Một vài mô hình tiên tiến về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng đã được dẫn chứng cho quản lý hệ thống thủy lợi, ví dụ đồng quản lý giữa tổ chức nông dân và cơ quan nhà nước, giữa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUỶ LỢI THEO PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH
NGUYỄN THỊ THANH NGA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2010
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUỶ LỢI THEO PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH” do NGUYỄN THỊ THANH NGA, sinh viên khóa 2006-2010, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày………
TS PHAN THỊ GIÁC TÂM Người hướng dẫn
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Sau 4 năm học, giờ đây khoá luận hoàn thành kết thúc thời sinh viên dưới mái trường Đại học nông lâm Có được kết quả ngày hôm nay là mơ ước mà tôi tưởng chừng mình không thực hiện được Vì vậy, tôi rất biết ơn tất cả những người đã giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua:
Lời đầu tiên, con xin cảm ơn Ba Má và gia đình, những người đã sinh thành, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện cho con đi học và có được ngày hôm nay Con luôn nghĩ mình thật may mắn được sinh ra trong tình yêu thương của Ba Má, anh chị em và
bà con họ hàng Tất cả mọi người hết mực thương con, giúp đỡ con, khích lệ con cả
về vật chất và tinh thần để con học tốt Ba Má ơi! Con muốn nói thật to lời cảm ơn đến Ba Má Con cảm ơn tất cả!
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh tế trường Đại học Nông lâm TP
Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền cho em những kiến thức bổ ích Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Phan Thị Giác Tâm và thầy Nguyễn Trần Nam đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập viết khoá luận này Cho tôi gởi lời cảm ơn đến bạn bè tôi, những người đã giúp đỡ tôi về vật chất
và tinh thần, cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn chú Mười, chị Loan và các cô/chú làm ở UBND xã Cát Trinh và anh Đạt, chú Tung, chú Mười phòng nông nghiệp huyện Phù Cát tạo điều kiện thuận lợi khi tôi thực tập tại địa phương
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên NGUYỄN THỊ THANH NGA
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ THANH NGA, tháng 07 năm 2010 “Đánh Giá Hiệu Quả Quản Lý Thuỷ Lợi Theo Phương Pháp Cộng Đồng Tại Huyện Phù Cát Tỉnh Bình Định”
NGUYEN THI THANH NGA, July, 2010 “The Effectiveness Of The Community – Based Management Of Irrigation At Phu Cat District, Binh Dinh Provine”
Ngày nay, nước tưới tiêu trong nông nghiệp đang ngày càng cạn kiệt, hiệu quả
sử dụng nước thấp Vì vậy công tác quản lý thủy lợi rất được quan tâm, đặc biệt ở vùng duyên hải Miền Trung Trong những thập niên vừa qua, Nhà nước đã gặp phải những thất bại trong công tác quản lý như thâm hụt ngân sách, các dịch vụ thủy lợi không hiệu quả, hệ thống kênh mương không được đảm bảo Mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng được áp dụng khá phổ biến ở Miền Trung Đây là cách thức tổ chức quản lý nhằm tăng cường vai trò và quyền lợi của người dân trong công tác quản lý, vận hành, duy tu hệ thống thủy lợi
Đề tài thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra 60 hộ nông dân gồm cả những hộ có ruộng gần và xa nguồn nước, sau đó, sử dụng phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng để đánh giá hiệu quả quản lý dưới ba góc độ: nông hộ, hợp tác xã (HTX), sức sản xuất của tài nguyên nước
Kết quả thu được cho thấy phương pháp quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng tại địa phương là phương pháp quản lý được bà con nông dân ưa thích vì nó mang lại hiệu quả Tuy nhiên, năng suất lúa vẫn còn bị ảnh hưởng bởi khoảng cách tới nguồn nước làm thiếu sự công bằng giữa các hộ có ruộng gần và xa nguồn nước Đồng thời,
đề tài xác định mức sẵn lòng đóng góp thêm tiền kênh mương nội đồng (KMNĐ) để cải thiện dịch vụ thuỷ lợi là 17400 đồng/sào/vụ Từ thực tế trong công tác quản lý thủy lợi của địa phương, đề tài đã đề ra những kiến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả quản
lý
Trang 5
MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
3.1.2 Tổ chức quản lý thuỷ lợi có sự tham gia của cộng đồng 14
3.1.3 Thế nào là mô hình tốt về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng?17
3.2.1 Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi tại huyện Phù Cát 17
3.2.2 Mô tả tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi 18
3.2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng 18
Trang 6CHƯƠNG 4 22
4.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của mẫu điều tra 22
4.1.1 Quy mô và kích cỡ nhân khẩu của hộ qua mẫu điều tra 22
4.2 Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay 22
4.2.1 Cách thức vận hành hệ thống thủy lợi 24
4.3 Mô tả tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay 30
4.3.2 Quản lý thuỷ lợi chuyển giao cho HTX 31
4.3.3 Quản lý thuỷ lợi hiện tại và sự tham gia của cộng đồng 33
4.3.4 Công tác quản lý của các bên liên quan 35
4.3.5 Những tiến bộ trong công tác quản lý 36
4.4 Đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng 36
4.4.1 Hiệu quả quản lý thuỷ lợi dưới góc độ HTX 46
4.4.2 Hiệu quả quản lý thuỷ lợi dưới góc độ sức sản xuất của tài nguyên… 36
4.4.3 Hiệu quả quản lý thuỷ lợi dưới góc độ nông hộ 41
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HTX Hợp tác xã
TTN Tổ thuỷ nông
ĐT & TTTH Điều tra và tính toán tổng hựp
UBND Uỷ ban nhân dân
QLNLDVCĐ Quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng
BVMT Bảo vệ môi trường
PIM Quản lý thuỷ lợi có sự tham gia
(Participatory Irrigation Management)
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích và tỷ lệ diện tích của các vùng huyện Phù Cát 7
Bảng 2.2: Qui hoạch sử dụng đất thuỷ lợi huyện Phù Cát năm 2009 11
Bảng 3.1: Kỳ vọng dấu cho hệ số mô hình hàm năng suất 20
Bảng 4.1: Quy mô hộ và kích cỡ nhân khẩu của hộ qua cuộc điều tra 22
Bảng 4.2: Cơ cấu trình độ học vấn của mẫu điều tra 24
Bảng 4.3: Các thông số kỹ thuật của hồ 26
Bảng 4.4: Tóm tắt công tác quản lý thuỷ lợi của các bên liên quan 35
Bảng 4.5: Mức thu phí thuỷ lợi của hộ dùng nước và diện tích tưới của xã 37
Bảng 4.6: Các khoản thu - chi đối với thủy lợi phí của HTX Cát Trinh 2 năm 2009 38
Bảng 4.8: Đánh giá của người dân về hiệu quả quản lý của BQL, TTN 39
Bảng 4.9: Mức lương của BQL thuỷ lợi, TTN năm 2010 40
Bảng 4.10:Thống Kê Mô Tả Các Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng đến Việc Sử Dụng Nước Ngầm Cho Sinh Hoạt của Hộ 41
Bảng 4.11: Các thông số ước lượng của mô hình năng suất lúa vụ Hè Thu 43
Bảng 4.12: Đánh giá của người dân đối với mức phí thuỷ lợi (phí KMNĐ) 47
Bảng 4.13: Mức độ hài lòng của người dân đối với các chỉ tiêu 48
Bảng 4.14: Số lượng và tỷ lệ người tham gia xây dựng quy chế cho hoạt động quản lý
thuỷ lợi 50
Bảng 4.15: Mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động cộng đồng tổ chức 51
