MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7 Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ 27 1.1. Ý tưởng sáng tạo và thực chất phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 27 1.2. Tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 49 Chương 2 THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ HIỆN NAY 69 2.1. Thực trạng và nguyên nhân phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay 69 2.2. Nhân tố tác động và yêu cầu phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay 93 Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ HIỆN NAY 119 3.1. Tiếp tục đổi mới các yếu tố cơ bản của đào tạo nhằm tạo động lực cho phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 119 3.2. Xây dựng môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 135 3.3. Phát huy nhân tố chủ quan của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong phát triển ý tưởng sáng tạo 147 KẾT LUẬN 160 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 162 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 PHỤ LỤC 171 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về luận án Tên đề tài nghiên cứu của luận án: “Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay, được tác giả trăn trở suy nghĩ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Đây là một công trình khoa học có tính mới, độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước. Cùng với ý tưởng của mình và sớm có sự định hướng, trao đổi với tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học, tác giả quyết định lựa chọn đề tài này làm vấn đề nghiên cứu trong luận án, từ đó có thể đem lại những giá trị hữu ích cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo sau đại học. Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số nội dung, đặc điểm và những vấn đề có tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh; phân tích làm rõ thực trạng, chỉ ra những nhân tố tác động và các yêu cầu, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Những vấn đề được trình bày trong luận án là sự kế thừa có chọn lọc từ các công trình nghiên cứu trước đó của tập thể và cá nhân các nhà khoa học có liên quan đến đề tài luận án. 2. Lý do lựa chọn đề tài luận án Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong xã hội thông tin hiện nay là trình độ tư duy, tri thức, tư tưởng của con người đang có những bước phát triển mạnh mẽ, theo hướng tổ chức, quản lý, sáng tạo và đổi mới dựa trên cơ sở của những ý tưởng mới lạ, độc đáo, hữu ích. Theo đó, vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn đã và đang trở thành nhân tố chi phối, điều khiển và tạo ra động lực thúc đẩy quá trình phát triển đời sống con người trong xã hội hiện đại. Bởi vì “ý tưởng vừa là nền tảng phát triển vừa là yếu tố sản xuất” 112, tr.10, hầu hết các sản phẩm vật chất và tinh thần được làm ra trong thời đại ngày nay đều có xu hướng kết tinh, hội tụ trong đó hàm lượng tri thức, trí tuệ, chất xám ngày càng cao, vì thế vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo ngày càng được coi trọng và phát huy một cách tối đa. Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự có vai trò quan trọng tạo ra chất lượng mới về tư duy, trí tuệ, khả năng sáng tạo trong hoạt động lý luận và thực tiễn chính trị quân sự của người học ở hiện tại và tương lai. Từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ; làm tăng chất lượng nguồn nhân lực bậc cao cho Đảng, Nhà nước về khoa học xã hội và nhân văn quân sự, chuyên sâu về khoa học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối quân sự của Đảng. Nhận thức rõ về vấn đề này, các chủ thể phát triển thường xuyên quan tâm, coi trọng sự phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh trong quá trình học tập, nghiên cứu lý luận và đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn, phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập về hàm lượng khoa học, tính mới, độc đáo và hữu ích còn chưa đậm độ, sự phá cách, tính đột phá chưa rõ ràng; việc tìm tòi, khám phá ra ý tưởng mới về hướng nghiên cứu, tiếp cận mới hoặc các quan điểm, giải pháp, cách diễn dịch mới còn hạn chế; vẫn còn hiện tượng trùng lặp khá rõ về nội dung, hình thức kết cấu trong các sản phẩm, công trình khoa học của nghiên cứu sinh làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục đặt ra cho khoa học xã hội và nhân văn quân sự cần làm sáng tỏ trên hai phương diện lý luận và thực tiễn về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, sức mạnh, phương thức bảo vệ Tổ quốc; nội dung xây dựng nền quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; quan điểm, phương châm xây dựng Quân đội về chính trị; bổ sung, phát triển, hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội; những vấn đề chính trị quân đội nước ngoài; đối ngoại quốc phòng, quân sự trong tình hình mới. Vì thế, nghiên cứu làm rõ sự phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự làm cơ sở cho xây dựng đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ tư duy lý luận cùng với khả năng vận dụng, sáng tạo tri thức mới, áp dụng vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, giáo dục bộ đội; giải quyết đúng đắn, kịp thời đòi hỏi từ thực tiễn hoạt động chính trị quân sự và cuộc sống; góp phần vào xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững mạnh về chính trị trong tình hình mới là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết, được tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu trong khuôn khổ luận án tiến sĩ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Góp phần gia tăng hiệu quả phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng yêu cầu nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo tiến sĩ ngành khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề về ý tưởng, ý tưởng sáng tạo; lập luận, phân tích, khái quát về thực chất và tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Đánh giá thực trạng, nguyên nhân, chỉ ra yếu tố tác động, xác định các yêu cầu trong trong phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát huy nhân tố tích cực và khắc phục những hạn chế, bất cập trong phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học; đề tài sử dụng các tài liệu, số liệu điều tra, khảo sát chủ yếu là từ năm 2008 đến nay (chỉ tập trung vào nghiên cứu sinh là cán bộ, sĩ quan quân đội), không nghiên cứu, tìm hiểu nghiên cứu sinh dân sự. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận án: là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ; về xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng và phát huy nguồn lực con người, các công trình khoa học có liên quan. Cơ sở thực tiễn của luận án: là tình hình thực tiễn phát triển ý tưởng sáng tạo, các kết quả điều tra khảo sát của tác giả và những số liệu báo cáo, tổng kết của các cơ quan đơn vị có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài luận án vận dụng hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; hệ thống phương pháp nghiên cứu về tư duy (phức hợp, đột phá, tích cực, độc lập…); phương pháp luận nghiên cứu khoa học và các phương pháp khoa học liên ngành; ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống cấu trúc, lô gích lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học, phỏng vấn và xin ý kiến chuyên gia,v.v. 6. Những đóng góp mới của luận án Bổ sung, làm rõ đặc trưng ý tưởng và ý tưởng sáng tạo, xây dựng khái niệm ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh; chỉ ra đặc điểm và tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Đánh giá thực trạng, làm rõ nhân tố tác động, chỉ ra các yêu cầu có tính nguyên tắc; đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ nhằm phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Ý nghĩa lý luận: Với kết quả nghiên cứu của luận án góp phần giải quyết làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu luận án cung cấp cơ sở khoa học học trong việc thực hiện các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay; kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo sau đại học ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. 8. Kết cấu của luận án Kết cấu của công trình gồm: phần mở đầu; tổng quan về vấn đề nghiên cứu; nội dung bố cục thành 3 chương (7 tiết); kết luận; các công trình khoa học đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến phát triển ý tưởng sáng tạo Tác giả S.E.Frost với tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của triết học” 36, đã đề cập tới ý tưởng và tư duy, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các quan điểm của các nhà triết học thời cổ, trung đại đến cận đại như: Heraclitus, Socrates, Platon, Aristotle, Glile, Descartes, Spinoza, Locke, Kant, Hegel, Comte, Mill, James, Dewey. S.E.Frost đặt vấn đề: chúng ta có những ý tưởng từ đâu, bản chất của chúng là gì? Bằng cách nào có những kết luận và dựa vào đó để hành động? Căn cứ vào đâu có thể biết hành động này sẽ mang lại hạnh phúc còn hành động khác mang tới bất hạnh? Phải chăng chúng được sinh ra cùng với chúng ta và chúng có ý thức về thời gian hoặc phải chăng chúng ta có chúng từ những cảm nhận? Hay do các vị thần phát hiện ra chúng giúp chúng ta? Những quy luật tư duy là gì? Các nhà tư tưởng của mỗi thời đại nghiên cứu tư duy như thế nào? Tất cả những điều đó được S.E.Frost khái quát lại tư tưởng của các nhà triết học bàn về ý tưởng: Triết gia Hy Lạp, Platon (427 347 TCN) người đầu tiên trong lịch sử triết học bàn về ý tưởng, coi đó là một cái gì bất biến, vĩnh cửu, nguyên mẫu. Nhưng do xuất phát từ quan điểm duy tâm khách quan, Platon cho rằng: con người phải vượt qua những giác quan để đến với những ý tưởng, thứ không bắt nguồn từ cảm nhận và không phụ thuộc vào cảm nhận. Ông lý giải linh hồn đến với thế giới và mang theo cùng với nó những ý tưởng có thực. Những thứ này đã được tồn tại trong nó trước khi được sinh ra. Tri thức thực có được khi những ý tưởng này được nhớ lại và đặt trước ý thức. Đây là “tri thức nhận thức” khi được phân biệt với tri thức giác quan, thứ thực sự không phải là tri thức 36, tr.314. Với sự khởi đầu của các quan điểm khoa học của thời kỳ Phục hưng, nhà triết học người Ý, Galieo (1546 1642) đại diện cho chủ nghĩa duy vật cơ giới đã cho rằng: “Ý tưởng của chúng ta nên dựa vào việc quan sát hoặc thử nghiệm. Nhưng họ cũng nên thêm vào những cảm nhận, hiểu biết. Họ nên xây dựng các ý tưởng nằm ngoài việc quan sát, thử nghiệm và suy nghĩ” 36, tr.320. Khi đề cập đến ý tưởng, triết gia người Pháp, Descartes (1596 1650), với lập trường nhị nguyên luận đã thiết lập một nguyên tắc cơ bản về tất cả lối suy nghĩ, thứ mà tất cả những ý tưởng đúng phải là rõ ràng và riêng biệt. Trí óc có những quy phạm về tính rõ ràng và riêng biệt của nó, những quy phạm được mang lại cho trí óc nhờ vào bản chất của nó. Descartes đã lập luận tri thức đến với con người không phải bởi việc tiếp nhận cảm giác mà là thông qua sự lý giải thận trọng từ những tiền đề căn bản; mỗi một ý tưởng có thể được chấp nhận nếu nó là rõ ràng và riêng biệt sau khi nó đã được lý giải 36, tr.321. Nhà triết học duy vật người Hà Lan, Spinoza (1632 1677), đưa ra lập luận: tri thức đầy đủ, những ý tưởng rõ ràng và riêng biệt, tri thức hợp lý là kết quả từ việc lý giải những sự vật đã được biết đến; tri thức trực giác loại tri thức tốt nhất và mang tới một sự thật không thể bị nghi ngờ. Ở đây không thể có một sai lầm nào36, tr.322; là người theo chủ nghĩa duy lý, Spinoza đã đề cao vai trò của trí tuệ và cho rằng trực giác là cơ sở sâu sắc nhất của năng lực sáng tạo tinh thần con người. Nếu như vai trò của Descartes là ở chỗ đã biến quan niệm về trực giác thần bí phi lí tính thành trực giác trí tuệ thông qua mối liên hệ tất yếu với nhận thức lôgic, còn trực giác theo Spinoza mặc dù vẫn là hình thức nhận thức cao nhất nhưng đó nguồn gốc và gắn liền với diễn dịch. Cùng đề cập đến ý tưởng, nhà triết học duy vật người Anh, John Locke (1632 1704), với sự đề cao kinh nghiệm (tính duy cảm) là nguồn gốc của nhận thức, ông đã kết luận tất cả những ý tưởng đến với cá nhân thông qua cảm nhận của giác quan. Khi giao tiếp với môi trường thì kích thích những giác quan, gây ra những cảm giác, trí óc tiếp nhận và tổ chức những cảm giác này thành các ý tưởng và các khái niệm. Vì vậy, không có những ý tưởng bẩm sinh trong trí óc; tất cả những ý tưởng của nó đến từ bên ngoài. Những ý tưởng được tiếp nhận thông qua cảm nhận từ giác quan được Locke gọi là những ý tưởng đơn giản. Khi những ý tưởng đơn giản được tổ chức lại thì tạo ra những ý tưởng phức tạp 36, tr.322. Đối với nhà triết học Kant (1724 1804) là người theo chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm đã tìm cách vượt qua những khó khăn của cả hai thái cực, bằng việc cho rằng chúng ta hoàn toàn nhận các cảm giác từ môi trường, từ “vật tự thân”, nhưng lại cho rằng trí óc thuộc về một bản chất như thế, nó định dạng những cảm giác này thành những ý tưởng. Trong đó ý tưởng của chúng ta là một kết quả của kiểu cơ quan suy nghĩ, thứ mà chúng ta có và được quyết định bởi bản chất của nó. Tất nhiên, chúng ta có thể đưa ý tưởng lại với nhau thành những ý tưởng lớn và phổ biến và có thể hành động như thể những điều khái quát này là đúng. Thực tế, để thỏa mãn những bản chất đạo đức của mình thì chúng ta phải hành động. Nhưng ở đây chúng ta đang đề cập tới những sự đánh giá chứ không phải những ý tưởng có thể chứng minh được 36, tr.324 325. Kant đã xem ý tưởng như là một chức năng của lý trí. Một trong những đại diện của nền triết học cổ điển Đức là Hegel với lập trường của chủ nghĩa duy tâm khách quan đã đưa ra quan điểm về ý tưởng rằng, những tiến trình của trí óc nhân loại và của tự nhiên là giống nhau. Hình thức cao nhất của tư duy là sự kết hợp hài hòa cả hai trong một sự tổng hợp đưa việc suy nghĩ lên một bước cao hơn. Trí óc con người không dừng lại cùng với các mặt đối lập mà cố gắng xóa bỏ chúng bằng việc tác động lên chúng một sự tổng hợp. Vậy thì chức năng cao nhất của trí óc là hoạt động đó khiến cho một người có thể nhìn thấy toàn bộ sự vật, nhìn thấy những mặt đối lập được hợp nhất. Ở đây, con người có khả năng đáp ứng tầm cao có thực về bản chất của mình. Suy nghĩ chuyển động từ những ý tưởng đơn giản cho đến những khái niệm phức tạp hơn, từ tính chất cá thể cho tới tính chất phong phú và đầy đủ. 36, tr.326 327. Sau cùng, S.E.Frost đã đưa ra những nhận định rất khách quan: Tất cả mọi người đều biết tư duy. Tất cả chúng ta đều có những “ý tưởng” hoặc những tư duy, chúng ta nhìn thấy thế giới xung quanh và nhớ những gì chúng ta nhìn thấy. Chúng ta đưa ra những sự suy luận từ thực tế mà chúng ta cảm nhận, rút ra kết luận và biến chúng thành nền tảng cơ sở cho hành động của chúng ta. Chúng ta đã cho rằng “con người” là sinh vật sống biết tư duy. Như vậy, sự giải thích về ý tưởng và tư duy đã có hướng chắc chắn thoát khỏi siêu nhiên. Con người đã cố gắng giải thích tư duy theo tự nhiên, như một kết quả của những tiến hóa tự nhiên và phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên 36, tr.310 311. Hai tác giả Bobbi Deporter Mike Hernacki trong các tác phẩm “Phương pháp tư duy siêu tốc” 5,“Phương pháp học tập siêu tốc” 6 và “Phương pháp ghi nhận siêu tốc” 7 đã khẳng định sáng tạo là một thuộc tính bản chất, kỹ năng phổ biến vốn có của con người, song nếu không được rèn luyện, củng cố thì sẽ mai một. Chúng ta muốn phát triển các kỹ năng sáng tạo thì phải luôn có sự tin tưởng và an toàn. Các ông cũng đã chỉ ra vai trò của môi trường sáng tạo và những quy tắc nhất định khi các chủ thể tiến hành hoạt động sáng tạo phải tuân thủ theo chúng. Đồng thời, hai tác giả còn chỉ ra phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề sáng tạo: 1) nắm rõ mục tiêu của vấn đề; 2) đưa ra các ý tưởng; 3) xem xét, lựa chọn ý tưởng phù hợp; 4) kế hoạch hành động thực thi các ý tưởng; 5) đánh giá kết quả thực hiện các ý tưởng 5, tr.185 198. Các ông khẳng định, muốn trở thành nhà tư tưởng sáng tạo, điều cần thiết là phải có trí tò mò, thích thể hiện, sẵn sàng mạo hiểm và ham muốn làm việc có hiệu quả. Dù bất luận thế nào thì khởi nguồn, tiền đề của ý tưởng sáng tạo đều xuất phát từ tri thức, kiến thức. Hai nhà sưu tập ý tưởng, Chip Health và Dan Health trong tác phẩm “Tạo ra thông điệp kết dính” 13 đã giải phẫu các ý tưởng và giải thích các phương pháp khiến cho ý tưởng mới nảy nở và trở nên hợp lý, hiệu quả hơn trong cuộc sống, bằng các nguyên tắc cơ bản: đơn giản, bất ngờ, cụ thể, tự tin, gợi cảm xúc, tích luỹ nhiều kinh nghiệm 13, tr.29 32. Các ông còn chỉ ra sáng tạo là mang tính hệ thống, để ý tưởng sáng tạo của con người luôn nảy nở và phát triển thì phải được đào tạo, huấn luyện về các kỹ năng sáng tạo. Chip Health và Dan Health còn đề cao vai trò của sự nhận biết ý tưởng. Hoàn toàn không phải cứ có tài năng sáng tạo bẩm sinh thì mới tạo ra ý tưởng vĩ đại; điều quan trọng phải nhận ra sự sáng tạo có mối quan hệ tương tác, thế giới sẽ luôn luôn có nhiều ý tưởng xuất sắc khi chúng ta là những người nhận biết xuất sắc và phải luôn nỗ lực hết mình để các ý tưởng được hiện thực hoá vào cuộc sống.
