Đầu thế kỷ 19, hầu hết phân tích hoá học định lượng đều sử dụng phương pháp trọng lượng (gravimetry method) hoặc phương pháp chuẩn độ (titrimetry method). Với những phương pháp này đều đạt được độ đúng (accuracy) cao, nhưng khó có thể xác định được những thành phần hợp chất có nồng độ thấp trong nước. Trong suốt thời gian này nhiều nghiên cứu được bắt đầu để mở rộng khả năng phân tích định lượng đặc biệt các các yếu tố vết trong môi trường.
Trang 149
CHƯƠNG 8 PHƯƠNG PHÁP HẤP THU PHÂN TỬ UV – VIS 8.1 Tổng quan
Đầu thế kỷ 19, hầu hết phân tích hoá học định lượng đều sử dụng phương pháp trọng lượng (gravimetry method) hoặc phương pháp chuẩn độ (titrimetry method) Với những phương pháp này đều đạt được độ đúng (accuracy) cao, nhưng khó có thể xác định được những thành phần hợp chất có nồng độ thấp trong nước Trong suốt thời gian này nhiều nghiên cứu được bắt đầu để mở rộng khả năng phân tích định lượng đặc biệt các các yếu tố vết trong môi trường Một trong số những phát minh đó là phương pháp so màu quang phổ
Phương pháp so màu đầu tiên là phương pháp Nessler phân tích hàm lượng ammonia trong nước vào năm 1856 Nessler khám phá ra rằng khi thêm HgI2 và KI vào trong môi trường có chưa NH4+ sẽ tạo thành dung dịch màu từ màu vàng đến màu nâu đỏ tuỳ theo nồng độ của
NH4+ Màu của mẫu sẽ được so sánh với màu của mẫu chuẩn để xác đinh nồng độ tương ứng trong mẫu Cho đến ngày nay phương pháp này đã được nghiên cứu bổ sung để phân tích nước mặt và nước thải trong Standard Methods Cuối thế kỷ 19, một số phương pháp mới bắt đầu được khám phá như phương pháp hấp thu, phát xạ, tán xạ, tia cực tím, điện từ hồng ngoại phát xạ Thế kỷ 20 là giai đoạn phát triển của tia X, microwave, và sóng radio, các hạt năng lượng bao gồm hạt electron và ion
8.2 Lịch sử nghiên cứu quang phổ học
Quang phổ học là một môn học chính yếu trong thiên văn học, nó đã được ứng dụng thành công để nghiên cứu về khí quyển trong hành tinh chúng ta Cách đây 200 năm, Joseph von Fraunhofer (1787-1826) lần đầu tiên sản xuất loại máy đo quang phổ mà tính năng không có
gì sánh kịp lúc bấy giờ Ông ấy đã khám phá ra rất nhiều các đường tối trong quang phổ của ánh sáng mặt trời Ông ấy có thể xác định chính xác độ dài bước sóng của nhiều “Fraunhofer lines” (vạch) và thuật ngữ này ngày nay vẫn được dùng Tuy nhiên, trong thời gian này ông ấy không hiểu được những cơ sở vật lý và ý nghĩa về những vấn đề mà ông ấy khám phá ra
Hình 8.1 Thiết bị Spektralapparat thiết kế bởi Kirchhoff và Bunsen (1833)
Trang 250
Thành tựu quan trọng kế tiếp về “Fraunhofer lines” là quá trình tìm ra nguyên lý vật lý của sự hấp thu và phát xạ vào năm 1859 với sự cộng tác của nhiều nhà vật lý nổi tiếng như Gustav R Kirchhoff và Robert W Bunsen tại Heidelberg Thiết bị mà họ sử dụng là “Spektralapparat”,
