có trong cáctài liệu khảo cổ chừng 50.000 năm nay mà thôi Tuy vậy, mối liên hệ giữacon người và các dòng hominid đã tuyệt giống vẫn còn là vấn đề tranh cãi
Thời đồ đá cũ, thời điểm mà những bước quan trọng nhất trong sự tiến hóavăn hóa xuất hiện, lại trùng hợp với kỷ địa chất Pleistocene (Kỷ băng hàlớn), vốn đã chấm dứt khoảng 10.000 năm trước đây với sự thoái lui cuốicùng của các băng hà Những con người cổ đại là người săn bắt -hái lượm,tức là các động vật ăn tạp có cơ hội học cách làm ra công cụ, xây dựng chỗtrú ẩn, mang vác và chia sẻ thức ăn và xây dựng các cấu trúc xã hội mangtính độc đáo con người Mặc dù trong thời đồ đá cũ con người mới chỉ sảnxuất được các công cụ thô sơ bằng xương và đá ghè, và chưa có các vậtdụng bằng gốm và kim loại, nhưng con người vào thời kỳ này cũng đã tạo
ra được các bức vẽ ngoạn mục trong hang Lascaux (Pháp) và Altamira
(Tây Ban Nha) Cũng có khả năng là họ cũng có các phát minh hữu íchnhưng lại dễ bị phân hủy sinh học, cho nên không còn lưu được dấu vết gìtrên các hóa thạch Thật vậy, trong thập niên 1960, các nhà khoa học cókhuynh hướng bảo vệ nữ quyền đã cật vấn những giả định hiện nay về tầmquan trọng của sự săn bắt có phải đúng là cách thức kiếm thức ăn của conngười săn bắt-hái lượm Có lẽ các hạt, quả, rau quả hoang dại và các thú
Trang 9để mang và cất giữ thức ăn
Cuộc cách mạng thời đồ đá mới là sự chuyển đổi sang một hình thức sảnxuất lương thực mới qua canh tác và chăn nuôi Con người thời đồ đá mớichế tạo các đồ dùng như đan giỏ, làm đồ gốm, đánh sợi và dệt vải Mặc dùkhông có công trình nghệ thuật nào trong thời kỳ này được coi là đặc sắcnhư các bức tranh trong hang động thời đồ đá cũ ở Pháp và Tây Ban Nha,con người thời đồ đá mới đã sản xuất ra các tác phẩm điêu khắc, tượng nhỏ
và đồ gốm đầy thú vị
Nếu lúc trước các nhà khảo cổ và nhân chủng học bị ám ảnh với câu hỏi làlối sống nông nghiệp có từ đâu và bao giờ, thì giờ đây họ quan tâm nhiềuhơn tới câu hỏi vì sao và như thế nào Các nhà nhân chủng học thế kỷ thứ
19 thường xếp đặt các nền văn hóa con người vào một loạt các giai đoạntiến triển đi lên qua các loại công cụ được chế tạo và phương cách sản xuấtlương thực Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, các phương pháp phân tíchmới cho phép kiểm tra các giả thiết về sự biến đổi khí hậu và môi trường vàảnh hưởng của chúng đến các nguồn lương thực Khi một ý tưởng lý giải
sự tiến bộ được đưa ra phân tích cặn kẽ thay vì được chấp nhận một cáchđương nhiên, thì các nguyên nhân của sự chuyển đổi ở thời đồ đá mới
không còn được coi là sáng tỏ như lúc trước nữa Căn cứ trên thực tế nhữngngười săn bắt-hái lượm có thể có một chế độ ăn uống khá hơn và sống annhàn hơn những người canh tác nông nghiệp, dù là ở thời tiền sử hoặc thờihiện đại, thì những lợi điểm của cuộc sống ổn định chỉ có đối với những ai
đã an cư và ăn uống dư dả Nguồn thực phẩm có được đối với những ngườisăn bắt-hái lượm tuy có phong phú hơn so với thực phẩm của người làmnông nghiệp, nhưng thực ra vẫn là bấp bênh và không chắc chắn
Những nghiên cứu gần đây về nguồn gốc nông nghiệp cho thấy rằng nôngnghiệp hầu như đã ra đời trong khoảng từ 10.000 đến 20.000 năm trướcđây, chủ yếu là để đối phó với các áp lực do phát triển dân số sinh ra Khi
so sánh sức khỏe của những người hái lượm và các nông dân an cư, cácnhà bệnh học cổ sinh thường thấy rằng sự phụ thuộc vào việc trồng trọtmột loại cây lương thực sẽ làm cho dân chúng sẽ có mức dinh dưỡng kém
Trang 10vitamin và khoáng chất Tuy nhiên, việc thuần hóa động vật dường như đãcải thiện được tình trạng dinh dưỡng và dân số thời cổ đại Mặc dù toàn bộdân số rõ ràng là đã tăng rất chậm trước khi con người chọn việc canh tác,nhưng sau đó lại tăng lên rất nhanh Trong các xã hội du mục, do thời giancho con bú kéo dài cùng với những cấm kị giao hợp sau khi sinh đã làmgiãn thời gian giữa hai lần sinh Đời sống làng mạc đã làm cho phụ nữ thôicho con bú sớm và thời gian giữa hai lần sinh ngắn lại Những thay đổi cótính cách mạng trong môi trường vật lý và xã hội cùng với sự chuyển dịch
từ lối sống của các nhóm nhỏ dân cư săn bắt-hái lượm đi lang thang đến lốisống định cư của những nhóm dân tương đối đông đúc cũng tạo nên nhữngthay đổi lớn về các kiểu bệnh tật Nơi ở lâu dài, với vườn tược, đồng ruộnglàm phát sinh ra những ổ chứa thuận tiện cho các ký sinh trùng, côn trùng
và loài gặm nhấm Thực phẩm để trong kho cũng có thể bị hỏng, kéo theocác sâu hại, và bị nhiễm bẩn với những thứ như chất thải của loài gặm
nhấm, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố Canh tác nông nghiệplàm tăng số lượng calorie sản xuất trên mỗi đơn vị đất đai, nhưng đồng thờilàm cho chế độ ăn dựa quá nhiều vào ngũ cốc nhưng có thể không đầy đủ
về protein, vitamin và chất khoáng
Do không hoạt động nhiều và không có nhiều tài nguyên đa dạng nhưnhững người săn bắt-hái lượm, cho nên đám dân định cư dễ bị ảnh hưởngkhi mùa màng thất bát, đói kém Những vụ đói kém tại một vùng nào đó cóthể khiến cho người dân phải bỏ xứ ra đi đến những nơi khác đồng thời cũngmang theo các ký sinh trùng và tác nhân gây bệnh cho người dân và nơi cưtrú mới Điều khôi hài là việc quá lo nghĩ về chế độ ăn hiện đại có chứanhiều thành phần không tự nhiên đã trở nên rất thịnh hành, khiến người dântại các quốc gia giàu có nhất giờ đây lại có ý tưởng ngược đời là quay lại vớichế độ ăn của con người cổ đại hoặc thậm chí chế độ ăn của những loài linhtrưởng hoang dã Trên thực tế, nguồn thức ăn của những con người tiền sửvốn không hề dư dả, lại đơn điệu, tồi tàn và bẩn thỉu
NGÀNH BỆNH HỌC CỔ SINH:
PHƯƠNG PHÁP VÀ VẤN ĐỀ
Trang 11họ hàng gần gũi nhất của chúng ta, loài khỉ nhân hình và khỉ, đã cho thấy làsống theo kiểu tự nhiên không hẳn là sẽ không mắc bệnh Các loài linhtrưởng hoang dã bị rất nhiều bệnh, như viêm khớp, sốt rét, thoát vị bẹn,bệnh ký sinh trùng và răng đâm vào nhau Tổ tiên chúng ta, những “con khỉnhân hình trụi lông” đầu tiên, được cho là đã nếm mùi các bệnh tật tương
tự như những bệnh tật xảy ra ở các loài linh trưởng hiện nay trong quãngđời quả là “bẩn thỉu, thô lậu và ngắn ngủi” Tuy vậy, con người tiền sử dầndần học được cách thích ứng với các môi trường khắc nghiệt, vốn chẳng hềgiống với cảnh Vườn Địa Đàng trong thần thoại Mãi về sau, qua sự tiếnhóa văn hóa, con người mới thay biến đổi môi trường của mình theo nhữngcách chưa hề có tiền lệ, ngay cả khi họ phải phụ thuộc vào môi trường đó.Khi thuần hóa các động vật, vận dụng thành thục các kỹ thuật canh tác, vàxây dựng nên những nơi định cư đông đúc, con người cũng tạo ra nhữngdạng bệnh tật mới
Các nhà bệnh học cổ sinh phải sử dụng đến các bằng chứng sơ cấp và thứcấp để rút ra các dẫn liệu về các dạng bệnh tật thời tiền sử Bằng chứng sơcấp bao gồm cơ thể, xương, răng, tro và các phần còn lại của cơ thể đã khôhoặc cháy thành than tại những nơi chôn xác người vô tình hoặc có chủ ý.Các nguồn bằng chứng thứ cấp bao gồm nghệ thuật, đồ tạo tác, đồ tùy tángcủa những con người thời chưa có chữ viết, và các tài liệu cổ mô tả hoặcgợi ý sự hiện diện các tình trạng bệnh học Các tài liệu có được qua nhữngnghiên cứu như trên còn rất sơ sài, và do đa số chỉ là những phần cứng của
cơ thể - như xương và răng - rõ ràng là đã cho ta một hình ảnh méo mó củaquá khứ
Thật vậy, do rất ít có khả năng đạt tới một chẩn đoán chính xác khi nghiêncứu các di vật xa xưa cho nên một số học giả nhấn mạnh rằng không nêngán tên của các bệnh hiện nay cho các phát hiện của thời xa xưa Nhữngchuyên gia khác lại cứ đưa những bệnh tật thời đồ đá cũ vào cách phân loại
hệ thống hóa hiện tại như các dị tật bẩm sinh, tổn thương, nhiễm trùng, cácbệnh thoái hóa, ung thư, bệnh do thiếu chất, và thậm chí những bệnh chưa
rõ nguyên nhân là nhóm khá rộng
Trang 12có thể qua những bằng chứng manh mún này mà gặt hái được những kiếnthức mới về cuộc đời của con người thời cổ đại Có thể gọi một ngành họcnghiên cứu các di vật con người qua phương pháp khảo cổ là ngành khảo
cổ học sinh học, là một lĩnh vực kết hợp giữa ngành khảo cổ học và nhânchủng học cơ thể (physical anthropology)
Các phong tục tang lễ, cách thức táng, các điều kiện môi trường chẳng hạnnhư nóng, ẩm, thành phần của đất, đều ảnh hưởng đến tình trạng lưu giữhài cốt con người Đặc biệt là việc thiêu xác có thể làm cho hài cốt bị co rút
và phân mảnh Xác có thể được chôn xuống đất ngay sau khi chết, rồi lấy
đá đắp lên thành gò, hoặc đặt lên một cái giàn cho nắng mưa phân hủy Cókhi dân du mục lẫn dân định cư đều mang xác chết đặt lên một kiểu giànnào đó trong một thời gian nếu người chết gặp khi đất đang đóng băng Sau
đó, người ta mới làm lễ an táng thích hợp cho phần xương cốt còn lại Tạimột số nghĩa địa, xác chết sau được dồn vào các ngôi mộ cũ, cuối cùng làmột đống xương lẫn lộn Sự mù mờ còn tăng thêm khi có những cái xác bịcắt chặt theo các nghi lễ cúng tế, những đồ dùng và quà tặng mang theocho người chết, trong đó có xác động vật hoặc người trong gia đình ngườichết, và những biến dạng do sự ướp xác tự nhiên hoặc do con người
Những con vật đào bới hoặc những kẻ cướp mộ cũng có thể quấy phá nơichôn xác và làm cho xương không nằm đúng vị trí Những thảm họa như lũlụt, động đất, lở đất, thảm sát, có thể cung cấp thông tin liên quan đến mộtnhóm nhiều người trong một thời điểm nào đó
Mặc dù ngày càng có nhiều kỹ thuật phân tích mới mạnh và hiện đại hơnđược đưa vào phục vụ ngành bệnh học cổ sinh, nhưng vẫn còn nhiều điềuchưa chắc chắn, cho nên tất cả các kết quả vẫn cần phải thận trọng khi diễngiải Từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, các nhà khoa học đã sửdụng các phương pháp mới như khuếch đại và giải trình tự chuỗi DNA,phân tích các isotope C và N ổn định, và kính hiển vi điện tử quét để đưa ranhững câu hỏi về sức khỏe, cách sống và văn hóa của các dân tộc thời cổđại Kính hiển vi điện tử được sử dụng để khảo sát các dạng răng bị mòn vàngà răng bị khuyết do stress và rối loạn tăng trưởng, cùng với ảnh hưởng