Trang 1NHÂN VĂN QUÂN SỰ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2015
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐOÀN ĐỨC KHÁNH
PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN QUÂN SỰ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS, TS Phùng Văn Thiết
2 PGS, TS Bùi Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và không trùng lặp với những công trình đã công bố
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đoàn Đức Khánh
Trang 4Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI
1.1 Ý tưởng sáng tạo và thực chất phát triển ý tưởng sáng tạo
của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 27 1.2 Tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên
cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 49
Chương 2 THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI
2.1 Thực trạng và nguyên nhân phát triển ý tưởng sáng tạo
của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân
2.2 Nhân tố tác động và yêu cầu phát triển ý tưởng sáng
tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
CỦA NGHIÊN CỨU SINH KHOA HỌC XÃ HỘI
3.1 Tiếp tục đổi mới các yếu tố cơ bản của đào tạo nhằm
tạo động lực cho phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự 119 3.2 Xây dựng môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã
3.3 Phát huy nhân tố chủ quan của nghiên cứu sinh khoa
học xã hội và nhân văn quân sự trong phát triển ý
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Tên đề tài nghiên cứu của luận án: “Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay, được tác giả trăn trở suy
nghĩ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đây là một công trình khoa học có tính mới, độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố ở trong
và ngoài nước Cùng với ý tưởng của mình và sớm có sự định hướng, trao đổi với tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học, tác giả quyết định lựa chọn đề tài này làm vấn đề nghiên cứu trong luận án, từ đó có thể đem lại những giá trị hữu ích cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo sau đại học Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số nội dung, đặc điểm và những vấn đề có tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh; phân tích làm rõ thực trạng, chỉ
ra những nhân tố tác động và các yêu cầu, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự Những vấn đề được trình bày trong luận án là sự kế thừa có chọn lọc từ các công trình nghiên cứu trước đó của tập thể và cá nhân các nhà khoa học có liên quan đến đề tài luận án
2 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong xã hội thông tin hiện nay là trình độ tư duy, tri thức, tư tưởng của con người đang có những bước phát triển mạnh mẽ, theo hướng "tổ chức, quản lý, sáng tạo và đổi mới" dựa trên cơ sở của những ý tưởng mới lạ, độc đáo, hữu ích Theo đó, vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn đã và đang trở thành nhân tố chi phối, điều khiển và tạo ra động lực thúc đẩy quá trình phát triển đời sống con người trong xã hội hiện đại Bởi vì “ý tưởng vừa là nền tảng phát triển vừa là yếu
tố sản xuất” [112, tr.10], hầu hết các sản phẩm vật chất và tinh thần được làm ra trong thời đại ngày nay đều có xu hướng kết tinh, hội tụ trong đó hàm lượng tri thức, trí tuệ, chất xám ngày càng cao, vì thế vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo ngày càng được coi trọng và phát huy một cách tối đa
Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự có vai trò quan trọng tạo ra chất lượng mới về tư duy, trí tuệ, khả năng sáng tạo trong hoạt động lý luận và thực tiễn chính trị quân sự của người học ở hiện tại và tương lai Từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu
Trang 6cầu, nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ; làm tăng chất lượng nguồn nhân lực bậc cao cho Đảng, Nhà nước về khoa học xã hội và nhân văn quân sự, chuyên sâu về khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối quân sự của Đảng Nhận thức rõ về vấn đề này, các chủ thể phát triển thường xuyên quan tâm, coi trọng sự phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh trong quá trình học tập, nghiên cứu lý luận và đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ
Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn, phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập về hàm lượng khoa học, tính mới, độc đáo và hữu ích còn chưa đậm độ, sự phá cách, tính đột phá chưa rõ ràng; việc tìm tòi, khám phá ra ý tưởng mới về hướng nghiên cứu, tiếp cận mới hoặc các quan điểm, giải pháp, cách diễn dịch mới còn hạn chế; vẫn còn hiện tượng trùng lặp khá rõ về nội dung, hình thức kết cấu trong các sản phẩm, công trình khoa học của nghiên cứu sinh làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục đặt ra cho khoa học xã hội và nhân văn quân
sự cần làm sáng tỏ trên hai phương diện lý luận và thực tiễn về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, sức mạnh, phương thức bảo vệ Tổ quốc; nội dung xây dựng nền quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; quan điểm, phương châm xây dựng Quân đội về chính trị; bổ sung, phát triển, hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội; những vấn đề chính trị quân đội nước ngoài; đối ngoại quốc phòng, quân sự trong tình hình mới
Vì thế, nghiên cứu làm rõ sự phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự làm cơ sở cho xây dựng đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ tư duy lý luận cùng với khả năng vận dụng, sáng tạo tri thức mới, áp dụng vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, giáo dục bộ đội; giải quyết đúng đắn, kịp thời đòi hỏi từ thực tiễn hoạt động chính trị quân sự và cuộc sống; góp phần vào xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững mạnh về chính trị trong tình hình mới là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết, được tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu trong khuôn khổ luận án tiến sĩ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 73 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Góp phần gia tăng hiệu quả phát triển ý tưởng
sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng yêu cầu nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo tiến sĩ ngành khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các vấn đề về ý tưởng, ý tưởng sáng tạo; lập luận, phân tích, khái
quát về thực chất và tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
- Đánh giá thực trạng, nguyên nhân, chỉ ra yếu tố tác động, xác định các yêu cầu trong trong phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát huy nhân tố tích cực và khắc phục những hạn chế, bất cập trong phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh
khoa học xã hội và nhân văn quân sự
* Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến phát triển ý tưởng
sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học; đề tài sử dụng các tài liệu, số liệu điều tra, khảo sát chủ yếu là từ năm 2008 đến nay (chỉ tập trung vào nghiên cứu sinh là cán bộ,
sĩ quan quân đội), không nghiên cứu, tìm hiểu nghiên cứu sinh dân sự
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận án: là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương về giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; về xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng và phát huy nguồn lực con người, các công trình khoa học có liên quan
* Cơ sở thực tiễn của luận án: là tình hình thực tiễn phát triển ý tưởng
sáng tạo, các kết quả điều tra khảo sát của tác giả và những số liệu báo cáo, tổng kết của các cơ quan đơn vị có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu: Đề tài luận án vận dụng hệ thống phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; hệ thống phương pháp nghiên cứu về tư duy (phức hợp, đột phá, tích cực, độc lập…); phương pháp luận nghiên cứu khoa học và các phương pháp khoa học liên ngành; ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống - cấu trúc, lô gích - lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học, phỏng vấn và xin ý kiến chuyên gia,v.v
6 Những đóng góp mới của luận án
Bổ sung, làm rõ đặc trưng ý tưởng và ý tưởng sáng tạo, xây dựng khái niệm ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh; chỉ ra đặc điểm và tính quy luật phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
Đánh giá thực trạng, làm rõ nhân tố tác động, chỉ ra các yêu cầu có tính nguyên tắc; đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ nhằm phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận: Với kết quả nghiên cứu của luận án góp phần giải quyết
làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu
sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
* Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu luận án cung cấp cơ sở khoa học
học trong việc thực hiện các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay; kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động giáo dục
- đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo sau đại học ở các học viện, nhà
trường trong và ngoài quân đội
8 Kết cấu của luận án
Kết cấu của công trình gồm: phần mở đầu; tổng quan về vấn đề nghiên cứu; nội dung bố cục thành 3 chương (7 tiết); kết luận; các công trình khoa học đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 9TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến phát triển ý tưởng sáng tạo
Tác giả S.E.Frost với tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của triết học” [36], đã
đề cập tới ý tưởng và tư duy, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các quan điểm của các nhà triết học thời cổ, trung đại đến cận đại như: Heraclitus, Socrates, Platon, Aristotle, Glile, Descartes, Spinoza, Locke, Kant, Hegel, Comte, Mill, James, Dewey S.E.Frost đặt vấn đề: chúng ta có những ý tưởng từ đâu, bản chất của chúng
là gì? Bằng cách nào có những kết luận và dựa vào đó để hành động? Căn cứ vào đâu có thể biết hành động này sẽ mang lại hạnh phúc còn hành động khác mang tới bất hạnh? Phải chăng chúng được sinh ra cùng với chúng ta và chúng có ý thức về thời gian hoặc phải chăng chúng ta có chúng từ những cảm nhận? Hay do các vị thần phát hiện ra chúng giúp chúng ta? Những quy luật tư duy là gì? Các nhà tư tưởng của mỗi thời đại nghiên cứu tư duy như thế nào? Tất cả những điều đó được S.E.Frost khái quát lại tư tưởng của các nhà triết học bàn về ý tưởng:
Triết gia Hy Lạp, Platon (427 - 347 TCN) người đầu tiên trong lịch sử triết học bàn về ý tưởng, coi đó là một cái gì bất biến, vĩnh cửu, nguyên mẫu Nhưng
do xuất phát từ quan điểm duy tâm khách quan, Platon cho rằng: con người phải vượt qua những giác quan để đến với những ý tưởng, thứ không bắt nguồn từ cảm nhận và không phụ thuộc vào cảm nhận Ông lý giải linh hồn đến với thế giới và mang theo cùng với nó những ý tưởng có thực Những thứ này đã được tồn tại trong nó trước khi được sinh ra Tri thức thực có được khi những ý tưởng này được nhớ lại và đặt trước ý thức Đây là “tri thức nhận thức” khi được phân biệt với tri thức giác quan, thứ thực sự không phải là tri thức [36, tr.314]
Với sự khởi đầu của các quan điểm khoa học của thời kỳ Phục hưng, nhà triết học người Ý, Galieo (1546 - 1642) đại diện cho chủ nghĩa duy vật cơ giới đã cho rằng: “Ý tưởng của chúng ta nên dựa vào việc quan sát hoặc thử nghiệm Nhưng họ cũng nên thêm vào những cảm nhận, hiểu biết Họ nên xây dựng các ý tưởng nằm ngoài việc quan sát, thử nghiệm và suy nghĩ” [36, tr.320]
Khi đề cập đến ý tưởng, triết gia người Pháp, Descartes (1596 - 1650), với lập trường nhị nguyên luận đã thiết lập một nguyên tắc cơ bản về tất cả lối suy
Trang 10nghĩ, thứ mà tất cả những ý tưởng đúng phải là rõ ràng và riêng biệt Trí óc có những quy phạm về tính rõ ràng và riêng biệt của nó, những quy phạm được mang lại cho trí óc nhờ vào bản chất của nó Descartes đã lập luận tri thức đến với con người không phải bởi việc tiếp nhận cảm giác mà là thông qua sự lý giải thận trọng từ những tiền đề căn bản; mỗi một ý tưởng có thể được chấp nhận nếu
nó là rõ ràng và riêng biệt sau khi nó đã được lý giải [36, tr.321]
Nhà triết học duy vật người Hà Lan, Spinoza (1632 - 1677), đưa ra lập luận: tri thức đầy đủ, những ý tưởng rõ ràng và riêng biệt, tri thức hợp lý là kết quả từ việc lý giải những sự vật đã được biết đến; tri thức trực giác - loại tri thức tốt nhất và mang tới một sự thật không thể bị nghi ngờ Ở đây không thể có một sai lầm nào[36, tr.322]; là người theo chủ nghĩa duy lý, Spinoza đã đề cao vai trò của trí tuệ và cho rằng trực giác là cơ sở sâu sắc nhất của năng lực sáng tạo tinh thần con người Nếu như vai trò của Descartes là ở chỗ đã biến quan niệm về trực giác thần bí phi lí tính thành trực giác trí tuệ thông qua mối liên hệ tất yếu với nhận thức lôgic, còn trực giác theo Spinoza mặc dù vẫn là hình thức nhận thức cao nhất nhưng đó nguồn gốc và gắn liền với diễn dịch