Bảng 4.17: So sánh cách quản lý thuỷ lợi hiện tại với trước đây 52
Bảng 4.18: Xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công trong quản lý… 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.2: Thu nhập bình quân của hộ/năm (triệu đồng) 25Hình 4.3: Thu nhập bình quân/người/tháng (1000 đồng) 25Hình 4.4: Sơ đồ phác hoạ hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay 27Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diện tích đất trồng lúa được tưới nhờ hồ Suối Chay 29Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diện tích đất trồng lúa của 3 vụ năm 2009 30Hình 4.7: Năng suất lúa thay đổi theo khoảng cách 46Hình 4.8: Tỷ lệ hộ dân sẵn sàng đóng góp thêm tiền phí KMNĐ 53
Trang 10Việt Nam có nguồn tài nguyên nước mặt vào loại trung bình kém trên thế giới, phân bố không đều theo thời gian trong năm Với tiêu chuẩn lượng nước 4000
m3/người/năm, Việt Nam có lượng nội địa chỉ đạt 3600 m3/người/năm nên thuộc quốc gia thiếu nước Nếu tính cả nước ngoài lãnh thổ chảy vào đạt 9650 m3 lớn hơn 7400
m3/người/năm (trung bình thế giới) (Ngô Đình Tuấn, 2010) Tổng dòng chảy 835 tỷ
m3/năm, trong 6-7 tháng mùa khô dòng chảy chỉ đạt 15-30% nên hiện tượng thiếu nước trầm trọng vào mùa khô (Phan Thị Giác Tâm, 2009)
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, con người đã sử dụng 80% tổng lượng nước tiêu thụ cho hoạt động nông nghiệp, đây là con số quá nhiều Nước thì khan hiếm
mà lại sử dụng một cách lãng phí và hiệu quả sử dụng thấp, các hệ thống thuỷ lợi có hiệu quả thấp chỉ đạt 50-60% công suất thiết kế Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu nước tưới tiêu trong nông nghiệp hiện nay Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng và sâu xa là do việc quản lý nguồn nước trong hoạt động thuỷ lợi chưa hiệu quả và phương pháp quản lý chưa đúng nên người dân sử dụng nước một cách lãng phí vào đầu mùa vụ đến cuối mùa vụ thì không đủ nưới tưới Chính vì vậy, vấn đề nước cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta là một bài toán cấp bách
Trang 11Ngày nay, để khắc phục những thất bại trong việc quản lý hệ thống thuỷ lợi (năng suất nông nghiệp thấp, nước ngày càng khan hiếm, thâm hụt ngân sách, thiếu bảo trì hệ thống kênh mương…) một sự thay đổi cách tổ chức quản lý được thực hiện
Đó là quản lý hệ thống thuỷ lợi có sự tham gia của cộng đồng nhằm mang lại kết quả tốt hơn Việt Nam đã có lịch sử lâu đời về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước ở khắp nhiều nơi trong cả nước, ở cả vùng đồng bằng và vùng cao, thể hiện dưới nhiều mô hình và cách thức khác nhau, phục vụ cho mục đích lấy nước sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng Các mô hình tiên tiến về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam đã ra đời và vận hành tương thích với những thay đổi của nền kinh tế xã hội theo định hướng thị trường của đất nước Một vài mô hình tiên tiến
về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng đã được dẫn chứng cho quản lý hệ thống thủy lợi, ví dụ đồng quản lý giữa tổ chức nông dân và cơ quan nhà nước, giữa tổ chức nông dân và tổ chức có liên quan đến nhà nước (như doanh nghiệp), do chính tổ chức nông dân đứng ra quản lý thông qua các Hợp Tác Xã cấp nước hoặc trạm cấp nước do cộng đồng quản lý Tuy nhiên, việc quản lý này có nơi thành công và cũng có nơi kết quả mang lại rất thấp hay thất bại
Mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng được áp dụng khá phổ biến ở các tỉnh Miền Trung Phù Cát là một huyện thuộc tỉnh Bình Định nằm ở duyên hải Miền Trung Trong nhiều năm qua, hạn hán thường xảy ra gây thiếu nước tưới cho nông nghiệp vào mùa khô Hệ thống thuỷ nông nơi đây là nguồn cung cấp nước tưới cho diện tích đồng lúa rộng lớn, đóng vai trò quan trọng duy trì năng suất lúa Việc quản lý hệ thống thuỷ nông dựa theo phương pháp quản lý cộng đồng được áp dụng
Mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng nơi đây là đồng quản lý giữa tổ chức nông dân và cơ quan nhà nước (UBND xã, các hợp tác xã) Tuy nhiên hệ thống tưới tiêu nơi đây hoạt động có hiệu quả như thế nào vẫn còn là bài toán Và cách thức
tổ chức quản lý hệ thống thủy lợi như thế nào cho có hiệu quả nhằm khai thác tối đa hiệu quả kinh tế của nguồn tài nguyên nước tưới tiêu nơi đây là vấn đề mà các nhà quản lý quan tâm Vì vậy cần có sự đánh giá về hiệu quả quản lý này để có thể rút ra những kinh nghiệm trong công tác quản lý
Chính vì vậy, nên tôi được sự hướng dẫn của cô Phan Thị Giác Tâm tiến hành
thực hiện đề tài “Đánh Giá Hiệu Quả Quản Lý Thuỷ Lợi Theo Phương Pháp Cộng
Trang 12Đồng Tại Huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định” nhằm tìm hiểu đặc điểm hệ thống thuỷ
lợi và cách tổ chức quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng tại địa bàn và đánh giá hiệu quả quản lý nơi đây
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1) Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi tại huyện Phù Cát tỉnh Bình Định
2) Mô tả cách thức tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi
3) Đánh giá kết quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng thông qua các góc độ: hợp tác xã (HTX), sức sản xuất của tài nguyên nước, nông hộ
4) Đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng nước hiệu quả hơn
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi thời gian
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 28/3/2010 đến 14/7/2010 Trong đó, thời gian từ 28/3/2010 đến 29/4/2010 tiến hành thu thập các thông tin và tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó, tiến hành viết đề cương chi tiết và soạn bảng câu hỏi phục vụ đề tài Khoảng thời gian từ 30/4/2010 đến 20/5/2010 tiến hành điều tra thu thập thông tin về hệ thống thuỷ lợi, tình hình sản xuất lúa của vụ Hè Thu và số liệu liên quan Điều tra phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình sống tại địa bàn hoạt động trong nông nghiệp thuộc vùng hệ thống thuỷ lợi cung cấp nước Thời gian
từ 21/5/2010 đến 14/7/2010 nhập số liệu, tổng hợp xử lý phân tích và viết bài hoàn chỉnh
1.3.2 Phạm vi không gian
Đề tài tiến hành dựa trên nguồn số liệu thu thập được từ ban quản lý hệ thống thuỷ lợi, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn và số liệu điều tra các hộ dân trên địa bàn hệ thống thuỷ lợi Suối Chay phục vụ cụ thể xã Cát Trinh huyện Phù Cát
Trang 131.3.3 Giới hạn về nội dung
Do tác giả chưa có kinh nghiệm thực tế cũng như hạn chế về thời gian nghiên cứu nên đề tài tập trung vào việc mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi, mô tả cách thức tổ chức quản lý hệ thống, xây dựng hàm năng suất có biến khoảng cách đến kênh chính (đại diện cho biến nước) là biến phụ thụôc Từ đó đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng dựa vào nhận định chủ quan của bản thân Tuy nhiên, tác giả cố gắng đưa ra kết quả nhận xét dựa trên những số liệu thu thập tại địa phương và tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý thủy lợi cũng như những người có kinh nghiệm