hệ xương các chi khi làm việc nặng nhọc Có điều kiện người ta cũng phântích hóa học để tìm các yếu tố vi lượng lấy từ xương và tóc con người cổđại để hiểu thêm về chế độ ăn và chất lượng đời sống của họ Chì, thạchtín, thủy ngân, cadmium, đồng, và strontium là những chất có thể tìm thấy
Trang 13Việc phân tích các chất đồng vị ổn định của C và N cũng cho ta biết thêm
về thành phần hóa học của xương và chế độ ăn, bởi vì tỷ số các chất đồng
vị C và N tìm thấy trong xương của người và động vật phản ánh tỷ số cácchất này trong thành phần thực phẩm được tiêu thụ Từ đó ta có thể ướctính được tầm quan trọng tương đối của nguồn thực phẩm động vật và thựcvật trong chế độ ăn của người tiền sử Những sai biệt về tỷ số này trongxương người qua các thời kỳ khác nhau có thể cho ta biết có sự thay đổitrong chế độ ăn Lấy ví dụ, các nhà khoa học xác định được số lượng tươngđối của Carbon 13 và Nitrogen 15 trong xương con người sống trên 20.000năm trước tại nhiều vùng khác nhau của châu Âu Các nghiên cứu cho thấychế độ ăn gồm nhiều cá, sò, và chim biển Phân tích các chất đồng vị trongxương người Neanderthal lại phát hiện điều ngược lại đó là nguồn proteintrong thức ăn của họ chủ yếu có từ thịt của các con mồi động vật lớn hơn
Ngày nay, và có lẽ trong quá khứ, phần lớn các nhiễm trùng đều nằm ở mômềm nhiều hơn là ở xương, nhưng xương và răng là nguồn thông tin bậcmột về bệnh học cổ sinh Các nhà khoa học có thể nghiên cứu hài cốt bằngtia X, chụp cắt lớp (CT), phân tích hóa học và nhiều thứ nữa Xương có thểcung cấp chứng cứ cho biết tình trạng sức khỏe, bệnh tật, tuổi và nguyênnhân chết của một người nào đó thời cổ đại
Các thương tổn đặc thù thấy được trên các hài cốt cổ đại bao gồm gãy
xương, trật khớp, bong gân, đứt dây chằng, bệnh thoái hóa khớp, đoạn chi,vết thương xuyên thấu, xương mọc gai, cục máu đông bị hóa vôi, vẹo váchmũi và nhiều thứ khác Các loại vũ khí được phóng ra như lao và tên, đãđược tìm thấy trên các đốt sống, xương ức, xương bả vai, xương cánh tay
và xương sọ hóa thạch Nhưng lại ít khi thấy được phần mũi của những thứ
vũ khí này, phần vì có thể đã được các thầy thuốc lấy ra, hoặc nhiều khảnăng nhất là phần chóp gây ra một tổn thương chết người này lại mắc kẹttrong mô mềm Trong một số trường hợp sau khi bị các vết thương xuyênthấu, người bị nạn vẫn sống sót sau một thời gian dài, người ta tìm thấynhững phần chóp này gắn kết như những vật lạ trơ vào phần xương bị
thương tổn
Trong một số ca thuận lợi, người ta có thể đoán được thể loại tổn thương và
Trang 14dưỡng, nội tiết, di truyền và bệnh tật, tất cả đều ảnh hưởng đến xương Laođộng nặng hoặc tập luyện quá mức cũng đều dẫn đến hậu quả tăng khốilượng xương Các tiến trình thoái hóa sẽ làm thay đổi kích thước, hìnhdạng và hình thái của bộ xương cũng như của từng chiếc xương Bộ xương
có thể bị thay đổi do viêm khớp và do giảm mật độ xương (bệnh loãngxương)
Bộ xương cũng phụ thuộc vào những thay đổi của môi trường chung
quanh, nhất là với môi trường cơ học tạo ra do sức nặng cơ thể và lực củacác cơ Hình dạng của một chiếc xương, vì vậy, sẽ ghi lại những lực cơ họctác động lên nó trong suốt cuộc đời một người Thường thì các nhà bệnhhọc cổ sinh chú ý đến những chiếc xương có dấu hiệu bệnh lý rõ, nhưngxương bình thường cũng cung cấp bằng chứng về cỡ xương, hành vi, giớitính, các hoạt động, khối lượng công việc và tư thế của người đó
Thông thường thì các nhà cổ sinh bệnh học chú ý đến những chiếc xươngnào có dấu hiệu bệnh lý, nhưng những chiếc xương bình thường cũng cóthể cho biết về kích thước thân thể, hành vi, mức độ phát triển về giới tính,các hoạt động, khối lượng công việc, và tư thế Vì vậy, qua xương ta có thểbiết được rằng cá nhân liên quan có thường xuyên phải nâng vật nặng, đẩy,kéo, đứng, ngồi xổm, đi, chạy hoặc cúi xuống Lấy ví dụ, một điểm bất
thường ở khớp mắt cá, gọi là mặt xương ngồi xổm (squatting facet) gặp ở
Trang 15xương ngồi xổm này sẽ giúp ta phân biệt những kẻ thường ngồi trên ghếvới những kẻ không được như vậy
Phần lớn các bệnh tật đều không để lại dấu vết gì trên bộ xương, nhưngbệnh lao, ghẻ cóc (yaw), giang mai và một số bệnh do nấm có thể để lạinhững đặc điểm để chẩn đoán Các nghiên cứu ở thế kỷ 20 cho biết là trongbệnh lao có từ 1-2% ảnh hưởng đến bộ xương Những thương tổn của bệnhgiang mai thường không giống với những thương tổn do bệnh lao gây ra.Giang mai bẩm sinh có thể gây ra những khiếm khuyết kiểu Hutchinson ởrăng cửa Bệnh phong thường làm mất xương ở mặt, ngón tay, ngón chân
Do các nội tiết tố chi phối sự tăng trưởng và phát triển của tất cả các bộphận trong cơ thể, cho nên khi tuyến nội tiết bị rối loạn, thì trên xương sẽghi lại những dấu hiệu bất thường này Một số điểm bất thường trên các hàicốt thời cổ đại được gán cho rối loạn chức năng của tuyến giáp và tuyếnyên (pituitary) Tuy nhiên, do những thay đổi gần đây về các dạng bệnh tật,cho nên các thầy thuốc, không giống như các nhà cổ sinh bệnh học, ít khithấy được hậu quả của những bệnh truyền nhiễm khá hiểm nghèo, có ýnghĩa lịch sử, mà trước đây không chữa được Trên hài cốt, cũng có thểthấy vết tích của nhiều loại ung thư Mặc dù ung thư xương nguyên phát cóthể hiếm, nhưng ung thư từ nơi khác di căn vào xương thì nhiều Một sốtình trạng bệnh lý tương đối ít gặp như viêm xương tủy và các u xương vàsụn lành tính, đã được các nhà cổ sinh bệnh học chú ý nhiều bởi vì dễ ghinhận
Suy dinh dưỡng dưới nhiều hình thức như còi xương, thiếu vitamin C vàthiếu máu, có thể gây nên những bất thường trong cấu trúc của xương
(chứng dày xương do xốp xương = porotic hyperos tosis) Chứng còi
xương hiếm gặp vào thời đồ đá mới, nhưng càng ngày càng phổ biến khinhiều đô thị ra đời Chứng nhuyễn xương (osteomalacia), một thể bệnh còixương ở người lớn, có thể làm xẹp xương vùng chậu, khiến cho mẹ và con
có thể tử vong khi sinh nở Sự hiện diện của các cục máu hóa vôi trên
nhiều bộ xương cũng phản ánh được sự thịnh hành của bệnh thiếu vitamin
C trong một quần thể nào đó Nếu phơi nhiễm mạn tính hoặc nặng nề, thìmột số yếu tố trong đất như arsenic, bismuth, chì, thủy ngân và selenium cóthể tạo ra các tác dụng độc hại được lưu giữ trong xương Chứng dày
xương do loãng xương được tìm thấy trên xương sọ của người cổ đại làmột tình trạng bệnh lý làm cho xương bị xốp đi, có những lỗ hổng như
Trang 16Mặc dù chứng sâu răng thường được coi là do hậu quả của chế độ ăn hiệnđại, những công trình về người nguyên thủy sống cùng thời kỳ và nghiêncứu trên các bộ xương người cổ đại đã loại bỏ giả định này Những vấn đề
và bệnh của răng được tìm thấy trên hài cốt con người bao gồm sự mònrăng khi ăn, lệch khớp hàm - thái dương, mảng bám, sâu răng, áp-xe răng,gãy chóp răng, mất răng và nhiều thứ khác Từ những năm 1980, bằng kínhhiển vi điện tử quét và cách đo đạc những xây xát vi thể, người ta đã bắtđầu phân tích những kiểu thức mòn răng cực nhỏ Những hốc, vết trầyxước vi thể trên bề mặt của răng và sự mài mòn bề mặt của răng cho ta biếtnhững kiểu thức mài mòn khi ăn các thức ăn có các thành phần ăn mòn.Mòn răng làm cho răng dễ bị nhiễm trùng và sau đó là rụng răng Phụ nữ bịnhiều bệnh về răng hơn so với nam giới, phần vì do có thai và cho con bú,phần vì sử dụng răng và xương hàm như một loại công cụ
Nói chung, qua tình trạng của răng và xương ta biết được lịch sử sức khỏe
và bệnh tật, chế độ ăn và những thiếu thốn dinh dưỡng, hồ sơ về các sangchấn nặng và khối lượng công việc phải làm khi còn sống, và cuối cùng làtuổi ước chừng trước khi chết Vết gãy ở xương cho ta biết lịch sử của mộtchấn thương xảy ra sau một nhiễm trùng hoặc khi đang lành Trước khi cácsụn đầu xương đóng lại, thì xương đang tăng trưởng dễ bị gãy khi gặp chấnthương, nhiễm trùng và các rối loạn do tăng trưởng Các sang chấn trầmtrọng có thể làm cho xương của trẻ em không dài ra được, tạo thành nhữngđường ngang, thường gọi là đường Harris hoặc đường ngưng tăng trưởng,thấy được trên phim X quang những xương dài Nếu đường Harris cho tabiết những rối loạn tăng trưởng trầm trọng trong một thời gian ngắn, thìmột quần thể bị suy dinh dưỡng mạn tính lại cho ít các đường ngang hơnmột cộng đồng khác chỉ bị đói kém theo mùa hoặc theo chu kỳ Đói kém,suy dinh dưỡng nặng và nhiễm trùng nặng cũng có thể để lại những dấuhiệu đặc trưng trên răng, đó là những khuyết tật vi thể trên ngà răng nhưvệt bệnh lý Retzius, thiểu sản ngà răng hoặc giải Wilson Lấy ví dụ, nhữngđợt tiêu chảy cấp ở trẻ còn bú có thể làm cho răng và xương ngưng phát
Trang 17Khoa hóa học cổ học, ngành khoa học chuyên phân tích các chất vô cơ và hữu cơ, đã được
sử dụng để phát hiện, định tuổi, diễn giải và chứng thực cho các di chỉ cổ đại Phương pháp này cho ta nhiều cách để tái dựng các nền văn hóa cổ xưa thông qua những mảnh nhỏ các dụng cụ bằng đá, sành, vải, hình vẽ và nhiều thứ khác Bằng cách kết hợp khoa hiển vi học với phân tích hóa học, các nhà khoa học có thể tìm lại được các thông tin về cách chế tác và sử dụng các đồ tạo tác xa xưa bởi vì những thứ này đều có mang “dấu ấn” về cách thức mà chúng được tạo ra trong quá khứ Có lẽ khía cạnh thường gặp nhất trong ngành hóa học khảo cổ là phương pháp dùng C-14 để định tuổi các di chỉ cổ đại Cách định tuổi bằng C-14 rất có giá trị
để nghiên cứu lại các vật chất có độ tuổi khoảng 10 ngàn năm trở lại, vì đây là thời kỳ có những thay đổi sâu xa nhất khi xuất hiện sự tiến hóa văn hóa.