Cùng đề cập đến ý tưởng, nhà triết học duy vật người Anh, John Locke (1632 -1704), với sự đề cao kinh nghiệm (tính duy cảm) là nguồn gốc của nhận thức, ông đã kết luận tất cả những ý tưởng đến với cá nhân thông qua cảm nhận của giác quan Khi giao tiếp với môi trường thì kích thích những giác quan, gây ra những cảm giác, trí óc tiếp nhận và tổ chức những cảm giác này thành các ý tưởng
và các khái niệm Vì vậy, không có những ý tưởng bẩm sinh trong trí óc; tất cả những ý tưởng của nó đến từ bên ngoài Những ý tưởng được tiếp nhận thông qua cảm nhận từ giác quan được Locke gọi là những ý tưởng đơn giản Khi những ý tưởng đơn giản được tổ chức lại thì tạo ra những ý tưởng phức tạp [36, tr.322]
Đối với nhà triết học Kant (1724 - 1804) là người theo chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm đã tìm cách vượt qua những khó khăn của cả hai thái cực, bằng việc cho rằng chúng ta hoàn toàn nhận các cảm giác từ môi trường, từ “vật tự thân”, nhưng lại cho rằng trí óc thuộc về một bản chất như thế, nó định dạng những cảm giác này thành những ý tưởng Trong đó ý tưởng của chúng ta là một kết quả của kiểu cơ quan suy nghĩ, thứ mà chúng ta có và được quyết định bởi bản chất của
nó Tất nhiên, chúng ta có thể đưa ý tưởng lại với nhau thành những ý tưởng lớn
Trang 11và phổ biến và có thể hành động như thể những điều khái quát này là đúng Thực
tế, để thỏa mãn những bản chất đạo đức của mình thì chúng ta phải hành động Nhưng ở đây chúng ta đang đề cập tới những sự đánh giá chứ không phải những
ý tưởng có thể chứng minh được [36, tr.324 - 325] Kant đã xem ý tưởng như là một chức năng của lý trí
Một trong những đại diện của nền triết học cổ điển Đức là Hegel với lập trường của chủ nghĩa duy tâm khách quan đã đưa ra quan điểm về ý tưởng rằng, những tiến trình của trí óc nhân loại và của tự nhiên là giống nhau Hình thức cao nhất của tư duy là sự kết hợp hài hòa cả hai trong một sự tổng hợp đưa việc suy nghĩ lên một bước cao hơn Trí óc con người không dừng lại cùng với các mặt đối lập mà cố gắng xóa bỏ chúng bằng việc tác động lên chúng một sự tổng hợp Vậy thì chức năng cao nhất của trí óc là hoạt động đó khiến cho một người có thể nhìn thấy toàn bộ sự vật, nhìn thấy những mặt đối lập được hợp nhất Ở đây, con người
có khả năng đáp ứng tầm cao có thực về bản chất của mình Suy nghĩ chuyển động từ những ý tưởng đơn giản cho đến những khái niệm phức tạp hơn, từ tính chất cá thể cho tới tính chất phong phú và đầy đủ [36, tr.326 - 327]
Sau cùng, S.E.Frost đã đưa ra những nhận định rất khách quan: Tất cả mọi người đều biết tư duy Tất cả chúng ta đều có những “ý tưởng” hoặc những tư duy, chúng ta nhìn thấy thế giới xung quanh và nhớ những gì chúng ta nhìn thấy Chúng ta đưa ra những sự suy luận từ thực tế mà chúng ta cảm nhận, rút ra kết luận và biến chúng thành nền tảng cơ sở cho hành động của chúng ta Chúng ta
đã cho rằng “con người” là sinh vật sống biết tư duy Như vậy, sự giải thích về ý tưởng và tư duy đã có hướng chắc chắn thoát khỏi siêu nhiên Con người đã cố gắng giải thích tư duy theo tự nhiên, như một kết quả của những tiến hóa tự nhiên
và phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên [36, tr.310 - 311]
Hai tác giả Bobbi Deporter & Mike Hernacki trong các tác phẩm “Phương pháp tư duy siêu tốc” [5],“Phương pháp học tập siêu tốc” [6] và “Phương pháp ghi nhận siêu tốc” [7] đã khẳng định sáng tạo là một thuộc tính bản chất, kỹ năng
phổ biến vốn có của con người, song nếu không được rèn luyện, củng cố thì sẽ mai một Chúng ta muốn phát triển các kỹ năng sáng tạo thì phải luôn có sự tin tưởng và an toàn Các ông cũng đã chỉ ra vai trò của môi trường sáng tạo và những quy tắc nhất định khi các chủ thể tiến hành hoạt động sáng tạo phải tuân
Trang 12thủ theo chúng Đồng thời, hai tác giả còn chỉ ra phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề sáng tạo: 1) nắm rõ mục tiêu của vấn đề; 2) đưa ra các ý tưởng; 3) xem xét, lựa chọn ý tưởng phù hợp; 4) kế hoạch hành động thực thi các ý tưởng; 5) đánh giá kết quả thực hiện các ý tưởng [5, tr.185 - 198] Các ông khẳng định, muốn trở thành nhà tư tưởng sáng tạo, điều cần thiết là phải có trí tò mò, thích thể hiện, sẵn sàng mạo hiểm và ham muốn làm việc có hiệu quả Dù bất luận thế nào thì khởi nguồn, tiền đề của ý tưởng sáng tạo đều xuất phát từ tri thức, kiến thức
Hai nhà sưu tập ý tưởng, Chip Health và Dan Health trong tác phẩm “Tạo
ra thông điệp kết dính” [13] đã giải phẫu các ý tưởng và giải thích các phương
pháp khiến cho ý tưởng mới nảy nở và trở nên hợp lý, hiệu quả hơn trong cuộc sống, bằng các nguyên tắc cơ bản: đơn giản, bất ngờ, cụ thể, tự tin, gợi cảm xúc, tích luỹ nhiều kinh nghiệm [13, tr.29 - 32] Các ông còn chỉ ra sáng tạo là mang tính hệ thống, để ý tưởng sáng tạo của con người luôn nảy nở và phát triển thì phải được đào tạo, huấn luyện về các kỹ năng sáng tạo Chip Health và Dan Health còn đề cao vai trò của sự nhận biết ý tưởng Hoàn toàn không phải cứ "có tài năng sáng tạo bẩm sinh thì mới tạo ra ý tưởng vĩ đại"; điều quan trọng phải nhận ra sự sáng tạo có mối quan hệ tương tác, thế giới sẽ luôn luôn có nhiều ý tưởng xuất sắc khi chúng ta là những người nhận biết xuất sắc và phải luôn nỗ lực hết mình để các ý tưởng được hiện thực hoá vào cuộc sống
Tác giả Michael Michalko trong tác phẩm “Đột phá sức sáng tạo” [66], đã
chỉ ra phương pháp tạo ra ý tưởng Trên cơ sở, nghiên cứu, phân tích các thiên tài
tư duy sáng tạo trong lịch sử nhân loại từ Leonardo da Vinci đến Walt Disney, Pablo Picasso đến Thomas Edison, nhà bác học Charles Darwin đến thiên tài Martha Graham Michael đã giải thích quá trình phát triển ý tưởng của họ với các bước đơn giản, dễ theo dõi, bất cứ ai cũng có thể áp dụng để trở nên sáng tạo hơn Ông đưa ra một số chiến lược tư duy sáng tạo và tổ chức lại tư duy trên cơ sở các chiến lược khởi phát ý tưởng Mỗi chiến lược tư duy sáng tạo gồm nhiều kỹ thuật thực hành và chỉ dẫn chi tiết về cách thức áp dụng chúng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Theo Michael cần thay đổi cách thức xem xét, giải quyết các vấn đề của cuộc sống, đưa ra hệ thống các giải pháp cải tiến cụ thể cho những thách thức
mà con người đang từng ngày phải đối mặt
Ronald Gross trong tác phẩm "Học tập đỉnh cao" [89] đã cung cấp những
phương pháp, cách thức lập kế hoạch “học tập suốt đời” nhằm thành công trong
Trang 13học tập và trong sự nghiệp Ông đưa ra những chỉ dẫn thiết thực, hữu ích về xây dựng định hướng phát triển của mỗi cá nhân; mang lại những cái nhìn mới và cách nghĩ mới về việc học Ronald Gross đã chú trọng phát triển óc phân tích, tư duy sáng tạo; cần học cách sử dụng toàn bộ khả năng của não bộ để tạo dựng ý tưởng thông qua việc học tập Với một số chiến lược: quản lý tốt hơn vấn đề đang tìm hiểu; đặt những câu hỏi sâu sắc và sáng suốt xuất phát từ kinh nghiệm của bản thân; khơi dậy dòng ý tưởng sáng tạo nhờ biện pháp tư duy dựa trên khái niệm như các liên kết hình thái học, mối liên hệ đa chiều; sắp xếp toàn bộ các khả năng của não bộ (tưởng tượng, trực giác, cảm giác) theo phương pháp kết hợp Đặc biệt, ông đã nhấn mạnh sự loé sáng ý tưởng bằng tưởng tượng "sáng tạo thực
sự có nghĩa là cho phép não bộ tạo ra càng nhiều ý tưởng" [89, tr.275 - 276]
Tác giả Thomas Amstrong trong tác phẩm “7 loại hình thông minh” [94],
đã có những đóng góp xuất sắc trong nghiên cứu tư duy, trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người, chúng ta không nên quan niệm một cách định kiến, hạn hẹp về trí thông minh Ông chỉ ra cách tiếp cận trí thông minh với các góc nhìn mới, đa chiều; ai cũng có trí thông minh ở dạng khởi phát hay tiềm ẩn hoặc không được khai thác, phát huy và mất đi vì lý do nào đó Đồng thời, ông đưa ra chỉ dẫn muốn khám phá, phát triển các ý tưởng thì phải rèn luyện, trau dồi quá trình tư duy, tăng cường quan sát, rèn luyện trí tưởng tượng, liên tưởng; tạo ra sự thông thái, nhạy cảm của hệ thống thần kinh; thường xuyên ghi chép, đồ họa, lập biểu đồ, sử dụng nhật ký ý tưởng để lưu lại những suy nghĩ, ý nghĩ nảy sinh từ cuộc sống hàng ngày [94, tr.93] Do đó, phải thường xuyên luyện tập và giữ lấy những ý tưởng nảy sinh trong quá trình đó, học cách khái quát những ý tưởng, loại bỏ những khuôn mẫu nhận thức cũ, lỗi thời, tiến đến những cách thức nhận thức mới hơn, sáng tạo hơn phù hợp với cuộc sống hiện đại
Tác giả Tony Buzan nhà phát minh ra những sơ đồ tư duy, với các tác
phẩm của ông: “10 cách đánh thức tư duy sáng tạo" [100],"Sơ đồ tư duy" [101]
và “Hướng dẫn sử dụng bản đồ tư duy” [102], “Sách hướng dẫn kỹ năng học tập theo phương pháp Buzan” [103], đã chỉ ra cách thức giúp con người phát huy khả
năng sáng tạo của tư duy, khám phá những ý tưởng mới và vẽ chúng bằng bản đồ Ông chứng minh rằng, con người có thể điều khiển bản chất cũng như sự phát
Trang 14triển của quá trình tư duy, xét về lý thuyết, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn; cần xây dựng các kỹ năng để nâng cao trí tuệ, trí thông minh Theo đó, muốn
ý tưởng sáng tạo thăng hoa, phát triển, con người luôn có ước mơ, khát vọng trong sáng, kiên trì rèn luyện, nỗ lực học tập, có quyết tâm, mạo hiểm trong cuộc sống Đặc biệt, phải có óc liên tưởng, tưởng tượng, sự thông suốt là điều kiện nảy sinh ý tưởng mới và giải phóng não bộ Ông còn chỉ rõ phương cách và những yếu tố cấu thành sức sáng tạo, chính là hiệu suất, sức mạnh dung lượng, tốc độ trong sáng tạo; nõi rõ kỹ thuật lập sơ đồ tư duy, kết hợp cùng chương trình Bost, giúp người học ở mọi trình độ có thể tiếp cận phương pháp học tập tích cực, ông phân tích các trở ngại đối với việc học tập, hướng dẫn cách nạp năng lượng tối đa cho trí nhớ Thông qua việc thực hành, chúng ta tự tin hơn, đồng thời phát huy tốt năng lực học tập, tạo dựng được nhiều ý tưởng mới
Tác giả Virender Kapoor trong tác phẩm “PQ - Chỉ Số Đam Mê” [115],
đã chỉ ra không phải chỉ số thông minh (Intelligence Quotient - IQ) mà chính là chỉ số đam mê (Passion Quotient - PQ) mới tạo sức mạnh quyết định thành công của con người “Chỉ số đam mê” là một thuật ngữ mới mà Virender Kapoor sáng tạo ra như là một cách nói mới về những gì chúng ta hay dùng để chỉ sự nhiệt huyết hay ngọn lửa trong lòng Niềm đam mê của chúng ta là gì và nhận biết như thế nào về những thứ mình thích và không thích, chúng ta đã biết cách sử dụng niềm đam mê của mình như những người thành công chưa? Với PQ - Chỉ Số Đam Mê, tác giả đã loại bỏ ảo tưởng rằng bằng cấp và chỉ số IQ cao mới là những động lực thúc đẩy để đạt được thành công Chỉ số IQ giống như một đoạn mạch AND vững chắc rất khó cải thiện Còn chỉ số PQ là chất lửa trong mỗi con người, chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh, phát triển làm thăng hoa sự đam mê học tập, nghiên cứu và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Tác giả Michael J.Geblb trong sách “Khám phá thiên tài trong bạn” [65],
gợi cho chúng ta những ý tưởng sáng tạo thông qua tìm hiểu các thiên tài trong lịch sử, ông đã chỉ ra, não bộ con người là một siêu máy tính với cấu trúc hơn 100
tỉ nơ ron thần kinh có năng lực tiếp thu cao, chứa đựng khả năng ghi nhớ, học tập
và sáng tạo vô hạn Do đó, tất cả chúng ta đều sinh ra với tiềm năng trở thành thiên tài, để tiềm năng này được bộc lộ trọn vẹn, bản thân mỗi người phải tìm cách phát huy nó Nhưng quan trọng hơn, những nguyên lý tư duy tiến bộ là tinh
Trang 15thần cầu thị, ham muốn phát triển năng lực tri giác, dấn thân khai phá, thay đổi thế giới quan hay trau dồi trí tuệ xúc cảm của Platon, Christopher, Copernicus, Shakespears, Thomas Jefferson, Charles Darwin, Mahatma Gandhi, Albert Einstein,…sẽ giúp chúng ta rèn luyện trí tuệ và không ngừng hoàn thiện bản thân
Tập thể tác giả Helga Nowotny - Peter Scott - Michael Gibbons với tác
phẩm “Tư duy lại khoa học” [40], đã đưa ra ý tưởng, cách nghĩ mới và có những
kiến giải sâu sắc về tiến đồ phát triển của khoa học trong giai đoạn hiện nay, khi thực tế tự nhiên, xã hội - các đối tượng nhận thức của chúng ta - đã và đang bộc
lộ các đặc trưng phức tạp, hỗn độn và bất định, tầm nhìn và năng lực nhận thức của chúng ta còn vướng cản trong lối tư duy cơ giới, với niềm tin vào các quy luật nhân quả giản đơn, tuyến tính Các tác giả nói, do tri thức được bối cảnh hóa, rất có thể không còn một khoa học độc lập, tự quản, sản xuất ra những tri thức khách quan, độc lập, thuần khiết, một cái lõi tri thức làm nòng cốt của tri thức luận Bối cảnh hóa cũng có nghĩa là các bối cảnh khác nhau, tức là xã hội, tăng cường tác động đối đáp lại khoa học, tham gia tích cực vào sản xuất tri thức