1.4 Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 5 chương Chương I: tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khoá luận Chương II: giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như tổng quan về địa bàn Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của vùng tưới thuộc hệ thống thuỷ lợi này phục vụ Chương III: cơ sở lý luận về phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm, phương pháp được sử dụng trong đề tài Chương IV: đây là chương trình bày các kết quả đạt được của đề tài Nhận định tổng quát về hệ thống thủy lợi, tình hình sử dụng, cung cấp nước hiện nay Ước lượng hàm năng suất lúa của vụ Hè Thu trên một sào (500 m2) tìm hiểu nhận thức người dân từ đó đánh giá hiệu quả quản lý và đề xuất một
số giải pháp nhằm cải thiện việc quản lý đem lại hiệu quả Chương V: dựa vào kết quả
và thảo luận ở chương IV, tác giả tóm lược lại và đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuỷ lợi
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan
Vấn đề tài nguyên nước là rất quan trọng Vì vậy, nước thường được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu Nhưng tác giả đi tìm hiểu về khía cạnh đối với nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp đó là hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng tại huyện Phù Cát – tỉnh Bình Định Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo các tài liệu liên quan đến chuyên ngành kinh tế tài nguyên môi trường, thuỷ lợi, nông nghiệp cũng như các nghiên cứu liên quan
Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp quản lý thủy lợi có sự tham gia (PIM – Participatory Irrigation Management) từ đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ chính thức quyết định chuyển giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình thông qua chính sách “Khoán 10” Quản lý thủy lợi có sự tham gia là một phương pháp hiệu quả cho quản lý tài nguyên nước có sự tham của người dân, bởi
vì các cộng đồng hưởng lợi sẽ cùng tham gia với tư cách là người sử dụng nước, người quản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất là đối với các hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ Mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia đã được áp dụng thử nghiệm ở nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Bình Định Về mặt thể chế tổ chức, các đánh giá gần đây đã xác định có 3
mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia của cộng đồng, bao gồm: 1) mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý; 2) mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước; và 3) mô hình tổ chức cộng đồng
tự quản lý Đánh giá này đã khẳng định sự tham gia của nông dân ngày càng tăng trong quá trình ra quyết định đã dẫn đến các mô hình quản lý thực hiện ngày càng tốt hơn (Nguyễn Việt Dũng, 2002)
Trang 15Cáp Thị Phương Anh, 2008, đã thực hiện nghiên cứu đánh giá vai trò của cộng đồng trong quản lý thuỷ lợi tại Tuyên Quang Bằng phương pháp định tính, tác giả đã tìm hiểu về cách cộng đồng tham gia trong quản lý thủy lợi ở Tuyên Quang – Việt Nam Nghiên cứu này chủ yếu dùng phương pháp phân tích số liệu và điều tra chuyên sâu để đưa ra các kết luận định tính Nó cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng trong quản lý hệ thống thuỷ lợi Y La và Kim Phú ở tỉnh Tuyên Quang - Việt Nam Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các hình thức tổ chức quản lý khác nhau sẽ mang lại kết quả khác nhau trong việc phân phối nước, bảo trì hệ thống và quản lý nguồn tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tham gia của cộng đồng là không đủ cho sự thành công trong quản lý hệ thống thuỷ lợi mà còn gồm nhiều yếu tố khác: vai trò của người lãnh đạo, quan hệ hợp tác với nhà nước, tổ chức quản lý, đặc điểm của kênh rạch, các đặc điểm của cộng đồng
Ruth Meinzen-Dick, Richard Reidinger và Andrew Manzardor, 1995 đã viết về
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý hệ thống tưới tiêu Sách nói lên những lợi ích
và chi phí của sự tham dự cũng như những khó khăn của sự tham dự, xác định các thành phần liên quan đến dự án: nhà quản lý, người làm chính sách, người dân, các bên liên quan và vai trò của họ, cách tổ chức việc tham dự của người dân
Như vậy, thông qua việc tổng quan tài liệu nước có liên quan đề tài này đã có những hướng vừa dùng phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng để đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng
Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
Phía Bắc giáp huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Ân
Nam giáp huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước và một phần thành phố Quy Nhơn
Trang 16Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và huyện Tây Sơn
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 68.048,83 ha (Niên giám thống kê huyện
Phù Cát, 2008)
b) Địa hình, địa mạo
Địa hình của huyện Phù Cát tương đối đa dạng với đầy đủ các dạng địa hình, được
Nguồn: Báo cáo qui hoạch sử dụng đất huyện Phù Cát đến năm 2020 lồng ghép với
các yêu cầu bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu, 2009
c) Khí hậu, thời tiết
Phù Cát nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, thuộc khí hậu ven biển Nam Trung
Bộ, thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa ẩm từ tháng 8 đến tháng 12,
mùa khô nóng từ tháng 1 đến tháng 7 năm sau Nước thuỷ lợi rất cần vào mùa khô
d) Lượng mưa
Lượng mưa mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm phân bố theo 2 mùa:
- Mùa khô kéo dài trong 7 tháng (từ tháng 2 đến tháng 8), thường xảy ra hiện
tượng thiếu nước tưới Lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 10 - 15% lượng mưa của cả
năm, trong đó lượng nước bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 65 - 68% tổng lượng bốc hơi của
cả năm và cán cân âm cao
Trang 17- Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, trong đó mưa trập trung vào tháng
9, tháng 10 và tháng 11 (chiếm từ 85 - 90% lượng mưa của cả năm)
xã phía Nam huyện gặp nhiều khó khăn
Ngoài 2 sông chính kể trên, trên địa bàn huyện còn có các suối nhỏ như: Suối
An Hành, suối Bà Lễ, suối nước nóng, suối Chay…
Nhìn chung, hệ thống sông suối của huyện Phù Cát ít, dòng chảy ngắn, lưu lượng nước không đáng kể Mùa mưa dòng chảy mạnh gây xói mòn ở vùng cao và gây ngập úng ở một số xã vùng sâu Mùa khô lượng nước kiệt từ tháng 2 đến tháng 7, làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân và cây trồng, vật nuôi
Với nhiều hồ chứa lớn có khả năng điều hòa nước cho huyện, trong tương lai khi hệ thống kênh mương của huyện được hoàn chỉnh hơn, đây sẽ là tiền đề đảm bảo nguồn nước tưới cho nông nghiệp
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế để đến năm 2010 tỷ trọng
ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên 41%, nông - lâm - thủy sản giảm còn 42% và khu vực dịch vụ 17% Đến năm 2020, công nghiêp - xây dựng chiếm 54%, nông - lâm
- thủy sản giảm còn 18% và khu vực dịch vụ tăng lên 28%