Các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau đã kết hợp các kiến thứckhảo cổ học, hóa học, địa vật lý học, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và phươngpháp thăm dò từ xa (remote sensing) để thực hiện các khảo sát không đàobới những vị trí khảo cổ nhạy cảm Khi các kỹ thuật của sinh học phân tửđược áp dụng cho những vấn đề được các nhà cổ sinh bệnh học nêu ra, thìngười ta có thể rút ra nhiều loại thông tin từ lượng rất nhỏ protein và acidnucleic còn sót lại trong một số di chỉ thời xa xưa Các cải tiến về công cụnghiên cứu đã cho phép các nhà khảo cổ học phân tích được thậm chí cácvật chất sinh học với số lượng nhỏ hơn nhiều Chẳng hạn, khi dùng phươngpháp khối phổ và các chất đánh dấu sinh học lipid, các nhà hóa học có thểphân biệt được phần di hài giữa con người và các động vật khác
XÁC ƯỚP VÀ CÁC DẤU HIỆU BỆNH TẬT
Trong một số tình huống, phần mềm của các hài cốt tiền sử được bảo tồnnhờ các điều kiện khí hậu và chôn cất thuận lợi hoặc do sự khéo léo củacon người Dù bằng những cách thô sơ hay tinh xảo, các kỹ thuật ướp xácđều có nhiều điểm tương đồng với cách bảo quản thức ăn và da sống củađộng vật Đặc biệt là các thi thể được phát hiện từ các vỉa than bùn ở vùngtây bắc châu Âu Than bùn đã được dùng để làm nhiên liệu trong hàng
ngàn năm, nên đã tạo điều kiện cho những người thu nhặt than vụng về cơhội tự nguyện hy sinh phục vụ cho sự hiểu biết của các nhà cổ sinh bệnhhọc sau này Một số “các thi thể trong đầm lầy” rõ ràng là nạn nhân của cáchình thức trừng phạt lạ lùng hoặc các nghi thức tôn giáo Sau một bữa ăntheo nghi thức, các nạn nhân làm vật tế bị đâm vào tim, đập nát đầu, buộcdây quanh cổ để thắt cổ, rồi bị xô xuống dưới bãi lầy
Trang 18thường gặp hơn là các phương pháp nhân tạo, nhưng với một nhóm người
có tên gọi Người làm giỏ thời tiền sử, họ chủ ý để cho xác chết khô đi trong
hang động, sau đó tháo khớp hông, rồi bọc thi thể trong lông thú, và nhétnhững thi thể này vào những giỏ lớn Các kỹ thuật ướp xác của người Peru
cổ cho phép các “thây sống” của tù trưởng, trưởng tộc, và lãnh đạo ngườiInca được thờ phụng như các vị thần Qua những xác ướp này ta có đượcbằng chứng sự hiện diện của bệnh lao, giun móc và nhiều bệnh khác củachâu Mỹ trước thời Christopher Columbus
Nơi nào có điều kiện thuận lợi cho sự lưu giữ các vật chất hữu cơ, ta có thểgặp được phân người hóa thạch tại những nơi mà người tiền sử sinh sốnghoặc cắm trại hoặc gần đó Thật vậy, đối với một nhà cổ sinh bệnh học đam
mê, thì những gì tìm được trong hố phân, đống rác đều quý giá hơn nhữngvàng bạc trong các lâu đài Nhờ một số bộ phận của cây cỏ hoặc động vậtkhông bị tiêu hóa, các thông tin về chế độ ăn, bệnh tật, các hoạt động theomùa, và các kỹ thuật nấu nướng có thể suy ra khi phân tích các hạt phân,hòn than, hạt quả, tóc, những mảnh xương hoặc vỏ sò, lông chim, nhữngphần thân thể của côn trùng, trứng hoặc nang của các ký sinh trùng nằmtrong phân người hóa thạch Hơn thế nữa, quan sát sự phân bố của phânhóa thạch bên trong và ngoài nơi cư ngụ của người tiền sử cũng phản ánhđược tình trạng vệ sinh trong thời kỳ ấy Kiểu thức thương tổn cũng có thể
là mấu chốt để biết về môi trường và nghề nghiệp Lấy ví dụ, gãy xươngchân thường xảy ra trên các bộ xương gốc Anglo-Saxon hơn là các dạnggãy xương cẳng tay Những tổn thương này tiêu biểu cho kiểu bị trượt trênnền đất gồ ghề, nhất là khi mang ủng cồng kềnh Với Ai Cập cổ đại, gãytay thường gặp hơn là gãy xương chân
Xương là bộ phận chứng minh cho các hành động thô bạo, cắt xẻo, hoặcthói ăn thịt đồng loại Bằng chứng liên quan đến thói ăn thịt người vẫn cònnhiều tranh cãi, nhưng hình thức hành lễ ăn tro, não, hoặc những phần tửthi của người thân mãi đến gần đây vẫn còn một số bộ lạc lưu giữ như làmột dấu hiệu tôn kính người chết Kuru là một bệnh thoái hóa não bộ xảy
ra ở tộc người Fore tại Papua New Guinea Bệnh này có liên quan đến thói
ăn thịt người để hành lễ Năm 1976, Daniel Carleton Gajdusek (1923-), là
Trang 19lạ gặp ở phụ nữ và trẻ em bộ tộc Fore Gajdusek kết luận rằng bệnh này là
do thói ăn thịt người để hành lễ khi phụ nữ và trẻ em ăn bộ não của nhữngngười đã chết vì bệnh kuru Sau khi nghi thức này bị bãi bỏ, thì bệnh kurucũng mất dần Sau khi chứng minh được rằng bệnh này có thể lan truyền
sang khỉ chimpanzee, Gajdusek cho rằng kuru là do một loại “virus chậm”
gây ra Các nhà khoa học sau này chứng minh rằng kuru là do prion, nhữnghạt nhỏ giống như protein gây bệnh liên quan đến bệnh Creutzfeldt-Jakob,hay còn gọi là bệnh bò điên và những bệnh não dạng xốp
Bằng chứng các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng cũng tìm gặp trên các
mô của xác ướp Trứng của nhiều loại ký sinh trùng được tìm thấy trên xácướp, trong phân hóa thạch và trong các hố phân Các ký sinh trùng này gây
ra nhiều bệnh như bệnh sán máng và phù ở chân và cơ quan sinh dục gọi làbệnh phù chân voi hoặc cứng bì (pachyderma) Các mô tả về sự tàn tật liênquan đến bệnh phù chân voi đã tìm thấy trong các đồ tạo tác thời tiền sử.Bệnh sán máng được chú ý đến nhiều vì nước đọng, nhất là tại các cánhđồng có được tưới tiêu là nơi trú ngụ của loài ốc đóng vai trò ký chủ trunggian cho bệnh này Sự xuất hiện bệnh sán máng trong một quần thể vì vậy,
có thể phản ánh cách canh tác và trình độ vệ sinh thời cổ đại
Các đồ tạo tác thời xa xưa là nguồn cung cấp các chẩn đoán giả(pseudodiagnose) duy nhất của con người, bởi vì có rất nhiều xu hướng khácnhau trong thế giới nghệ thuật Khi không biết được những tập quán đặc thùcho từng hình thức nghệ thuật, ta không thể nói được là liệu một hình ảnh xa
lạ và bất thường là một bệnh lý hoặc chỉ là sự bóp méo cố ý Các mặt nạ và
đồ gốm có thể mô tả những cái bất thường, đó là sự cường điệu nghệ thuật,hoặc là những yêu cầu phải có về cấu trúc của đồ tạo tác, như trong các bìnhđựng có đáy bằng hoặc có ba chân Những trường hợp bất thường quá mức
có thể chỉ là do lề thói hoặc biếm họa Lấy ví dụ, những bức tượng cổ thời
đồ đá cũ có tên là “vệ nữ thời đồ đá” hoặc “tượng nhỏ có hình người đàn bàbéo” có thể chỉ là những biểu tượng khả năng sinh sản, hoặc chỉ là những ví
dụ biểu thị riêng cho cái đẹp, thay vì là hình ảnh mô tả thực sự của sự béophì
NGƯỜI BĂNG GIÁ
Trang 20ký sinh trùng Phân tích các phấn hoa dính trên xác cho thấy người nàychết vào mùa xuân hoặc đầu mùa hạ Công cụ và khí giới được tìm thấycùng với Người Băng Giá gồm có một cái rìu, một dao găm, một ống tênlàm bằng da thú, mũi tên và các đồ đánh lửa Do chiếc rìu và dao găm đượclàm bằng đồng thay vì bằng đồng thau và tóc của anh ta có chứa nhiều chấtđồng và arsenic, cho nên có thể anh ta vốn là thợ đúc đồng Quần áo trênngười là da của 8 loài thú khác nhau, trong đó có da dê và da hươu, chiếc
mũ trùm dệt bằng cỏ, giày bằng da bê và chiếc mũ da lông gấu Phân tíchthành phần chứa trong ruột cho thấy bữa ăn cuối cùng có thịt (có lẽ là thịt
dê và nai rừng), cùng với nhiều thứ hạt và thực vật khác
Khảo sát ban đầu nghĩ rằng Người Băng Giá chết vì bị ngã hoặc do lạnh,nhưng quan sát kỹ cái xác mới phát hiện là có một đầu mũi tên bằng đá lửacắm sâu vào bả vai Sau khi làm vỡ xương vai, mũi tên chắc hẳn đã làm đứtthần kinh và các mạch máu lớn và làm tê liệt tay trái Do trên tay của