Tiêu chí của những sản phẩm tri thức được tạo ra sẽ không chỉ là những tri thức đúng, những “chân lý khách quan”, mà còn phải kể đến những “tri thức tin cậy được”, những “tri thức thiết thực về mặt xã hội” (socially robust knowledge) Các thiết chế sản xuất tri thức, các trường đại học, các phòng nghiên cứu khoa học cũng có nhiều thay đổi theo yêu cầu của bối cảnh hóa Xã hội tham gia tích cực vào việc sản xuất tri thức, có nghĩa việc làm khoa học, sáng tạo tri thức, không còn bó hẹp vào một số chuyên gia nghiên cứu trong các trường đại học và phòng nghiên cứu, mà mở rộng ngày càng nhiều cho “công chúng” Việc sản xuất tri thức được “công chúng hóa” dần, có thể tiến đến một hình thức thảo luận dân chủ rộng rãi Công chúng hóa việc sản xuất tri thức cũng sẽ đi kèm với một sự phân phối mới, rộng khắp hơn các “năng lực chuyên môn” trong xã hội
Các tác giả còn đưa đến cách nhìn, một cách hiểu mới về khoa học và khi
ta nói “tư duy lại khoa học” thì điều đó không có nghĩa là nói về một khoa học hiện hữu “được tư duy lại” Khoa học trong cách nhìn mới sẽ không còn là cái khoa học vốn có với quyền uy tối thượng sản xuất, ban phát các chân lý khách quan, định đoạt tính đúng sai của nhận thức và lý giải của con người, mà là khoa học trong tương lai, khoa học sẽ được phát triển trong sự tương tác thường xuyên với các bối cảnh của tự nhiên và xã hội, các bối cảnh luôn luôn trong tình trạng bị
Trang 16tác động của những xáo trộn ngẫu nhiên, bất định, khó dự đoán trước Khoa học mới, hệ thống sản xuất tri thức sẽ trong những mối tương tác qua lại phức tạp, phi tuyến, trong những trạng thái xa cân bằng, không ổn định Thông qua các tiến trình như vậy, bằng các khả năng học và thích nghi có thể đạt đến những xuất hiện, những hợp trội với những chất lượng mới cho cả khoa học và xã hội
Hai tác giả Gordon Mace & Francois Petry trong tác phẩm “Cẩm nang xây
dựng dự án nghiên cứu trong khoa học xã hội” [38], đã đưa ra những ý tưởng mới, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, các kiến thức nền tảng
của tiến trình phương pháp luận được trình bày, kiến giải giúp tổ chức quá trình
tư duy, phát huy tính tự chủ, khả năng phân tích, tổng hợp trong nghiên cứu Các ông đưa ra các giai đoạn, các khâu, các bước nghiên cứu:
1) lựa chọn đề tài nghiên cứu và xây dựng thư mục tham khảo: một số tiêu
chí cần tôn trọng khi chọn đề tài; xây dựng và trình bày thư mục tham khảo của
dự án nghiên cứu; cách thức trình bày thư mục tham khảo 2) tại sao phải xác
định một vấn đề nghiên cứu? khu biệt một vấn đề nghiên cứu tổng quát; nhận diện những yếu tố của vấn đề; phát biểu câu hỏi tổng quát và chọn lựa đề tài
nghiên cứu 3) là đặt giả thuyết: thế nào là một giả thuyết; vai trò, đăc trưng, cách
kiểm chứng giả thuyết 4) xây dựng khung phân tích: tại sao phải xây dựng khung
phân tích; từ khái niệm đến biến số; phân biệt biến số với đơn vị phân tích; mối quan hệ lôgíc giữa các biến số; từ biến số đến chỉ báo; cơ sở lý luận của việc lựa
chọn biến số và chỉ báo 5) chọn lựa chiến lược kiểm chứng giả thuyết: đâu là bản
chất và vai trò của chiến lược kiểm chứng giả thuyết; có những loại chiến lược kiểm chứng nào; tính hiệu lực của bằng chứng; nghiên cứu tương quan hay
nghiên cứu trường hợp 6) chọn lựa kỹ thuật thu thập thông tin: thu thập loại
thông tin nào; sử dụng kỹ thuật để thu thập; những phương thức sử dụng các kỹ
thuật thu thập thông tin; tiêu chí đánh giá các kỹ thuật thu thập thông tin 7) xử lý
dữ liệu: sắp xếp dữ liệu thông tin như thế nào; phân tích dữ liệu; cần làm rõ
những điều gì đối với các phương thức sử dụng của công cụ phân tích 8) phát
biểu các kết luận: các vấn đề văn hóa, đạo đức trong nghiên cứu khoa học xã hội
2 Những công trình khoa học tiêu biểu trong nước nghiên cứu về phát triển ý tưởng sáng tạo
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia “Giáo trình triết học Mác - Lênin” [46] đã khái quát, làm rõ quan điểm của các nhà sáng lập ra chủ
Trang 17nghĩa Mác - Lênin khi đề cập đến ý tưởng, tư duy, nhận thức: Ý tưởng liên quan chặt chẽ với ý thức, chính là ở sự phản ánh năng động, sáng tạo của ý thức Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có khả năng phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức con người có khả năng biến đổi hình ảnh (cảm tính và lý tính) của sự vật trong đầu óc của mình, tạo ra mô hình mới để từ đó biến đổi sự vật trong hoạt động thực tiễn Ý thức là sự phản ánh sáng tạo lại hiện thực, theo nhu cầu thực tiễn xã hội Giữa ý tưởng, ý thức, nhận thức, thực tiễn có mối quan hệ biện chứng vừa quy định, dàng buộc vừa nương tựa nhau
Theo triết học Mác - Lênin, khi đề cập đến ý thức là bao hàm về nguồn gốc
tự nhiên (bộ óc, giác quan, hệ thần kinh), nguồn gốc xã hội (lao động, ngôn ngữ, quan hệ); về bản chất (sự phản ánh năng động sáng tạo) “Phương thức tồn tại của
ý thức và của một cái gì đó đối với ý thức, đó là tri thức Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chứng nào ý thức biết cái đó Tri thức là quan hệ có tính chất đối tượng duy nhất của ý thức”
[64, tr.236], trong đó tính sáng tạo của ý thức được thể hiện rất phong phú Trên
cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai (phản ánh vượt trước), có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học trừu tượng, khái quát cao
Quá trình ý thức là quá trình thống nhất của các mặt cơ bản: Một là, trao
đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này mang tính chất
hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin Hai Là, mô hình hoá đối
tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là quá trình "sáng tác lại" hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các đối tượng vật chất thành các
ý tưởng tinh thần phi vật chất Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách
quan, tức quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái
quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các
dạng vật chất ngoài hiện thực Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình Điều đó, càng nói lên tính năng động sáng tạo của
ý thức [46, tr.199 - 202]
Trang 18Trong ý tưởng cơ cấu hợp lý của nó là một hình thức của tư duy, các loại khái niệm có ý nghĩa đặc biệt liên hợp cả những kiến thức về thực tế hiện tại và mục tiêu chủ quan, với mục tiêu chuyển đổi của nó Tính đặc thù của ý tưởng là khả năng xác định, đặc điểm quan trọng nhất của các quá trình khách quan tạo ra một tổng thể, hình ảnh chuẩn mực của các đối tượng trong nhận thức và sáng tạo; là sự kết hợp các khía cạnh lý thuyết và thực tế của mối quan hệ của con người với thế giới Ý tưởng
là cơ sở của một quá trình sáng tạo của con người Ý tưởng có thể đúng hoặc sai Tiêu chuẩn của chân lý là ý tưởng của thực tiễn xã hội và lịch sử
Giữa ý thức, nhận thức, tư duy, ý tưởng, thực tiễn luôn có mối quan hệ biện chứng, “Nhận thức là quá trình hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức, trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Nhờ có nhận thức, con người mới có ý thức về thế giới; ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới Thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài độc lập với ý thức của con người, tác động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức” [46, tr.344]
Quá trình nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và trở về với thực tiễn Ph.Ăngghen đã viết “Cái mà tư duy của chúng ta có thể nhận thức được, là căn cứ cho chúng ta thấy tư duy đã nhận thức và hàng ngày đang nhận thức Và như thế là đủ, cả về mặt lượng lẫn về chất” [1, tr.732] Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức.“Chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới
tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cách cải biến tự nhiên” [1, tr.720]; cần quán triệt: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” [52, tr.167]
Nhóm nghiên cứu của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia
trong sách“Tư duy phát triển hiện đại: Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn”
[112], đã giới thiệu những ý tưởng về phát triển của tác giả Gerald M Meier trong thời đại toàn cầu hóa và khi vai trò của kinh tế tri thức ngày càng tăng, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trong đó tri thức là sức mạnh nòng cốt của lực lượng sản xuất mới Theo đó, những ý tưởng là mối quan tâm hàng đầu,
Trang 19là những hàng hóa kinh tế cực kỳ quan trọng, trong một thế giới với những hạn chế vật chất, chính sự phát hiện ra các ý tưởng lớn, cùng với sự phát triển hàng triệu ý tưởng nhỏ sẽ khiến cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững Các ý tưởng là lời chỉ dẫn cho phép chúng ta sử dụng những nguồn lực vật chất hạn chế luôn hiệu quả hơn Mục đích cuối cùng là làm cho các ý tưởng thích hợp về sự phát triển được tiếp thu và thực thi, “việc thực hiện được ý tưởng là điều căn bản để nâng cao năng suất tổng nhân tố”, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế Với ý nghĩa sâu sắc, những ý tưởng khoa học còn có thể thay đổi những giá trị của một xã hội và có thể hỗ trợ cho quá trình hiện đại hóa [112, tr.11 - 14]
Đồng tác giả Vũ Đình cự và Trần Xuân Sầm trong tác phẩm “Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức” [14], đưa ra những đặc điểm của lực lượng sản
xuất mới hiện nay là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Vì tất cả sản phẩm lao động đều là kết quả của quá trình vật hóa sức mạnh của tri thức, đến một mức độ phát triển nhất định của nền sản xuất thì tri thức khoa học có thể trực tiếp trở thành yếu tố đầu vào của sản xuất Khoa học trong lực lượng sản xuất mới có nghĩa rộng, không chỉ bao hàm khoa học công nghệ mà còn nhiều ngành khoa học xã hội
Những tri thức kinh tế học, khoa học quản lý, tài chính, ngân hàng, tâm lý học, mỹ học, ngôn ngữ học.v.v ngày càng trở thành yếu tố quan trọng của lực lượng sản suất mới Tri thức được khẳng định là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành của nền kinh tế mới - nền kinh tế tri thức [14, tr.145 - 148] Các tác giả chỉ ra phương thức phát triển
nền kinh tế tri thức là xã hội học tập, học tập xuốt đời cho mọi người Để có tri
thức, mỗi người cần học tập thường xuyên hơn nữa, có tổ chức và dưới nhiều hình thức, mới, có thể tiếp thu và chuyển hóa tri thức chung thành kỹ năng, thành cái của mình Việc học tập suốt đời trong nền kinh tế tri thức chẳng những giúp ta vượt qua thách thức của một thế giới biến động, đang đổi thay nhanh chóng, mà còn mở ra cơ hội thích nghi, tiếp cận trong không gian và thời gian hiện đại
Tác giả Phan Dũng với bộ sách "Sáng tạo và đổi mới" gồm 7 tác phẩm:
"Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới" [16], "Thế giới bên trong con người sáng tạo" [17], "Tư duy lôgíc, biện chứng và hệ thống" [18], "Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản phần 1”[19], "Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo
Trang 20cơ bản phần 2” [20], "Các phương pháp sáng tạo" [21], "Các quy luật phát triển
hệ thống" hay (Các quy luật sáng tạo và đổi mới) [22], đưa đến cách nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn sáng tạo Theo tác giả, sáng tạo là nhu cầu mang tính tự nhiên,"Sáng tạo (creativity) là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và ích lợi" [16, tr.21]; "Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới là hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể sử dụng phương pháp dùng để thực hiện sáng tạo và đổi mới" [16, tr.92] nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
Công dụng của phương pháp luận sáng tạo và đổi mới nhằm trang bị các cách thức khác nhau trong nghiên cứu xem xét sự vật, hiện tượng; thấy được sự liên hệ, khuynh hướng, dự báo phát triển, nhận biết được sự tương đồng, thống nhất và các loại mâu thuẫn giữa các sự vật; các vấn đề nảy sinh; tăng tính nhạy bén của tư duy trong tiếp thu, đánh giá, xử lý thông tin; phát triển trí tượng tưởng; phát ra các ý tưởng; xây dựng và sử dụng các kiểu tư duy để giải quyết vấn đề sáng tạo Tác giả đề cao vai trò nền tảng của tư duy lôgíc, tư duy biện chứng và tư duy hệ thống trong việc đáp ứng và phục vụ tốt nhất với tư cách là các kiến thức
cơ sở của phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, đồng thời nhấn mạnh đến các yếu tố: tri thức, thông tin, khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng đưa đến sự thành công trong sáng tạo và đổi mới