Trang 18b) Dân số
Theo số liệu thống kê, dân số trung bình của huyện năm 2007 có 197.239 người bao gồm 12.372 người sống ở khu vực đô thị (chiếm 6,27%) và 184.867 người sống ở khu vực nông thôn (chiếm 93,73%)
Mật độ dân số của huyện có sự phân bố không đồng đều giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn Ở khu vực đô thị (thị trấn Ngô Mây) thì mật độ dân số là 1.626 người/km2, trong khi khu vực nông thôn bình quân chỉ có 275 người/km2
Cơ cấu dân số của huyện năm 2005 như sau:
- Nam : 95.570 người, chiếm 48,45%
(Nguồn: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phù Cát khoá XVIII, 2009; Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2007)
2.2.3 Thuỷ lợi
Trước năm 1975, huyện Phù Cát chưa có công trình thủy lợi nào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Sau ngày giải phóng, đặc biệt khi phong trào Hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh thì các công trình thủy lợi (đặc biệt là các công trình thủy lợi nhỏ) được đầu tư xây dựng khá nhiều góp phần quan trọng cho sản xuất nông nghiệp
Tính đến tháng 3 năm 2009 trên địa bàn huyện Phù Cát có các công trình thủy lợi: 23 hồ chứa đều xây dựng từ trước năm 1990, 13 đập dâng được xây dựng cách đây khoảng gần 20 năm, 5 trạm bơm và các sông, suối, hồ nhỏ
Với tổng dung tích nước và lưu lượng cơ bản như hiện nay, công tác thủy lợi của huyện hiện mới chỉ đáp ứng được 60% diện tích canh tác của toàn huyện Vì vậy
Trang 19trong những năm tới huyện cần đầu tư, nâng cấp các công trình hiện có và quy hoạch mới các công trình thủy lợi trên địa bàn để chủ động cho phần lớn diện tích được tưới tiêu trên địa bàn
2.2.4 Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Được cung cấp chủ yếu từ sông Đại Ân, sông La Tinh và các
hồ chứa nước thủy lợi trên địa bàn huyện Đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện Tuy nhiên do lưu vực các sông trên địa bàn huyện Phù Cát hẹp nên vào mùa khô lượng nước các sông xuống thấp gây thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt Chất lượng nước mặt (sông, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa Ngoài ra lượng mưa hàng năm cũng là nguồn nước ngọt chính rất quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống
Nguồn nước ngầm: Chưa có số liệu đánh giá cụ thể trữ lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện Phù Cát tuy nhiên theo khảo sát sơ bộ cho thấy, huyện Phù Cát nằm trong khu vực triển vọng có trữ lượng nước ngầm khá dồi dào, chất lượng tốt, có thể khai thác cho sản xuất và sinh hoạt ở độ sâu trung bình 20 m
b) Đất thuỷ lợi: Năm 2008 đất thuỷ lợi có diện tích 492,84 ha Trong thời kỳ
quy hoạch bố trí đất thủy lợi tăng thêm 46,89 ha (Cát Trinh 13,04 ha; Cát Tường 3,60
ha; Cát Sơn 0,05 ha; Cát Tân 4,20 ha; Cát Hiệp 12,00 ha; Cát Hanh 11,00 ha; Cát Lâm 3,00 ha) cho việc xây mới và mở rộng hệ thống kênh mương nội đồng Diện tích đất thủy lợi tăng thêm được sử dụng từ các loại đất:
* Đất nông nghiệp : 44,69 ha
* Đất bằng chưa sử dụng : 2,20 ha
Trang 20Đến năm 2020 đất thủy lợi của huyện có 539,73 ha, chiếm 18,59% diện tích đất có mục đích công cộng
Bảng 2.2: Qui hoạch sử dụng đất thuỷ lợi huyện Phù Cát năm 2009
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Trang 21CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Một số khái niệm
a) Các khái niệm về hệ thống thuỷ nông
Công trình thuỷ lợi: Là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt
lợi của nước; phòng, chống các tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, tràn xả lũ, đập, cống lấy nước, trạm bơm, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hồ chứa: Ngăn giữ nước nguồn, tích nước lại thàng hồ và phân phối dần để
tưới
Công trình đầu mối: Là cửa lấy nước từ nguồn cung cấp nước vào hệ thống
hoặc tiêu nước từ hệ thống ra khu nhận nước tiêu Công trình đầu mối có nhiệm vụ phối hợp một cách hợp lý yêu cầu cấp thoát nước của hệ thống với nguồn nước, tùy theo từng trường hợp cụ thể để quyết định các hình thức, quy mô công trình
Tràn xả lũ: Là công trình xả nước từ hồ chứa hay đập dâng về hạ lưu trong
mùa mưa lũ để đảm bảo an toàn cho đập Tràn xả lũ thường được xây bằng đá, bê tông cốt thép hoặc sử dụng ngay lớp đá gốc tự nhiên tại vị trí công trình
Cống lấy nước: Là công trình để lấy nước từ hồ chứa, đập dâng hay từ sông
suối vào hệ thống kênh mương Tuỳ thuộc vào nhu cầu sản xuất và nhu cầu tưới từng đợt mà điều tiết lượng qua cống cho phù hợp
Đập: Là công trình chắn ngang sông làm dâng cao mực nước phía trước tạo
thành hồ chứa Vật liệu làm đập là bê tông, bê tông cốt thép, gỗ, đá, đất và được gọi tương ứng là đập bê tông, đập bê tông cốt thép, đập gỗ, đập đá, đập đất
Trang 22Kênh: Là một dòng sông nhân tạo được đào, đắp hoặc nửa đào nửa đắp hay xây
mà thành Mặt cắt ngang của kênh thường có dạng hình thang, đôi khi là hình chữ nhật hay nửa tròn, có nhiệm vụ dẫn nước từ công trình đầu mối về ruộng
b) Các khái niệm về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Để tăng cường sự tham gia của người dân trong công tác quản lý, một tổ chức đại diện cho người dân đó là Hợp Tác Xã (HTX) HTX phối hợp với tổ thủy nông và người dân cùng quản lý hệ thống thủy lợi
Hợp tác xã (HTX): là tổ chức kinh tế tập thể, hoạt động như một loại hình
doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân và tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính
trong phạm vi vốn điều lệ của mình
Tổ thuỷ nông (TTN): là một nhóm người do dân bầu ra hay HTX thuê để quản
lý và duy trì các con kênh trong hệ thống thuỷ nông của họ
Cộng đồng: Khái niệm cộng đồng đồng không cố định và khó xác định Cộng
đồng có thể được xem như một tổ chức của những người cùng huyết thống, ở cùng địa
điểm hay lợi ích chung do xã hội quy định (Hayami, 1998)
Cộng đồng có thể là một nhóm cá nhân chủ yếu là quan hệ cạnh tranh nhưng đôi khi cũng đến với nhau vì một mục đích chung Trong thủy lợi, cộng đồng người sử dụng nước là tất cả các cá nhân sử dụng một hệ thống cấp nước (Schouten & Moriarty, 2003)
Sự tham gia của cộng đồng: Là một loạt các quá trình mà thông qua đó cộng
đồng địa phương tham gia và đóng vai trò trong các vấn đề có ảnh hưởng đến họ (Cáp Thị Phương Anh, 2008)
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng là một quá trình có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả Sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng và phụ thuộc vào bối cảnh địa phương, quy mô của cộng đồng, luật pháp của nhà nước, thể chế, năng lực địa phương và công nghệ được sử dụng (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)
Các hình thức quản lý khác nhau nằm trong hai hình thức cơ bản là quản lý hành chính nhà nước và quản lý cộng đồng Ngoài ra, đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng (QLNLDVCĐ) là hình thức quản lý trung gian giữa hai hình
Trang 23thức trên QLNLDVCĐ là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích Cả hai hình thức quản