Người Băng Giá có nhiều vết thương tự vệ và trên các vũ khí có vết máucủa nhiều người khác, các nhà nghiên cứu cho rằng anh ta chết vì phải
chống trả khốc liệt với nhiều người
Y HỌC VÀ PHẪU THUẬT THỜI CỔ ĐẠI
Chưa có đầy đủ chứng cứ để làm các nghiên cứu dịch tễ học về bệnh tật vàtổn thương với con người và các động vật thời cổ đại, nhưng lại quá đủ để
có được một ý niệm chung về mức độ phổ biến của chúng Vì thế, ta muốnxác định được từ khi nào mà các đáp ứng độc nhất chỉ con người mới cóđối với những khổ ải do bệnh tật và tổn thương bắt đầu Lấy ví dụ, hìnhchụp CT từ một cái sọ người Neanderthal từ 36.000 năm trước, trước đó bịmột cú đập mạnh vào đầu với một hòn đá nhọn cho thấy có dấu hiệu lànhbệnh quanh vết thương Để sống sót được ít nhất nhiều tháng sau khi bịthương cần phải có sự chăm sóc và có lẽ được người chung quanh chữa trịvết thương Những trường hợp như thế dẫn tới câu hỏi: vào giai đoạn nào
Trang 21chứng minh được sự hiện diện của những thầy nắn xương thời tiền sử
Những mảnh xương và sọ thời cổ đại có thể tiết lộ cho chúng ta nhiều điều,nhưng các điều kiện lưu giữ không thuận lợi thường làm mờ đi bằng chứng
và tạo ra những manh mối giả từ đó dẫn tới các chẩn đoán sai lệch Ngoạitrừ những cái chết dữ dội còn mang theo vũ khí bên mình, những mảnhxương thời xa xưa ít khi làm rõ được nguyên nhân tử vong Lấy ví dụ, mộtcái lỗ trên sọ có thể là do một loại vũ khí, do một con thú lớn ăn thịt tápphải, hoặc bị một con bọ đục sau khi chết, hoặc một nghi thức lễ tang, hoặcthậm chí là do một thủ thuật khoan sọ Từ cuộc thảo luận tại phiên họp năm
1867 của Hiệp hội Nhân chủng Paris về một cái sọ bị khoan tìm thấy ởPeru đã kích thích việc tìm kiếm thêm về các bằng chứng về ngành phẫuthuật thời tiền sử Dần dà, người ta tìm thấy các sọ bị khoan tại các di chỉthời Đồ đá mới ở Peru, châu Âu, Nga và Ấn Độ Nguồn gốc và sự phát táncủa phẫu thuật tiền sử này vẫn còn được tranh cãi, nhưng chắc chắn rằng
nó đã xuất hiện tại cả châu Mỹ lẫn Cựu Thế Giới trước chuyến du hành củaColumbus Liệu phẫu thuật này hình thành tại một nền văn hóa và sau đótruyền sang các nơi khác hoặc phát triển độc lập tại các vùng khác nhauvẫn là đề tài còn tranh cãi sôi nổi Ta không thể nói rõ là những phẫu thuậtnày có được thực hiện thường xuyên hay không, nhưng một số học giả tinrằng phẫu thuật này đã được tiến hành thường xuyên hơn trong thời đồ đámới hơn là các thời kỳ tiền sử sau này
Trang 22sọ mà không gây tổn thương cho chính não bộ Khi các nhà khoa học lầnđầu tiên gặp những loại sọ này, họ cho rằng phẫu thuật chắc phải được thựchiện sau khi chết để phục vụ cho các mục đích ma thuật Tuy nhiên, cácnhà nhân chủng học phát hiện rằng các thầy thuốc hiện thời của bộ lạc cũngthực hiện kỹ thuật khoan sọ cho cả hai lý do ma thuật và thực hành Cácnhà phẫu thuật thời tiền sử cũng có thể thực hiện phẫu thuật khó khăn vànguy hiểm này vì nhiều lý do khác nhau Khoan sọ là để thử chữa nhứcđầu, động kinh, hoặc các bệnh khác Trong một số trường hợp, khoan sọ làmột cách xử lý hợp lý đối với các tổn thương do chấn thương ở sọ Có lẽkhoan sọ cũng được thực hiện như một biện pháp cực chẳng đã đối với cácchứng bệnh bất trị, khá giống như phẫu thuật cắt thùy não, hoặc là mộtdạng điều trị bằng sốc điện hoặc để trừng phạt Mặc dù thiếu kỹ thuật gâymê/gây tê hoặc vô trùng hiệu quả, nhưng với bằng chứng là có các trườnghợp sọ khoan lành tốt, chứng tỏ là có nhiều bệnh nhân sống sót, và một sốcòn được khoan sọ bổ sung nữa
Có ba hình thức khoan sọ được các phẫu thuật viên thời tiền sử sử dụng.Một kỹ thuật tạo ra một cái rãnh cong chung quanh một vùng chọn lọc
bằng cách dùng một hòn đá nhọn hoặc một khí cụ kim loại để cạo đi lớpxương Khi cái rãnh đủ sâu, lúc ấy có thể bóc đi một miếng xương có dạnghình đĩa Khoan một loạt những lỗ nhỏ theo dạng hình tròn rồi sau đó dùngmột miếng đá lửa nhọn hoặc miếng đá chai làm dao để cắt lấy ra một
miếng xương hình nút áo là phương pháp thường được sử dụng nhất tạiPeru Người bệnh có thể mang chiếc đĩa này như chiếc bùa để xua đuổinhững điều rủi ro sau này Tại một số vùng, thầy thuốc thực hiện kiểu
khoan sọ một phần hoặc có lẽ chỉ là hình thức Tức là, người ta tạo ra mộtvùng lõm dạng hình đĩa nhưng vẫn để xương tại chỗ Một số xương sọ cònmang các vết cắt mỏng hình tam giác tạo thành một hình chữ nhật, nhưngcác vết cắt hình vuông hoặc chữ nhật này có lẽ được dành cho các nghi lễsau khi chết
Một phẫu thuật thời tiền sử khác để lại dấu trên xương sọ gọi là “sự cắt xẻophần sọ trước” Trong phẫu thuật này, dấu vết là phần sẹo để lại do sự đốtcháy Các sọ thời đồ đá cũ cùng với loại thương tổn đặc thù này đã đượctìm thấy ở châu Âu, Peru và Ấn Độ Để chuẩn bị cho việc sử dụng tác nhân
để đốt, người thầy thuốc rạch vết cắt hình chữ T hoặc chữ L trên da đầu
Trang 23Phần lớn các nạn nhân thời tiền sử của thủ thuật này đều là phụ nữ, có
nghĩa là quy trình này đóng vai trò nghi thức hoặc trừng phạt hơn là nhằmvào mục đích trị liệu Trong suốt thời Trung cổ, thủ thuật này được đem ra
để trừ tà hoặc làm giảm chứng sầu muộn Thủ thuật này chắc chắn trừ đượcchứng thờ ơ của ngay cả những bệnh nhân bị sầu muộn nhất, hoặc sẽ chongười mắc chứng bệnh giả có một cơn đau thật để than phiền
Khi xem xét các kiểu trang trí trong đó con người đóng vai trò vật liệu, thìkhó mà giữ được tính khách quan Những gì mà xã hội hiện đại coi nhưphẫu thuật thẩm mỹ - căng da mặt, nâng mũi, và hút mỡ - lại được coi như
là sự cắt xẻo trong những xã hội mà cằm đôi, mũi sư tử, đùi xệ và ngực tolại được ưa chuộng Trong lúc phần lớn phẫu thuật thẩm mỹ của thời tiền
sử đã biến mất cùng với các phần mềm của cơ thể, thì một số phương cáchtrang trí lại tác động đến xương và răng Một số phong tục như làm méohoặc ép khuôn sọ của trẻ nhỏ, và cách tô điểm hoặc nhổ bớt răng Nhữngchiếc đầu có dạng bất thường cũng phản ánh các phương pháp truyền thống
về sự chăm sóc hoặc vận chuyển trẻ em Lấy ví dụ, sức ép của miếng vánlót khung nôi khi trẻ còn nhỏ có thể làm thay đổi chu vi của xương sọ Cókhá nhiều chứng cứ cho thấy rằng sự xăm mình và cắt da quy đầu khôngphải là hiếm gặp vào thời cổ đại Chứng cứ trực tiếp chỉ có thể tìm thấytrên các xác ướp được cất giữ kỹ, nhưng các nghiên cứu về những tập tụctương tự trên các xã hội truyền thống hiện nay có thể giúp ta hiểu thêm về
vô số tình huống của nền phẫu thuật thẩm mỹ thời tiền sử
Từ thập niên 1990, các nhà cải cách sức khỏe phụ nữ đã cố gắng chấmdứt sự cắt xẻo cơ quan sinh dục của phụ nữ theo tục lệ vốn đang được thựchiện tại trên 25 quốc gia châu Phi và vùng Trung Đông Nhìn chung, thì nghithức gây đau đớn này được thực hiện với các dụng cụ thô sơ, không hề đượcgây mê/gây tê hoặc vô trùng Mặc dù nghi thức này bị nhiều quốc gia châuPhi cấm đoán, nhưng chúng vẫn thường được thực hiện bí mật Tổ chức Y tếthế giới ước tính có khoảng 130 triệu bé gái và phụ nữ bị cắt xẻo âm hạch(clítoris) dưới nhiều hình thức Trong những trường hợp cắt xẻo sinh dụcphụ nữ quá đáng vốn còn đang được thực hiện rộng rãi tại Somalia vàEthiopia, thì người ta cắt luôn môi lớn và may kín phần còn lại Cắt xẻo cơ
Trang 24quan sinh dục phụ nữ được coi như là cách thức để bảo đảm trinh tiết vàthường được thực hiện trong nghi thức đánh dấu tuổi cập kê và bắt buộcphải có thì thiếu nữ mới lấy chồng được.