Để có ý tưởng sáng tạo, các yếu tố xúc cảm, thói quen, tính nhạy bén, trí nhớ, tưởng tượng, liên tưởng, linh cảm (trực giác); các cấp độ của ý thức, tiềm thức và vô thức [17, tr.178 - 194] hợp thành cơ chế tác động, ảnh hưởng đến sự hình thành ý tưởng; ngoài ra sức ỳ, điều kiện, môi trường không thuận lợi sẽ là lực cản trong tư duy sáng tạo, làm ý tưởng khó nảy sinh và phát triển Vì vậy, cần coi trọng phát hiện, bồi dưỡng năng lực sáng tạo, có môi trường thích hợp, để năng lực sáng tạo của các cá nhân có thể phát triển ở mức cao nhất Theo tác giả, muốn điều khiển hành động và thế giới bên trong con người sáng tạo, phải hiểu lý thuyết và nắm chắc một số mô hình về hệ điều khiển và bị điều khiển, các mối
quan hệ tương tác, nhân quả, phản hồi giữa các hệ điều khiển sáng tạo
Tác giả Nguyễn Đình Gấm với bài viết: “Sáng tạo - phẩm chất nhân cách hàng đầu của con người trong xã hội hiện đại” [37], đã đưa ra quan điểm coi
sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có Ở một góc độ nào đó khi nói đến sáng tạo là bao hàm trong đó ý
Trang 21tưởng mới, thực hành theo cách mới, làm ra sản phẩm mới có ích lợi “Ý tưởng là mầm mống của sự sáng tạo, do đó trước tiên cần quan tâm đến các ý tưởng mới” [37, tr.60] Khi ý tưởng xuất hiện thì phải nhanh chóng lưu giữ và phát triển ý tưởng trở thành những kết quả, sản phẩm có giá trị hữu ích Đồng thời, tác giả nhấn mạnh những ý tưởng mới chỉ có giá trị khi chứa đựng những hạt nhân hợp
lý, là cơ sở, tiền đề giải quyết các vấn đề đặt ra Tố chất cá nhân, phương pháp giáo dục, môi trường xã hội là các nhân tố ảnh hưởng, quy định đến sự xuất hiện các ý tưởng mới Theo đó, cần có những cơ chế để khuyến khích, động viên các tập thể, cá nhân biến những ý tưởng sáng tạo trong khoa học, nghệ thuật, kinh doanh và hiện thực hoá trong thực tiễn
Hai tác giả Việt Phương và Thái Ninh trong tác phẩm "IQ - EQ nền tảng của sự thành công" [83] đã chỉ ra vai trò của trí thông minh và trí thông minh xúc
cảm đưa đến thành công trong cuộc sống Theo các tác giả, trí tuệ là "Năng lực học tập các tri thức mới và năng lực thích ứng với hoàn cảnh dựa vào những trải nghiệm Nó được cấu thành từ các mặt: trí nhớ, khả năng tư duy, tưởng tượng, sự tập trung, sức quan sát, sức sáng tạo "[83, tr.12] Muốn nâng cao năng lực trí tuệ cần nắm chắc đặc điểm của chúng, tăng cường rèn luyện trí nhớ; linh hoạt trong suy nghĩ, có kế hoạch học tập, nghiên cứu hợp lý; vận dụng tổng hợp phương pháp, kỹ năng tư duy Sáng tạo ra hình tượng mới trên cơ sở cải tạo những biểu tượng, ký ức trong não bộ; là quá trình tổ hợp lại, liên kết các hình tượng, đúc kết từ kinh nghiệm, trải nghiệm; rèn luyện, tập trung cao độ (hành vi, thói quen, chú tâm), sự quan sát, tính sáng tạo trong học tập Từ đó, giúp cho trí tuệ, năng lực nhận thức được biểu hiện một cách vững chắc trong các hoạt động cảm nhận, nhận biết, phán đoán đưa ra ý tưởng
Tác giả Lê Văn Quang trong tác phẩm "Phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo khoa học trong đào tạo sau đại học" [84] đã chỉ ra những yêu cầu khách quan
về chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và hiện trạng của các nhiệm vụ đó Vì vậy, đòi hỏi các lực lượng tham gia quá trình đào tạo cần tập trung mọi cố gắng tạo ra
sự chuyển biến về chất lượng; đánh giá khách quan đối với chất lượng đào tạo của các ngành khoa học; nghiên cứu, phát triển, bổ sung, đổi mới và phát huy vai trò các nhân tố trong đào tạo Quá trình nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học
về khoa học xã hội và nhân văn, cần nâng lên một trình độ mới, cao hơn hẳn trình
độ đại học đối với toàn bộ các nhân tố cơ bản của quá trình đó: nâng cao chất
Trang 22lượng đội ngũ giảng viên; đổi mới mô hình, chương trình nội dung đào tạo; phát triển phương pháp giảng dạy, trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực bậc cao cho đất nước, nhằm phục vụ tích cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và
tăng cường quốc phòng, an ninh theo yêu cầu mới [84, tr.14 - 15]
Tác giả Hoàng Chí Bảo trong tác phẩm “Dân chủ trong Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn” [4], đã chỉ ra tính phức tạp của khoa học này “Vấn đề
càng trở nên phức tạp hơn khi đối tượng - khách thể nghiên cứu là một hiện tượng văn hóa, một quan hệ con người chứ không phải hiện tượng tự nhiên trong giới tự nhiên vô cơ hoặc giới tự nhiên sinh vật Chính điều này quy định tính phức tạp của khoa học xã hội Đây là tính phức tạp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn có trong những khoa học “không chính xác” - cái phân biệt chúng với các khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ - vốn là khoa học “chính xác”, có thể thực chứng được” [4, tr.10]
Tác giả còn phân tích và lập luận: khoa học xã hội và nhân văn, một lĩnh vực khoa học rất đặc thù hướng tới tính đúng đắn, chính xác, không phải theo kiểu số học và toán học hoặc thực chứng đến từng chi tiết trong thí nghiệm Nó đúng đắn chính xác ở chỗ phát hiện ra cái chủ yếu - bản chất giữa vô số cái thứ yếu, không bản chất…Nó tìm ra các quy luật vận động gắn liền với bản chất của nó; đi tìm các quy luật chi phối sự bộc lộ các thuộc tính, đặc trưng, xu hướng và khuyng hướng vận động tiếp theo của sự vật Để làm được điều này, khoa học nghiên cứu về con người và xã hội đòi hỏi chủ thể nghiên cứu phải có được năng lực tư duy sáng tạo, phân tích - tổng hợp - khái quát và trừu tượng hóa rất cao, tiến sâu vào cái bản chất vốn khuất lấp ở bên trong các đối tượng đó Tính đúng đắn chính xác của khoa học xã hội và nhân văn trong đó có nghiên cứu lý luận là
ở chỗ vạch ra các cơ sở, những điểm tựa, những định hướng tư tưởng cho con người hành động, gợi mở tiếp tục thúc đẩy con người tự nhận thức, tự giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra
Tác giả Đào Văn Tiến khi nghiên cứu về “Phát triển năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [89]
đã cho rằng năng lực tư duy sáng tạo là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái
hiện, liên tưởng, trừu tượng hoá, khái quát, xử lý thông tin trong quá trình phản ánh và tạo ra tri thức mới về đối tượng nhằm chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người ngày càng có hiệu quả
Trang 233 Những công trình khoa học trong nước nghiên cứu về đào tạo trình
độ tiến sĩ ở các ngành khoa học trong đó có khoa học xã hội và nhân văn
Thông qua tìm hiểu, khái quát các công trình khoa học nghiên cứu về đào tạo trình độ tiến sĩ ở các ngành trong đó có khoa học xã hội và nhân văn để chúng
ta thấy được chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học và các điều kiện bảo đảm cho chúng Từ đó, nhận biết được chất lượng nghiên cứu sinh về năng lực trí tuệ,
tư duy, trình độ tri thức, khả năng sáng tạo của họ đang như thế nào
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010 -2010) và kỷ niệm 30 đào tạo sau đại học của nước ta (1976 - 2006), nhóm tác giả Nguyễn
Mạnh Cường, Nguyễn Thị Hồng Hà với tác phẩm “Nho Giáo đạo học trên đất kinh kỳ Thăng long - Hà Nội”[15], đã đưa ra nhận xét, đánh giá về đào tạo sau
đại học trong đó đề cập đến đào tạo trình độ tiến sĩ ở nước ta Với nhiều số liệu dẫn chứng về cơ sở đào tạo sau đại học trong cả nước hiện nay là 155 bao gồm 85 trường đại học và học viện, 70 viện nghiên cứu (trong số 127 cơ sở đào tạo trình
độ tiến sĩ) Đào tạo trình độ tiến sĩ, thời gian qua đã bổ sung lực lượng lớn cho đội ngũ giáo viên các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu; nhiều cán
bộ có trình độ tiến sĩ được đào tạo trong nước hiện đang giữ vị trí quan trọng trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học Nhiều công trình đề tài luận án tiến
sĩ các ngành có khả năng ứng dụng cao, góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước [15, tr.388 - 389]
Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ ra những yếu kém, bất cập về chương trình đào tạo còn nặng nề, đơn điệu, nặng tính hàn lâm, thiếu thực tiễn, còn trùng lặp, việc bổ sung chỉnh sửa, cập nhật kiến thức mới sau từng năm học hay từng học kỳ chậm được thực hiện; nội dung các chuyên đề tiến sĩ còn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, chưa đạt được hiệu quả nâng cao kiến thức chuyên ngành, cập nhật cho nghiên cứu sinh cũng như giúp cho họ giải quyết các vấn đề nghiên cứu; việc xác định đề tài, hướng nghiên cứu của nghiên cứu sinh chưa xuất phát từ yêu cầu phát triển của các ngành khoa học, tính mới và khả thi trong các công trình và khả năng thực hiện của người học còn hạn chế; việc phân công hướng dẫn nghiên cứu sinh còn chưa bảo đảm về chuyên môn sâu, am hiểu đề tài nghiên cứu cũng như khả năng định hướng dẫn dắt nghiên cứu sinh; đa số các luận án thuộc lĩnh vực kinh tế, quản lý, chính trị, tâm lý, giáo dục có những kết luận, giải pháp chung chung, không bao giờ sai nhưng cũng không có ý tưởng mới
Trang 24Trong Kỷ yếu Hội thảo của Bộ Giáo dục - Đào tạo về “Gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ trong các cơ sở đào tạo sau đại học” [10], có 53 bài
viết của các tác giả đề cập đến vấn đề này và cho rằng, đào tạo tiến sĩ và nghiên cứu khoa học là những nhiệm vụ cơ bản, quan trọng xuyên suốt ở mọi cơ sở có đào tạo trình độ tiến sĩ Xét về bản chất đào tạo trình độ tiến sĩ là hướng đến mục tiêu giúp cho người học tự hình thành, nâng cao năng lực tự phát hiện, giải quyết sáng tạo các vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo Năng lực này là tổng hòa của các thành tố: tri thức khoa học, kỹ năng (chuyên môn, tổ chức thực hiện), phương pháp tư duy, kinh nghiệm thực tiễn Sự hình thành và phát triển các yếu tố đó là thành quả của quá trình đào tạo phát huy tối đa vai trò của người dạy
và người học, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, thực hành nghề nghiệp với tự đào tạo, tự nghiên cứu liên tục, suốt đời [10, tr.10]
Quá trình gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo trình độ tiến sĩ trong các cơ
sở đào tạo sau đại học là tổng thể các chủ trương, nội dung, hình thức, biện pháp
của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các lực lượng tham gia vào nghiên cứu khoa học
và đào tạo trình độ tiến sĩ ở các cơ sở đó và được thực hiện thông qua các hoạt động xây dựng chương trình nội dung, phương pháp đào tạo; nghiên cứu đề tài, biên soạn sách, giáo trình, tài liệu phục vụ đào tạo trình độ tiến sĩ; chất khoa học trong quy trình giao đề tài luận án, người hướng dẫn nghiên cứu sinh; trong tổ
chức đánh giá luận án tiến sĩ các cấp
Trong các sách: Những vấn đề cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị quân sự [41]; Đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị quân sự - Thành tựu và triển vọng [42]; Đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị quân sự (1986 - 2005) - Thành tựu và kinh nghiệm [43]; Nâng cao chất lượng tạo nguồn đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học xã hội nhân văn quân sự trong quân đội hiện nay [44], đã khẳng định Học viện Chính trị là một trong
những trung tâm của quốc gia về đào tạo sau đại học, góp phần làm tăng số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực bậc cao là đội ngũ nhà sư phạm, cán bộ khoa học các ngành khoa học xã hội và nhân văn cho đất nước và quân đội
Trong hơn 27 năm (1987 - 2015) thực hiện đạo tạo sau đại học, trong đó có đào tạo trình độ tiến sĩ đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có hàng trăm nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án và được công nhận học vị tiến sĩ Để không
Trang 25ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập, cần tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu đào tạo trình độ tiến sĩ, đào tạo ra những cán
bộ khoa học có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước và quân đội, có trình độ cao về lý luận và năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học,
có tư duy độc lập sáng tạo, khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề mới có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có trình độ tri thức chuyên ngành sâu, tiên phong trong sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị, đấu tranh tư tưởng lý luận, bảo
vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng
Tuy nhiên, trong đánh giá đào tạo trình độ tiến sĩ khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đã chỉ ra thiếu sót, hạn chế về trình độ chuyên sâu về chuyên ngành; năng lực độc lập nghiên cứu, sự tự tin vào khả năng bản thân của một số nghiên cứu sinh ở mức thấp; vốn sống, trải nghiệm, kiến thức, tính năng động sáng tạo, khả năng tiếp cận cái mới, giao tiếp, hòa nhập thích ứng chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn; nội dung chương trình, phương pháp đào tạo còn lạc hậu; chất lượng tuyển tuyển sinh còn bất cập; phương pháp tự học, tự nghiên cứu chưa đề cao; chất lượng giảng dạy, chất lượng đội ngũ giảng viên sau đại học chưa đồng đều,