lý và quản lý cộng đồng thuần tuý đều có lợi ích và hạn chế riêng, đôi khi không thể dung hoà hay đánh đổi được Vì thế, cần một hình thức quản lý kết hợp hài hòa các lợi ích, sự phối hợp và khả năng của cộng đồng cũng như các kỹ năng về khoa học kỹ thuật, công nghệ và quản lý của các tổ chức nhà nước Đó là hình thức quản lý dựa vào cộng đồng Hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao khi có sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi và các bên liên quan trong việc quản lý
3.1.2 Tổ chức quản lý thuỷ lợi có sự tham gia của cộng đồng
a) Vì sao chuyển sang quản lý thuỷ lợi có sự tham gia của cộng đồng
Mặc dù nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng khá dồi dào nhưng trên thực tế, nguồn nước có thể sử dụng ngay là hạn hữu vì sự phân bố không đều theo thời gian và không gian Chất lượng nguồn nước suy giảm Theo ước tính, khoảng 37%, thậm chí có nơi lên đến 50% nước bị mất đi do lãng phí Nguyên nhân một phần do hệ thống tưới tiêu được xây dựng từ khá lâu đến nay đã bị xuống cấp và hư hỏng nặng, hệ thống tưới tiêu chỉ có khả năng cung cấp nước cho khoảng 50-60% theo yêu cầu công suất thiết kế Nguồn nước tưới cho mùa khô bị thiếu
Trước đây, hình thức quản lý thuỷ lợi chủ yếu là nhà nước quản lý toàn bộ và người dân chỉ là người sử dụng nguồn nước, cũng có nơi người dân tận dụng điều kiện
tự nhiên của các dòng sông, suối làm nguồn nước tưới và tự quản lý nó Trong thời gian này nhà nước đã gặp phải những thất bại trong quản lý thuỷ lợi: thâm hụt ngân sách, sự xuống cấp của kênh dẫn nước, hệ thống tưới tiêu kém chất lượng, mâu thuẫn trong phân chia nước Những thất bại này có nguyên nhân thiên về quản lý hơn là kỹ thuật Người nông dân, những người hưởng lợi trực tiếp và sử dụng những dịch vụ tưới tiêu thì không hề tham gia vào quản lý hệ thống này Họ xem hệ thống tưới tiêu là tài sản của Nhà nước nên không có động lực để bảo vệ và phát triển nó Do đó, họ không sẵn sàng trả tiền cho những dịch vụ hay bảo trì hệ thống kênh mương Cách quản lý
mà không gắn liền người nông dân với lợi ích nguồn nước là không hiệu quả Vì vậy
để quản lý tốt nguồn nước thuỷ lợi cần tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý
Trang 24Ngoài ra, kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam đã ghi nhận và đánh giá cao vai trò quan trọng của các cộng đồng địa phương với tư cách là người trực tiếp
sử dụng nước vừa là người quản lý và bảo vệ Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng giúp cộng đồng sử dụng nước tự điều tiết nước tưới phù hợp, tự chủ về tài chính,
có nguồn vốn để tự duy tu và sửa chữa hệ thống , đồng thời giúp nhà nước tiết kiệm phần ngân sách không nhỏ chi tiêu cho lĩnh vực cấp nước., giải quyết vấn đề thiếu vốn,
xử lý các sự cố về hệ thống linh hoạt và kịp thời Vấn đề quan trọng mà quản lý cộng đồng mang lại là giúp người dân nhhận thức sự khan hiếm nguồn nước và trách nhiệm của mình đối với nguồn nước nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn nước Do
đó, quản lý thuỷ lợi dựa vào cộng đồng được áp dụng trong lĩnh vực cấp nước thuỷ lợi
b) Một số mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam – mô hình quản lý thuỷ lợi có sự tham gia (PIM)
Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng động không hàm ý cộng đồng phải có trách nhiệm đối với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng Họ
có thể phải tham gia vào một, một vài hoặc tất cả công việc quản lý, vận hành, kỹ thuật và tài chính của một hệ thống cấp nước Mức độ tham gia của cộng đồng là rất
đa dạng, từ việc đơn thuần chia sẻ thông tin về kế hoạch nước, cho đến thảo luận để đưa ra các ý tưởng, hoặc tham gia để xây dựng quyết định dựa trên sự đồng thuận đến chuyển giao trách nhiệm và quyền để kiểm soát hệ thống tại địa phương
Hiện nay, việc quản lý tưới tiêu ở Việt Nam xét chung có vai trò chủ chốt của nhà nước và vai trò ngày càng tăng của người sử dụng nước và có 3 mô hình quản lý:
mô hình hợp tác quản lý của tổ chức nông dân và nhà nước, mô hình thứ hai là chia sẻ giữa tổ chức nông dân và một tổ chức liên quan nhà nước (cơ quan bán nhà nước) và
mô hình thứ ba là nông dân tự quản lý
Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý
Đây là mô hình quản lý truyền thống và thường áp dụng trong hệ thống thuỷ lợi
cỡ trung và cỡ lớn Công ty thuỷ nông (là công ty dịch vụ của nhà nước) quản lý hệ thống ở những kênh chính và công trình chính, trạm tưới tiêu cùng công ty thuỷ nông quản lý hệ thống thoát nước và tưới tiêu ở kênh cấp 2, HTX quản lý các kênh tại địa phương và kênh dẫn nước vào ruộng Trong hệ thống này, người nông dân hưởng lợi
từ hệ thống tưới tiêu và trả phí thuỷ lợi cho vùng đất được tưới tiêu thông qua HTX
Trang 25Mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước (cơ quan bán nhà nước)
Mô hình này áp dụng cho hệ thống thuỷ lợi cỡ trung và cỡ lớn Ở kênh dẫn nước cấp địa phương và tại ruộng, TTN phối hợp với HTX để cung cấp dịch vụ thuỷ lợi cho các hộ gia đình có nhu cầu dùng nước Ở cấp cao hơn như kênh chính, hồ, sẽ
có một BQL BQL bao gồm nhân viên nhà nước và làm bên hội nông dân hay khuyến nông, họ sẽ ký hợp phân phối nước với BQL HTX HTX sở hữu và trực tiếp quản lý các công trình thuỷ lợi địa phương hoạt động độc lập với công ty thuỷ nông và thông qua cơ chế tự chủ tài chính (tự thu-chi)
Mặc dù HTX chịu trách nhiệm quản lý chung tất cả các công trình tưới tiêu nhưng các hộ gia đình sử dụng nước cũng được giao nhiệm vụ quản lý cụ thể như yêu cầu trông coi và bảo vệ các công trình tưới tiêu nội đồng, dẫn nước vào và ra theo nhu cầu Cách làm này đảm bảo các công trình tưới tiêu nội đồng được duy tu, sửa chữa kịp thời, tránh lãng phí nước TTN được đào tạo nâng cao hiểu biết về thuỷ lợi và hệ thống tưới tiêu, …do đó năng lực và trách nhiệm của họ được nâng cao, đảm bảo việc bảo vệ và quản lý nguồn nước được cải thiện đáng kể Hằng năm, TTN và hộ gia đình dùng nước cũng đóng góp công lao động để duy tu, cải tạo và nạo vét công trình thuỷ lợi Họ cũng có thể đóng góp tiền dưới hình thức phí kênh mương nội đồng (KMNĐ) cho HTX
Mô hình nông dân tự quản lý
Mô hình này áp dụng cho hệ thống tưới tiêu cỡ nhỏ Dạng thứ nhất là nông dân
tự tổ chức quản lý hệ thống tưới tiêu thông qua việc thành lập các hội hoặc nhóm người dùng nước Người dân tham gia bầu BQL và xây dựng quy chế, quy định, nguyên tắc cho hội, bầu người vận hành, sửa chữa nhỏ hệ thống Tất cả họ gặp nhau hàng tháng để xem xét và lập kế hoạch hoạt động, bà con đóng góp ý kiến Dạng thứ hai là người nông dân thành lập hệ thống quản lý tưới tiêu thông qua HTX Người nông dân có quyền tự nguyện tham gia vào HTX HTX đại diện nông dân và người dùng nước đảm nhận việc vận hành hệ thống tưới tiêu Bà con sẽ đóng phí KMNĐ cho HTX để duy tu hệ thống và chi công tác quản lý