CÁC NGHI THỨC CHỮA BỆ NH, TRUYỀN THỐNG VÀ MA
THUẬT
Các nhà cổ sinh bệnh học phải rút ra các suy luận về tính cổ xưa của cácbệnh truyền nhiễm từ những manh mún số liệu mơ hồ; tuy nhiên, các kếtluận của họ phải phù hợp với các kiến thức y sinh học hiện đại Các bệnhtruyền nhiễm đã tác động đến sự tiến hóa và lịch sử con người bằng nhiềucách tinh vi và phức tạp Các bệnh lưu hành và bệnh dịch có thể quyết địnhđến mật độ dân số, sự phân tán các nhóm người, sự phát tán các nhóm genecũng như những thành công hay thất bại của các trận chiến, xâm lăng vàchiếm đất làm thuộc địa Vì thế, có một cách để thử các giả thuyết về bệnhtật thời cổ đại là nghiên cứu mô thức bệnh giữa các dân tộc hiện nay có nềnvăn hóa mang những đặc điểm tương tự như các đặc trưng của các xã hộithời tiền sử
Ngay cả khi radio chạy bằng transitor, liên lạc qua vệ tinh, và truyền hình
đã biến thế giới này thành một ngôi làng thế giới, thì ta vẫn còn có thể tìmthấy các nhóm người sống tương đối cô lập, duy trì một lối sống hầu nhưkhông thay đổi mấy từ thời đồ đá cũ Mãi đến gần đây, các nhà nhân chủnghọc và sử học thường gọi những người này là “người bán khai hiện đại” Dĩnhiên, về mặt tiến hóa sinh học, những người bán khai hiện đại cũng đãtiến triển xa rất nhiều so với con người thời đồ đá cũ như bất cứ giáo sưnhân chủng học nào, nhưng cách sống của họ có thể tương tự như nhữngngười hái lượm - săn bắt xa xưa - những người du cư lẽo đẽo theo nhữngcon thú được thuần hóa một phần, hoặc những người nông dân thời kỳ đầu
Do các dạng văn hóa là sản phẩm của lịch sử, chứ không phải của sinh học,cho nên thuật ngữ “xã hội truyền thống” ngày nay thường thay thế thuậtngữ “sơ khai” vốn mang ý nghĩa hơi miệt thị Tuy nhiên, thuật ngữ mớihơn này lại có phần gây nhầm lẫn bởi có khá nhiều nghĩa liên quan đến từ
“truyền thống” Để phù hợp, chúng tôi sẽ dùng từ “xã hội truyền thống”,nếu cần phải rõ ràng, thì từ “xã hội bộ lạc” hoặc “tạm gọi là sơ khai” sẽđược dùng
Trang 25ổ chứa cho nhiều loại bệnh được lây truyền trực tiếp sang người hoặc quacác tác nhân côn trùng đóng vai trò trung gian Sự tồn tại của các tác nhângây bệnh chuyên biệt cho từng loài vốn phụ thuộc vào độc lực của tác nhânnày, kích thước và mật độ dân số của nhóm ký chủ, đáp ứng miễn dịch đạtđược của ký chủ, và khả năng tìm ký chủ mới của tác nhân gây bệnh Một
số tác nhân gây bệnh chỉ có thể lây truyền trong giai đoạn cấp tính củabệnh, bởi vì các tác nhân này biến mất khi bệnh nhân hồi phục hoặc tửvong Khi một sinh vật như thế du nhập vào một quần thể nhỏ, thì hầu nhưmọi cá thể đều nhiễm bệnh, rồi sau đó bình phục hoặc tử vong Nhữngbệnh dạng này không lưu lại lâu dài trong các nhóm nhỏ người thời đồ đá.Các dạng bệnh mới đã trở thành một phần cho cái giá phải trả khi số đôngcon người sống chen chúc, lâu dài trong các đô thị, như Thomas Jefferson
đã từng cảnh báo “nơi chứa các thứ độc hại giống như bệnh dịch đối vớiđạo đức, sức khỏe và các thứ tự do của con người” Các tác nhân gây bệnhtồn lưu lại trong vật chủ trong suốt thời kỳ bình phục, bám chặt trong cácthương tổn mạn tính hoặc cũ, thường trú trong cơ thể người bình thườngmang mầm bệnh lại có nhiều khả năng tìm được các nạn nhân mới ngay cảtrong những nhóm người số lượng ít Một số bệnh là do các sinh vật hộisinh gây ra - hội sinh là các sinh vật sống vô hại bên trong hoặc bên ngoài
cơ thể của ký chủ cho tới khi có một số rối loạn kích hoạt khiến bệnh khởiphát Tình trạng hội sinh cho thấy có một thời gian dài hai bên đều phảithích ứng với nhau, tức là, những bệnh này là những bệnh cổ xưa nhất.Nhiều dạng protein khác nhau, chẳng hạn như hemoglobin trong bệnh thiếumáu hồng cầu hình liềm, có thể phản ánh sự thích ứng tiến hóa của quầnthể vật chủ đối với các tai họa cổ xưa như bệnh sốt rét
Người ta thường cho rằng con người hiện đại và con người dạng sơ khaikhông giống nhau về mặt mẫn cảm và đề kháng đối với bệnh Tuy nhiên,
sự so sánh các tỷ số tử vong thô đối với “nhóm hiện đại” và “nhóm sơ
khai” dễ dẫn đến nhầm lẫn Tỷ số tử vong trong một trận dịch có thể phảnánh tình trạng chăm sóc dành cho người ốm hơn là một tính chất kỳ bí nào
đó gọi là “sự đề kháng” Trong một vụ dịch lớn xảy ra trên một cộng đồngnhỏ, cô lập, sẽ không có người trưởng thành nào còn đủ khỏe để chăm sóccho người ốm và cho trẻ bú Vì thế, những người đáng lẽ ra có thể sống sótqua vụ dịch lại chết vì thiếu thức ăn, nước uống và sự chăm sóc điều dưỡng
Trang 26Nói chung, đặc điểm chung của tất cả các hình thức y học cổ đại là hướng
về siêu nhiên, là tin tưởng vào ma thuật Trong phạm vi này, thì ma thuậtkhông phải là một khái niệm thông thường; sự tin tưởng vào ma thuật đãgây ảnh hưởng và định dạng hành vi con người sâu rộng hơn là cách suynghĩ khoa học hay duy lý, theo như cách mà chúng ta ưa chuộng để giảithích thế giới Trong các xã hội mà các tín niệm về ma thuật và khoa họccùng hiện diện, thì khó mà đoán được cái nào sẽ mạnh hơn hoặc có nhiềuảnh hưởng hơn Ngay cả đến hiện nay, một số người vẫn còn dao độnggiữa các hệ thống y học tùy nghi, tùy theo từng tình huống cụ thể, ví dụ có
lẽ sẽ nhờ đến y học hiện đại khi bị gãy tay nhưng lại nhờ y học ma thuậtkhi bị “ma ám”
Ma thuật đóng một vai trò quan trọng trong nhiều nền văn hóa, nó trả lờicho những câu hỏi mà kiến thức luận lý hoặc duy lý hiện thời không giảithích được Ma thuật có thể liên quan rất mật thiết với tôn giáo đến nỗi khó
mà xác định ranh giới giữa hai vấn đề này Sự khác biệt hàng đầu giữa mộtlời cầu nguyện với một bài chú là giả định rằng các nghi thức ma thuật nếu
cử hành đúng, phải mang lại kết quả mong đợi Ngược lại, cầu nguyện, là
một sự cầu xin được giúp đỡ từ một đấng siêu nhiên, và ngài có quyền bancho hoặc từ chối lời khẩn cầu
Trong nền y học sơ khai, siêu nhiên có mặt trong tất cả các khía cạnh bệnhtật và chữa bệnh Do bệnh tật và tai họa đều được gán cho các tác nhân siêunhiên, cho nên cần phải có ma thuật để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trịbệnh tật Mọi sự việc đều phải có nguyên nhân, hữu hình hoặc vô hình Vìvậy, những bệnh nào không tìm được nguyên nhân trực tiếp thì phải coinhư là do ma quỷ, thánh thần, phù thủy, yêu thuật, hoặc do nạn nhân mấtmột trong các hồn của mình Khi có bệnh thì phải cầu tới những người cóquyền lực khống chế các tác nhân siêu nhiên gây bệnh: shaman (người lênđồng), người làm thuốc, phụ nữ có kinh nghiệm, thầy bói, người bắt hồn,hoặc thầy pháp Khi xem xét kỹ hơn vai trò và quyền lực được gán chonhững nhân vật trên, ta thấy tuy có nhiều điểm khác biệt, nhưng để chotiện, ở đây gọi chung là “người chữa bệnh” Tuy nhiên, đa số các xã hội có
sự phân biệt giữa người chữa bệnh và người sử dụng cây cỏ làm thuốc vàshaman hoặc thầy cúng là người có thể tiếp cận với các thần liên quan đến
Trang 27Mặc dù thầy cúng hoặc người làm thuốc thực hiện các hành vi ma thuật, kể
cả các mánh khóe cố ý, nhưng họ không phải là kẻ lừa đảo hoặc bị bệnhthần kinh Thầy shaman cũng có khả năng trung thực như bất cứ thầy thuốchoặc nhà tâm thần học hiện đại nào khác khi cử hành các nghi thức chữabệnh Khi bị bệnh, người làm thuốc (medicine man) sẽ nhờ một người làmthuốc khác điều trị mặc dù cũng đã hiểu rõ mọi mánh khóe của ngón nghề
Đối với thầy shaman, nguyên nhân của bệnh có ý nghĩa nhiều hơn là triệuchứng bởi vì nguyên nhân sẽ xác định cách thức chữa trị, hoặc là bằng cây
cỏ hoặc bằng phép trừ tà Các phương tiện chẩn đoán có thể là cách lênđồng, nhìn vào quả cầu thủy tinh hoặc bói toán Sau khi thực hiện các
nghiệm pháp chẩn đoán ban đầu, thầy thuốc có thể làm một loạt các nghithức như bùa, đọc thần chú, móc ra những đồ vật hữu hình hay vô hình,hoặc ra tay bắt rồi trả hồn đi lạc cho người bệnh Để trục hoặc đánh lừa maquỷ, thầy shaman có thể cải trang cho bệnh nhân hoặc cho người này tênmới, dâng tặng các vật thế thân hấp dẫn hoặc cho dùng những thứ thuốckinh tởm để biến bệnh nhân thành một đối tượng không còn được ma quỷ
ưa thích nữa
Thầy shaman cũng có thể cho dùng những thứ thuốc mạnh và sau đó quansát kỹ người bệnh, và dựa theo kiến thức về hành vi của động vật để đưa rachẩn đoán, và cho bệnh nhân sử dụng thuốc có hiệu lực mạnh, nhưng đóchỉ là nghi thức nhằm buộc các lực lượng siêu nhiên phải cộng tác, đó làđiều quan trọng hàng đầu đối với thầy thuốc, người bệnh và cộng đồng.Lấy ví dụ, một số thầy thuốc cổ truyền cho bệnh nhân đái ra ngoài đất gầnmột ổ kiến Hành vi của kiến sẽ là một test chẩn đoán rẻ tiền cho biết bệnhđái tháo đường Người ngoài cuộc có thể xem các nghi thức chữa bệnh trênkhía cạnh các yếu tố ma thuật và thực hành, nhưng đối với thầy lang vàbệnh nhân thì không có sự phân biệt giữa các yếu tố ma thuật và thực
nghiệm Trong một xã hội không có chữ viết cũng như các phương tiện để
đo lường nồng độ thuốc, thì sự tuân thủ chặt chẽ nghi thức cũng là mộtcách tiêu chuẩn hóa trị liệu cũng như làm cho mọi người cảm thấy an tâm.Thầy shaman không thể phân lập và trần tục hóa các thuốc có hoạt tính vềmặt dược lý học, vì lẽ nghi thức điều trị có tính chất tổng thể Nhưng vấn