số người giỏi chưa nhiều; chất lượng của một số luận án tiến sĩ còn hạn chế, ý nghĩa đóng góp cho thực tiễn chưa lớn; công tác quản lý sau đại học còn bất cập
trước đòi hỏi nâng cao chất lượng đào tạo
Để nâng cao chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ các ngành khoa học xã hội
và nhân văn quân sự Cần làm tốt công tác chuẩn bị bồi dưỡng nguồn và công tác tuyển sinh; thường xuyên xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; đổi mới nội dung chương trình, khoa học hóa quy trình đào tạo; đổi mới nâng cao chất lượng tự học, nâng cao chất lượng xây dựng và bảo vệ luận án; phát triển quy mô đào tạo, đổi mới công tác tổ chức quản lý, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ đào tạo sau đại học [43, tr.122 - 132]
Trong các đề tài: Đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị thời kỳ mới [110]; Phát huy tư duy độc lập của nghiên cứu sinh trong thực hiện luận án tiến sĩ ở Học viện Chính trị hiện nay [111]; Gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ ở Học viện Chính trị
Trang 26hiện nay [90] Với các góc độ khác nhau, trong các công trình đó đã đề cập đến
nhận thức, tư duy, ý tưởng, tính độc lập, sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học
xã hội và nhân văn quân sự Đồng thời, các công trên còn chỉ rõ chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ, đặc biệt trình độ tri thức, phương pháp tư duy, sức sáng tạo, những đóng góp mới trong các công trình khoa học của người học không chỉ phụ thuộc vào quá trình đào tạo mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động nghiên cứu khoa học
4 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
đã công bố và những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết
Trong một số công trình của các nhà khoa học đã luận giải sâu sắc về ý tưởng, ý tưởng sáng tạo, chỉ ra nguyên tắc, quy tắc, kỹ năng hình thành ý tưởng
Đó là những đóng góp quý báu, có ý nghĩa để tham khảo, tiếp cận các vấn đề liên quan tới ý tưởng và ý tưởng sáng tạo của con người trong xã hội và trong quân đội
Từ việc nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố, tác giả luận án nhận xét:
Thứ nhất, có nhiều cách quan niệm theo các góc độ khác nhau về ý tưởng
và ý tưởng sáng tạo trong các công trình nghiên cứu, nhưng cơ bản đều thống nhất về lý luận, phương pháp tiếp cận Sự đề cao tri thức, phương pháp, kỹ năng
tư duy, sức sáng tạo, trí tuệ, thái độ lảm nảy sinh ý tưởng; các công trình đó đề cập đến vị trí vai trò, cách thức, giải pháp, quy trình tạo ra ý tưởng, hầu như không đi sâu vào khái niệm, học thuật, chỉ đưa ra cách thức để có ý tưởng và hiện thực hóa thành sản phẩm vật chất hay tinh thần, ít chú ý đến nguồn gốc, bản chất
và mối quan hệ của ý tưởng với các yếu tố khác
Tuy nhiên, theo chúng tôi để tiếp cận ý tưởng sáng tạo một cách toàn diện, sâu sắc, cần coi trọng tri thức, tư duy, trí tuệ, tính mới, hữu ích, tính khoa học,
độc đáo của ý tưởng sáng tạo; làm rõ mối quan hệ tương liên giữa ý tưởng với ý thức, nhận thức, tư duy sáng tạo, tư duy khoa học và thực tiễn; chỉ rõ đặc trưng,
cấu trúc và xu hướng, sự hài hoà, cân đối của các yếu tố cấu thành ý tưởng sáng tạo nói chung, làm cơ sở nghiên cứu khái niệm ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự nói riêng; chỉ ra yếu tố đặc thù và có sự
so sánh, phân biệt giữa ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự với ý tưởng của nghiên cứu sinh ngành khác; làm rõ giá trị của những cống hiến, đóng góp, sáng tạo đó có ích lợi, tác dụng gì đối với xã hội và quân đội ở thời điểm hiện tại và sau khi họ nhận học vị tiến sĩ
Trang 27Thứ hai, trên thực tế, ý tưởng sáng tạo được các nhà khoa học trên thế giới
quan tâm nghiên cứu, ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và ở các lĩnh vực đời sống xã hội Còn ở nước ta, nghiên cứu về ý tưởng bước đầu đem lại hiệu quả, nhưng chủ yếu nghiên cứu trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học xã hội, được gọi chung là khoa học sáng tạo hay sáng tạo khoa học, khoa học đổi mới sáng tạo Chúng ta đã thành lập các trung tâm, câu lạc bộ
về khoa học sáng tạo, có các trang website về ý tưởng sáng tạo, có chương trình truyền hình mỗi ngày một ý tưởng, xuất bản nhiều ấn phẩm, sách báo nói về ý tưởng Được Đảng và Nhà nước quan tâm, khuyến khích, hàng năm có nhiều đơn
vị, tổ chức kinh tế - xã hội đã tổ chức các cuộc thi ý tưởng sáng tạo, thu hút được nhiều lực lượng tham gia
Song, ở nước ta việc đề cập đến ý tưởng và các công trình nghiên cứu về ý tưởng sáng tạo, chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng, triển khai, nghiên cứu cơ bản chưa được coi trọng và còn để ngỏ Do đó, nghiên cứu về ý tưởng sáng tạo, tìm ra các giải pháp phát triển ý tưởng sáng tạo cho các chủ thể trong xã hội, đặc biệt đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, quản lý giáo dục - đào tạo là rất cần thiết Các đề tài khoa học đã công bố chủ yếu nghiên cứu về tư duy sáng tạo, năng lực, phát huy tính sáng tạo, chưa có công trình khoa học nghiên cứu riêng về ý tưởng sáng tạo của con người (đối tượng được đào tạo) trong các cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ ở các học viện, nhà trường quân đội
Vì thế, phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện nay là đề tài đầu tiên nghiên cứu cơ bản về ý tưởng sáng tạo và phát triển ý tưởng sáng tạo của một đối tượng cụ thể là nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, từ đó có những đóng góp đáng kể vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội và nhân văn quân sự, nhằm góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, luôn ổn định, bền vững
Thứ ba, nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự với tư cách
là người học phải có ý tưởng mới và hiện thực hóa vào quá trình đào tạo, nghiên
cứu Đề tài được nghiên cứu trong mối quan hệ của các yếu tố cấu thành ý tưởng
sáng tạo của họ, đặt trong hệ thống động lực, trạng thái, khuynh hướng, giúp cho chúng ta nhận thức đúng về lý luận và thực tiễn đã đề cập ở trên
Trang 28Phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự vừa là hoạt động nhận thức có mục đích, chủ động cải tạo hiện thực của chủ thể, vừa bao chứa sự vận động, phát triển tự thân của người học đưa ra cống hiến, đóng góp mới về lý luận Các chủ thể trên cơ sở nhận thức đúng quy luật khách quan của sự vận động, phát triển để có phương cách tác động phù hợp thúc đẩy sự phát triển ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo trình độ tiến sĩ và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới
Thứ tư, chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ khoa học xã hội và nhân văn
quân sự, trong đó có sản phẩm khoa học của nghiên cứu sinh, nhất là trong các công trình luận án có ít đóng góp mới, "nhạt" chất khoa học, thiếu thiết thực và hữu dụng; biểu hiện trùng lặp, giao thoa, đạo văn, giống nhau về mô típ, cấu trúc hoặc sai sót về trật tự, kết cấu lô gích Điều này, đặt ra cho tác giả trong quá trình công tác, học tập, nghiên cứu luôn trăn trở, suy tư, mong muốn tìm ra những cách thức, giải pháp góp phần vào nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng đào tạo sau đại học Từ đó, cá nhân nảy sinh ý tưởng nghiên cứu khi học cao học và truyền tải vào luận văn thạc sĩ Đến nay, ở trình độ tiến sĩ, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này, nhưng với cách tiếp cận, lập luận, kiến giải sâu sắc, tường minh
và được đề cập đến trong các chương, tiết của luận án
Hơn nữa, vấn đề nghiên cứu của tác giả đề cập trong luận án thuộc về vấn
đề cơ bản của triết học, liên quan đến tư duy và tồn tại hay mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; ý tưởng liên quan đến nguồn gốc bản chất của ý thức, đến quá trình nhận thức, tư duy và các nhân tố, điều kiện khác Nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc, thậm chí có lúc tác giả cảm thấy mình bế tắc trong nghiên cứu Nhưng với ý chí quyết tâm cùng với sự động viên hướng dẫn, gợi mở, chỉ bảo tận tình, trách nhiệm của tập thể cán bộ hướng dẫn luận án, các chuyên gia khoa học và khoa chuyên ngành đã gợi mở, giúp cho tác giả có đủ bản lĩnh, tự tin, quyết tâm thực hiện vấn đề nghiên cứu
Trang 29* Khái niệm ý tưởng sáng tạo
Trong triết học, ý tưởng được diễn đạt, sử dụng, biểu hiện ở một số khái niệm và hiểu đó là hình ảnh, biểu tượng về tinh thần Thông thường, những ý tưởng được đề cập là hình ảnh đại diện, tức là hình ảnh của một số sự vật, hiện tượng, hay ở ngữ cảnh khác, ý tưởng được xem là các khái niệm, mặc dù khái niệm trừu tượng không nhất thiết phải xuất hiện là hình ảnh Nhiều triết gia xem ý tưởng là một phạm trù bản thể học, khả năng tạo ra và hiểu ý nghĩa của ý tưởng là một tính năng cần thiết, xác định đặc tính của con người [3]
Ý tưởng (iδέα) theo tiếng Hy Lạp (hình thức, hình dạng, nguyên mẫu, tầm nhìn, xuất hiện ) là một thuật ngữ triết học gắn liền với hình ảnh tinh thần của con người, các thuộc tính của tư tưởng và lôgic Trong khoa học hay ở lĩnh vực nghệ thuật, bao giờ cũng có những ý tưởng chính như là một nguyên tắc chung, đóng vai trò chủ đạo hay nó là chủ đề chính của một tác phẩm hay lý thuyết nào đó
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Ý tưởng là những ý nghĩ nảy sinh trong đầu
óc của con người [117, tr.1885]; những ý nghĩ có thể được định hình chính xác,
trọn vẹn hoặc chưa rõ ràng, đầy đủ về kết cấu, nội dung cũng như tính thể nghiệm của ý tưởng trong thực tế Hay ý tưởng là kết quả của quá trình tư duy dưới dạng ngôn ngữ, hình ảnh bên trong hoặc các lập luận, suy lý,…tức là ý nghĩ đó được ý thức một cách rõ ràng (lóe sáng), là một nội dung của quá trình tư duy hay của tập hợp các hoạt động tiếp theo diễn ra với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể
Ý tưởng " Idea" còn được hiểu là quan niệm, ý kiến, suy nghĩ, quan điểm,
hành động, giải pháp…được kích thích bằng nguồn cảm hứng, khát vọng sáng tạo với những rung động cảm xúc đặc biệt nhằm tạo ra những xu hướng, khả năng gợi mở, vận động làm phát triển các hoạt động sáng tạo; đó là sản phẩm được đúc
kết từ quá trình tư duy của con người do nhu cầu cuộc sống đặt ra
Trang 30Ý tưởng là hình ảnh trong tâm trí hay là hình hài của quá trình tư duy; ý tưởng liên quan mật thiết đến hoạt động của ý thức và quá trình nhận thức từ trực quan (cảm giác, tri giác, biểu tượng, tưởng tượng) đến tư duy trừu tượng (khái niệm, phán đoán, suy luận, suy lý) Khi đánh giá kết quả của tư duy, nên tìm hiểu xem tư duy, suy nghĩ của con người có ích lợi, có đạt tới chân lý, tìm ra những điều gì mới, đưa ra ý tưởng mới hay không, trong đó thực tiễn chính là cơ sở, nền tảng của tư duy và ở những mắt khâu ý tưởng được hiện thự hóa bảo đảm chuẩn xác, hợp lý; thực tiễn là cơ sở để kiểm chứng, thực thi, lưu chuyển ý tưởng của con người vào cuộc sống
Như vậy, ý tưởng là những ý nghĩ trong đầu óc của con người, nảy sinh và phát triển trong mối quan hệ với ý thức, nhận thức, tư duy và hoạt động thực tiễn
Ý tưởng không thể sản sinh một cách tự phát hay từ đâu đó trong hư vô, nó luôn gắn liền với ý thức và xuất hiện qua những vòng khâu nhận thức, được tư duy mô hình hóa, phác họa, luôn chịu sự chi phối quyết định từ thực tiễn lịch sử - xã hội
Ý tưởng được thể hiện dưới những hình thức cụ thể, truyền tải dưới các dạng dạng thức: viết, vẽ, ghi âm, ghi hình hoặc được trình bày dưới một hình thức bất
kỳ nào đó để có thể hiểu và lưu trữ
Dưới góc độ triết học, ý tưởng được biểu hiện là quan niệm, khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, quan điểm, tư tưởng, phương châm, phương hướng, giải pháp, hành động lớn hơn là học thuyết, hệ tư tưởng trong đó phản ánh những ý tưởng vĩ đại, cao siêu, là những phát minh, phát kiến có tính chất vạch thời đại Để ý tưởng bộc lộ thành hiện thực, có ích luôn
phụ thuộc vào các yếu tố phẩm chất, năng lực tư duy, điều kiện kinh tế, tài chính;
ý tưởng chỉ có giá trị, mang nghĩa đầy đủ là ý tưởng sáng tạo khi được áp dụng vào cuộc sống, mang lại ích lợi cho xã hội và cho cá nhân
Nói cách khác, ý tưởng xét về tính chất là những ý nghĩ được nghiền ngẫm, nung nấu một cách sâu sắc, đạt đến mức độ tư tưởng, quan điểm, hành động Muốn có ý tưởng mới thì phải hành động trí óc, triển khai tổng hợp các thao tác, làm việc trí óc, ở đó không chỉ là ý muốn nhất thời, thoáng qua mà còn