Trang 263.1.3 Thế nào là mô hình tốt về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Vì sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng về cả hình thức và mức độ, cho nên rất khó để nói mô hình nào về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam (hay ở nước khác) là tốt nhất, vì mỗi mô hình thích ứng cho một cộng đồng cụ thể với những đặc trưng riêng về dân cư, địa lý, thể chế và văn hóa Để xem xét mức độ thành công của một mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng, cần phải có các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể
Về lý thuyết, những tiêu chí cơ bản để đánh giá một mô hình nói trên có thể bao gồm: việc thực hiện, tính bền vững và lợi ích thu được Mỗi tiêu chí lại có các chỉ
số cụ thể Ví dụ, các khía cạnh của việc thực hiện sẽ có các chỉ số vận hành, chỉ số tài chính, chỉ số xã hội và các chỉ số về thể chế Ví dụ, tính tự chủ về quản lý dịch vụ cấp nước và mức giá phù hợp là các chỉ số tốt để đánh giá mức độ thành công hơn là các
mô hình quản lý tự phát Điều này là đúng với các bằng chứng từ nhiều nơi rằng cách tiếp cận đáp ứng nhu cầu có tác động tích cực cho sự bền vững của các hệ thống Nguyên tắc cơ bản của quản lý thuỷ lợi có sự tham gia là đảm bảo sự tham gia của người dân trong quản lý từ khâu quy hoạch, làm quyết định, vận hành, bảo trì, đóng góp tài chính và giám sát công việc
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi tại huyện Phù Cát
Đặc điểm hệ thống thuỷ lợi là nhân tố ảnh hưởng đến cách thức tổ chức quản lý thuỷ lợi Đặc điểm hệ thống thuỷ lợi thuận lợi quyết định cách tổ chức quản lý hệ thống mang lại hiệu quả tốt Để đạt được mục tiêu này, tác giả tiến hành thu thập số liệu thứ cấp tại địa bàn nghiên cứu như: phòng NN & PTNT huyện Phù Cát, UBND xã Cát Trinh, HTX Cát Trinh 1 và 2
Ngoài ra, tác giả tiến hành phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản lý thuỷ lợi như cán bộ giao thông thuỷ lợi xã, BQL thuỷ lợi ở HTX, bảo vệ hồ Suối Chay, TTN, kết hợp với đi thực tế địa phương để tìm hiểu các thông tin về đặc điểm hệ thống hồ, đập dâng, kênh chính và kênh mương nội đồng, hình thức tưới, diện tích tưới
Trang 273.2.2 Mô tả tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi
Tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi là nhân tố ảnh hưởng khá quan trọng đến hiệu quả quản lý thuỷ lợi Tổ chức quản lý hợp lý sẽ góp phần cho sự thành công trong quản lý thuỷ lợi, giảm bớt những thất bại của quản lý trong quá khứ Để đạt mục tiêu này, tác giả tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý thuỷ lợi và phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản lý và những người lớn tuổi, hiểu biết các thông tin về lịch
sử quản lý thuỷ lợi nơi đây, quá trình chuyển giao quản lý cho HTX, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý thuỷ lợi hiện tại và công tác tổ chức quản lý giữa các bên liên quan
3.2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng
Khi đánh giá hiệu quả quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng, đề tài tiến hành dưới 3 góc độ: HTX, sức sản xuất của tài nguyên nước, nông hộ (Hector M Malano, Biju A Georoge and Brian Davidson, 2004)
a) Dưới góc độ HTX
Đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả quản lý dựa vào số liệu thứ cấp thu thập từ HTX về tình hình quản lý tài chính cho dịch vụ thuỷ lợi, tỷ lệ thu thuỷ lợi phí từ bà con nông dân, biện pháp để tăng cường tỷ lệ thu thuỷ lợi phí, mức lương của cán bộ thuỷ nông để tìm hiểu xem họ có đủ động lực làm việc
b) Dưới góc độ sức sản xuất của tài nguyên nước
Để đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi đề tài đã tiến hành xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây lúa mà đặc biệt quan tâm là mức độ ảnh hưởng của nhân tố nước đến năng suất lúa của vụ Hè Thu Nước đóng vai trò quan trọng đối với cây lúa Nếu nước được cung cấp đầy đủ thì năng suất tăng, hiệu quả quản lý tốt và ngược lại
Ở đây, đề tài dùng biến khoảng cách đến kênh chính (KC1) làm biến đại diện cho biến nước Khi sự chênh lệch về năng suất lúa của nhóm hộ có ruộng gần và xa nguồn nước
ít thì chứng tỏ nước được cung cấp đều, cách quản lý thủy lợi nơi đây đạt hiệu quả, năng suất ổn định Chính vì vậy, đề tài tiến hành xây dựng hàm hồi quy về năng suất cây lúa/sào cho vụ Hè Thu năm 2009 tại vùng trồng lúa xã Cát Trinh thuộc hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay cung cấp Để đạt mục tiêu này cần tiến hành các bước:
Trang 28b1) Thu thập số liệu
Trong phạm vi đề tài này tôi tiến hành thu thập số liệu sơ cấp liên quan đến
năng suất cây lúa vụ Hè Thu Thu thập số liệu theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp
hộ nông dân trồng lúa bằng cách lập bảng câu hỏi để điều tra Phương pháp điều tra chọn mẫu là phương pháp điều tra không toàn bộ, chỉ tiến hành điều tra một số mẫu được chọn trong tổng thể đối tượng nghiên cứu, sau đó suy rộng ra cho tổng thể Trong phạm vi đề tài này tôi đã tiến hành điều tra 60 hộ có diện tích lúa nằm trong vùng hệ thống thuỷ lợi Suối Chay cung cấp Trong quá trình điều tra nông hộ trồng lúa, tôi chọn mẫu có chủ đích, chọn cả những hộ có ruộng lúa gần và xa nguồn nước tưới Tại
xã Cát Trinh có 4 thôn An Đức, Phú Nhơn, Phong An, Phú Kim mà nguồn nước tưới tiêu do hồ Suối Chay cung cấp chỉ phục vụ cho đất ruộng lúa của 3 thôn An Đức, Phú Nhơn, Phong An Thôn An Đức nằm đầu kênh nên nước thường đủ hơn, thôn Phong
An đất cao hơn và xa kênh hơn nên nước thường hơi thiếu Mỗi hộ đều có nhiều đám ruộng có những đám xa kênh và gần kênh Khoảng cách từ ruộng đến kênh khác nhau nên lượng nước khác nhau làm năng suất khác nhau Vì vậy tác giả chọn 3 thôn mỗi thôn 20 hộ 20 hộ ở thôn An Đức sẽ chọn những hộ có ruộng gần kênh chính 20 hộ thôn Phong An có ruộng xa kênh, 20 hộ thôn Phú Nhơn chọn 10 hộ gần kênh và 10 hộ
xa kênh Vì vậy mẫu thu được sẽ gồm cả những đám ruộng gần kênh chính và xa kênh chính Khoảng cách đến kênh khác nhau nên lượng nước được đưa vào ruộng mùa khô
khác nhau dẫn đến năng suất thay đổi như kỳ vọng
b2) Phân tích hồi quy xây dựng hàm năng suất lúa để đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi
Hồi quy là công cụ cơ bản để đo lường kinh tế Phân tích hồi quy đo lường mối quan hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích) Phân tích hồi quy
được tiến hành theo các bước sau:
Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy để xây dựng hàm năng suất lúa của vùng tưới thuộc hệ thống thuỷ nông cung cấp Phương trình hồi qui được trình bày ở dạng Coub-Douglas:
NSUAT = e βo * CPPHAN β1 * CPTHUOC β2 * CPCONG β3 * CPGIONG β4 * KC β5 * HD β6 * eε
Trang 29
Hàm Coub-Douglas được chuyển về dạng Logarit:
LnNSUAT=β 0 +β 1 LnCPPHAN+β 2 LnCPTHUOC+β 3 LnCPCONG+β 4 LnCPGIONG+β 5 LnKC+β 6 LnHD+ε
Trong đó:
NSUAT = Năng suất lúa (kg/500m2/ vụ )
Biến giải thích
CPPHAN: Chi phí phân bón (đồng/500m2/vụ)
CPTHUOC: Chi phí thuốc BVTV (đồng/500m2/vụ)
CPCONG: Công chăm sóc (đồng/500m2)
CPGIONG: Chi phí giống (đồng/500m2/vụ)
KC: Khoảng cách tới nguồn nước (mét)
HD: Hạng đất Tại đại bàn huyện Phù Cát, đất trồng lúa được chia thành 7 hạng
(hạng 1,2,3,…, 7) Đất tốt nhất được xếp vào hạng 1, tốt thứ hai xếp vào hạng 2 và