họ ghi nhận được quá trình phát xạ rất đặc biệt của nhiều nguyên tố khác nhau Với phương pháp này họ đã tiếp tục khám phá ra 2 nguyên tố mới là Cäsium và Rubidium, họ chiết được một lượng rất nhỏ (7g) từ 44.000 lít nước khoáng gần núi Bad Nauheim, Đức Sự khám phá này là nền tảng cho sự khám phá tiếp theo về sự hấp thu và phát xạ của hấp thu phân tử Năm 1879 Marie Alfred Cornu thấy rằng, những tia có bước sóng ngắn của bức xạ mặt trời trên bề mặt trái đất bị hấp thụ bởi khí quyển Một năm sau đó, Walther Noel Hartley mô tả rất
tỉ mỉ về sự hấp thụ UV của O3 với độ dài bước sóng 200 và 300 nm và nó trở nên rõ ràng hơn khi họ phát hiện ra rằng O3 chứa đầy trong bầu khí quyển Năm 1880, Chappuis khám phá ra
sự hấp thu trong vùng khả kiến (400 – 840nm) Năm 1925 Dobson phát triển một máy quang phổ mới rất ổn định sử dụng lăng kính bằng thạch anh
8.3 Đại cương về quang phổ
Trong quang phổ học, ánh sáng nhìn thấy (ánh sáng khả kiến), tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia
Rơnghen, sóng radio đều được gọi chung một thuật ngữ là bức xạ
Theo thuyết sóng, các dạng bức xạ này là dao động sóng của cường độ điện trường và cường
độ từ trường, nên bức xạ còn được gọi là bức xạ điện từ
Sau thuyết sóng, thuyết hạt cho thấy bức xạ gồm các “hạt năng lượng” gọi là photon chuyển động với tốc độ ánh sáng (c = 3.108 m/s) Các dạng bức xạ khác nhau thì khác nhau về năng lượng hcủa các photon Ở đây, năng lượng của bức xạ đã được lượng tử hóa, nghĩa là năng lượng của bức xạ không phải liên tục mà các lượng tử năng lượng tỉ lệ với tần số của dao động điện từ theo hệ thức Planck
Hạt có khối lượng m chuyển động với vận tốc v có bước sóng đi đôi với nó là cho bởi hệ thức:
λlà bước sóng (de Broglie)
h = 6,625.10-34 J.s là hằng số Planck
Trang 351
8.3.1 Các đại lƣợng đo bức xạ điện từ
Bước sóng : Là quảng đường mà bức xạ đi được sau mỗi dao động đầy đủ
Đơn vị: m, cm, m, nm, A o (1cm = 108 A o = 10 7 m =104 m)
Tần số : Là số dao động trong một đơn vị thời gian (giây)
Trong 1 giây bức xạ đi được c cm và bức sóng cm, vậy:
Năng lượng bức xạ: Các dao động tử (phân tử chẳng hạn) chỉ có thể phát ra hoặc hấp thụ
năng lượng từng đơn vị gián đoạn, từng lượng nhỏ nguyên vẹn gọi là lượng tử năng lượng:
Bức xạ điện từ bao gồm 1 dãy các sóng điện từ có bước sóng biến đổi trong khoảng rất rộng:
từ cỡ mét ở sóng rađio đến cỡ A o (10–10 m) ở tia Rơnghen hoặc nhỏ hơn nữa Toàn bộ dãy sóng đó được chia thành các vùng phổ khác nhau
Bước sóng λ (nm)
Đỏ Cam Vàng
Lục Tím Chàm Lam
(Khả kiến)
Vi sóng Sóng radio Tia hồng ngoại
Tia X
Vùng VIS
Hình 8.2 Các phổ của sóng điện từ
Trang 452
Mắt người chỉ cảm nhận được một vùng phổ điện từ rất nhỏ gọi là vùng nhìn thấy (khả kiến) bao gồm các bức xạ có bước sóng từ 396 – 760 nm Hai vùng tiếp giáp với vùng nhìn thấy là vùng hồng ngoại và vùng tử ngoại UV
8.3.3 Sự tương tác giữa vật chất và bức xạ điện từ
Ở điều kiện bình thường, điện tử của phân tử nằm ở trạng thái liên kết, nên phân tử có mức năng lượng thấp, gọi là trạng thái cơ bản Eo (Hình 8.3)
Khi chiếu một bức xạ điện từ vào một môi trường vật chất, sẽ xảy ra hiện tượng các phân tử