là đam mê, khát vọng có tính ổn định, có mục tiêu, nội dung, định hình về phương cách để hiện thực hoá Xét về đặc trưng cơ bản, ý tưởng là những hoạt động (suy nghĩ và việc làm) hướng theo mục tiêu đạt tới cái khác lạ, trước đó
Trang 31chưa từng có, chưa từng thấy về cấu trúc, tính chất, tính năng, cấp độ, phạm vi ứng dụng, sử dụng, rất đa dạng, phong phú về tính chất, quy mô, kiểu loại
Ý tưởng phát sinh, diễn ra ở các hoạt động bên trong tư duy và hoạt động bên ngoài thực tiễn Quá trình đó thực chất làm cho não bộ, hành động tư duy (thao tác, kỹ năng) bật ra ý tưởng, khi con người đối diện các tình huống có vấn
đề, xuất hiện mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết hay những phương thức
cũ, lạc hậu không phù hợp, đòi hỏi con người phải nỗ lực tìm kiếm tư tưởng, quan điểm, hành động, giải pháp mới giải quyết các yêu cầu cấp thiết từ cuộc sống
Để có cơ sở nghiên cứu ý tưởng sáng tạo, cần làm rõ một số vấn đề liên
quan đến khái niệm sáng tạo vì không phải mọi ý tưởng đều là sáng tạo và cũng
không phải mọi sáng tạo là khoa học Sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại, phát triển của xã hội loài người, nó là khái niệm phổ biến về phạm vi sử dụng trong các hệ thống phân loại của nền văn minh nhân loại: hệ thống đo, đếm, quy chiếu, chuẩn mực, thông số toán học, vật lý, hoá học, cho đến triết học, tâm lý học, xã hội học, thần học, tương lai học hay vũ trụ học
Tính phổ biến của khái niệm sáng tạo thể hiện ở phạm vi sử dụng, trong bất kỳ lĩnh vực nào của nền văn hoá, văn minh của loài người, khi xuất hiện một
sự vật, hiện tượng mới, có giá trị ích lợi cho con người thì đều được coi là sự sáng tạo Thuật ngữ sáng tạo gắn với nhiều khái niệm khác nhau: ý tưởng sáng tạo, quan điểm sáng tạo, việc làm sáng tạo, hành động sáng tạo, công cụ sáng tạo,
phương tiện sáng tạo, phương pháp sáng tạo Như vậy, sáng tạo là một hiện
tượng rất phong phú và đa dạng, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ triết học: sáng tạo là tạo ra cái mới, có ích lợi, mang giá trị vật chất
và tinh thần hợp với quy luật phát triển
Trong một miền xác định, hoạt động sáng tạo có quan hệ trực tiếp với ý
tưởng hay ý tưởng sáng tạo Theo đó, có thể hiểu khái niệm ý tưởng sáng tạo: là phát hiện mới của con người về phương diện ý tưởng, phản ánh qua sự biến đổi,
“phá cách” hợp quy luật trong quá trình tư duy, đáp ứng những nhu cầu khách quan của xã hội về cái mới trong thực tiễn Hay ý tưởng sáng tạo chính là phản
ánh kết quả của quá trình tư duy dẫn đến phát sinh (phát hiện, phát kiến, phát minh, sáng chế) tạo ra sản phẩm mới có giá trị về vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu của đời sống con người trong xã hội
Trang 32Xét về tính chất, ý tưởng sáng tạo là một dạng trong vô vàn loại sáng tạo của con người, diễn ra trong quá trình tư duy phản ánh hiện thực Nghĩa là, nó không mang tính rực tiếp (như thực tiễn), nhưng có nguồn gốc từ thực tiễn Ý tưởng sáng tạo chỉ có thể biểu hiện sự tồn tại của mình khi trở về với thực tiễn, thông qua các phát hiện, phát triển, phát sinh, sáng chế được thực tiễn kiểm nghiệm Không thể bàn đến tính sáng tạo của ý tưởng nếu chủ thể không hiện thực hóa ý nghĩ thông qua các công cụ, “giá đỡ” vật chất tương ứng là các tác phẩm, mô hình, sản phẩm, đề tài, bài báo, tiểu luận, luận án.v.v
Tuy nhiên, đặc trưng bản chất của ý tưởng sáng tạo là sự “phá cách” theo quy luật tư duy Nói đến sự “phá cách”, thực chất là chỉ sự thay đổi, từ bỏ những
gì đã biết và quen làm để theo đuổi cái chưa từng có, chưa từng biết Nhưng không phải bất cứ sự thay đổi hay “từ bỏ” nào cũng thực hiện (hay trở thành phá cách), mà trái lại “phá cách” là sự thay đổi, “từ bỏ” theo quy luật của tư duy, phù hợp với biện chứng của quá trình nhận thức, có lộ trình, cách thức và trở thành một khâu của phát triển và giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa chủ thể và khách thể, tôn trọng cái khách quan, đề cao nhân tố chủ quan Làm trái đi, mọi sự “thay đổi”, “từ bỏ” đều trở thành những “phá phách” theo đúng nghĩa đen và không có khả năng đưa đến bất kỳ ý tưởng sáng tạo
Từ quan niệm trên cho thấy, tiêu chuẩn của mọi ý tưởng sáng tạo bộc lộ ở
các khía cạnh: tính mới, được hiểu như là hiện thân, là sự kết hợp, tích hợp tri
thức, kiến thức từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của ý tưởng thể hiện tính tiên phong, khác trước, không lặp lại, vượt qua những khuôn khổ, trật tự cũ Ở đó, phản ánh sự khám phá tạo ra chất lượng mới, sự hợp trội, hoàn thiện, phù hợp với
xu thế chung, có ý nghĩa thiết thực đối với cá nhân và xã hội
Cùng với tính mới là tính hữu ích, ý tưởng sáng tạo luôn gắn rất chặt với
hoạt động sáng tạo, đưa ra sản phẩm mới, phù hợp với hiện thực Trong ý tưởng phản ánh khách quan những tình huống mới, chất lượng mới, mục đích mới, ý tưởng sáng tạo dù ở lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bao giờ cũng gắn với việc
tạo ra cái mới, độc đáo, tốt đẹp, mang lại ích lợi cho sự phát triển của xã hội
Bên cạnh đó tính độc đáo, đặc sắc riêng có cũng là một thuộc tính không
thể thiếu của ý tưởng sáng tạo Đó là khả năng tìm ra ý tưởng mới, có sự khác biệt với những ý tưởng trước đó và của người khác, từ khi phát ra ý tưởng (nhìn nhận vấn đề), cách thức thực thi ý tưởng (phương án giải quyết, tổ chức thực hiện
Trang 33vấn đề) có sự khác lạ với thông thường và có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ đã có bằng sự hoài nghi
Đồng thời, tính thông suốt cũng là một đặc trưng, đó là tốc độ đưa ra kiến
giải mới, được định hướng theo mạch tư duy Từ quá trình nảy sinh đến thực thi triển khai ý tưởng, tuân theo quy luật, quy tắc tư duy; biết phát hiện ra cái giống nhau trong những cái khác nhau (hướng tới cái phổ biến, cái có tính quy luật); chỉ
ra cái khác nhau trong những cái giống nhau (tìm ra cái đặc thù, đặc sắc, mang sắc thái riêng, cái mới), tính thông suốt là thước đo của ý tưởng sáng tạo
Tất nhiên, tính hệ thống là một thuộc tính vì bất kỳ một ý tưởng đưa ra,
bao hàm các yếu tố, giữa chúng liên hệ, tương tác qua lại, trong và ngoài, tạo tạo thành thể thống nhất; là những thuộc tính đặc trưng, phương thức bảo đảm cho ý tưởng nảy sinh, cụ thể hoá Đồng thời, thể hiện tính hướng đích, đa chiều, tuân theo quy trình điều khiển, cách thức tổ chức với hoàn cảnh, điều kiện, không gian, thời gian nhất định
Ngoài ra, ý tưởng sáng tạo còn có các thuộc tính: linh hoạt, phát tán, nối kết và rút gọn, tính liên tưởng, tưởng tượng, thể hiện cách nghĩ, hoán vị, chuyển
ý này sang ý khác, nhận biết vấn đề từ các góc nhìn khác nhau, tổ hợp khái niệm
cũ bằng phương thức mới, suy diễn, lập luận ngược lại với những cách nghĩ đã có trước đây, biết vận dụng tổng hợp các lý thuyết đưa ra ý tưởng Ở đó, còn là khả năng cảm quan, vì người có suy nghĩ sáng tạo thường bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm, thiết kế, dẫn dắt, phát tán, kéo ra các hướng và hoàn thiện thành ý tưởng sáng tạo hoặc trên cơ sở nhiều ý tưởng cho một vấn đề nào đó, chủ thể phân tích, chọn lọc một vài ý tưởng phù hợp, triển khai hoàn thiện chúng
Người có ý tưởng sáng tạo biết sử dụng hợp lý bộ não (cơ quan liên tưởng
to lớn) tạo ra những ý tưởng mới, phong phú, sinh động V.I Lênin viết trong Bút
ký Triết học: Khi trí tuệ (của con người) tiếp xúc với một vật cá biệt, sao chụp hình ảnh (= một khái niệm) của nó, đó không phải là một hành vi giản đơn, trực tiếp, cứng đờ như phản ánh trong gương, mà là một hành vi phức tạp, có hai mặt, khúc khuỷu, bao hàm khả năng của ảo tưởng bay ra khỏi cuộc sống: hơn nữa bao hàm khả năng của một sự chuyển biến… của khái niệm trừu tượng Bởi vì, ngay trong sự khái quát đơn giản nhất về một sự vật, hiện tượng nào đó cũng có một phần nhất định của ảo tưởng, thật vô lý nếu phủ nhận vai trò của ảo tưởng trong khoa học [tr.394 - 395] Cái ảo tưởng ở đây theo một nghĩa nào đó là một mặt, khía cạnh, cấp độ của ý tưởng hay là sự tưởng tượng, trìu tượng hóa
Trang 34* Đặc điểm ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự
Nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự cũng có điểm chung giống như đối tượng nghiên cứu sinh khác, thực hiện nhiệm vụ đào tạo để trở thành tiến sĩ trong các ngành khoa học của nước nhà Nhưng do tính chất hoạt động đặc thù và yêu cầu về chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ các ngành khoa học xã hội và nhân văn quân sự, nên đối tượng nghiên cứu sinh ngành này có những đặc điểm riêng, khác với đối tượng nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn nói chung
Nhận biết sự khác biệt này qua các biểu hiện: nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự là những cán bộ, sĩ quan quân đội đang học tập, nghiên cứu để trở thành nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu, tổ chức hướng dẫn nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn trong lĩnh vực quân sự; tích cực, chủ động tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
Các chuyên ngành nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự được đào tạo đúng theo mã ngành của khoa học xã hội và nhân văn nói chung do
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Nhưng vẫn khẳng định họ là nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, vì phần lớn hoạt động sống, lao động, học tập, công tác hay trong nhận thức, tư duy của họ và ngay cả mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu trong các sản phẩm khoa học của họ luôn quan hệ trực tiếp với thực tiễn hoạt động quân sự, phục vụ cho nhiệm vụ chính trị quân sự; họ vận dụng các phạm trù, nguyên lý, quy luật, nguyên tắc của khoa học xã hội và nhân văn vào lĩnh vực quân sự Mặc dù, họ có thể là nghiên cứu sinh ngành triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế chính trị Nhưng trong triết học lại có học thuyết chiến tranh và quân đội, học thuyết bảo vệ tổ quốc, đạo đức học quân sự, văn hóa quân sự; trong kinh tế chính trị có kinh tế quân sự, kinh tế quốc phòng; trong tâm lý học có tâm lý học quân sự.v.v
Điều kiện, không gian, thời gian học tập, sinh hoạt, công tác, nghiên cứu của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự chịu sự chi phối và có quan hệ trực tiếp với thực tiễn hoạt động quân sự; xuất phát điểm khi tham gia học tập, nghiên cứu, họ là những cán bộ chính trị, giảng dạy, nghiên cứu tại các
Trang 35học viện, nhà trường hoặc đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo, chỉ huy ở các cơ quan, đơn vị trong quân đội Lĩnh vực họ học tập, nghiên cứu là “khoa học xã hội
và nhân văn quân sự là những bộ phận hợp thành của khoa học xã hội và nhân văn, là mảng lý luận đặc thù của các khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu lĩnh cực quân sự mà chỉ tập trung vào khía cạnh chính trị - xã hội của lĩnh vực quân
sự Cụ thể là nghiên cứu về con người, mối quan hệ giữa con người với con người trong lĩnh vực quân sự; quan hệ giữa con người với trang bị kỹ thuật quân sự và môi trường quân sự, tùy vào từng chuyên ngành cụ thể” [47, tr.13]
Hơn ai hết, nghiên cứu sinh ngành này luôn hiểu rõ về khoa học xã hội và nhân văn quân sự hướng vào nghiên cứu bản chất chính trị - xã hội và phát triển tính nhân văn trong các hoạt động quân sự; làm sáng tỏ những luận cứ khoa học trong hoạch định chiến lược quốc phòng an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội nhân dân; phát huy vai trò của khoa học
xã hội và nhân văn quân sự trong giải đáp, quán triệt quan điểm đường lối, nhiệm
vụ quân sự của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của lãnh đạo chỉ huy các cấp, đồng thời nghiên cứu tổng kết thực tiễn chiến tranh, khái quát kinh nghiệm xây dựng quân đội, xây dựng quân binh chủng, học viện, nhà trường quân đội, xây dựng tổ chức đơn vị; nghiên cứu phát hiện ra quy luật vận động của tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chính trị tinh thần của quân đội; nghiên cứu xây dựng nguồn lực con người trong lĩnh vực quân sự; góp phần hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, quản
lý, chỉ huy của cán bộ quân đội Đó cũng là đặc điểm riêng của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, nó hoàn toàn khác biệt với nghiên cứu sinh khoa học xã hội nhân văn nói chung, cho dù hiện nay có đối tượng nghiên cứu sinh (dân sự) đang theo học trong môi trường quân sự
Nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự biết rõ chức năng, đối tượng nghiên cứu là một chỉnh thể thống nhất của các khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội - lĩnh vực quân sự; chiến tranh chỉ là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn khác (thủ đoạn bạo lực) Vì vậy, gắn trực tiếp với chính trị và phục vụ nhiệm vụ chính trị quân sự của Đảng và Nhà nước là đặc trưng cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn quân sự Tất cả điều này, khiến cho khoa học xã hội và nhân văn quân sự có đặc điểm khác với khoa học xã hội và nhân văn nói chung, cũng như nghiên cứu sinh khoa học