Trang 28ta vẫn nghĩ Vì vậy, một thầy thuốc hiện đại cũng không có nhiều khả năngthực hiện một nghiên cứu thử thuốc mù đôi (double-blind) của những điềutrị được chấp nhận hơn là người thầy thuốc cổ truyền
Các thầy thuốc của y học hiện đại thấy rằng khó mà tin được vì sao tínhvượt trội hiển nhiên của y học khoa học lại không làm biến mất đi được tất
cả các hệ thống chữa trị khác Tuy thế các hệ thống y học cổ truyền và thaythế vẫn tiếp tục phồn thịnh ở châu Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ vàvùng Trung Đông Ngược lại, y học cổ truyền lại chịu ảnh hưởng của lýthuyết và thực hành hiện đại Thầy shaman của ngày nay có thể vừa chothuốc penicillin và đọc thần chú nhằm đối phó với cả vi trùng lẫn ma quỷ
Cuối cùng, sự thành công của bất cứ hành động chữa trị nào cũng đều nhờ
sự kết hợp của các yếu tố tâm lý, thuốc và hóa sinh Khi tỷ số tử vong củatrẻ dưới một tuổi cao và tuổi thọ thấp, thì thầy lang khó gặp nhiều trườnghợp bị bệnh về chuyển hóa ở thanh niên hoặc những bệnh thoái biến ở
người già Bản thân nhiều thầy thuốc nắm vững nghệ thuật chữa bệnh thừanhận rằng nhiều bệnh không cần chữa cũng tự lành Vì vậy, nếu một nghithức chữa bệnh kéo dài đủ thời gian cần thiết, thì người ta cho rằng thầylang đã chữa được những bệnh tự khỏi Do giá trị của nhiều cách chữa trịcòn mập mờ, cho nên sự khỏi bệnh theo những cách chữa này thường đượccông nhận là do sự chiến thắng của bệnh nhân đối với bệnh và thầy thuốc
Vì có nhiều điểm chưa rõ trong việc đánh giá việc điều trị bệnh, cho nêncác sử gia y học thường quay sang cách phân tích các phẫu thuật xem đónhư là một cách đo lường khách quan hơn cho các can thiệp trị liệu Nhưngngay ở đây cũng có những khó khăn khác khi so sánh các thủ thuật đượcthực hiện trong các tình huống khác nhau rất nhiều, do nhiều hạng ngườihạng nghề, với các mục đích và mục tiêu khác nhau Một khía cạnh ngạcnhiên của cái gọi là phẫu thuật sơ khai là trên thực tế có rất ít hoặc không
hề có những cuộc phẫu thuật chỉ vì lý do y học thuần túy tại một bộ lạc nào
đó, mặc dù thầy shaman có thể cầm dao mổ rất khéo và đầy nhiệt tình chocác mục đích nghi lễ, trang trí hoặc pháp lý Lấy ví dụ, sự rạch da nghi thức
có thể biểu thị cho giai cấp, cho tuổi trưởng thành, hoặc là “dấu làm
thuốc”, dấu này được coi là đem lại tính miễn nhiễm với bệnh, độc dược,rắn cắn và các nguy hiểm khác Sự bảo vệ này có hữu hiệu hay không là
Trang 29Mặc dù việc cắt chi vì các mục đích nghi thức hoặc trừng phạt không phải
là ít gặp trong các xã hội cổ xưa và còn ở trạng thái bộ lạc, việc đoạn chi vìchỉ định y học hiếm khi được quan tâm Tuy vậy, một số nhà phẫu thuậtbản xứ châu Mỹ cắt đi các ngón tay bị cóng, và tại châu Phi, người Masaiđược ghi nhận là cắt thành công những chi bị gãy Một số dân tộc thời tiền
sử thực hiện việc đoạn chi như một hình thức trừng phạt hoặc đó chỉ là mộtphần của nghi thức chịu tang Cắt xẻo cơ quan sinh dục thường là một phầncủa nghi thức đánh dấu dậy thì Cắt bao da quy đầu và âm vật là các thủthuật thường gặp nhất, nhưng một số bộ lạc còn thực hiện những thủ thuậtcắt xẻo kỳ dị hơn nhiều
Các thầy thuốc cổ truyền đã phát triển nhiều phương pháp khéo léo để
đóng vết thương Dĩ nhiên, việc khâu lại, một kỹ năng có từ xa xưa, nhưngvới cái thời chưa có các kỹ thuật sát trùng, việc đưa cây kim hoặc sợi chỉvào vết thương chắc hẳn sẽ dẫn tới nhiễm trùng nặng nề Thành công đạtnhiều hơn khi dùng phương pháp dùng xiên và chỉ, vốn trước đây thườngđược sử dụng để khâu con gà tây nhồi hương liệu, để khâu vết thương Một
kỹ thuật đáng chú ý do các phẫu thuật gia tại châu Phi, Ấn Độ và Mỹ nghĩ
ra phụ thuộc vào việc sử dụng một loài kiến nào đó Người ta đem áp conkiến thích hợp vào vết thương và chọc cho chúng cắn Khi gỡ phần thâncon kiến ra, thì phần hàm của chúng còn dính lại sẽ đóng vai trò nhữngchiếc kẹp
Để ngăn chảy máu, các phẫu thuật viên truyền thống sử dụng dây thắt hoặcđốt hoặc chỉ chèn vết thương bằng các chất hút nước và sau đó quấn lạibằng băng gạc Tuy nhiên các thầy thuốc người Masai dùng sợi chỉ lấy từgân để may các mạch máu bị đứt Vật liệu băng bó vết thương thường cóchứa nhiều chất độc hại, chẳng hạn như phân bò và bột xác côn trùng cũngnhư các thành phần đóng vai trò chất hút nước và khử trùng Gạc băng bóvết thương cổ truyền có thể chứa những chất có giá trị về mặt dược lý
chẳng hạn như ergot, vốn có trong nấm của cựa loã mạch, nhưng nhiều khi
Trang 30Các thầy thuốc ngoại khoa cổ truyền thường rất khéo léo trong việc điều trịgãy xương và trật khớp, mặc dù cách điều trị này có thể được coi là chưađầy đủ nếu không có câu thần chú thích hợp được đọc trên chiếc nẹp hoặc
bó một cái đầu thằn lằn vào vết thương Thầy shaman cũng có thể khuyếnkhích bệnh nhân bằng những hành động tượng trưng chẳng hạn như bẻchân gà và sau đó bó thuốc cho con gia cầm kém may mắn này
Một trong những nhiệm vụ chính của thầy thuốc ngoại khoa phương Tây,còn gọi là phẫu thuật thợ cạo, mãi đến gần đây vẫn là cách trích huyết đểđiều trị và dự phòng Chọn ra được một tĩnh mạch đúng để trích máu làmột khía cạnh quan trọng trong điều trị Thay vì mở một tĩnh mạch, cácthầy lang cổ truyền thường trích máu bằng cách rạch da hoặc giác hơi.Khác với các đồng nghiệp phương Tây, các thầy lang cổ truyền thường chorằng rất nguy hiểm khi lấy một lượng lớn máu ra khỏi cơ thể
Mặc dù có một số ngoại lệ đặc biệt, phạm vi và chất lượng của phẫu thuật
cổ truyền thường bị bó hẹp Một phần của vấn đề chắc hẳn là do thiếu kiếnthức có tính hệ thống về giải phẫu học, vô trùng, gây tê và do quy mô của
bộ lạc nhỏ nên không cung cấp đủ “chất liệu lâm sàng” để cho thầy langphát triển được kỹ năng mổ xẻ qua việc tập dượt nhiều lần Tuy nhiên,thường là chính ý tưởng chứ không phải vật liệu mới làm hạn chế các kỹnăng này Ảnh hưởng của cách nhìn sự vật theo quan điểm siêu nhiên đãkhiến cho người ta sợ việc cắt xẻo cơ thể hơn là các liệu pháp được coi nhưthích hợp Ngoài ra, vì cắt xẻo cơ thể được áp dụng để trừng phạt cho
những tội lỗi xấu xa lại càng làm cho phẫu thuật mang tính xấu
Mặc dù cúng bái và bùa chú có thể là những khía cạnh nổi trội nhất trongnền y học cổ xưa, người làm thuốc cũng có thể dùng những thứ thuốc hiệunghiệm và có tác dụng về mặt dược lý học Các nhà hóa học nghiên cứusản phẩm tự nhiên chỉ mới bắt đầu khai thác kho tàng thảo dược của cácdân tộc tạm gọi là sơ khai Cây cỏ và động vật cung cấp cho thầy lang cổtruyền những nguồn thuốc hạ nhiệt, gây mê/gây tê, thuốc gây ói, thuốc xổ,lợi tiểu, gây ngủ, thuốc gây ảo giác, thuốc tẩy ruột, hạ nhiệt và có lẽ cả
Trang 31Có thể trên một nửa các đơn thuốc của thầy thuốc hiện đại đều liên quanđến những thứ trích xuất từ cây cỏ hoặc các chất tương đương được tổnghợp Thiên nhiên đã cung ứng một kho tàng đồ sộ các sản phẩm tự nhiêncho nên quả là khó để bắt đầu từ đâu khi tìm tòi các chất làm thuốc Mặc
dù nhiều bài thuốc dân gian có tác dụng không hơn placebo (giả dược) làmấy, chỉ cần 10-25% những thứ thuốc trong dược điển thời sơ khai mà cóhoạt tính dược lý học, thì tiềm năng tìm ra các thuốc mới quả là cực kỳ lớn.Yếu tố làm giới hạn việc đánh giá những bài thuốc như thế có thể là sựbiến mất các xã hội truyền thống cùng với nhiều truyền thống truyền miệngtuy dồi dào nhưng lại dễ mất cũng như kiến thức thực tiễn của họ về môitrường đang bị lâm nguy của họ Tại châu Phi, người ta nói rằng cứ mỗi khimột người già chết là mất đi một thư viện Điều này cũng đúng trong
trường hợp một hiệu thuốc tiềm năng biến mất mỗi khi một mảnh nhỏ môitrường tự nhiên bị hủy hoại
Y học thời sơ khai thường bị gạt bỏ như một dạng mê tín, nhưng cũng cónhiều điểm chung giữa cách thực hành y học của các nền văn minh cổ đại
và niềm tin dân dã vốn ngày nay vẫn còn tồn tại và thậm chí phát triển songsong với y học hiện đại Các tài liệu về nền y học của các xã hội sơ khaihoặc truyền thống thường quá nhấn mạnh đến các khía cạnh ma thuật và kỳcục, tạo nên ấn tượng là có một sự ngăn cách không thể nào kết nối giữanhững hệ thống y học đó với các hệ thống của các xã hội hiện đại Tuynhiên, những phong tục dường như kỳ dị của các nền văn hóa khác đôi khilại có điểm giống với những cách chữa trị dân gian kỳ quặc và đầy hấp dẫncủa chúng ta
Khi phân tích y học dân gian và truyền thống, nói chung thì sự hỗn độn bềngoài của các tình tiết cụ thể có thể giản lược lại thành một vài chủ đề kháphổ quát Thật vậy, khi khảo sát lịch sử y học, ta thấy rằng các chủ đề
giống nhau thường xuất hiện trở lại dưới những hình thức chỉ khác nhauchút ít Y học dân dã, giống như y học sơ khai, thường coi bệnh tật như là
kẻ xâm nhập hiểm ác, còn cơ thể là bãi chiến trường Vốn từ vựng của
chúng ta đối với bệnh tật vẫn còn phản ánh cái ý này: chúng ta bị bệnh tật
Trang 32“đánh đuổi” ra khỏi cơ thể Vì vậy, không phải là không có lý với ý muốnchữa lành người bệnh bằng cách dụ kẻ xâm nhập rời bỏ cơ thể và chuyển
nó sang một nơi thu nhận thích hợp Ví dụ như cha mẹ đứa trẻ bị ho gà,trong tuyệt vọng có thể bắt con chó ăn bánh sandwich có chứa tóc của đứa