vật chất hấp thụ (absorption) hoặc phát xạ (emission) năng lượng, hay được gọi là trạng
thái kích thích (Hình 8.3) Năng lượng mà phân tử phát ra hay hấp thụ vào là:
E = E2 – E1 = h
Trong đó, E1 và E2 là mức năng lượng của phân tử ở trạng thái đầu và trạng thái cuối
(hay còn gọi là trạng thái kích thích) là tần số của bức xạ điện từ bị hấp thụ hay phát xạ ra Nếu E > 0 thì xảy ra sự hấp thụ bức xạ điện từ
Nếu E < 0 thì xảy ra sự phát xạ năng lượng
Hình 8.3 Sự hấp thụ (A) hoặc phát xạ (B) năng lượng của một photon
Theo thuyết lượng tử, các phân tử và các bức xạ điện từ trao đổi năng lượng với nhau không phải bất kỳ và liên tục mà có tính chất gián đoạn Phân tử chỉ hấp thụ hoặc phát xạ 0, 1, 2, 3,…n lần lượng tử h mà thôi Khi phân tử hấp thụ hoặc phát xạ sẽ làm thay đổi cường độ của bức xạ nhưng không làm thay đổi năng lượng của nó, bởi vì cường độ bức xạ điện từ xác định bằng mật độ các hạt phôton có trong chùm tia, còn năng lượng bức xạ điện từ lại phụ thuộc tần số của bức xạ
Vì thế khi chiếu một chùm bức xạ điện từ với một tần số duy nhất đi qua môi trường vật chất thì sau khi đi qua năng lượng của bức xạ không hề thay đổi mà chỉ có cường độ bức xạ thay đổi Các phân tử khi hấp thụ năng lượng của bức xạ sẽ dẫn đến thay đổi các quá trình trong phân tử (quay, dao động, kích thích electron…) hoặc trong nguyên tử (cộng hưởng spin electron, cộng hưởng từ hạt nhân)
Mỗi một quá trình như vậy đòi hỏi một năng lượng đặc trưng cho nó, nghĩa là đòi hỏi bức xạ điện từ có tần số hay chiều dài sóng nhất định để kích thích Do sự hấp thụ chọn lọc này mà khi chiếu chùm bức xạ điện từ với một dãi tần số khác nhau đi qua môi trường vật chất thì sau
Trang 553
khi đi qua chùm bức xạ này sẽ bị mất đi một số bức xạ có tần số xác định, nghĩa là các tia này
đã bị phân tử hấp thụ
Bảng 8.1 Ứng dụng quang phổ điển hình do sự thay đổi năng lượng
Kiểu chuyển đổi năng lượng Vùng bước sóng Thiết bị quang phổ
Hấp thụ (absorption)
Tia γ Máy quang phổ Mossbauer Tia X Máy hấp thụ quang phổ tia X
UV/Vis Máy so màu quang phổ UV/Vis
Máy hấp thu nguyên tử AAS
Hồng ngoại Máy so quang phổ hồng ngoại
Máy so màu hiệu ứng Raman Microwave Máy quang phổ vi sóng Sóng radio Máy quang phổ từ hạt nhân
Bảng 8.2 Quang phổ điển hình không do sự thay đổi năng lượng
Trang 6nó trong suốt đối với bức xạ khả kiến và cả bức xạ tử ngoại gần
Một chất hấp thụ hoàn toàn tất cả các tia ánh sáng thì ta thấy chất đó có màu đen Nếu sự hấp thụ chỉ xảy ra ở một khoảng nào đó của vùng khả kiến thì các bức xạ ở khoảng còn lại khi đến mắt ta sẽ gây cho ta cảm giác về một màu nào đó Chẳng hạn một chất hấp thụ tia màu đỏ ( = 610–730 nm) thì ánh sáng còn lại gây cho ta cảm giác màu lục (ta thấy chất đó có màu lục) Ngược lại, nếu chất đó hấp thụ tia màu lục thì đối với mắt ta nó sẽ có màu đỏ Người ta gọi màu đỏ và màu lục là hai màu phụ nhau Trộn hai màu phụ nhau lại ta sẽ có màu trắng Nói cách khác, hai tia phụ nhau khi trộn vào nhau sẽ tạo ra ánh sáng trắng Quan hệ giữa màu của tia bị hấp thụ và màu của chất hấp thụ (các màu phụ nhau) được ghi ở bảng sau:
Bảng 8.3 Quan hệ giữa màu của tia bị hấp thụ và màu chất hấp thụ
(màu của tia còn lại)
Da cam
Đỏ
Vàng lục Vàng da cam
Đỏ
Đỏ tía Tím Xanh Xanh lục Lục
Lưu ý: Giữa các tia màu cạnh nhau không có một ranh giới thật rõ rệt
Việc phân chia ánh sáng trắng thành 7, 8 hay 9 tia màu… còn tùy thuộc vào lăng kính và sự tinh tế của mắt người quan sát
Một chất có màu, thí dụ như màu đỏ chẳng hạn là do nó đã hấp thụ chọn lọc trong vùng khả kiến theo một trong các kiểu sau:
- Chất đó hấp thụ tia phụ của tia đỏ (tức là hấp thụ tia màu lục)
- Chất đó hấp thụ các tia trừ tia màu đỏ
- Chất đó hấp thụ ở hai vùng khác nhau của ánh sáng trắng sao cho các tia còn lại cho mắt ta cảm giác màu đỏ
Trang 755
Để một hợp chất có màu, không nhất thiết maxcủa nó phải nằm ở vùng khả kiến mà chỉ cần cường độ hấp thụ ở vùng khả kiến đủ lớn Nói một cách khác tuy giá trị cực đại của vân hấp thụ nằm ngoài vùng khả kiến nhưng do vân hấp thụ trải rộng sang vùng khả kiến nên hợp chất vẫn có màu Tất nhiên để có được sự hấp thụ thấy được ở vùng khả kiến thì maxcủa chất cũng phải gần với ranh giới của vùng khả kiến
Tương ứng với một bước chuyển điện tử, ta thu được phổ hấp thu có dạng:
Hai đại lượng đặc trưng của phổ hấp thu là vị trí và cường độ
- Vị trí cực đại hấp thu, giá trị max tùy thuộc vào mà hợp chất này hấp thu ở các E
vùng phổ khác nhau Bán chiều rộng của vân phổ điện tử dao động khá rộng khoảng
50 – 60 nm
- Cường độ thể hiện qua diện tích hoặc chiều cao của đỉnh biểu đồ (peak) Cường độ vân phổ phụ thuộc vào xác xuất chuyển mức năng lượng của điện tử Xác suất lớn cho cường độ vân phổ lớn
Một hợp chất màu có phổ hấp thu tốt khi đỉnh biểu đồ (peak) cao và bán chiều rộng vân phổ hẹp
Peak
Độ rộng Bán vân phổ
λmax
Trang 856
Hình 8.4 Đỉnh (peak) và bán chiều rộng vân phổ
Khi bán chiều rộng vân phổ hẹp, khi thay đổi nhỏ thì độ hấp thu A thay đổi lớn Điều này rất có ý nghĩa trong phân tích định lượng Giả sử hợp chất X có Amax ở 500 nm Khi chúng ta
đo ở bước sóng 510 nm thì độ hấp thu đo được sẽ khác rất xa đối với ở bước sóng 500 nm
Từ đó ta thấy rằng ở mỗi hợp chất màu có một giá trị maxnhất định và nó phản ánh độ nhạy của phương pháp Mặt khác, một hợp chất đòi hỏi đỉnh biểu đồ cao nghĩa là khi ta đo ở bước sóng maxthì ta được độ hấp thụ quang cực đại, khoảng làm việc rộng
8.3.5 Định luật Lambert – Beer
Khi chiếu một chùm tia sáng đơn sắc đi qua một môi trường vật chất thì cường độ của tia sáng ban đầu (Io) sẽ bị giảm đi chỉ còn là I
Io: Cường độ ban đầu của nguồn sáng
IA: Cường độ ánh sáng bị hấp thu bởi dung dịch
I: Cường độ ánh sáng sau khi qua dung dịch
IR: Cường độ ánh sáng phản xạ bởi thành cuvette và dung dịch, giá trị này được loại
bỏ bằng cách lặp lại 2 lần đo
Giữa IA, I, độ dày truyền ánh sáng (l) và nồng độ (C) liên hệ qua quy luật Lambert – Beer là