Trang 36xã hội nhân văn quân sự có đặc điểm riêng, không giống nghiên cứu sinh khoa
học xã hội và nhân văn, qua việc phân tích, khái quát ở trên
Nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự có tuổi đời trên dưới
40, có một số trường hợp gần 50, tuổi bình quân của họ thường cao hơn so với các trường ngoài quân đội, thậm chí so với một số trường đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật trong quân đội Ở họ có sự vững vàng về nhân cách và bản lĩnh; có
sự chín muồi về trí tuệ, ý chí và tình cảm; hoạt động của các quá trình tâm sinh
lý, hệ thống thần kinh, khí chất của nghiên cứu sinh tương đối ổn định, đó cũng chính là những điểm lợi thế khác biệt trong đào tạo, đặc biệt đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quân sự, lĩnh vực cần phải có độ chín nhất định và những tích luỹ cần thiết để nhận thức, lý giải những vấn đề chính trị - xã hội
Đa số nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự là cùng giới tính, cùng thế hệ, độ tuổi, có những nét tương đồng về nhận thức, thống nhất cao trong suy nghĩ, hành động; là những người có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, chấp hành điều lệnh, điều lệ và kỷ luật quân đội; họ có năng lực định hướng trong học tập, nghiên cứu, biết nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng vào quá trình đào tạo, nghiên cứu Đây là, những thuận lợi để họ giao lưu, chia sẻ tri thức, kỹ năng, phương pháp, cùng nhau phát triển ý tưởng sáng tạo Đặc biệt, họ nhạy cảm, ham hiểu biết, có khả năng tiếp nhận cái mới, giao tiếp, đoàn kết, ý thức trách nhiệm tập thể cao, nỗ lực, say mê tìm tòi, khám phá cái mới, có thái độ động cơ, mục đích phấn đấu trong học tập, công tác
Từ luận giải về ý tưởng, ý tưởng sáng tạo nói chung và những nét phác họa
về đặc điểm của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự, tác giả
đưa ra khái niệm: Ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự là phản ánh kết quả của quá trình tư duy với nền tảng hệ thống tri thức, hướng đến các phát hiện mới có giá trị về lý luận và thực tiễn, nhằm giải quyết hiệu quả các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với nghiên cứu sinh trong đào tạo
và nghiên cứu khoa học
Từ quan niệm trên cho thấy ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự được biểu hiện ở những khía cạnh:
Trang 37Thứ nhất, ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự là cái mới về “miền đề tài” tương đối xác định Không gian, lĩnh
vực, tiếp cận, nghiên cứu của họ là các hiện tượng, quy luật vận động và phát triển của con người trong lĩnh vực quân sự; những vấn đề lý luận và thực tiễn của lĩnh vực quân sự; về củng cố và tăng cường sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân; nghiên cứu lý luận và thực tiễn về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; những vấn đề về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; về đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố trận địa tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội Vì vậy, trong quá trình đào tạo, họ cần chứng tỏ mình có vốn tri thức lý luận, phương pháp, kỹ năng tư duy, quán triệt và làm chủ được lĩnh vực nghiên cứu; biết phát triển, cống hiến được cái mới cho tri thức khoa học thuộc lĩnh vực chuyên ngành và liên ngành học tập, nghiên cứu
Đó là điểm cốt lõi, khía cạnh phân biệt về chất của nghiên cứu sinh khi tham gia học tập, nghiên cứu, có sự khác biệt với bậc học đại học Bởi vì, đối với mọi nghiên cứu sinh, nghiên cứu khoa học là hoạt động mang tính bắt buộc, suy đến cùng của mục đích nghiên cứu là sản xuất cái mới, tri thức mới; họ thu thập tài liệu, số liệu, xử lí thông tin, viết tiểu luận, thu hoạch, xêmina, viết chuyên đề, tổng quan, sinh hoạt học thuật, hội thảo, viết báo, đặc biệt nghiên cứu xây dựng, viết luận án tiến sĩ Cái mới là các kết quả nghiên cứu của họ có thể biểu đạt qua những dạng thức vừa nêu, cái mới ấy là ý tưởng về hướng nghiên cứu, tiếp cận mới hoặc các quan điểm, giải pháp, cách diễn dịch mới.v.v
Hiểu về cái mới, nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự sáng tạo, tìm ra trong nghiên cứu, có thể là những đóng góp ban đầu, có ý nghĩa góp phần vào tri thức khoa học của chuyên ngành, trước đây cái mới đó chưa từng công bố Cái mới ấy có thể là sự liên kết giữa ý tưởng và phương pháp, hay
hệ thống hóa các dữ liệu để xây dựng giả thuyết, suy luận và kết luận, những dữ liệu, thông tin thu thập qua cách tiếp cận và phương pháp, bảo đảm điều kiện cần
và đủ về (dữ liệu, thông tin và ý tưởng)
Theo đó, ý tưởng của nghiên cứu sinh có thể tồn tại trong các trường hợp sau: 1) Dữ liệu, thông tin mới với ý tưởng mới hay cách diễn giải mới 2) Dữ liệu, thông tin mới với ý tưởng cũ 3) Dữ liệu, thông tin cũ với ý tưởng mới hay cách
Trang 38diễn giải mới 4) Dữ liệu, thông tin cũ với ý tưởng cũ Trong các trường hợp này, chỉ duy nhất trường hợp sau cùng là không mới, còn các trường hợp kia đều có thể coi là có những đóng góp mới cho khoa học Khi nói đến cái mới do nghiên cứu sinh tìm tòi, phát hiện là nói đến cái mới về ý tưởng, phương pháp, kết quả hay cách diễn dịch mới Trong thực tế, có ý tưởng hay, vấn đề rất cũ, nhưng nếu nghiên cứu sinh biết cách tiếp cận bằng phương pháp mới thì vẫn được xem là đóng góp cái mới vào tri thức khoa học Thậm chí, ý tưởng và phương pháp không mới, nhưng cách diễn giải mới thì vẫn được xem là một đóng góp mới
Bên cạnh những đặc trưng chung của ý tưởng sáng tạo, lĩnh vực học tập
nghiên cứu của họ đòi hỏi rất cao về phương hướng chính trị và tính nhân văn quân sự trong quá trình hiện thực hóa ý tưởng sáng tạo Đây cũng chính là điểm khác biệt với ý tưởng sáng tạo của các nghiên cứu sinh ngành khác, cái mới trong
ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự được tạo ra là trên cơ sở là vận dụng hệ thống lý luận của khoa học xã hội và nhân văn vào các vấn đề quân sự nhằm nâng cao sức mạnh con người và binh khí kỹ thuật của các lực lượng vũ trang Họ không đi vào nghiên cứu trực tiếp những vấn đề
kỹ thuật của quân sự như binh khí kỹ thuật, mà nghiên cứu lý luận về xã hội, con người trong lĩnh vực quân sự hoặc có liên quan đến vấn đề quân sự
Hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, đường lối nghệ thuật quân
sự, hệ thống lý luận tri thức lý luận chuyên ngành, liên ngành, là “cốt nền” để họ tiếp cận, nghiên cứu, phát hiện, tìm ra cái mới Với nghĩa đó, nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong học tập, nghiên cứu đưa ra ý tưởng sáng tạo lại càng đòi hỏi giữ vững định hướng chính trị và tính nhân văn quân sự,
đó cũng là thể hiện năng lực vận dụng sáng tạo cái chung vào cái riêng, mọi ý tưởng sáng tạo (kết quả nghiên cứu) trong các công trình khoa học của họ đều phục vụ cho mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, quân đội
Cái mới trong ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và
nhân văn quân sự phản ánh hiện thực khách quan hoạt động quân sự vận động,
phát triển theo quy luật khách quan của các khách thể trong lĩnh vực quân sự và hướng vào chỉ đạo hoạt động thực tiễn quân sự Điều này, vừa đặt ra mục đính, yêu cầu, cung cấp công cụ, phương tiện để giúp họ kiểm tra ý tưởng vừa là là tiêu chuẩn để khẳng định, đánh giá đó thực sự là ý tưởng sáng tạo hay không? Đồng
Trang 39thời, là khía cạnh để phân biệt với các ý tưởng viển vông, máy móc, phi khoa học, xa rời thực tiễn, phản ánh sai lạc bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình quân sự
Ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan, giữa lý luận và thực tiễn, dựa trên nền tảng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, vận hành theo hệ thống nguyên tắc, quy luật của tư duy
và hệ thống tri thức Các công trình, sản phẩm khoa học chứa đựng ý tưởng thể hiện sự sáng tạo của họ, song kết quả của ý tưởng sáng tạo lại không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ Nghiên cứu sinh tiếp cận, nghiên cứu tìm ra cái mới theo cách thức phù hợp với quy luật phát triển khách quan, đòi hỏi của thực tiễn Cái mới họ đưa ra, được hiểu trong khuôn khổ mô thức khoa học, được các Hội đồng khoa học chuyên ngành đào tạo nghi nhận, những đóng góp mới đó chỉ là bước khởi đầu trong nghiên cứu lý luận, cái mới ấy không nhất thiết toàn diện từ
ý tưởng, phương pháp, kết quả đến diễn dịch hay là khám phá có tính bước ngoặt cách mạng Nhưng yêu cầu bắt buộc mọi nghiên cứu sinh đưa ra đóng góp mới và
có ý nghĩa với tri thức của chuyên ngành, khẳng định chất, dấu ấn cá nhân của họ trong học tập, nghiên cứu
Lịch sử của phát triển khoa học cho thấy, các lý thuyết thay đổi và tiến hóa không ngừng, bất kể các lý thuyết đó mang tính khẳng định tới cỡ nào Chúng ta đều biết học thuyết Mác - Lênin là học thuyết cách mạng, khoa học, triệt để và hoàn bị nhất, cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại Nhưng học thuyết
đó không phải là cái gì đã xong xuôi, bất biến mà là một hệ thống mở đòi hỏi tiếp tục bổ sung, phát triển Nếu chúng ta nhìn hệ thống tri thức khoa học nói chung như là một tòa nhà rộng lớn, thì những tri thức và đóng góp mới nói riêng từ các nghiên cứu sinh như là những chất liệu góp phần tham gia vào kiến thiết, xây dựng, bổ sung làm cho tòa nhà khoa học ngày càng hoàn thiện hơn
Thứ hai, ý tưởng sáng tạo của nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự được hình thành theo xu thế hướng nội; phản ánh suy nghĩ độc lập, sáng tạo Từ những lí do khác nhau, nhất là do đặc điểm của tổ chức quân sự, quy
trình đào tạo tiến sĩ các khoa học xã hội và nhân văn quân sự, luôn ưu tiên cho xu hướng hướng nội, độc lập, phát huy tính tự chủ và sử dụng nội lực là chính trong hầu hết quy trình, các khâu từ xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp, tổ chức đào tạo đến đánh giá, nghiệm thu các sản phẩm khoa học của nghiên cứu
Trang 40sinh Đặc điểm đó tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong định dạng ý tưởng nghiên cứu, nhưng rất khó phá cách, vươn đến cái mới (do sự níu kéo của đường mòn, lối cũ), ít có sự cọ sát, va chạm với các lĩnh vực ngoài quân sự, chỉ thuần túy trong trật tự an toàn, không bứt phá vượt ra ngoài khuôn khổ Đây là bài toán trọng yếu đặt ra cho chủ thể đào tạo và bản thân nghiên cứu sinh đưa ra lời giải trong quá trình phát triển ý tưởng sáng tạo
Nghiên cứu sinh khoa học xã hội và nhân văn quân sự là chủ thể ở vị trí trung tâm của quá trình đào tạo, người quyết định cuối cùng đến kết quả, chất lượng học tập, nghiên cứu của họ Cho dù, lãnh đạo, chỉ huy, khoa chuyên ngành, giảng viên, cán bộ hướng dẫn, cơ quan chức năng, đơn vị quản lý, tạo điều kiện thuận lợi, nhưng không thể thay thế nghiên cứu sinh, chủ thể chính trong hoạt động nhận thức, tạo ra ý tưởng mới Vì vậy, độc lập trí tuệ, đề cao tự chủ, tự tin vào khả năng sáng tạo là cơ sở, nền tảng để họ có thể hoàn thành sứ mạng của mình
Do yếu tố hướng nội và đặc thù của lĩnh vực quân sự, đòi hỏi nghiên cứu sinh có tính tự chủ (tư duy chủ kiến), nhất quán, tường minh trong nhận thức, tiếp cận nghiên cứu đánh giá sự vật, hiện tượng trong các quá trình quân sự; sẵn sàng đón nhận, đương đầu với khó khăn, thử thách, nắm bắt thời cơ, cải tạo những cái
“không thể thành có thể”; là lối suy nghĩ và hành động của họ trong trạng thái chủ động, biết làm cho mình điều kiện khai mở, phát sinh ý tưởng mới; tự tin vào sức mạnh cá nhân, không quá phụ thuộc vào bất cứ điều gì; có óc phê phán, dám hoài nghi khoa học, tìm kiếm chân lý, có cách nhìn nhận, đánh giá mới về một sự vật, hiện tượng cũ hay quyết tâm đẩy lùi giới hạn của sự chưa hiểu biết C.Mác đã nói: Khoa học không thể là một thích thú ích kỷ Những người may mắn được cống hiến đời mình cho nghiên cứu khoa học phải là những người đầu tiên đưa kiến thức phục vụ con người
Tư duy mới, độc lập trong nghiên cứu lý luận của nghiên cứu sinh, hoàn toàn đối lập và khác biệt với suy nghĩ thụ động, máy móc; là tinh thần đổi mới cách nghĩ, cách hành động, cố gắng vượt qua những khuôn khổ, trật tự cũ, lỗi thời, lạc hậu; là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, dấn thân vì sự lựa chọn ấy; không chấp nhận giới hạn bất biến của chân lý
cũ, tư duy cũ, tránh mọi biểu hiện kinh viện, giáo điều, khuôn sáo, đường mòn, lối cũ; họ tự nghiên cứu, tự làm chủ mọi tình huống, hoàn cảnh quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu lý luận