hạng đất càng tăng thì chất lượng đất càng giảm
Bảng 3.1: Kỳ vọng dấu cho hệ số mô hình hàm năng suất
Giải thích kỳ vọng dấu
- Chi phí phân : phân là yếu tố rất quan trọng làm tăng năng suất cây lúa Nếu
sử dụng phân một cách hợp lí thì năng suất tăng Vì vậy, biến này kỳ vọng mang dấu
dương
- Chi phí thuốc BVTV: thuốc BVTV giúp nhà nông phòng chống được các
loại sâu, bệnh gây hại cây lúa, diệt cỏ dại hại cây lúa nên nếu sử dụng thuốc BVTV ở
mức thích hợp sẽ làm tăng năng suất lúa Vì vậy, biến này kỳ vọng mang dấu dương
Trang 30- Công chăm sóc: Kỳ vọng mang dấu dương vì nếu cùng một diện tích mà
ruộng nào được chăm sóc nhiều hơn sẽ cho năng suất cao hơn, ngược lại những ruộng
ít được chăm sóc năng suất mang lại thấp hơn
- Chi phí giống: kỳ vọng mang dấu dương vì giống mới, tốt có chi phí cao
thường cho năng suất cao Đôi khi, giống mới không phù hợp với điều kiện tự nhiên thì năng suất có giảm nhưng trường hợp này ít
- Khoảng cách: đây là biến đặc trưng để đo lường lượng nước sử dụng, khi
khoảng cách từ đám ruộng đến nguồn nước càng xa thì sẽ gây khó khăn cho người dân trong việc dẫn nước vào ruộng mình vào vụ Hè Thu, nước tưới không đầy đủ và ruộng thiếu nước làm năng suất giảm Những nơi gần nguồn nước năng suất lúa sẽ cao Vì vậy dấu kì vọng là âm
- Hạng đất: đất thường được chia làm nhiều hạng như hạng 1, hạng 2, hạng 3
Hạng 1 đất tốt nhất và chất lượng đất giảm dần qua hạng 2, hạng 3 Như vậy khi hạng đất càng tăng thì làm cho năng suất lúa càng giảm dần, kỳ vọng dấu cho biến hạng đất
là âm
b3) Xử lý số liệu
Sau khi tiến hành thu thập số liệu tôi tiến hành phân tích chúng Dựa trên kết quả phân tích đó để đánh giá hiệu quả của việc quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng
Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng các phần mềm: MS Excel, MS Word, Eview 3.0
c) Dưới góc độ nông hộ
Đánh giá hiệu quả quản lý thuỷ lợi theo phương pháp cộng đồng dưới góc độ nông hộ thông qua các chỉ tiêu thể hiện mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ thuỷ lợi và mức độ tham gia của người dân trong công tác quản lý Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: mức độ hài lòng của người dân đối với thời gian, chu kỳ dẫn nước, lượng nước dẫn vào, mức độ công bằng giữa các hộ, cách làm việc của BQL, hệ thống kênh mương; mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động cộng đồng; cách thức quản lý mang lại kết quả tốt nhất…đề tài tiến hành thu thập số liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi đựơc thiết kế và điều tra thử trước khi tiến hành phỏng vấn
Trang 31CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của mẫu điều tra
4.1.1 Quy mô và kích cỡ nhân khẩu của hộ qua mẫu điều tra
Phù Cát là một huyện có nền nông nghiệp khá lâu đời nên hơn 80% số người trong độ tuổi lao động tham gia trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Quy mô hộ ảnh hưởng đến số lao động trong nông nghiệp Kết quả điều tra chọn mẫu cho thấy quy mô
hộ gia đình của huyện như sau:
Bảng 4.1: Quy mô hộ và kích cỡ nhân khẩu của hộ qua cuộc điều tra
2 Số người bình quân/hộ Người/ hộ 4,62
3 Số lao động bình quân/hộ Người/ hộ 2,38
4 Số lao động chính nông
Nguồn: ĐT & TH Theo điều tra, dân số nơi đây nằm ở mức trung bình, quy mô hộ không lớn Số lượng nhân khẩu trung bình/hộ của người dân nơi đây là ở mức trung bình Trong tổng
số 60 hộ điều tra, hộ gia đình từ 4 đến 6 người chiếm tỷ lệ cao nhất 75% Nguồn lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (cứ 2,38 người trong độ tuổi lao động/hộ thì đã có 1,92 người lao động nông nghiệp là chính) Những hộ này được phân theo nhóm tuổi và trình độ học vấn
Trang 324.1.2 Nhóm tuổi và trình độ học vấn
Đây là thước đo chất lượng dân cư hay chất lượng lao động của một khu vực Nhóm tuổi và trình độ học vấn của người dân tại địa bàn nghiên cứu được thể hiện qua hình 4.1 dưới đây
Hình 4.1: Cơ cấu nhóm tuổi qua mẫu điều tra
Nguồn tin: ĐT & TTTH Biểu đồ cho thấy lao động nơi đây không trẻ, nhóm tuổi chiếm đa số trong mẫu điều tra là từ 30-50 tuổi (chiếm 61,6% tổng số hộ điều tra) Đây là độ tuổi lao động trong nông nghiệp nhiều kinh nghiệm và sức khoẻ nhất Những hộ có độ tuổi dưới 30 theo điều tra là không có; trong khi đó, số người hơn 70 tuổi lại nhiều hơn Điều này phần nào chứng tỏ lao động nông nghiệp ở đây hơi già Kế thừa nền nông nghiệp truyền thống, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp mà chính là trồng lúa
Trang 33Một lực lượng lao động đầy đủ về số lượng thì cũng cần chất lượng cao Chất
lượng lao động thể hiện qua trình độ học vấn Trình độ học vấn càng cao người dân có
điều kiện tiếp thu những tiến bộ trong nông nghiệp vào thực tiễn tạo năng suất cao,
cũng như có thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động cộng đồng và công tác quản lý
thủy lợi ở địa phương Qua cuộc điều tra, trình độ học vấn của người dân nơi đây được
hiện nay, chủ yếu là trình độ cấp I và cấp II (78,3%) Số người mù chữ và trên cấp III
là rất thấp chỉ chiếm 1,7% Tuy nhiên, ở nông thôn, trình độ học vấn của người dân
thường thấp là điều tất yếu Trình độ học vấn là yếu tố tích cực ảnh hưởng tới việc bà
con nông dân tham có nhận thức đầy đủ và tham gia vào công tác tổ chức quản lý thuỷ
lợi, đảm bảo sự thành công trong quản lý với sự tham gia của cộng đồng Trình độ học
vấn cũng sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
4.1.3 Thu nhập của người dân
Thu nhập là yếu tố cơ bản phản ánh mức sống của người dân nơi đây Hộ có thu
nhập càng cao sẽ bớt phụ thuộc vào nông nghiệp hơn và họ có khả năng chi trả đầy đủ
cho các dịch vụ thủy lợi hơn (như đóng thuỷ lợi phí đầy đủ, khả năng chi trả thêm cho
dịch vụ thuỷ lợi) Tổng thu nhập bình quân của hộ trong một năm được biểu diễn ở
hình sau:
Trang 34Hình 4.2: Thu nhập bình quân của hộ/năm (triệu đồng)
Hộ gia đình có thu nhập trên 50 triệu đồng/năm chiếm rất ít, chỉ có 5 hộ trong 60 hộ điều tra chiếm 8,3% Do chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, những hộ tham gia trồng lúa được điều tra thì hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp là rất ít nên thu nhập của bà con nơi đây rất thấp
Trang 35Từ tổng thu nhập bình quân/hộ/năm và quy mô hộ ta chia ra và tính được thu nhập trung bình/người/tháng Theo biểu đồ, thu nhập bình quân/người/tháng của người dân lao động nông nghiệp huyện Phù Cát chủ yếu nằm trong khoảng từ 150.000 đồng đến 667.000 (chiếm 98%) (theo số liệu điều tra) Số người có thu nhập cao, trên 1 triệu/tháng chiếm rất ít Nhìn chung, thu nhập bà con nơi đây còn thấp
4.2 Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay
Hồ Suối Chay là một hồ lớn thuộc địa phận xã Cát Trinh, được xây dựng thành
hồ bê tông phục vụ thuỷ lợi từ năm 1980 và được đưa vào sử dụng năm 1981 Với tổng diện tích lưu vực là 9,5 km2, hồ Suối Chay dự trữ được nguồn nước nhờ hệ thống khe, suối chảy từ trên núi xuống và nguồn nước mưa tạo nên Hồ với diện tích tưới thiết kế là 600 ha, diện tích phục vụ tưới tiêu cả năm chủ yếu là ruộng lúa của hai xã Cát Trinh (1246 ha năm 2009) và Cát Tân