định luật hợp nhất của Bouguer:
Trang 9Độ truyền quang (T) hay độ hấp thụ (A) phụ thuộc vào bản chất của vật chất, độ dày truyền
ánh sáng l và nồng độ C của dung dịch Có thể viết:
I
I
)lg( 0
Trong đó: là hệ số hấp thu phân tử, C nồng độ dung dịch (mol/L), l độ dày truyền ánh sáng (cm), A là độ hấp thụ quang (Lưu ý phương trình trên chỉ đúng đối với tia sáng đơn sắc)
Trong phân tích định lượng bằng phương pháp trắc quang người ta chọn một bước sóng
nhất định, chiều dày cuvet l nhất định và lập phương trình phụ thuộc của độ hấp thụ quang A
vào nồng độ C
Khảo sát khoảng tuân theo định luật Lambert – Beer:
Khi biểu diễn định luật Lambert – Beer trên đồ thị tùy theo cách thực hiện phép đo, ta thường gặp đường biểu diễn sự phụ thuộc độ hấp thu A vào cường độ C của dung dịch có dạng: y =
ax + b
Hệ số góc a cho biết độ nhạy của phương pháp, trong phương pháp trắc quang người ta chỉ đo dung dịch trong khoảng tuân theo định luật Lambert – Beer tức là khoảng nồng độ mà ở đó giá trị không thay đổi Hệ số góc a càng lớn và khoảng tuân theo định luật Beer càng rộng
là điều kiện thuận lợi cho phép xác định
Sự lệch khỏi định luật Beer:
Sự lệch khỏi định luật Beer được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Hình 8.6 Giới hạn của định luật Beer về sự hấp thụ quang
Khoảng tuyến tính LOL (Limit of Linear Response) là khoảng nồng độ tuân theo định luật Beer (AlC)nghĩa là khi nồng độ tăng thì độ hấp thụ quang A tăng Ngoài giới hạn LOL là sự lệch khỏi định luật Beer, nghĩa là khi nồng độ tăng thì độ hấp thụ quang A hầu như
Trang 1058
không tăng nữa Nguyên nhân của quá trình này là do nồng độ dung dịch quá lớn Ngoài ra, khoảng tuyến tính LOL còn bị ảnh hưởng của mức độ đơn sắc của ánh sáng sử dụng, pH của dung dịch, lực ion, sự pha loãng
Ý nghĩa của các đại lượng:
- Hệ số hấp thu mol : phụ thuộc bản chất mỗi chất, bước sóng , nhiệt độ, chiết suất (theo nồng độ) Giá trị tính lý thuyết của một bước chuyển được phép cho 1 electron là
- Độ hấp thụ quang A: Là đại lượng không có đơn vị, có tính chất quan trọng là tính cộng độ hấp thụ quang
Giả sử 2 chất A và B có nồng độ CA và CB, độ hấp thu tại bước sóng là:
A = AA + AB = l × (ACA + BCB) Nếu một chất tan X nào đó có độ hấp thụ quang là AX, dung môi có độ hấp thụ quang là Adm,
ta có:
A = Ax + Adm
Để đo được chính xác Ax thì Adm = 0, có nghĩa là phải chọn max của dung môi khác xa với
max chất tan Những chất được chọn làm dung môi thường có hấp thu ở miền ranh giới tử ngoại chân không
Bảng 8.4 Các dung môi thường sử dụng trong vùng UV – VIS
Trong hỗn hợp có nhiều cấu tử không làm thay đổi tương tác, không phản ứng hóa học, không dịch chuyển cân bằng, thì có thể xác định hỗn hợp các cấu tử theo hệ thức sau:
Trang 1159
n n i
lC lC
Một dung dịch có nồng độ 5 × 10-4M được phân tích và đo bằng cuvette 1 cm ở bước sóng
490 nm được độ hấp thu là 0,338 Hãy tính độ hấp thu phân tử của chất ở bước sóng này ?