bé này Nếu con chó ho, thì đứa trẻ có khả năng khỏi bệnh Một phươngcách tương tự, bằng cách buộc bệnh nhân uống những thứ thuốc pha chếkinh tởm, mùi vị khó uống, gây ói để trục tác nhân xâm nhập ra khỏi cơthể Có thể đoán rằng khi tẩm đầy người bệnh với các loại thuốc có chứaphân, các côn trùng độc hại, mỡ thiu, cây cỏ có mùi thối, và nhiều thứtương tự nhằm biến cơ thể của họ thành nơi không còn hấp dẫn cho tácnhân gây bệnh khó chiều
Học thuyết tín hiệu (doctrine of signatures) là một nguyên tắc chỉ đạo kháctrong y học dân dã Theo quan niệm này, thì Thượng đế đã tạo ra thế giớinày cả có bệnh và lẫn thuốc chữa bệnh và Người đã dạy rằng không có thứ
gì hiện hữu mà không có mục đích Vì thế, ta có thể thấy rằng Thượng đế
đã đánh dấu các thứ có khả năng chữa bệnh với một dấu hiệu nào đó ámchỉ tính chất làm thuốc của chúng Lấy ví dụ, cây thuốc chữa bệnh vàng da
có thể có hoa màu vàng và thuốc chữa bệnh tim có thể tìm trên những cây
có lá hình trái tim
Nhiều bài thuốc dân gian cần các bộ phận và sản phẩm của động vật Việcchọn ra một phương thuốc thích hợp có thể theo nguyên tắc các chất đốikháng hoặc nguyên tắc các chất đồng dạng Lấy ví dụ, nếu bộ não của thỏ
bị nướng không chữa được bệnh nhút nhát quá mức, thì sự can đảm có thểđược tìm thấy trong máu của một con thú hung dữ Các động vật hèn mọnnhư chuột nhắt và chuột chũi được đưa vào các bài thuốc chữa mụn cóc,
ho, sốt, co giật, và đái dầm, nhưng không có sinh vật nào đã phục vụ nghệthuật chữa bệnh cần mẫn như con đỉa Theo sự tin tưởng dân gian, thì công
cụ y tế thiên nhiên này có thể hút bỏ một cách chọn lọc “máu xấu” từ cáckhớp bị viêm và làm cho mắt bầm bớt sưng Côn trùng và các sản phẩmcủa chúng vẫn là thành phần quan trọng trong các bài thuốc dân gian
Người chế nhạo việc dùng mạng nhện để đắp vào chỗ chảy máu cũng cóthể ca ngợi các tính chất của mật ong dùng để điều trị vết ong đốt, cảmlạnh, thấp khớp và bệnh lao
Trang 33có lẽ cũng hữu hiệu chữa chứng nhức đầu cũng như vòng đeo tay bằngđồng chữa chứng viêm khớp Một bài thuốc dân gian của người Mỹ là lấydây thừng của những con tàu cũ đem nhúng vào nước lạnh, rồi lấy nước vắt
ra từ dây thừng đó làm trà Món thuốc này được Giám mục George
Berkeley (1685-1753) phổ biến ở châu Âu Ông này ca ngợi rằng đây làmột món thuốc bách bệnh rẻ tiền cho người nghèo khổ nhất và an toàn chonhũ nhi Ngài giám mục tốt bụng cho biết là các thầy thuốc và dược sĩ
chống đối dữ dội những phương thuốc dân gian rẻ tiền này chứng tỏ cácbác sĩ chỉ sợ người ta khỏe mạnh mà thôi
Mặt khác, chúng ta nên nhớ là thành phần của nhiều bài thuốc dân gian rất
kỳ cục, làm lợm giọng, hoặc độc hại cho nên các đơn thuốc trên có nhiềukhả năng dọa cho bệnh nhân hết bệnh thay vì chữa trị cho họ Khi phải đốimặt phải chọn lựa giữa việc uống thứ nước có chứa mấy “con sâu đen nấuvới hành”, hoặc thú nhận là vẫn khỏe mạnh, thì nhiều người chưa ốm hẳn
và người giả vờ bệnh sẽ chọn cách thứ hai Trong các xã hội hiện đại, bùachú và nghi thức vốn có thời đóng vai trò thuốc chữa bệnh nay hầu nhưkhông còn nữa Nhưng vết tích của những hành động này vẫn còn lưu lạitrong các câu chuyện phù thủy được kể bởi những người hoàn toàn vănminh khi tin rằng những chuyện trên cũng giống như lo xui xẻo khi làm vỡchiếc gương vào thứ Sáu ngày 13
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Trang 34Y học thời các nền văn minh cổ đại: vùng Lưỡng Hà và Ai Cập
DẪN NHẬP
Người Hy Lạp cho rằng dễ dàng định nghĩa từ “văn minh”: từ này để chỉ cáctính chất của các công dân - những người tự do sống trong các đô thị Ngàynay, quan niệm này lại phức tạp, tinh tế và gây nhiều tranh cãi Thuật ngữ
“văn minh” được dùng để bao hàm mọi sinh hoạt cuộc sống và các hành vithực hiện thường ngày của con người Vì thế, nền văn minh là một hình tháiđặc thù của văn hóa, với đặc điểm là tính phức tạp ngày càng gia tăng trong
tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị, một cuộc sống định cư, một nguồn cungcấp thực phẩm vượt quá mức tự cung tự cấp, sự phân chia ra các ngànhnghề, chữ viết và tính toán, những cải tiến trong nghệ thuật cũng như trongkhoa học - tất cả đều có sự tham gia của một số lượng lớn các thành viêntrong cộng đồng qua một thời gian khá dài Những nền văn minh đầu tiêntrên thế giới đã phát triển trong khoảng thời gian từ năm 3500 đến 1500trước Công nguyên tại một số ít vùng nhất định trên thế giới Các sử gia còntiếp tục đặt ra những câu hỏi về bản chất các yếu tố tạo nên sự hình thành vàcác yếu tố nuôi dưỡng trưởng thành các nền văn minh Dường như khó cócâu trả lời đơn giản, xác định, nhưng người ta cũng đã nêu ra một loạt cácnguyên nhân liên quan đến sự cân bằng tinh tế giữa ưu thế và thách thức củacác yếu tố địa lý, khí hậu và kinh tế Trong một chừng mực, đáng chú ý là 4nền văn minh sớm nhất đã xuất hiện dọc theo vùng châu thổ các dòng sông:sông Nile của Ai Cập, các sông Tigris-Euphrates tại Trung Đông, sông Industại Ấn Độ, và Hoàng Hà tại Trung Quốc Do bằng chứng về các thời kỳ sơkhai này còn mù mờ và manh mún, cho nên câu hỏi nền văn minh nào xuấthiện đầu tiên vẫn là một chủ đề tranh cãi bất tận Vì vậy, chúng ta sẽ bỏ quanhững tranh luận này và sẽ lướt qua một số trung tâm văn minh chính đểxem những nơi này cho ta biết điều gì về y tế, bệnh tật và y học thời cổ đại
VÙNG LƯỠNG HÀ
Lưỡng Hà, vùng đất nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates, là đấu
Trang 35Nền văn minh Sumer đã phồn thịnh từ 4.000 đến 5.000 năm trước, nhưngđến khoảng thế kỷ thứ nhất thì ngôn ngữ của nó không còn nữa và chữ viếtdưới dạng hình nêm viết trên các phiến đất sét không còn ai đọc được Cáchọc giả cho rằng những ký hiệu hình nêm đã phát triển từ những hình ảnhđược sử dụng trong hệ thống tính toán thời cổ đại thành các dấu hiệu trừutượng tượng trưng cho âm thanh của lời nói Phần lớn các phiến đất sétSumer liên quan đến các giao dịch hành chính và kinh tế thế tục, nhưnghàng ngàn bản khác ghi lại các huyền thoại, truyện ngụ ngôn, và các ý
tưởng về khoa học, toán học và y học Các học giả thậm chí đã phát hiệncác thẻ khắc chữ hình nêm trên còn chứa các công thức ghi các chỉ dẫnphức tạp về cách ăn uống, và vai trò của việc thờ cúng và hội hè của thếgiới cổ đại Những vết tích khác về mức độ và tính phức tạp của nền vănminh Lưỡng Hà mới được phát hiện gần đây qua các vệ tinh quan sát
Những bức ảnh này cho thấy dấu vết của các khu định cư và hệ thống
đường sá trước đây chưa hề được biết tới đã bị chôn vùi dưới lớp cát vùngTrung Đông Một số trong những con đường này có lẽ đã được xây dựng từ4.000 đến 5.000 năm trước để nối các thành thị vùng Lưỡng Hà tới các khuđịnh cư lân cận và các trang trại xa xôi
Tại vùng Sumer, sự thành thạo các kỹ thuật nông nghiệp đã dẫn tới nhữngthay đổi rõ rệt về mật độ dân số và sự hình thành bộ máy hành chính cần cócho công tác làm kế hoạch, dự trữ và tái phân phối sản phẩm thu hoạch.Đại đa số quần chúng sống như nông dân, nhưng sản phẩm của họ cungứng cho một thiểu số ưu tú sống tại thành thị đó là thầy tu, chiến binh vàquý tộc Do luật pháp và y học được gán cho nguồn gốc thiêng liêng, chonên các giáo sĩ cũng đảm nhận vai trò phán quan, thầy kiện và thầy thuốc
Các văn bản chữ hình nêm nói về y học có thể được chia ra thành ba loại:điều trị hoặc “văn bản y học”, các văn bản tập hợp về điềm báo hoặc “vănbản về triệu chứng” và nhiều văn bản linh tinh khác ngẫu nhiên cũng cung
Trang 36Các văn bản y học của trường phái thực hành tuân theo cách bố trí chínhthức điển hình cho văn cách thư lại của vùng Lưỡng Hà Mỗi đoạn văn cóchứa một loạt các đơn vị hoặc ca bệnh được ghi theo một khuôn mẫu
chung giống nhau: “Nếu một người bị ốm (và có những triệu chứng sau) ”hoặc “nếu một người bị đau (như thế này) ở chỗ này ” Bản mô tả trìnhbày danh mục các triệu chứng kèm theo là chỉ dẫn sử dụng các loại thuốccần thiết, cách bào chế, thời điểm và đường nạp thuốc Thầy thuốc “khámphá” các triệu chứng quan trọng bằng cách lắng nghe lời kể của bệnh nhân
về bệnh tật của mình chứ không phải khám lâm sàng trực tiếp trên cơ thểngười bệnh Mặc dù phần lớn các bài thuốc đều đưa đến hứa hẹn là bệnhnhân sẽ khỏi bệnh, nhưng một số triệu chứng cũng báo trước một kết cụcnguy hiểm tính mạng
Ngược lại, “pháp sư”, “thầy bói” hoặc “tu sĩ - thầy thuốc” nhìn vào cáctriệu chứng và tình trạng của người bệnh như là những điềm báo sự rối loạn
và dự báo kết cục của chứng bệnh Khác với đồng nghiệp thuộc phái “thựchành”, thầy bói thực hiện khám lâm sàng trực tiếp để phát hiện ra các triệuchứng và điềm báo Rõ ràng là có sự ra tay của quỷ thần nếu thấy con rắnchui vào giường người bệnh, bởi vì điềm báo này cho biết tiên lượng củabệnh là tốt Nhưng nếu nước tiểu có màu đỏ như màu rượu chát, đó là điềmbệnh đang tiến triển, bệnh sẽ trở nặng và gây đau đớn Nếu tu sĩ không moi
đủ thông tin khi quan sát trực tiếp người bệnh, ông ta có thể tìm các dấuhiện trên bộ đồ lòng của các con vật hiến tế Những điềm báo trên lá gancủa con vật sẽ áp dụng cho người bệnh khi thầy thuốc không thể thấy được
lá gan của bệnh nhân
Mặc dù có nhiều điểm không chắc chắn khi giải thích các văn bản cổ,
nhưng đôi khi ta cũng có thể thử chẩn đoán được một số các rối loạn đượcthảo luận và ghi lại trên các thẻ chữ hình nêm Các thầy thuốc vùng Lưỡng