Bảng 4.3: Các thông số kỹ thuật của hồ
Nguồn: Quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật thi công và tổng dự toán công trình hồ chứa nước Suối Chay, 1999
Diện tích đất ruộng lúa ở 3 thôn: An Đức, Phú Nhơn, Phong An xã Cát Trinh đều lấy nước thủy lợi từ hồ Suối Chay Chỉ có đất lúa ở thôn Phú Kim thì lấy nước từ giếng khoan, đào Đất trồng hoa màu khác như đậu phộng, mỳ, dưa,…thì lấy nước từ giếng khoan và nước mưa
Trang 36Hình 4.4: Sơ đồ phác hoạ hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay
Xã Cát Trinh
(đập bổi) Lạch Lạch
(đập bê tông cốt thép) HTX Cát Trinh 2 quản lý (đập bổi)
Trang 37hư hỏng hệ thống kênh mương bên dưới Nước từ cổng van theo hệ thống kênh mương cấp 1 tới các đập dâng (hình 4.4) Hệ thống kênh chính (kênh cấp 1) được bà con trước đây dùng dòng suối làm nên
Nước được đưa đến đập cuối nguồn trước Đập dâng có nhiệm vụ chặn nước lại để mực nước dâng cao và theo các con kênh nằm ở hai bên phía trên dẫn vào kênh mương cấp 2 rồi vào ruộng Đối với đập dâng bằng bê tông cốt thép thì có cửa để mở nước chảy tới đập dâng phía dưới hay tiêu nước vào mùa lũ và chặn nước để nước dâng cao chảy theo kênh cấp 2 đến ruộng Đập dâng bằng đất (hay còn gọi là đập bổi) thường có 2 lạch hai bên thân đập thay vì cửa mở nước của đập bê tông Hai lạch hai bên thân đập bổi giống như hai mương nhỏ xuyên qua hai bên thân đập (hình 4.4) Khi muốn dẫn nước xuống đập dâng phía dưới chỉ cần mở lạch, khi chặn nước lại cho mình thì đóng lạch lại Đối với đập dâng làm bằng đất thì trung bình hàng năm bà con nông dân cùng tổ thuỷ nông phải đắp đập lại 1 lần/năm hay 2 lần/năm (khi vừa đắp xong đã bị lũ muộn cuốn trôi) vào cuối mùa lũ để trữ nước cho mùa vụ tiếp theo sử dụng Các đập dâng bằng đất vào mùa lũ sẽ bị cuốn trôi và tiêu nước Theo điều tra, tổng chiều dài từ công trình đầu mối đến đập cuối nguồn là 9km, chiều cao kênh chính 0,6 – 1m, chiều rộng kênh chính 2 – 3m Hiện tại hệ thống kênh chính và kênh mương nội đồng đều làm bằng đất
Theo đánh giá chung của bà con, hiện tại lượng nước khá ổn định và thường đủ cho việc tưới tiêu vụ Hè Khi cuối vụ lúa chín không cần nước nữa thì hồ Suối Chay cũng vừa cạn nước, đến mùa mưa nước hồ sẽ có trở lại Hiện tại nhà nước đang đầu tư xây dựng hệ thống kênh chính cấp 1 bằng bê tông dọc theo hệ thống kênh chính bằng đất đang dùng Theo điều tra, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp được tưới, nước dẫn trực
Trang 38tiếp tới ruộng là khá lớn (91,6%) Điều này được thể hiện ở hình 4.5 Thỉnh thoảng, năm hạn hán kéo dài như đợt tháng 4 vừa qua (năm 2010) thì mới thiếu nước tưới
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diện tích đất trồng lúa được tưới nhờ hồ Suối Chay
Nguồn: ĐT & TH
4.1.2 Hình thức tưới nước
Hồ Suối Chay cung cấp nước tưới cho diện tích ruộng lúa cả hai xã Cát Trinh
và Cát Tân Vì vậy, vào mùa khô lượng nước tưới thường không đủ, cần có một phương pháp được đưa ra để giúp tiết kiệm nguồn nước và phân chia nước tưới sao cho hợp lý giữa các vùng Phương pháp tưới luân phiên được áp dụng Tưới luân phiên theo lịch trình theo thứ tự đập cuối nguồn nhận nước trước với số lượng ngày quy định rồi chặn nước lại chuyển sang vùng khác Cách tưới luân phiên và hiện tượng thiếu nước tuới đòi hỏi phải có một BQL đại diện đứng ra phân chia lịch trình và TTN làm nhiệm vụ dẫn nước tại các đập dâng của mình tới kênh cấp 2 để dân tự dẫn nước vào ruộng mình tránh tình trạng mâu thuẫn giữa các hộ khi dẫn nước Đặc điểm hệ thống thuỷ lợi đã khiến cho cách thức tổ chức quản lý thuỷ lợi có sự tham gia của cộng đồng
ra đời
8,4%
91,6%
Diện tích đất nôngnghiệp chưa đượctưới
Diện tích đất nôngnghiệp được tưới
Trang 394.3 Mô tả tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay:
Hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay được nhà nước đầu tư xây dựng từ năm 1980
và được đưa vào sử dụng năm 1981 làm cho diện tích tưới thay đổi theo chiều hướng tăng Trước năm 1981, diện tích lúa chủ yếu là lúa Đông Xuân 150ha Ngày nay, hệ thống kênh mương nội đồng và đập dâng được xây dựng ngày một nhiều và mở rộng thêm, diện tích tưới tăng đáng kể: diện tích cả năm đạt 1246ha (trong đó, vụ Đông Xuân 441ha, vụ Hè Thu 185ha và vụ mùa 620ha) cho toàn xã Cát Trinh (số 01/ BC – UBND xã Cát Trinh, 2009)
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diện tích đất trồng lúa của 3 vụ năm 2009
4.3.1 Lịch sử quản lý thuỷ lợi nơi đây
Hệ thống thuỷ lợi Suối Chay bắt nguồn từ hồ chứa Suối Chay Đây là hệ thống liên xã và nó phục vụ diện tích đất canh tác cho hai xã Cát Trinh và Cát Tân
Trang 40Phù Cát là một huyện có nền nông nghiệp khá lâu đời nên vấn đề thuỷ lợi cũng được quan tâm nhiều
Từ trước năm 1981, khi hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay chưa được đầu tư xây dựng, hệ thống thuỷ lợi còn khá nhỏ lẻ, qui mô nhỏ, được bà con nông dân tự đắp bằng đất và sử dụng lợi thế tự nhiên của nguồn nước sẵn có Vì vậy, nước tưới chủ yếu dựa vào nguồn nước mưa trữ lại và một phần nguồn nước từ hồ Suối Chay chảy ra theo kênh mương Lượng nước đã ít mà kênh mương lại nhỏ hẹp nên nước thất thoát khá nhiều Lượng nước còn lại chỉ đủ phục vụ cho diện tích lúa gần nguồn nước và ruộng thấp Lúa chỉ làm được từ một đến hai vụ/năm và thường thiếu vào cuối mùa vụ Lúc
đó, đội thuỷ lợi gồm nhiều người (HTX Cát Trinh 2 gồm 20 người nay còn 6 người) có nhiệm vụ dẫn nước vào ruộng cho bà con Đội thuỷ lợi do HTX quản lý và chi trả lương
Khi đất ruộng được nhà nước giao quyền cho người dân (năm 1994 - 1995) thì đội thuỷ lợi được gọi là tổ thuỷ nông như ngày nay
Từ năm 1981, hệ thống thuỷ lợi hồ Suối Chay được xây dựng bởi nhà nước và được quản lý bởi nhà nước Bà con nông dân làm nông nghiệp dưới chế độ tập thể và
là người hưởng những lợi ích của nước thuỷ lợi Khi hệ thống hồ được xây dựng thì mỗi người dân trong độ tuổi lao động phải đóng góp 40 công lao động (có thể không góp công mà quy ra trả tiền theo giá công hiện tại) để đóng góp xây dựng hồ Nhà nước hỗ trợ tiền khi xây dựng Người dân lúc đó chưa giữ vai trò quản lý hệ thống hồ, kênh, mương thuỷ lợi và hưởng lương nên họ chỉ biết khai thác sức sản xuất của nước
và sử dụng tràn lan chứ không có động lực bảo vệ, giữ gìn, tu bổ chúng nên nước thường dư vào đầu mùa vụ đến giữa hoặc cuối mùa vụ thì xảy ra hiện tượng thiếu nước tưới Hệ thống kênh mương ít được khai thông gây thất thoát nước mùa khô và ngập úng ruộng lúa mùa mưa Vì vậy một sự thay đổi trong cách quản lý thuỷ lợi được
áp dụng nơi đây Đó là chuyển giao quản lý từ nhà nước sang HTX và nông dân
4.3.2 Quản lý thuỷ lợi chuyển giao cho HTX:
Từ những năm 1990, bắt nguồn từ sự thất bại trong quản lý thuỷ lợi tại Việt Nam và kinh nghiệm quản lý từ các nước khác, Nhà nước đã đưa ra một loạt các văn bản pháp luật về chuyển giao quản lý của các hệ thống thuỷ lợi từ nhà nước đến người dùng nước (nông dân) hay đại diện người dùng nước (HTX, tổ thuỷ nông) để tăng sự