Trang 12Bảng 8.5 Nguồn phát năng lƣợng trong các thiết bị quang phổ
Đèn H2 và D2 160 – 380 nm Hấp thụ phân tử tử ngoại
ĐènTungsten 320 – 2400 nm Hấp thu phân tử khả kiến
Đèn hồ quang Xe 200 – 1000 nm Phát xạ huỳnh quang phân tử
Đèn Nernst 0,4 – 20 µm Hấp thụ phân tử hồng ngoại
Đèn cực âm hallow UV/Vis Hấp thụ nguyên tử
Đèn hơi nước Hg UV/Vis Phát xạ huỳnh quang phân tử
Trang 1361
Hình 8.8 Sơ đồ mô phỏng cấu tạo của máy quang phổ
Lăng kính của máy quang phổ dùng lăng kính littrow (lăng kính 30o) bằng thạch anh, có đặc điểm ánh sáng đi qua lăng kính hai lần do phản xạ ở mặt sau Khi phân tích, để hạn chế mức
độ nhiểu của vân phổ, tốt nhất nên chọn bước nhảy của bước sóng (bandwidth) ở mức thích hợp tuỳ vào hợp chất (Hình 8.9)
Trang 1462
Detector
Detector là bộ phận đo tín hiệu ánh sáng trước và sau khi đi qua dung dịnh (đựng trong cuvet)
Các tín hiệu sau khi đi ra Detector sẽ được sẽ được khuếch đại bằng processor tín hiệu (signal processor), lưu giữ và xử lý trên máy tính Có 2 loại detector là: bộ cảm biến photon (photon transducer) và bộ cảm biến nhiệt (thermal transducer) Bảng 8.6
Bảng 8.6 Đặc tính của một số bộ chuyển đổi tín hiệu (transducer)
Đèn quang điện (phototube) Photon 200 – 1000 nm
Điện kế nhân (Photomultiplier) Photon 110 – 1000 nm
Quang diot Silic (Si photodiode) Photon 250 – 1100 nm
Quang dẫn (photoconductor) Photon 750 – 6000 nm
Pin quang voltaic (photovoltaic cell) Photon 400 – 5000 nm
Cặp nhiệt điện (thermocouple) Nhiệt 0,8 – 40 µm
8.4 Sử dụng phương pháp trắc quang trong định lượng hóa học
Yêu cầu về các hợp chất cần xác định là phải bền, ít phân ly, ổn định, không thay đổi thành phần trong khoảng thời gian nhất định để thực hiện phép đo (10–20 phút)
Hệ số lớn có giá trị từ 103 – 5.104 L mol-1 cm-1, có thể thực hiện phản ứng tạo màu với các thuốc thử vô cơ và hữu cơ
Nồng độ các chất xác định theo định luật Lambert – Beer Khoảng xác định nồng độ theo phương pháp là 10-2 – 10-6 mole Giới hạn phát hiện của phương pháp 10-7 mole
Các hợp chất là phức cần đo phải có max khác xa với max của thuốc thử trong cùng điều kiện tức là > 2 lần nửa bán chiều rộng của vân phổ (khoảng 80 – 100 nm) Thí dụ, khi phân tích Fe2+ bằng phương pháp O-phenanthroline Sau khi thêm thuốc thử ta được phức màu vàng cam (max = 510 nm), trong khi đó thuốc thử 1,10- Orthophenanthroline có max = 250
nm
Bảng 8.7 Một số ứng dụng phương pháp trắc quang trong phân một số yếu tố thông thường trong ao nuôi thuỷ sản
Al Phản ứng với Eriochrome cyanide R ở pH 6,0 Hồng 535
Cu Phản ứng với Neocuprine, ly trích bằng CHCl3 Vàng 457