Trang 37Do bệnh tật được coi như là một sự trừng phạt của thần thánh khi ngườibệnh phạm lỗi, cho nên việc chữa lành đòi hỏi phải có sự tẩy rửa tinh thần
và thể xác khi kết hợp giữa sự sám hối và trừ tà bằng các thứ thuốc xổ Cácđơn thuốc của nền văn minh Sumer sử dụng 250 loại thuốc thực vật và 120khoáng chất, cũng như các đồ uống có cồn, chất béo và dầu, các bộ phận vàsản phẩm của động vật, mật, chất sáp, và nhiều loại sữa được coi là có tínhchữa bệnh Các văn bản y học, cũng giống như đa số các thẻ viết của nềnvăn minh Lưỡng Hà đều không có tác giả Nhưng một số thẻ y học lại cungcấp những lời khen ngợi hay xác nhận cá nhân nồng nhiệt cho một phươngthuốc nào đó Các đơn thuốc điều trị đều cho biết là đã được trải nghiệmhoặc phát hiện do những người không thể nghi ngờ như các bậc trí giả vàchuyên gia Một số bài thuốc được ca ngợi vì đã được truyền qua nhiều đờihoặc độc đáo Một điểm đáng chú ý là có một thẻ chữ hình nêm nhỏ chứakhoảng 10 bài thuốc do một thầy thuốc Sumer ghi lại khoảng 4.000 nămtrước đây Dường như đây là thẻ sưu tập các đơn thuốc cổ xưa nhất bằngchữ viết
Chỉ mới đến gần đây mới có sự chia tách các khía cạnh ma thuật và thựcnghiệm của y học Vì vậy, không có gì là ngạc nhiên khi các bệnh nhânvùng Lưỡng Hà cho rằng phải thận trọng khi tấn công bệnh tật bằng mathuật lẫn y học Người chữa bệnh vừa là giáo sĩ vừa là thầy thuốc sẽ làmtăng hiệu lực của thuốc khi đọc những câu thần chú phù hợp Mặc dù ngườichữa bệnh cần phải biết một số kiến thức về giải phẫu học cũng như trithức về thuốc, nhưng kiến thức chính xác về các nghi thức ma thuật lạicàng quan trọng hơn bởi vì những sai sót trong lĩnh vực này có thể làm cácthần thánh trở nên lạnh nhạt
Trang 38và rủi ro; mỗi con ma gây nên một rối loạn cụ thể Cũng giống như trong yhọc dân gian và y học thời sơ khai, các thầy thuốc vùng Lưỡng Hà cũngthử đánh đuổi các con ma gây bệnh bằng cách cho bệnh nhân thử nhiềuphương thuốc độc hại Bằng cách đốt lông chim để xông, và tống vào cơthể bệnh nhân phân chó và mật heo để cho cơ thể bệnh nhân không còn lànơi trú ngụ cho yêu ma nữa Thầy phù thủy cũng còn tìm cách chuyển maquỷ sang một vật tế khác ví dụ như một con vật hoặc một hình nhân Thỉnhthoảng thầy thuốc còn mời các ma quỷ gây bệnh tham gia một cuộc đốithoại trực tiếp, như trong câu chuyện đối đáp giữa một giáo sĩ và “con sâurăng” được ghi lại khoảng năm 2250 trước CN Dù rằng bài thần chú mangtên “Con sâu và chứng nhức răng” không hề giống như một thiên anh hùng
ca, nhưng cuộc đối thoại này chứa rất nhiều thông tin về các khái niệm vũtrụ quan và các thần thoại sáng thế
Các văn bản về dược liệu vùng Lưỡng Hà cho thấy ở đây người ta đã thànhthạo các kỹ thuật hóa học tỉ mỉ để tinh chế các cây, con và các khoáng chất
để làm thuốc Cây cỏ rất quan trọng trong y học cổ đại đến nỗi các thuậtngữ như “thuốc” và “cây thảo dược” gần như tương đương Thuốc làm từhạt, vỏ cây và các phần khác của cây cỏ được hòa vào trong sữa hoặc bia,hoặc trộn với rượu, mật ong rồi cho bệnh nhân uống, hoặc trộn với mỡ đểdùng ngoài Ngẫm ra thì cũng có lý khi cho rằng rượu cũng tác dụng khửtrùng khi thấm rượu vang vào băng gạc để đắp lên vết thương Dù có màu
đỏ hay trắng thì rượu vang vẫn có tác dụng sát trùng tốt hơn cồn 10 độ,nhưng rượu vang đỏ dường như là thức uống được chọn để chống lại
nhiễm trùng
Theo một thần thoại vùng Lưỡng Hà là Anh hùng ca Gilgamesh, thì conngười đã đánh mất một thứ thảo dược cứu mạng rất mạnh vào thời khaithiên lập địa bởi vì sự bất cẩn của Gilgamesh, là một ông vua anh hùng rấtthế lực với hai phần ba là thần và một phần ba là người (không rõ tỷ số nàyđược tạo ra theo cơ chế di truyền nào) Người hùng của thiên anh hùng ca
cổ đại rõ ràng là được xây dựng trên những chiến công của một vị vua thực
sự đã từng cai trị Gilgamesh khoảng năm 2700 trước CN Chừng 600 nămsau khi vị vua này mất, các huyền thoại về Gilgamesh được thu thập lạidưới hình thức một trường ca sử thi Vì thế, anh hùng ca Gilgamesh cho tabiết về cuộc sống và những tín niệm của người dân đã từng sống trên vùnggiữa hai con sông Tigris và Euphrates vào khoảng thiên niên kỷ thứ hai và
Trang 39Mặc dù có các tính chất của thần thánh, nhưng Gilgamesh biết rằng mìnhcũng giống như mọi con người, đều không qua khỏi ải bệnh, tử Khi bạnmình là Enkidu bị trọng bệnh, Gilgamesh thề rằng sẽ không bao giờ từ bỏ
hy vọng cứu bạn cho đến khi “có con sâu bò ra khỏi mũi” (một điềm quantrọng cho biết cái chết sắp đến) Sau nhiều lần thử thách và khổ ải, và trảiqua một chuyến đi đầy khiếp hãi vào địa ngục, Gilgamesh học được bíquyết của cây thuốc cứu mạng (herb of life) và phải lặn xuống tận đáy sâunơi cây thuốc thần kỳ mọc Trước khi lấy được cây thuốc chữa bệnh vềUruk, người anh hùng dừng lại để nghỉ lấy sức Trong khi Gilgamesh ngủ,thì có một con rắn kỳ bí trườn ra khỏi chỗ trú và ăn mất cây thuốc cứu
mạng Nhờ vậy, con rắn lột da và hoàn đồng ngay lập tức trong khi
Gilgamesh mãi than khóc cho chính mình và cho nỗi khổ của nhân loại.Theo thiên anh hùng ca, khi quay trở về sau chuyến hành trình, Gilgameshkhắc lại nội dung toàn bộ câu chuyện phiêu lưu và những kỳ quan của
thành phố Uruk lên trên các thẻ đất sét để dạy dỗ cho hậu thế Vì vậy, kể từthời Gilgamesh, cứ mỗi lần rắn lột bỏ lớp da cũ, thì sự hồi sinh của rắn mãinhắc nhở cho con người là họ phải già đi và chết Tuy nhiên, thiên hùng cacũng cho ta biết là dù các bậc đại anh hùng có chết đi, họ vẫn bất tử trongcác công trạng của họ được ghi chép lại
BỘ LUẬT HAMMURABI
Khi sử gia Herodotus người Hy Lạp viếng Babylon vào thế kỷ thứ 5 trước
CN, ông ta đưa ra một kết luận đáng chú ý là ở thành phố này không có bác
sĩ Ông ta cho biết là người bệnh được mang ra giữa chợ để tìm lấy lờikhuyên bảo của những người đã từng bị những bệnh tương tự Câu chuyệnnày cho thấy ta không nên quá tin vào những chuyện kể của du khách Nhưchúng ta thấy, vùng Lưỡng Hà có một truyền thống y học phức tạp Cả haiphương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm và ma thuật đều có cơ sở lâu đời,nhưng dần dà ưu thế rõ rệt là nghiêng về phía các thầy phù thủy Bằng
chứng về nhiều loại thầy lang hành nghề y tại vùng này có thể tìm thấytrong bộ luật đầy đủ nhất của vùng Babylon, đó là Bộ luật Hammurabi.Ngày nay, Hammurabi (cực thịnh vào 1792-1750 trước CN), là vị vua nổitiếng nhất của vùng Babylon, được chú ý nhiều nhờ bộ luật mang tên ônghơn là các chiến thắng quân sự và chính trị
Trang 40và Akkad ở phía nam vùng Lưỡng Hà khoảng hai thế kỷ Đế quốc Babyloncuối cùng bị tiêu diệt và, vào năm 538 trước CN, vị vua cuối cùng đầu
hàng Cyrus Đại đế của Ba Tư và Babylon trở thành một phần của vươngquốc Ba Tư Vào cuối thời gian trị vì, Hammurabi cho người dựng nên mộtbia đá lớn trên đó mô tả hình ảnh nhà vua nhận tước hiệu Hoàng đế và
công lý từ các vị thần Phía dưới của hình ảnh này có khắc 282 án lệ màngày nay được gọi là Bộ luật Hammurabi Theo lời khắc trên bia, thì thầnthánh, những bậc đã xây dựng nên tại Babylon một vương quốc lớn mạnh
và trường cửu, đã yêu cầu Hammurabi “đem lại công chính” trên vùng đấtđược cai trị, diệt bỏ những kẻ ác và làm càn, để cho kẻ mạnh không làm hạicho người yếu Trong phần bạt của Bộ Luật, Hammurabi tự cho mình là
“minh quân”, người đứng ra dạy dỗ cho dân các điều chính trực và hiếu đễ,
và thiết lập trật tự trong vương quốc của mình Bộ luật xử lý các vấn đềhình sự và dân sự như cách thực thi công lý, quyền sở hữu tài sản, thươngmại và giao dịch, các mối quan hệ gia đình, lao động, các thương tổn cánhân và cách ứng xử nghề nghiệp Bộ luật Hammurabi cho thấy những mốiquan hệ chi phối các giáo sĩ, địa chủ, nhà buôn, nông dân, thợ thủ công và
nô lệ tất cả đều liên quan đến quá nhiều hình phạt nghiêm khắc Hình phạtcho nhiều loại vi phạm, chẳng hạn như ăn cắp hoặc chứa chấp một nô lệ bỏtrốn là tử hình, nhưng nhiều tội khác chỉ ở mức chặt chân tay Có nhiềuđiều khoản nói đến bệnh tật, nhận con nuôi, mại dâm, vú nuôi, thai sản, sẩythai và hành nghề sơ suất của thầy thuốc và thú y sĩ Một số luật quả thực
có làm rõ lời hứa hẹn của vua Hammurabi rằng luật pháp sẽ bảo vệ ngườiyếu Lấy ví dụ, một người đàn ông có thể lấy vợ thứ hai nếu người vợ thứnhất bị bệnh, nhưng anh ta phải chăm sóc người vợ bệnh và cho phép
người này vẫn được ở trong nhà của anh ta
Các hình phạt theo luật hình dựa trên nguyên tắc lex talionis, “luật của dã
thú”, tức là ăn miếng trả miếng Sự báo thù hoặc trừng phạt được sắp xếpxứng với tội ác: chặt cánh tay nào đã đánh cha mình, chọc mù mắt nào đãnhìn trộm bí mật Những hình phạt kiểu này thường được gọi là sự “cắt xẻotheo pháp luật” Căn cứ trên số điều khoản nêu rõ sự chặt chi để trừng phạtcho nhiều loại vi phạm khác nhau, ta có thể tưởng tượng ra là những
chuyên gia hành nghề trong lĩnh vực này bận rộn đến mức nào Những hìnhphạt được nêu trong luật có nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau tùy theo bagiai cấp của xã hội Babylon: quý tộc, bình dân và nô lệ; những người nàyđược đánh dấu trên cơ thể để cho biết vị trí thấp hèn trong xã hội Nô lệ